Chương
Hai - Pháp Bảo
Tiết III
Tứ Thánh Ðế
(tiếp theo)
* Khổ Diệt
Thánh Ðế (Nirodha)
Nếu Khổ tập Thánh đế là tham
ái thì Khổ diệt Thánh đế là tham ái diệt, là khổ diệt
hay Niết-bàn.
Niết-bàn như đã được trình bày
ở chương Phật Bảo, được đề cập ở Duyên khởi và ngũ
uẩn trong chương Pháp Bảo này, là cảnh giới giải thoát,
thoát ly ngôn ngữ khái niệm, thoát ly mọi tướng trạng diễn
đạt, thoát ly năm thủ uẩn, nên không phải là vấn đề
của khảo sát. Các kinh điển Phật giáo chỉ có thể định
nghĩa Niết-bàn, hay phương tiện chỉ bày Niết-bàn bằng các
từ ngữ rất phủ định như Niết-bàn là ái diệt, Khổ diệt,
tham sân si diệt, thức diệt, hành diệt, vô minh diệt, v.v...
Ở đây, chỉ nỗ lực trình bày
sự bất lực trong việc diễn tả Niết-bàn, và chỉ rõ một
số ngộ nhận về Niết-bàn trong khả năng có thể.
Câu chuyện thời danh về con rùa
kể chuyện đất liền cho loài cá nghe cho chúng ta khái niệm
rằng, ngôn ngữ chuyên chở ngã tính của con người hoàn toàn
bất lực trong việc diễn đạt Niết-bàn. Càng nỗ lực diễn
đạt càng tạo thêm ngộ nhận.
Một điều mà chúng ta có thể đề
cập là Niết-bàn thoát ly ý niệm nên ở ngoài thời gian và
không gian, nên hẳn nhiên Niết-bàn không phải là một nơi
chốn, không phải sớm, muộn, lâu dài, ngắn ngủi, v.v... không
có vận chuyển, không phải là kết quả hay hậu quả của
bất cứ gì, không phải là tương đối hay tuyệt đối, không
phải thường hay vô thường. Chỉ có thể nói Niết-bàn là
thực tại như thật, nhận biết được bằng thể nhập do
ái diệt hay khổ diệt. Con đường dẫn đến Niết-bàn là
con đường đoạn trừ khổ đau mà ta sẽ khảo sát tiếp.
Dù không diễn tả được, nhưng
quyết định Niết-bàn có thực; nó là thực tại như thật.
Không thể xem Niết-bàn chính là cuộc đời này. Ở nơi nào
có mặt tuệ giác Vô ngã hoàn toàn, ở đó có Niết-bàn, như
Thế Tôn dạy: "Cái nào có bản chất của sinh thì cũng có
bản chất của diệt; Năm uẩn, do đó, có đủ mầm mống
của sinh và mầm mống của diệt, có đủ khát ái, tuệ giải
thoát và có đủ Bốn Thánh đế".
Có một điểm mà chúng ta cần phải
nhận thức rõ ràng là, ái diệt là Niết-bàn, nhưng công phu
tu tập để đoạn diệt ái không phải là nhân của Niết-bàn,
mà là dẫn đến Niết-bàn. Ví như con đường đưa đến Tịnh
xá Trúc Lâm không phải là Tịnh xá Trúc Lâm. Ðiều này không
khó hiểu, bởi vì thực tánh của con người có sẵn, tu chỉ
là việc làm cho tan hết mây mù đang che khuất trăng Thật
Tánh, mà không phải là làm ra trăng Thật Tánh. Tất cả những
tư duy, nói năng, diễn đạt và tu tập của con người chỉ
là những việc nói chuyện với mây, đối thoại với gió,
giới hạn ở vùng mây mù. Chúng ta không thể đi xa hơn nữa
để đặt ra những câu hỏi và trả lời về trăng như thật.
