Chương
Một - Phật Bảo
Tiết
VI
Các
Tinh Thần Giáo Dục của Thế Tôn và
sự Liên Hệ giữa Ngài với các hàng Ðệ Tử,
Chư
Thiên,Ác Ma và Ngoại Ðạo.
(tiếp theo)
Thế Tôn và
Ác Ma
Ác ma là tiêu biểu cho các hạng
độc ác ở đời, nghiêng nặng về các ác hành. Họ cũng
có một ít thần thuật, pháp thuật, thường xuất hiện ở
đời và gieo khổ đau cho đời. Họ thường quấy phá đời
sống tu hành của các Sa-môn. Tuy thế, Thế Tôn vẫn tùy duyên
mà thuyết pháp cảm hóa họ.
Có rất nhiều phẩm kinh và đoạn
kinh liên hệ đến Ác ma. Ở đây, chỉ giới thiệu một số
trường hợp tiêu biểu:
1. Khi Thế Tôn trú tại Gaya, Tamkitamanca,
địa phương của Dạ-xoa Sùciloma và Khara. Họ đến cọ xát
vào Thế Tôn, Thế Tôn tránh né, họ bảo: "Có phải Sa-môn
sợ ta?" Thế Tôn dạy: "Này Hiền giả, Ta không sợ ngươi,
nhưng xúc phạm ngươi là ác". - "Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ông,
nếu Ông không trả lời, ta sẽ làm cho tâm Ông điên loạn,
hay bóp nát quả tim của Ông, hay tóm chân của Ông ném qua
bên kia bờ sông Hằng". Thế Tôn nói: "Này Hiền giả, Ta không
thấy có một ai trong thế giới... lại có thể làm cho Ta điên
loạn... Tuy thế, Ông cứ hỏi Ta như ý Ông muốn" Sùciloma
hỏi:
"Từ những nguyên nhân
nào,
Tham và sân khởi lên?
Không ưa thích, ưa thích,
Sợ hãi từ đâu sanh?
Từ đâu được sanh khởi,
Các suy tầm của ý,
Như đứa trẻ độc ác,
Thả cho con quạ bay?"
Thế Tôn đáp:
"Từ những nguyên nhân
này
Tham sân được khởi lên
Không ưa thích, ưa thích,
Sợ hãi từ đâu sanh?
Từ đây được sanh khởi,
Các suy tầm của ý,
Như đứa trẻ độc ác,
Thả cho con quạ bay".
và:
"Hãy nghe này Dạ-xoa!
Những ai mà rõ biết
Từ đâu khiến sanh khởi,
Họ tẩy sạch nhân ấy,
Họ vượt qua dòng nước,
Chảy mạnh khó vượt này,
Trước chưa được vượt qua,
Không còn có tái sanh?" (22)
Ác ma thường đến với Thế Tôn với
thái độ hung hãn và đầy sân si. Hóa độ họ, Thế Tôn đã
vận dụng một thái độ thích ứng: vừa mềm dẻo nhượng
bộ vừa cứng rắn, chứng tỏ cho họ biết sự bất lực
của họ trước Thế Tôn.
2. Một trường hợp xử sự khác
của Thế Tôn đối với Dạ-xoa Alavaka:
Khi Dạ-xoa Alavaka xuất hiện và
ra lệnh cho Thế Tôn đi ra, đi vào nhiều lần như là trò chơi
trêu cợt của nó, Thế Tôn từ bi làm theo mệnh lệnh của
nó. Ðến lượt thứ tư, khi nó ra lệnh ấy, Thế Tôn bảo:
"Này Hiền giả, Ta không đi, Ông cần gì hãy làm".
Alavaka lên giọng càn dở của loài
Ác ma: "Ta sẽ hỏi Ông, nếu Ông không trả lời, ta sẽ làm
cho tâm Ông điên loạn, ta sẽ bóp nát trái tim Ông..." - "Này
Hiền giả, Ta không thấy một ai trong thế giới có thể làm
tâm Ta điên loạn... Tuy vậy, Ông cứ hỏi như ý muốn".
