Phần III
- Bài 8
QUY ƯỚC TRÍCH
DẪN
TAM TẠNG KINH
ÐIỂN NGUYÊN THỦY
Thảo Hiền Sucitto
Trong nhiều năm
qua, tác giả các sách báo Phật giáo thường dùng các quy ước
khác nhau để trích dẫn kinh điển Nguyên thủy của tạng
Pàli làm người đọc có nhiều bỡ ngỡ, đôi khi có nhiều
nhầm lẫn, không biết đích xác nguồn gốc của những đoạn
kinh điển trích dẫn đó. Vấn đề này thường gặp nhất
trong các trích dẫn từ Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikàya) và Tăng
Chi Bộ (Anguttara Nikàya). Thí dụ có tác giả trích dẫn một
đoạn kinh trích từ "S.i.100", có tác giả ghi là "S
III: iii.5", có người ghi là "S 3:25", và người khác
lại ghi là "SN III.25". Trong các bài viết tiếng Việt,
có tác giả ghi theo tên kinh Pàli, nhưng cũng có người ghi
theo bản dịch Việt như "Tư, q.1, t.223", làm người đọc
cảm thấy rối ren, không biết rằng thật ra các tác giả
này đều trích dẫn từ cùng một bài kinh (Pabbatopama Sutta,
kinh Dụ hòn núi).
Trong bài này, người viết xin mạn
phép được trình bày tóm tắt các quy ước thường dùng để
giúp quý độc giả có một nhận định rõ ràng hơn về các
phương cách trích dẫn kinh điển Pàli.
I. QUY ƯỚC
PTS
Hội Kinh điển Pàli (The Pàli Text
Society, PTS) có hai cách viết tắt tên kinh: cách xưa trong quyển
từ điển Pàli Text Society Dictionary, và cách mới trong quyển
Critical Pàli Dictionary. Trong hơn 100 năm qua, Hội lần lượt
xuất bản các kinh điển Pàli được ghi lại bằng mẫu tự
Latin và các bản dịch Anh ngữ. Cách đánh số, kể cả các
bản Anh ngữ, đều được quy chiếu vào bản Pàli và số
trang ghi trong bản Pàli, và các nhà Phật học ngày nay cũng
thường căn cứ theo cách đánh số này.
1. Luật tạng
(Vinaya Pitaka, Vin)
Có 5 quyển luật, được trích dẫn
qua quy ước: "Vin quyển (số La Mã) số trang". Thí
dụ: "Vin III 59" là đoạn văn trong quyển III của Luật
tạng, tương ứng với trang 59 của bản Pàli. Cần ghi nhận
ở đây là mặc dù đoạn văn có thể được trích từ bản
dịch Anh, Pháp, Ðức, Việt v.v..., đoạn văn đó luôn luôn
được quy chiếu về bản gốc Pàli trong trang 59.
2. Kinh tạng
(Sutta Pitaka)
Kinh tạng gồm có 5 bộ chính:
2.1 Trường Bộ (Digha Nikàya, DN
hoặc D):
Hội PTS xuất bản 3 quyển, gồm
34 bài kinh. Quy ước trích dẫn: "DN số quyển (số La
Mã) số trang". Thí dụ "DN III 33" là đoạn văn
trong quyển III của Trường Bộ, tương ứng với trang 33 của
bản Pàli.
Có nhiều tác giả không trích số
quyển mà chỉ trích số bài kinh, thí dụ "DN 12", nghĩa là
bài kinh số 12 của Trường Bộ. Tuy nhiên, vì các bộ kinh
trong bộ này là các bài kinh dài, trích dẫn như thế thường
không được chính xác, và cần phải ghi thêm số đoạn kinh
của bài kinh đó.
2.2 Trung Bộ (Majjhima Nikàya, MN
hoặc M):
Gồm 152 bài kinh, xuất bản thành
3 quyển: quyển I gồm 50 bài, quyển II gồm 50 bài, và quyển
III gồm 52 bài còn lại. Quy ước trích dẫn: "MN số quyển
(số La Mã) số trang". Thí dụ "MN I 350" là đoạn
kinh trong quyển I, tương ứng với trang 350 của bản Pàli.