Tại đây ta có thể kết luận Khổ
diệt Thánh đế là khát ái diệt, hay thủ diệt, hay thức
diệt, hay hành diệt, vô minh diệt... hoặc sầu, bi, khổ, ưu,
não diệt. Một trong các chi phần ấy hoàn toàn đoạn diệt
là Niết-bàn. Ðiều mà chúng ta sẽ đề cập đến nhiều
là con đường tu tập đưa đến Niết-bàn, hay gọi là Khổ
diệt Ðạo Thánh đế.
* Khổ Diệt
Ðạo Thánh Ðế (Magga).
Hầu hết các kinh nói nhiều đến
Bát Thánh Ðạo như là con đường đưa đến đoạn diệt khổ
đau. Ðấy là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
Chánh tinh tấn là nội dung của
Tứ chánh cần; chánh niệm là nội dung của Tứ niệm xứ;
và chánh định là Từ thiền Sắc giới định (theo Ðế Phân
Biệt Tâm Kinh, Trung Bộ Kinh III; hay Phân Biệt Thánh đế, Trung
A-hàm, số 31). Nhiều kinh khác của Nikàya và A-hàm lại đề
cập đến ba mươi bảy phẩm trợ đạo (bốn niệm xứ, bốn
chánh cần, bốn như y túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi
và tám Thánh đạo) như là Ðạo đế, mà Bát Thánh đạo là
giáo lý tiêu biểu. Phần đi sâu vào ba mươi bảy phẩm trợ
đạo sẽ được bàn đến ở phần giáo lý Thiền định.
Tất cả giáo lý tu tập đều được
xây dựng trên căn bản của Giới, Ðịnh, và Tuệ. Giới như
là nền tảng từ đó Ðịnh và Tuệ được xây dựng. Nếu
thiếu căn bản Giới thì Ðịnh và Tuệ không vận dụng được,
ví như đất là nền tảng, nếu thiếu nó thì các sinh vật
không di chuyển được.
Giới, đấy là lãnh vực giữ gìn
ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh, rời khỏi tham lam, sân
hận và ác hại, ngỏ hầu tạo điều kiện tốt đi vào các
tâm lý ly tham, ly sân, ly hại, ly si của Ðịnh, và Tuệ.
Các chi phần chánh ngữ, chánh nghiệp
và chánh mạng là thuộc giới này.
Thiền định là lãnh vực đối
mặt với tâm lý động để loại bỏ các triều ái dục,
sân, nghi, trạo cử và hôn trầm, và đi sâu vào tâm lý hỷ,
lạc, xả và nhất tâm. Các chi phần chánh tinh tấn, chánh
niệm và chánh định thuộc Ðịnh uẩn này.
Tuệ uẩn, gồm có hai chi phần chánh
kiến và chánh tư duy, là hiểu biết đúng sự thật Tứ Thánh
đế, Ngũ uẩn và Duyên khởi, hiểu biết mục đích của tu
tập giải thoát là viễn ly tham, viễn ly sân (hay là từ, bi,
bất hại tâm) và viễn ly si (viễn ly tà kiến); và thường
tư duy về viễn ly tham, sân, si ấy, về Tứ Thánh đế, Ngũ
uẩn và Duyên khởi ấy.
Ðạo đế lần lượt được thảo
luận kỹ ở phần trình bày ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
C. Tứ Thánh
Ðế vừa là Giáo Lý, vừa có Yù Nghĩa là Phương Pháp.
Thông thường Tứ Thánh Ðế được
hiểu là giáo lý như các giáo lý Duyên khởi, Năm thủ uẩn
v.v. Thực ra Tứ Thánh đế còn được Thế Tôn trình bày như
là phương pháp nhận thức, sống và tu tập.
Khổ Thánh đế là kết quả khổ
đau biểu hiện của nghiệp nhân quá khứ. Nghiệp nhân đó
là tham ái, chấp thủ hay vô minh. Khổ diệt Thánh đế là
kết quả đoạn trừ khổ đau do nghiệp nhân là công phu tu
tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Nghiệp nhân này là Khổ
diệt đạo Thánh đế.