Alavaka hỏi:
"Ở đời tài sản gì
Là tối thắng của người?
Cái gì khéo thực hành
Ðem lại chơn an lạc?
Cái gì trong các vị
Là vị ngọt tối thượng?
Nếp sống như thế nào
Là nếp sống hơn cả?".
Thế Tôn đáp:
"Ở đời này lòng tin
Là tài sản tối thắng.
Chánh pháp khéo tu tập
Ðem lại chơn an lạc.
Sự thật là vị ngọt.
Hơn hết trong các vị.
Nếp sống với trí tuệ
Là nếp sống hơn cả".
(23)
3. Một lần khi Thế Tôn trú ở thành
Vương Xá (Ràjagahà), trên núi Linh Thứu (Gijjhakùta), Dạ-xoa
tên là Sakkadi đến nói với Thế Tôn rằng:
"Thật không tốt lành
gì,
Một Sa-môn như Ngài,
Ðã đoạn mọi phiền trược,
Ðã sống chơn giải thoát,
Lại tiếp tục giảng dạy,
Những kẻ khác tu học."
Các Dạ-xoa thường không muốn Thế
Tôn trú thế vì Ngài đem ánh sáng đến cho đời, chỉ đường
cho con người ra khỏi các trói buộc của Ác ma.
Thế Tôn đã dạy các Ác ma rằng,
Ngài trú thế độ sinh vì lòng từ mẫn (Tương Ưng I, phẩm
Tương Ưng Ác ma).
4. Tại Tỳ-xá-ly (Vesàli), khi Thế
Tôn nghỉ trưa tại đền Càpàla, Ác ma đi đến ba lần thỉnh
cầu Thế Tôn nhập diệt (trước đó Thế Tôn đã ba lần
gợi ý cho Tôn giả A-nan thỉnh cầu, nhưng Tôn giả dã không
kịp giác tỉnh để thỉnh cầu).
Thế Tôn bác bỏ hai lần, đến
lần thứ ba Thế Tôn nhận lời: "Này Ác ma, hãy an tâm, không
bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng kể từ hôm nay,
Như Lai sẽ diệt độ" (Kinh Ðại Bát-Niết-bàn, Trường Bộ
Kinh III, tr. 115).
Ác ma là thế, không bao giờ họ
muốn đạo Phật được truyền bá, không bao giờ họ muốn
các Thánh nhân ra đời, chỉ bởi vì họ là ác.
Tuy nhiên, một số các Ác ma vẫn
có khả năng đi về giác ngộ. Một số Ác ma dưới thời
Thế Tôn đã thực hành Phật pháp và có hành động hộ trì
pháp. Ðiển hình như trường hợp sau đây:
Khi ở tại Thắng Lâm, vườn của
ông Cấp Cô Ðộc, thành Xá-Vệ, Thế Tôn đang thuyết pháp
cho chúng Tỷ-kheo về một vấn đề liên hệ đến Niết-bàn,
bấy giờ một nữ Dạ-xoa dỗ con nín như vầy:
"Hãy gìn giữ im lặng,
này Uttarika!
Hãy gìn giữ im lặng, này Pulappasu!
Ðể mẹ được nghe pháp,
Ðạo sư tối thượng - Phật.
Thế Tôn giảng Niết-bàn
Thoát ly mọi triền phược
Mẹ đối với pháp ấy
Thật cực kỳ ái lạc"
(24)
Lần đầu tiên khi ông Cấp Cô Ðộc
đến yết kiến Thế Tôn, lúc trời chưa sáng, ngang qua nghĩa
địa Sìvatthikà, được các phi nhân mở cửa. Bấy giờ trời
tối sầm lại, Cấp Cô Ðộc hoảng sợ muốn đi lui, Dạ-xoa
Sìvaka ẩn mình nói lên lời khích lệ này:
"Trăm voi và trăm ngựa
Trăm xe do ngựa kéo,
Cả trăm nghìn thiếu nữ,
Ðược trang sức bông tai
Không bằng phần mười sáu
Một bước đi tới này.
Cư sĩ hãy tiến tới!
Cư sĩ hãy tiến tới!