Có tác giả chỉ trích số bài kinh và số đoạn, thí dụ:
"MN 52.3", tương ứng đoạn kinh trên, nhưng được hiểu
là đoạn 3 trong bài kinh số 52.
2.3 Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikàya,
SN hoặc S):
Gồm 7.762 bài kinh, kết nhóm lại
theo chủ đề trong 56 phẩm, và được xuất bản thành 5 quyển.
Quy ước trích dẫn: "SN số quyển (số La Mã) số trang".
Thí dụ "SN I 79" là đoạn kinh trong quyển I, tương ứng
với trang 79 của bản Pàli. Vì đa số các bài kinh này rất
ngắn, có người trích dẫn chi tiết hơn, với số phẩm và
số đoạn, như "SN II.XV.1.2", nghĩa là đoạn kinh tương
ứng với trang 2 của bản Pàli, quyển II, phẩm XV, đoạn I.
Gần đây, có khuynh hướng chỉ
trích dẫn số phẩm và số bài kinh mà thôi, theo quy ước:
"SN số phẩm (số La Mã), số bài kinh". Thí dụ
"SN III.25" hoặc "SN 3:25", nghĩa là kinh số 25 trong
phẩm III của Tương Ưng.
2.4 Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikàya,
AN hoặc A):
Gồm 9.557 bài kinh, kết nhóm theo
số đề mục (pháp số) liệt kê trong bài kinh thành 11 nhóm,
từ nhóm 1 đến nhóm 11, và được Hội PTS xuất bản thành
5 quyển. Quy ước trích dẫn: "AN số quyển (số La Mã)
số trang". Thí dụ "AN IV 93" để chỉ đoạn kinh
tương ứng với trang 93 của bản Pàli, trong quyển IV. Có người
trích dẫn số nhóm và số chương, chẳng hạn "AN VI.VI.63"
nghĩa là đoạn kinh tương ứng với trang 63 của bản Pàli,
trong chương VI của nhóm VI.
Gần đây, có khuynh hướng chỉ
trích dẫn số nhóm và số kinh trong nhóm. Thí dụ "AN VI:78"
hoặc AN 6:78", nghĩa là đoạn văn trong kinh số 78 của
nhóm pháp số VI.
2.5 Tiểu Bộ (Khuddaka Nikàya, KN
hoặc K):
Ðây là tập hợp 15 tập kinh, có
nhiều bài kệ, trong đó có những bài ghi lại trong thời nguyên
khai, và cũng có bài được ghi lại về sau này trước khi
đúc kết và viết xuống giấy.
(a) Tiểu tụng (Khuddakapatha,
Khp hoặc Kh): gồm 9 bài kinh ngắn gồm nhiều câu kệ, thường
được trích dẫn như: "Khp số bài kinh (số câu kệ)".
Thí dụ "Khp IX" là bài kinh Từ Bi (Metta Sutta), kinh số
9.
(b) Pháp cú (Dhammapada, Dhp hoặc
Dh): gồm 423 câu kệ, trích dẫn bằng số câu kệ: "Dhp
số câu kệ". Thí dụ "Dhp 100 " là câu kệ 100
trong kinh Pháp Cú.
(c) Phật tự thuyết hay Cảm hứng
ngữ (Udàna, Ud): gồm 80 bài kinh, trích dẫn như: "Ud
số bài kinh (số La Mã) số câu kệ". Thí dụ "Ud
III 4" là câu kệ số 4 của bài kinh số 3 trong kinh Phật
tự thuyết. Ðôi khi cũng được trích dẫn theo số trang trong
bản Pàli.
(d) Phật tự thuyết như vậy
(Ilivuttaka, It): gồm 112 bài kinh ngắn, trong 4 chương. Trích
dẫn như: "It số chương (số La Mã) số bài kinh",
hoặc "It số trang Pàli". Thí dụ "It IV 102"
là bài kinh 102 trong chương IV.