Như thế, Tứ Thánh Ðế được
trình bày theo tương quan nhân quả. Bất cứ pháp hữu vi nào,
hay khổ đau nào có mặt cũng có nguyên nhân của nó, người
tu tập nhận rõ nguyên nhân chính của khổ đau đó thì tất
nhiên sẽ cùng lúc thấy rõ sự biến mất của nó và con đường
(hay phương pháp) để loại bỏ nó.
Một người bỗng nhiên tức giận,
đấy là biểu hiện của khổ đế. Muốn đi ra khỏi cơn sân
ấy, người ấy phải bình tĩnh tìm hiểu xem do nguyên nhân,
ly do nào mà mình nổi sân. Ví dụ, do bị một người khác
vô cớ nguyền rủa. Sở dĩ sân hận là do chấp vào âm thanh
gọi là lời nguyền rủa kia, và chấp rằng mình có tự ngã
(ông A, bà B) và tự ngã này gây tổn thương bởi các âm thanh
nguyền rủa ấy. Ðây là Tập đế.
Một khi đã thấy rõ Tập đế và
có quyết định loại bỏ sân hận kia, thì đương sự chỉ
thay đổi cách suy tư của mình; nhìn các âm thanh kia chỉ là
hơi gió thoảng, hoặc giả chỉ là các từ rời rạc vô nghĩa;
tại sao mình lại tự kết luận đó là lời nguyền rủa?
Tại sao mình lại không thể chấp nhận các âm thanh ấy như
chỉ là âm thanh hay như tiếng thông reo, gió thoảng? Suy tư
như vậy thì có thể dập tắt được chấp thủ kia, do đó
dập tắt được cơn sân hận. Chấp thủ kia diệt là ý nghĩa
của Diệt đế. Các lập luận để đi đến sự dập tắt
ấy là Ðạo đế.
Tại đây, Tứ đế xuất hiện như
là một phương pháp phân tích các hiện tượng tâm lý xấu
để vượt qua chúng. Tương tự, có thể phân tích các hiện
tượng tâm lý tốt để duy trì hay phát triển.
Một dẫn chứng khác, có một hiện
tượng xã hội xãy ra: trộm cướp và tham nhũng. Ðây là Khổ
đế, hay ý nghĩa của Khổ đế.
- Tìm hiểu ra lý do của
hiện tượng xã hội này là do đói kém sinh. Ðây là Tập
đế, hay ý nghĩa của Tập đế.
- Hiện tượng xã hội này chấm
dứt khi đói kém chấm dứt. Ðây là ý nghĩa của Diệt đế.
- Con đường để đi ra khỏi đói
kém là cải thiện kinh tế của xã hội (trả lương cao, giúp
vốn cho dân đầu tư, cấp giống mạ và phương tiện canh
tác, v.v..) Ðây là ý nghiã của Ðạo đế.
Ở lãnh vực khoa học, Tứ đế vẫn
là phương pháp nhận thức và thực hiện. Nước được hình
thành (H2O) là ý nghĩa Khổ đế. Sở dĩ được hình
thành là do sự kết hợp của Hydro và Oxy, đây là ý nghĩa
của Tập đế. Muốn lượng nước này không hiện hữu thì
chỉ cần phân tán Hydro và Oxy ấy, cần thực hiện một cuộc
phân tích nước (hay gọi là điện giải), đây là ý nghĩa
của Ðạo đế.
Ở lãnh vực y học cũng thế. Bệnh
phát sinh là ý nghĩa của Khổ đế. Nguyên nhân sinh ra bệnh
là ý nghĩa của Tập đế. Loại trừ nguyên nhân ấy là bệnh
lành (bằng cách cho thuốc đối trị) là ý nghĩa của Diệt
đế. Dùng thuốc hay chế thuốc để dùng đối trị là ý
nghĩa của Ðạo đế.
Trên đây chỉ là một số dẫn
chứng điển hình. Nguyên tắc Tứ đế có thể ứng dụng
để nhận thức và giải quyết rất nhiều vấn đề của
cuộc sống mà chúng ta sẽ tìm hiểu ở phần trình bày tiếp
theo đây.