Tiến tới tốt đẹp hơn,
Có có lùi, lùi bước!"
Những sự kiến liên hệ giữa Thế
Tôn và Ác ma, phần lớn xảy ra khi Thế Tôn trú tại trú xứ
thuộc Ác ma quản lý. Chúng ta không còn nghi ngờ rằng trong
những đối tượng Thế Tôn giáo hóa có chúng Ác ma.
Liên hệ giữa
Thế Tôn và Chư Thiên.
Chư Thiên là một trong các đối
tượng được Thế Tôn giáo hóa. Các bản kinh thường ghi
"Thế Tôn ra đời vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài Người".
Rất nhiều phẩm kinh của Nikàya
và A-hàm đề cập đến việc chư Thiên thỉnh giáo Thế Tôn.
Các kinh Bắc tạng cũng thường ghi có chư Thiên trong các thính
chúng câu hội. Qua Nikàya và A-hàm, chư Thiên thường đến
hầu Thế Tôn và nghe pháp vào sáng sớm, trước lúc trời
hừng sáng. Một số trường hợp khác, Thế Tôn đến giáo
hóa ở các cung trời (các đại đệ tử của Ngài cũng thế),
một số trường hợp chư Thiên đến mách Thế Tôn một số
Phật sự cần làm hay một số tin tức Phật sự.
Chư Thiên ở Dục giới, Sắc giới
và Vô sắc giới có những vị là những Thánh Nhất Lai (ở
Dục giới), những Thánh Bất Lai (ở Sắc giới), có những
vị có chánh kiến về Phật pháp, về con đường giải thoát.
Sau đây là một số trường hợp tiêu biểu về mối liên
hệ giáo hóa của Thế Tôn đối với chư Thiên.
1. Ngay sau khi Thế Tôn thành đạo,
giữa lúc Thế Tôn đang lưỡng lự chuyển bánh xe pháp thì
Phạm thiên Sahampati thường xuất hiện trước Thế Tôn, đắp
thượng y, cung kính đảnh lễ và thỉnh cầu Thế Tôn trú
thế, chuyển bánh xe pháp vì lợi ích cho chúng sinh (Tương
Ưng I, phẩm Chư Thiên).
Khi Thế Tôn khởi lên ý nghĩ: "Ta
cần phải sống y chỉ, cung kính và tôn trọng pháp mà Ta đã
được Chánh đẳng Chánh giác" (Tương Ưng I, phẩm Chư Thiên)
thì Phạm thiên Sahamapati cũng xuất hiện trước Thế Tôn cung
kính bạch Thế Tôn rằng, chư Phật quá khứ cũng thế, sống
y chỉ, cung kính và tôn trọng Chánh pháp.
2. Một số chư Thiên, khi đêm đã
gần mãn, đến hầu Thế Tôn và bạch Thế Tôn về những
trường hợp của họ, trước đây ở cõi người đã sống
thiếu cung kính chư Tăng, hoặc vì họ là chư Tăng nhưng không
sống trọn tinh thần Lục hòa nên sanh về chư Thiên, mà là
những chư Thiên thấp kém (Tăng Chi Bộ Kinh III-A, tr. 360).
3. Khi Phạm thiên Paka khởi lên tà
kiến: "Ðây là thường hằng không sanh, không già, không chết"
thì Thế Tôn liền rời khỏi Thắng Lâm ở Xá-vệ và xuất
hiện trước Phạm thiên Paka, chỉ dạy cho Paka con đường
giải thoát (Tương Ưng I, phẩm Chư Thiên).
4. Một lần khác, một Phạm thiên
cho rằng không có một Sa-môn, Bà-la-môn nào đến được Phạm
thiên giới. Thế Tôn biết được, liền rời khỏi Xá-vệ,
hiện ra ở Phạm thiên giới, ngồi kiết-già giữa hư không,
trên đầu Phạm thiên ấy, toàn thân phun lửa. Các Tôn giả
Mục-kiền-liên (Moggallàna), Ðại Ca-diếp (Mahàkassapa), Ðại
Kiếp-tân-na (Mahà Kappina), A-na-luật, A-nậu-lâu-đà (Anurud-dha)
với Thiên nhãn thanh tịnh, biết Thế Tôn đang ở Phạm thiên
giới, liền rời khỏi Xá-vệ, xuất hiện ở Phạm thiên giới,
ngồi kiết-già giữa hư không, phía dưới Thế Tôn, toàn thân
phun lửa.