(e) Kinh tập (Suttanipàta, Sn):
gồm 71 bài kinh kệ trong 5 chương, có những bài kệ được
xem là cổ xưa nhất (chương IV, phẩm 8). Trích dẫn theo quy
ước: "Sn số câu kệ", hoặc "Sn số chương
số bài kinh số câu kệ". Thí dụ: Kinh Một sừng tê
ngưu (Sn I 3) là bài kinh số 3, chương I của Kinh tập.
(f) Thiên cung sự (Vimanavatthu,
Vv): gồm 85 truyện trên các cung trời, trong 7 chương. Trích
dẫn như: "Vv số chương (số La Mã) số bài kinh số bài
kệ".
(h) Trưởng lão Tăng kệ (Theragàthà,
Th hoặc Thag): gồm 207 bài kinh chứa các câu kệ của 264
vị trưởng lão đệ tử của Ðức Phật. Quy ước trích dẫn:
"Th số câu kệ".
(i) Trưởng lão Ni kệ (Therigàthà,
Thi hoặc Thig): gồm 73 bài kinh chứa các câu kệ của 73
vị trưởng lão ni đệ tử của Ðức Phật. Quy ước trích
dẫn: "Thi số câu kệ".
(j) Bổn sanh (Jàtaka, J): Ðây
là tập hợp 547 câu chuyện tiền thân của Ðức Phật. Hội
PTS xuất bản chung với phần chú giải (Jàtaka-Atthavannana,
JA) thành một bộ 6 quyển. Quy ước trích dẫn: "J số
truyện", hoặc "J số quyển (số La Mã ) số trang
Pàli".
(k) Nghĩa thích (Niddesa, Nd),
gồm Ðại nghĩa thích (Mahaniddesa, NiddI hoặc Nd1) và Tiểu nghĩa
thích (Culaniddesa, NiddII hoặc Nd2), chứa các bài luận giải
của ngài Xá Lợi Phất. Quy ước trích dẫn: "NiddI (hoặc
NiddII) số trang Pàli".
(l) Vô ngại giải đạo (Patisambhidà
magga, Patis hoặc Ps): chia làm 3 phẩm, mỗi phẩm chứa 10
đề mục, gồm các bài luận giải của ngài Xá Lợi Phất.
Hội PTS xuất bản thành 2 quyển. Quy ước trích dẫn: "Patis
số quyển (số La Mã) số trang Pàli".
(m) Thí dụ (Apadana, Ap): gồm
các truyện, thể kệ, về cuộc đời và tiền thân của 41
vị Phật Ðộc giác, 550 vị Tỳ kheo A la hán và 40 vị Tỳ
kheo ni A la hán, được xuất bản thành 2 quyển. Quy ước trích
dẫn: "Ap số quyển (số La Mã) số trang Pàli".
(n) Phật sử (Bhuddavamsa, Bv):
gồm 29 đoạn với các bài kệ về cuộc đời của Phật Thích
Ca và 24 vị Phật trong quá khứ. Quy ước trích dẫn: "Bv
số đoạn (số La Mã) số câu kệ".
(o) Sở hành tạng (Cariyà Pitaka,
Cp): nói về 35 kiếp sống chót của ngài Bồ tát trước
khi thành Phật Thích Ca, ghi lại 7 trong số 10 đức hạnh Ba
la mật của Bồ tát. Quy ước trích dẫn: "Cp số đoạn
(số La Mã) số câu kệ".
3. Thắng Pháp
tạng (Abhidhamma Pitaka)
3.1 Pháp Tập luận (Dhammasangani,
Dhs): tóm tắt các pháp với định nghĩa của mỗi pháp.
Quy ước trích dẫn: "Dhs số trang Pàli" hoặc "Dhs
số đề mục".
3.2 Phân Biệt luận (Vibhanga, Vibh
hoặc Vbh): gồm 18 chương. Quy ước trích dẫn: "Vibh
số trang Pàli".
3.3 Giới Thuyết luận (Dhàtukatha,
Dhatuk hoặc Dhtk): luận giải về các uẩn, xứ và giới.