D. Ứng Dụng
Nguyên Tắc Tứ Ðế vào Ðời Sống Xã Hội.
Tìm hiểu nỗi buồn vô cớ:
Trong cuộc sống, có khi chúng ta
cảm thấy buồn buồn mà không biết lý do. Nỗi buồn này
thường được gọi là nỗi buồn vô cớ.
Thực ra nỗi buồn nào cũng có nguyên
cớ của nó. Có thể buồn vì cơ thể mỏi mệt, có thể buồn
vì có một mong ước nào đó không đạt được, có thể buồn
vì một thất vọng về người thân, cũng có thể buồn vì
thời tiết u ám ở bên ngoài, v.v... Lắng lòng một chốc để
thử xem nỗi buồn của ta đến từ lý do nào.
Buồn là Khổ đế; lý do của buồn
là Tập đế.
Nếu vì lý do cơ thể uể oải,
mệt mỏi, thì chỉ cần vận động cơ thể tích cực sẽ
xua đi được mệt mỏi và sẽ loại bỏ được cảm giác
buồn; hoặc giả phải cần một giấc ngủ ngon để lấy lại
sức khỏe thì cảm giác buồn cũng sẽ đi xa.
Nếu vì lý do tâm lý hay tình cảm
thì phải đổi cách suy nghĩ về động cơ tâm lý hay tình
cảm đã gây nên nỗi buồn ấy thế nào để mình có thể
tự thuyết phục mình, khích lệ mình phấn khởi. Tâm lý phấn
khởi xuất hiện thì nỗi buồn cũng bay xa.
Dùng tâm lý hân hoan hay phấn khởi
để khắc chế buồn, đấy là Diệt đế. Phương cách để
chế ngự nỗi buồn là Ðạo đế.
Giải quyết bất hòa trong đời
sống gia đình, xã hội.
Trong đời sống gia đình của cặp
vợ chồng trẻ có thể xãy ra những vụ cãi lẫy, giận dỗi,
bất hòa. Ðây là Khổ đế.
Tìm hiểu nguyên nhân của vụ giận
lẫy, bất hòa là tìm hiểu Tập đế. Giải quyết được
vụ bất hòa là Diệt đế. Phương cách giải quyết là Ðạo
đế.
Không phải lúc nào xảy ra bất
hòa cũng dễ dàng tìm ra lý do của nó. Có khi vì tự ái, đôi
bên không chịu thổ lộ cái lý do mình giận lẫy. Trường
hợp này người trong cuộc sẽ không tìm ra cách để giải
quyết. Nếu để tình trạng giận lẫy kéo dài thì sẽ gây
ra thêm nhiều bất ổn trong tương giao. Ở đây, nguyên nhân
của sự không thổ lộ là tự ái. Ðể tránh khỏi cái tình
trạng tự ái ấy, gia đình nên quy ước với nhau lập ra một
cuốn sổ "hòa hợp" dành để ghi vào đấy những gì mà hai
người cảm thấy không thể giáp mặt nói cho nhau nghe. Qua
cuốn sổ này, đôi bên có thể tìm thấy ánh sáng của cảm
thông; nhờ đó, giải quyết êm đẹp mối bất hòa. Cảm thông
ấy là ý nghĩa của Diệt đế, phương cách giải quyết qua
cuốn sổ kia là ý nghĩa của Ðạo đế.
Tương tự, cuốn sổ "hòa hợp"
hay "cảm thông" trên có thể được sử dụng để duy trì
hay phát triển mối tương giao tốt của lứa đôi.
Trường hợp bất hòa xãy ra giữa
các người bà con hoặc láng giềng, bạn bè, có thể vận
dụng "đệ tam nhân" thay thế cuốn sổ. Vấn đề phát triển
hay duy trì mối tương giao tốt giữa những người này cũng
cần được vận dụng thông qua "đệ tam nhân".