Sự xuất hiện này của Thế Tôn
giúp Phạm thiên ấy rời khỏi tà kiến kia (Tương Ưng I, phẩm
Chư Thiên).
Có một lần khác, Phạm thiên Sahampati
đến hầu và bạch Thế Tôn về Tỷ-kheo Sokalikà do Tỷ-kheo
này có ý nghĩ xấu, nói xấu, sai sự thật về Tôn giả Xá-lợi-phất
và Mục-kiền-liên, sau khi vừa chết đã đọa xuống địa
ngục Sen hồng (Tương Ưng I, phẩm Chư Thiên).
Qua Kinh Ðế-Thích Sở Vấn (Sakka
Panhasuttanta), Hán tạng: Trường A-hàm, số 14, kinh "Thích Ðề
Hoàn Nhân Vấn", vua Trời Tam Thập Tam Sakka (Ðế-thích), cùng
Thiên chúng, một hôm đến thành Vương Xá (Ràjagaha) xứ Ma-kiệt-đà
(Magadha), khi Thế Tôn đang trú ở đó để thỉnh vấn Thế
Tôn. Sau thời pháp này, Thiên chủ và 80.000 Thiên chúng đã
đắc Pháp nhãn (Tu-đà-hoàn quả).
Chúng ta hãy đi vào nội dung cuộc
giảng dạy qua vấn đáp của Thế Tôn dành cho Thiên chủ Sakka.
* Câu hỏi 1: "Bạch Thế Tôn,
do kiết sử gì, các loài Thiên, Nhơn, A-tu-la, Rồng, Rắn, Càn-thát-bà
và tất cả những loài khác ao ước không hận thù, không
ác ý, sống với nhau không hận thù với đả thương, với
thù nghịch...?" (Tr. 276).
Thế Tôn dạy: "Do tật đố và xan
tham...".
* Câu hỏi 2: "Bạch Thế Tôn,
do duyên gì có mặt mà tật đố và xan tham có mặt?"
- "Này Sakka, do ưa, ghét, làm nhân
duyên, do ưa, ghét có mặt nên tật đố và xan tham có mặt".
* Câu hỏi 3: "Bạch Thế Tôn,
do duyên gì có mặt mà ưa, ghét có mặt?"
- "Do dục có mặt nên ưa, ghét có
mặt".
* Câu hỏi 4: "Bạch Thế Tôn,
do duyên gì có mặt khiến dục có mặt?"
- "Do tầm có mặt nên dục có mặt
v.v...."
* Câu hỏi 5: "Bạch Thế Tôn,
do duyên gì có mặt khiến tầm có mặt?"
- Do vọng tưởng có mặt nên tầm
có mặt.
* Câu hỏi 6: "Bạch Thế Tôn,
phải chứng đạt như thế nào, phải thành tựu bằng con đường
nào để đưa đến sự đoạn diệt các loại vọng tưởng?"
Bấy giờ, Thế Tôn dạy Thiên chủ
Sakka rằng có hai loại hỷ, hai loại ưu, hai loại xả: một
loại đưa đến sự phát triển các thiện pháp, cần được
gần gũi; một loại đưa đến bất thiện pháp, cần được
tránh xa. Và vị Tỷ-kheo (người tu hành) cần phải hiểu như
vậy, cần phải thành tựu như vậy thì sẽ đi đến chỗ
đoạn trừ hết các vọng tưởng.
Thiên chủ Sakka tiếp tục đặt
thêm một số câu hỏi về sở hành và đã được Thế Tôn
dạy rõ.