Quy ước trích dẫn: "Dhatuk số trang Pàli".
3.4 Nhân Thi Thiết luận (Puggalapannatti,
Po hoặc Pug): về phân loại các hạng người, gồm 10 chương.
Quy ước trích dẫn: "Pp số trang Pàli" hoặc "Pp
số chương số đoạn".
3.5 Luận sự (Kathavatthu, Kv hoặc
Kvu): chi tiết về các tranh luận để làm sáng tỏ các
điểm trọng yếu trong đạo Phật, do ngài Moggaliputta Tissa
(Mộc Kiền Liên Tu Ðế) đề xướng trong Ðại hội kết tập
kinh điển lần thứ 3 trong thời đại vua A Dục (Asoka), gồm
23 chương. Quy ước trích dẫn: "Kv số trang Pàli"
hoặc "Kv số chương số đoạn".
3.6 Song Ðối luận (Yamaka, Yam):
xuất bản thành 2 quyển, gồm 10 chương, bao gồm các đề
tài đặt ra dưới hình thức vấn đáp từng đôi, theo chiều
xuôi và chiều ngược. Quy ước trích dẫn: "Yam số trang
Pàli".
3.7 Phát Thú luận (Patthana, Patth
hoặc Pt): đây là bộ lớn nhất, luận giải chi tiết về
nhân duyên và tương quan giữa các pháp, gồm 4 đại phẩm.
Mỗi đại phẩm lại chia làm 6 tiểu phẩm. Quy ước trích
dẫn: "Patth số trang Pàli".
II. ÐẠI TẠNG
KINH VIỆT NAM
Trong 10 năm qua, Hội đồng Phiên
dịch Ðại tạng kinh Việt Nam đã lần lượt ấn hành các
bộ kinh Việt ngữ dịch từ tạng Pàli (kinh Nikàya) và tạng
Hán (kinh A Hàm). Ðến năm 1999, 27 quyển đã được ấn hành:
Trường Bộ (quyển 1-2), Trường A Hàm (quyển 3-4), Trung Bộ
(quyển 5-7), Trung A Hàm (quyển 8-11), Tương Ưng Bộ (quyển
12-16), Tạp A Hàm (quyển 17-20), Tăng Chi Bộ (quyển 21-24), Tăng
Nhất A Hàm (quyển 25-27). Ngoài việc đánh số thứ tự theo
tiến trình in ấn, mỗi quyển kinh còn có mã số: "A"
là kinh, "B" là luật, "C" là luận, kế đó "p" là dịch từ
bản gốc Pàli và "a" là dịch từ bản gốc Hán. Số
cuối cùng là số thứ tự trong Tam tạng kinh điển.
Thí dụ: Tương Ưng Bộ có mã số
là "Ap3" nghĩa là kinh (A), dịch từ tạng Pàli (p), và
bộ thứ 3 trong kinh tạng Nguyên thủy.
Tuy nhiên, vấn đề trích dẫn kinh
điển trong các tài liệu, sách báo Phật giáo hình như cũng
chưa nhất quán, có khi dùng theo các quy ước của Hội PTS,
có khi ghi lại tựa đề Việt ngữ, có khi ghi theo số trang
của bộ cũ v.v... Mong rằng vấn đề này sẽ được quý học
giả Tăng Ni cứu xét để thiết lập một quy ước chung và
thống nhất trong việc trích dẫn kinh điển bằng tiếng Việt.
-ooOoo-
*Sách tham khảo:
(1) Pàli Text Society, 1997, Information
on Pàli Literature and Publications. Association of Buddist Studies, U.K
(2) John Bullitt, 1998, A note about sutta
references schemes. Access to Insight web page, http://www.accesstoinsight.org
(3) Russell Webb, 1991, Ananlysis of the
Pàli Canon. Wheel No.217/220, Buddhist Publication Society, Sri Lanka
(4) U Ko Lay, 1991, Guide to Tipitaka.
Burma Pitaka Association, Myanmar