Trên căn bản của nguyên tắc Tứ
đế này có thể vận dụng để giải quyết các vấn đề
rộng lớn hơn ở bình diện quốc gia hay quốc tế.
Giải quyết nỗi sợ hãi đám
đông
Sợ hãi đám đông, bối rối khi
xuất hiện trước đám đông, hay lúc nói chuyện trước đám
đông, là Khổ đế.
Bạn có một lần sợ hãi khi nói
chuyện với quần chúng bạn mới nhận ra nỗi đau khổ, ưu
não như thế nào. Tâm lý người sợ hãi đám đông là thường
muốn rút lui an phận, tiêu cực. Ðây không phải là tâm lý
lành mạnh, nếu không muốn nói là bệnh hoạn. Càng lánh mặt
đám đông bao nhiêu thì nỗi sợ hãi đám đông lại càng gia
tăng bấy nhiêu. Mơ ước thiết tha của người sợ hãi là
vượt qua nỗi sợ hãi ấy, nhưng tâm lý của họ thì bảo
họ lánh mặt sợ hãi. Làm thế nào để khắc phục sợ hãi?
Chúng ta không thể giải quyết vấn
đề bằng lối vượt ra ngoài nguyên tắc Tứ đế. Cách nhìn
và thái độ giải quyết theo Phật giáo là bằng mọi cách
chúng ta phải đối mặt với sợ hãi. Bạn hãy nhìn kỹ sợ
hãi để bình tĩnh tìm xem đâu là những nguyên nhân đưa đến
sợ hãi. Vì cái nhìn của đám đông đe dọa chăng? Vì sợ
đám đông thấy những nhược điểm của mình chăng? Vì không
quen diễn đạt? v.v... Ðây là ý nghĩa của Tập đế.
Làm vô hiệu hóa các ảnh hưởng
tác động vào tâm lý vừa kể là ý nghĩa của Diệt đế.
Bằng cách nào để xóa hết các ảnh hưởng trên, là ý nghĩa
của Ðạo đế. Tại đây, chúng ta sẽ nhận ra rằng cần
phải làm quen với đám đông cần tập diễn đạt, cần bổ
túc kiến thức, v.v... Nguyên tắc chính của Tứ đế là, nếu
nỗi sợ hãi khởi lên từ đám đông, thì cũng phải từ đám
đông nỗi sợ hãi này được chế phục.
Giải quyết các sợ hãi khác:
sợ ma, sợ rắn, cóc, thằn lằn...
Tương tự như nỗi sợ hãi đám
đông, nếu có người sợ ma, sợ rắn, sợ cóc, thằn lằn,
v.v... người ấy cần tìm hiểu nguyên nhân của sợ hãi ấy.
Với sợ ma, người ấy cần phải
xuất hiện ban đêm ở các nơi gây nên sợ hãi. Tại đây
người ấy mới thấy rõ cách nhiếp phục nó.
Với sợ cóc, thằn lằn, v.v... người
ấy cần nhìn kỹ vào tâm lý của mình tìm xem do mình bị
ám ảnh như thế nào về cóc, thằn lằn v.v... khiến mình
sợ hãi, từ đây người ấy mới thấy được lối đi ra
khỏi sợ hãi.
Các lo sợ của tuổi thành niên.
Tuổi trẻ đến độ lập gia đình
thường có những lo âu, có khi sợ hãi nữa. Họ có những
ham muốn cuộc sống lứa đôi, nhưng đồng thời họ cũng
có nhiều bối rối lo lắng về con đường trước mặt. Người
con gái có những bối rối, âu lo khi đi về nhà chồng, bối
rối trước những bổn phận và tương giao mới. Người con
trai cũng bối rối không kém trước bổn phận và tương giao
ấy. Ðây là một loại phiền não, khổ đau làm mất đi hạnh
phúc của tuổi trẻ. Phương cách duy nhất để loại bỏ phiền
não này là đối mặt giải quyết vấn đề. Tìm xem những
gì đưa đến những âu lo, bối rối ấy để từ đó thấy
được lối ra, rồi nỗ lực để đi ra.