Về chư Thiên, một hôm Thế Tôn
dạy cho chư Tỷ-kheo biết về năm tướng xuất hiện của
một vị Thiên trước khi mệnh chung, và lời cầu chúc của
chư Thiên trước khi một vị Thiên mệnh chung là:
- Năm tướng chết của chư
Thiên gồm: các vòng hoa héo úa, áo mặc bị uế nhiễm, mồ
hôi sinh ra từ nách, thân sắc trở nên xấu, vị Thiên ấy
không hoan hỷ tại chỗ ngồi chư Thiên.
- Khi biết một vị Thiên sắp chết,
chư Thiên đến tiễn biệt với ba lời cầu chúc: "Từ đây,
Hiền giả hãy đi đến cõi lành, ở đó hãy nhận được
điều tốt đẹp đáng nhận! Sau khi nhận được, hãy an trú!".
Cõi lành mà chư Thiên cầu chúc, theo
phẩm Kinh, là cõi Người. Ðiều tốt đẹp đáng nhận là
Phật pháp. Sau khi đón nhận Phật pháp, tin Pháp, hãy kiên
trì tu tập gọi là khéo an trú của lời chúc (25).
Tại đây, có một điều đáng được
chúng ta suy nghĩ là khuynh hướng của con người thường mong
thác sanh về các cõi Trời, ngay cả lời cầu chúc nhau trước
khi chết. Nhưng chính ở cõi Trời, chư Thiên lại mong cầu
được thác sanh về làm người, gặp Phật pháp và tu tập
theo Phật pháp.
Lời cầu chúc thường mang ý nghĩa
của ước mơ lớn nhất, tốt nhất, như hiện nay các Phật
tử cầu chúc vãng sanh Tịnh độ. Không biết chúng ta có được
thích thú khi đi đến kết luận rằng: Nhân gian là Tịnh độ
của chư Thiên, hay nhân gian cũng là một cõi Tịnh độ.
Nikàya và A-hàm ghi chép, hình ảnh
của Thế Tôn xuất hiện trước chư Thiên với vùng hào quang
thần túc, và vôùi thần sắc vô lượng trang nghiêm để nhiếp
hóa. Nếu có sự kiện Thế Tôn giáo hóa đủ các hội chúng
Sa-môn, Bà-la-môn, Càn-thát-bà, Sát-đế-lợi, chư Thiên v.v...
ngay trong đời sống tại thế của Thế Tôn, thì theo tinh thần
giáo dục khế cơ, khế lý và Tứ nhiếp mà Thế Tôn đã vận
dụng (mà thật ra bất cứ một nhà giáo dục lý tưởng nào
cũng cần phải vận dụng như thế), Thế Tôn phải thị hiện
hình thức và ngôn ngữ in hệt hình thức và ngôn ngữ của
hội chúng mà Thế Tôn giáo hóa. Ðiều này cho chúng ta thấy
rằng: Thế Tôn hiện tướng rất là giản dị, rất là người,
để giáo hóa con người, mặt khác, ắt hẳn Thế Tôn thị
hiện với thân tướng đầy thần thông với hào quang sáng
chói để giáo hóa các hàng chư Thiên, A-tu-la, Càn-thát-bà,
và các Dạ-xoa, những loài hữu tình vốn có nhiều uy lực
của thần thông và thân sắc hào quang. Thế là hình ảnh tổng
hợp về Ngài được cả Bắc tạng và Nam tạng minh họa.
Quan niệm Thế Tôn chỉ khoác hình
ảnh rất "Người" hay rất "Trời" chỉ là quan niệm hẹp hòi,
thiếu sót. Vả lại, cứ với tinh thần chủ trương, hay quan
điểm, thì chúng ta chỉ nuôi sống chấp thủ, rời xa giáo
lý của Thế Tôn và sẽ không nói lên được hình ảnh trung
thực về Thế Tôn.
Thế Tôn và
Càn-thát-bà, Loài Rồng, Kim Xí Ðiểu
- Càn-thát-bà (Gandhabha) là một
loại chư Thiên, nhưng là những vị Thiên trú hương của rễ
cây, lõi cây, giác cây, vỏ cây, trú hương của hoa, trú hương
của vị, và trú hương của hương (26).