Cuộc sống từ nhỏ đến lúc trưởng
thành có biết bao nhiêu lo lắng, sầu ưu. Ðã đành gốc rễ
sâu xa của khổ vẫn là ái, thủ, nhưng để đối trị hữu
hiệu từng loại phiền não, khổ đau khi ta đang sống đời
sống xã hội, và để đối trị cấp thời, ta cần có những
biện pháp giải quyết thích nghi khác nhau. Tứ đế bấy giờ
trở thành nguyên tắc chỉ đạo cho công cuộc giải quyết
ấy.
Thế Tôn đã giảng dạy rộng rãi
Tứ đế ứng dụng để loại trừ khổ đau cho những trường
hợp cá biệt rất thực tế.
Kinh "Nhứt Thiết Lậu Hoặc" (Trung
Bộ Kinh I) trình bày có bảy phương thức đối trị phiền
não, lậu hoặc, tiêu biểu nhất là ứng dụng đúng giáo lý
Tứ đế.
Nếu ta bị phiền não, khổ đau
do các suy nghĩ lệch lạc, không đúng, không lành đem lại,
thì ta phải áp dụng chánh tư duy và chánh tri kiến để loại
trừ. Chánh kiến và Chánh tư duy áp dụng hữu hiệu nhất
ở trường hợp này.
Chánh kiến và chánh tư duy còn giúp
ta tìm ra được thái độ, phương cách ứng xử trước những
khổ đau, trở ngại:
- Nếu ta bị khổ vì nóng, lạnh...
thì ta hẳn phải tìm cho có áo ấm, áo mát, hay chỗ ở thích
nghi. Nếu ta bị khổ sở vì nạn trâu dữ, ngựa dữ, chó
dữ... hay sợ hãi vì hố sâu vực thẳm, thì bấy giờ biện
pháp đối phó hữu hiệu là tránh mặt chúng, xa lánh chúng.
Ðối với các tâm niệm sân hận, ham muốn, tổn hại... thì
ta phải cấp thời bám sát chúng để trừ khử, ta phải phủ
nhận, chối bỏ, không cho các tâm niệm ấy khởi lên. Trường
hợp này ta không áp dụng biện pháp tránh né được.
Sau cùng, đối với các kiết sử,
muốn đối trị, ta phải tu tập Thất giác chi. Trong trường
hợp này, ta không thể ứng dụng các biện pháp vừa kể trên.
E. Tinh Thần
Thiết Thực của Tứ Thánh Ðế.
Khổ Thánh đế được nên lên trước
nhất trong Tứ Thánh đế. Phật giáo như thế khởi hành từ
thực tại khổ đau của cuộc đời, nhìn cuộc đời như là
cuộc đời đang là; từ đây, đi tìm nguyên nhân của khổ
đau có mặt ngay trong chính cuộc đời. Năm uẩn là khổ đau
và nguyên nhân của khổ đau cũng ở ngay trong Năm uẩn; cũng
từ Năm uẩn mà khổ đau diệt và tìm ra con đường đưa đến
khổ đau diệt ở đó. Như Thế Tôn đã dạy: "Trong chính cái
thân có ý thức dài một tầm này, Ta tuyên bố thế giới,
sự sinh khởi của thế giới, sự chấm dứt của thế giới
và con đường đưa đến sự chấm dứt của thế giới". (Tăng
Chi Bộ Kinh)
Phật giáo không liệt kê những
khổ đau tưởng tượng, không đưa ra những nguyên nhân phi
thực, cũng không đề ra con đường giải quyết khổ đau bằng
hành khổ, bằng cầu xin... không thực tiễn. Phật giáo chủ
trương giải thoát có mặt trên đời này, có thể được
thực hiện bằng chính nỗ lực đoạn trừ tham ái của con
người. Ðiểm này nói lên tính chất rất là nhân bản, rất
là nhập thế và rất là thiết thực hiện tại. Con người
là gốc của khổ đau và của sự giải thoát của chính mình.
Ví dụ về nắm lá Simpapà của
Thế Tôn phô diễn rất rõ cái tính chất tối thiết thực
và cần yếu ấy của giáo lý Tứ Thánh đế này.
F. Tứ Thánh
Ðế Hàm Chứa Toàn Bộ Giáo Lý Phật Giáo.
Thế Tôn đã thuyết giảng Duyên
khởi lồng vào nội dung Tứ đế. Ðối với Năm thủ uẩn
cũng thế.
Thế Tôn đã lập lại rất nhiều
lần trong các Kinh của Nikàya và A-hàm rằng: "Ta chỉ nói khổ
và con đường diệt khổ". Ðiều này mang ý nghĩa toàn bộ
giáo lý đều được quy vào, thu vào Tứ Thánh đế. Thế nên,
có lần Tôn giả Xá-lợi-phất đã tuyên bố: "Tất cả các
thiện pháp đều được bao hàm trong Tứ Thánh đế".
Các Kinh điển Bắc tạng không đi
ra ngoài kết luận trên. Khi Kinh bàn đến chứng ngộ chân
tâm, chỉ bày chân cảnh hay Niết-bàn, thì luôn luôn đề cập
đến sự đoạn trừ chấp thủ, đoạn diệt tham ái, tức
là bàn về Diệt đế hoặc vừa Diệt đế vừa Ðạo đế
(chẳng hạn nói rời hết thảy các tướng chấp thủ là ý
nghĩa Diệt đế, hành Lục Ba-la-mật là ý nghĩa của Ðạo
đế). Bàn kỹ một đế trong Bốn đế là hiển bày được
toàn thể Bốn đế, như Thế Tôn đã dạy.
Giáo lý Phật giáo, như đã được
trình bày, xây dựng trên nền tảng Giới, Ðịnh, Tuệ, là
phần giáo lý thuộc Ðạo đế, do đó mà toàn thể giáo lý
không đi ra khỏi giới vực của Tứ đế. Nói cách khác, toàn
bộ giáo lý Phật giáo được thu nhiếp vào trong Tứ Thánh
đế, như các dấu chân của các động vật được thu nhiếp
vào trong dấu chân voi.
G. Chứng Ngộ
Tứ Thánh Ðế.
Có nhiều người trên đường tìm
hiểu các Tôn giáo, không hiểu rõ Phật giáo, khi thấy Phật
giáo nói về Khổ Thánh đế thì vội vã kết án Phật giáo
là bi quan, tiêu cực và yếm thế.
Như đã lập luận ở phần đầu
của giáo lý Tứ Thánh đế này, cái thái độ sống bi quan
hay tiêu cực, yếm thế không liên hệ gì đến phần nhận
thức cũng như hành động của Phật giáo.
Nhận thức về cuộc đời của
Phật giáo là một nhận thức rất khách quan và rất như thật,
thái độ sống hay tu tập của Phật giáo là thái độ "trung
đạo", lìa xa các thái cực hành khổ hay phóng túng trong dục
lạc, lạc quan hay bi quan. Nếu cho rằng lạc quan là sống với
tâm đầy trí tuệ và lòng tin giải thoát thì Phật giáo là
tôn giáo lạc quan.
Hãy nghe một lời dạy của Thế
Tôn về sự chứng ngộ Tứ Thánh đế, ta sẽ thấy Phật giáo
đến với con người tươi mát như thế nào: "Này các Tỷ-kheo,
ví như một người sống thọ một trăm năm, có người đến
nói với người ấy: 'Này bạn, vào buổi sáng, bạn sẽ đâm
một trăm cây thương, vào một buổi chiều, bạn sẽ đâm
một trăm cây thương... Sau một trăm năm, bạn sẽ giác ngộ
Bốn Thánh đế trước kia chưa được giác ngo'. Này các Tỷ-kheo,
một người hiểu biết nghĩa lý có thể chấp nhận chăng?...