Chúng sinh ở các cõi nếu sống
hành mười thiện nghiệp, hành các hạnh bố thí và với mong
ước sanh về các loại Thiên Càn-thát-bà, thì sau khi mệnh
chung sẽ sanh về cõi Càn-thát-bà (27).
- Loài Rồng (Nàga: có nơi dịch
là loài rắn) có các loài khác nhau: noãn sanh, thai sanh, thấp
sanh, và hóa sanh. Loài Rồng hóa sanh là hơn cả trong bốn loài.
Bốn loài Rồng này, nếu tu các hạnh lành về thân, khẩu,
ý và với ước mong từ bỏ thân Rồng, thì sau khi mệnh chung
có thể sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này (28).
- Kim xí điểu là loài chim, cũng
có bốn loại khác nhau; noãn sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa
sanh. Hóa sanh là thuộc đẳng cấp cao nhất.
Các loài Càn-thát-bà, Rồng và Kim
xí điểu cũng thường họp mặt cùng với loài Người và
chư Thiên để chiêm ngưỡng tôn nhan Thế Tôn và nghe Thế
Tôn thuyết pháp. Các kinh Nikàya, A-hàm và Bắc tạng đều
có ghi chép sự kiện họp mặt này.
Kinh Ðại Hội (Mahàsamaya) - Hán
tạng: Ðại Hội Kinh, Trường A-hàm số 19 - ghi rõ, trong một
thời pháp của Thế Tôn tại Ðại Lâm (Mahàvana), thành Ca-tỳ-la-vệ
(Kapilavatthu) có mặt chư Thiên Sắc giới, chư Thiên Dục giới,
Càn-thát-bà (Gandhabha), Cưu-bàn-trà (Kumbhanda), loài Rồng, Kim
xí điểu, Nhơn và Phi nhơn họp mặt.
Chúa tể của Càn-thát-bà là Trì
Quốc Thiên vương (Dhatarattha), trị vì ở phương Ðông. Chúa
tể của Cưu-bàn-trà là Tăng Trưởng Thiên Vương (Virùlha),
trị vì ở phương Nam. Chúa tể của loài Rồng là Quản Mục
Thiên vương (Virùpakkha), cai quản phương Tây. Loài Kim xí điểu
là Suppanna và Citrà, có uy lực hơn loài Rồng.
Tất cả các loài này đều họp
mặt quy y Phật và nghe Thế Tôn nói kệ, thuyết pháp.
Khi chúng họp mặt cùng với chư
Thiên và loài Người, Thế Tôn có báo trước cho chúng Tỷ-kheo
hay. Chỉ có những Tỷ-kheo nào có pháp nhãn thanh tịnh mới
thấy sự có mặt của chúng.
* * *
Như thế, trong hiện kiếp, trên
cuộc đời này, Thế Tôn đã thuyết pháp giáo hóa cho hầu
hết các loài chúng sinh, vì lợi ích, an lạc và giải thoát
của chúng sinh.
Cho đến nay, Nikàya và A-hàm đã
cho chúng ta một cái nhìn tương đối đầy đủ về đối
tượng giáo hóa.
Có những thời thuyết pháp, Thế
Tôn chỉ nói cho một người, có trường hợp cho một nhóm
nhỏ, có trường hợp cho cả bốn chúng đệ tử của Ngài
và các ngoại đạo; nhưng cũng có những thời pháp chỉ dành
cho các loài Phi nhơn, chư Thiên, hoặc gồm chung nhiều loại.
Hình ảnh này tiêu biểu cho những thành phẩm thính chúng,
hệt như được trình bày ở phần mở đầu các kinh Bắc
tạng về nội dung giảng dạy, Thế Tôn vẫn tập trung vào
các điểm chính của giáo lý: từ bỏ điều ác, làm các việc
thiện và giữ lòng thanh tịnh, loại bỏ hết các cấu bẩn
của tâm. Phương pháp căn bản của giảng dạy vẫn là "Thân
giáo" và "Khẩu giáo".
Thành phần thính chúng, nội dung
giảng dạy và phương pháp giảng dạy của Thế Tôn là thuộc
truyền thống giáo hóa của chư A-la-hán Chánh Ðẳng Giác của
các đời quá khứ, của hiện tại và của tương lai. Con đường
này gọi là Chánh pháp, vẫn mãi mãi tồn tại, có mặt như
thế, dù chư Thế Tôn có xuất hiện ở đời hay không. Chư
Thế Tôn là những đấng phát hiện con đường và giới thiệu
con đường. Nó là sự thật của muôn thuở, và được gọi
là đạo Phật. Ðây là một nội dung của niềm tin, lẽ sống
và hướng đi giải thoát (hay con đường hạnh phúc của chân
lý) của các giới Phật tử tại gia và xuất gia.
Nội dung Chánh pháp này sẽ được
trình bày ở Chương Hai, "Pháp Bảo"./.
Ghi chú:
(1) Tăng Chi IV-B, bd HT Minh
Châu, tr. 220; Tương Ưng I, bd HT Minh Châu, tr. 1; Trung Bộ III,
Nhất Dạ Hiền giả.
(2) Dhp 1 & 2; Tăng Chi I, phẩm
Bốn Pháp, phẩm Ðọa Xứ; Tăng Chi II, 1988 tr. 77; Trung Bộ
III, Kinh Ðại Nghiệp Phân Biệt.
(3) Tương Ưng I; Hán tạng tập 36,
3 Ðại 3, 260c; Biệt tập 8: 1, Ðại 2
(4) Trung Bộ III, Kinh A-nan Nhất Dạ
Hiền; Hán tạng: A-nan-đà Thuyết Kinh, Trung A-hàm, số 167,
Ðại 1, 699c.
(5) Trung Bộ II; Hán tạng Tiểu Du
Kinh, Ðại 1, 804a, Ðại 1, 917.
(6) Tăng Chi IV, tr. 39; Tăng Chi II,
Phẩm Bốn Pháp.
(7) Anguttara Nikàya, Colombo. 1929 tr.
115; Tăng Chi I, 1980, tr. 216-217, bd HT Minh Châu, Kinh Tư Sát, Trung
Bộ I.
(8) Sàmagàmasuttam, Trung bộ III; Hán
tạng, Kinh Tịnh Bất Ðộng Ðạo, Trung 75; Ðại 1, 542b.
(9) Tương Ưng I, chương Tương Ưng
Phạm Thiên, phần Cung Kính, 1982, tr. 171.
(10) Trung Bộ I, Kinh Thánh Cầu; Hán
tạng: Kinh La-ma, Ðại I, 775c.
(11) Trung Bộ III, Kinh Giới Phân
Biệt; Hán tạng: Kinh Phân Biệt Luật, Giới, Ðại I 690b.
(12) Tăng Chi I, Bd HT Thích Minh Châu,
1980, tr. 30.
(13) Tương Ưng I, Bd HT Thích Minh
Châu, phẩm kinh "Các Ngoại Ðạo".
(14) Tăng Chi I, tr. 30; Trưởng Lão
Tăng Kệ .
(15) Tương Ưng V, phẩm Bệnh.
(16) Tương Ưng II, Tương Ưng Kassapa.
(17) Trung Bộ III, Kinh Tùy Phiền
Nảo; Hán tạng: Trường Thọ Vương Bổn, Trung A-hàm, số 72
Ðại I, 5320.
(18) Tương Ưng V, phẩm Bệnh.
(19) Tăng Chi Bộ, II-A, bd HT Minh Châu,
tr, 250.
(20) Kinh Bhàradvàja, Người cày ruộng.
Kinh Tập, số 12, Tiểu Bộ Kinh.
(21) Trường Bộ I, bd HT Minh Châu,
tr. 114-115.
(22) Tiểu Bộ Kinh, Kinh Tập, số
47.
(23) Tiểu Bộ Kinh, Kinh Tập, số
51.
(24) Tương Ưng I, phẩm Dạ-xoa
(25) Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết
Như Vậy, 1982, tr. 478-479.
(26) Tương Ưng III, phẩm Càn-thát-bà,
bd HT Minh Châu, 1982, tr. 269.
(27) Ibid., tr. 270.
(28) Ibib., tr. 262-263.