Này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố rằng nhờ khổ và ưu,
Bốn Thánh đế được chứng ngộ. Nhưng này các Tỷ-kheo,
Ta tuyên bố nhờ lạc và hỷ, Bốn Thánh đế được chứng
ngộ". (Tương Ưng V, tr. 445-446)
Như chúng ta biết, con đường đi
về giải thoát của Phật giáo là 37 phẩm trợ đạo đặt
nền tảng trên Giới, Ðịnh và Tuệ. Người Phật tử đi
trên một lộ trình đầy sự an tĩnh do giữ Giới, đầy hạnh
phúc của lạc hỷ của Thiền định, và đầy giải thoát,
sáng suốt và lòng tin của Trí tuệ. Con đường đi đầy hương
hoa như thế được đặt ngay giữa lòng đời thì làm sao có
thể gọi là bi quan, yếm thế được?
Kinh Tiểu Khổ Uẩn (Trung Bộ Kinh
I) ghi rằng, ngoại đạo Ni-kiền-tử (Nigantha) chủ trương
hành khổ thân xác để giải thoát nghiệp, họ cho rằng: "Hạnh
phúc không thể đến từ hạnh phúc, mà phải đến từ khổ
đau". Thế Tôn thì dạy do hộ trì thân, khẩu, ý thanh tịnh
mà nghiệp tiêu, do đắc các định mà có được các cảm
thọ hạnh phúc, cho đến giải thoát tri kiến là hạnh phúc
tuyệt đối.
Cần phải "liễu tri Khổ đế,
đoạn tận Tập đế, chứng ngộ Diệt đế, và tu tập Ðạo
đế" (Tương Ưng V, tr. 440) thì mới hiểu biết như
thật Phật giáo, mới có thể đi ra khỏi mọi ngộ nhận về
Phật giáo.
Người Phật tử phải hiểu rõ
mọi khổ đau ở đời, hiểu rõ nguyên nhân của khổ đau,
hiểu rõ sự khổ đau đoạn tận và con đường đưa đến
đoạn tận khổ đau. Hiểu rõ không có nghĩa là đã chứng
ngộ Tứ đế (hay chứng ngộ Diệt đế - Niết-bàn). Tại
đây còn nhiều việc phải làm, phải tu tập Bát Thánh đạo,
nỗ lực đoạn trừ Tập đế (hay đoạn trừ tham ái, chấp
thủ). Khi ái, thủ, vô minh hoàn toàn bị dập tắt, bấy giờ
Diệt đế mới được chứng ngộ, hay Tứ đế mới được
hoàn toàn chứng ngộ. Quả vị chứng ngộ tại đây, với
các đệ tử của Thế Tôn là A-la-hán, với Thế Tôn là Vô
Thượng Chánh Ðẳng Giác, Phật, Thế Tôn.
H. Tứ Thánh
Ðế và Bốn Hoằng Thệ Nguyện của Phật Tử Việt Nam.
Hòa thượng Thích Thiện Siêu, trong
một buổi thuyết giảng tại Huế (1983) đã đưa ra nhận xét
rằng: Dựa vào Tứ đế này mà có bốn hoằng thệ nguyện,
phần kết thúc mỗi thời Kinh, lễ của Phật tử Việt Nam.
- "Chúng sanh vô biện thệ
nguyện độ" là dựa vào Khổ Thánh đế mà phát nguyện.
- "Phiền não vô tận thệ nguyện
đoạn" là dựa vào Khổ Tập Thánh đế mà phát nguyện.
- "Pháp môn vô lượng thệ nguyện
học" là dựa vào Khổ Diệt Ðạo Thánh đế mà phát nguyện.
- "Phật đạo vô thượng thệ nguyện
thành" là dựa vào Khổ Diệt Thánh đế mà phát nguyện.
Truyền thống của Phật giáo Việt
Nam mãi mãi vẫn nằm trong truyền thống Phật giáo dưới sự
lãnh đạo của Thế Tôn: Tứ Thánh đế là giáo lý nền tảng
và là phương pháp chỉ đạo./.