Phần III
- Bài 7
PHẬT
GIÁO TRONG THỜI ÐẠI KHOA HỌC
Trần Chung Ngọc
Trong thời đại khoa
học, khi mà những tiến bộ khoa học đã làm lui đi phần
nào quan niệm thần thánh và những mớ huyền thoại, mê tín
dị đoan của con người, thì càng ngày Phật giáo càng chứng
tỏ là một tôn giáo, từ cấu trúc, tư tưởng trong các kinh
điển cho tới phương pháp hành trì, rất tương hợp với
khoa học.
Ngày nay, Phật giáo đã đi vào thế
giới phương Tây một cách nhẹ nhàng, cởi mở và hòa đồng.
Cho nên thế giới phương Tây càng ngày càng hâm mộ Phật
giáo về những sắc thái tiến bộ của Phật giáo, và những
khoa học gia thượng thặng ngày nay cũng đã nhận ra rằng
tư tưởng Phật giáo đã giúp họ rất nhiều trong việc giải
thích những hiện tượng khoa học và dẫn họ đến những
tư tưởng mới và khám phá mới trong khoa học. Muốn hiểu
được hiện tượng kỳ lạ trên, chúng ta cần duyệt sơ lại
lịch lịch sử khoa học phương Tây cũng như tìm hiểu những
sắc thái đặc biệt của Phật giáo đối với khoa học.
Theo quan niệm của một số khá
đông, nhất là ở phương Tây, thì có vẻ khoa học và tôn
giáo khó có thể tương hợp. Thật vậy, tôn giáo phương Tây
đặt căn bản trên niềm tin ở một đấng siêu nhiên vạn
năng, tác giả của mọi vật trên thế gian và có toàn quyền
quyết định số phận con người trong đời sau, dù rằng cho
tới nay không có cách nào con người có thể kiểm chứng được
sự hiện hữu của một đấng toàn năng, hoặc những ai đã
được thưởng hay bị phạt, và thưởng phạt như thế nào.
Trái lại, khoa học đặt căn bản trên thực nghiệm, trực
tiếp liên hệ tới những vấn đề xã hội ngay trong đời
này, và không chấp nhận những sự việc có tính cách mơ
hồ, viển vông, không phù hợp với đầu óc ngày càng tiến
bộ của con người.
Trong mấy thế kỷ gần đây, khoa
học phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ ở phương Tây, do
đó phương Tây rất tự hào về nền văn minh thường được
biết là "nền văn minh Thiên Chúa giáo phương Tây" (Western
Christian Civilization), vì tôn giáo chính ở phương Tây là Thiên
Chúa giáo, và vì những phát triển, tiến bộ ngoạn mục nhất
của khoa học và nhiều bộ môn khác cũng ở phương Tây. Nhưng
ít người để ý đến sự nhập nhằng kết hợp tôn giáo
và khoa học làm một nền văn minh chung. Ít người để ý
sự kiện khoa học tiến bộ và phát triển ở phương Tây
không phải vì niềm tin trong tôn giáo của các khoa học gia
phương Tây, mà chính là vì các khoa học gia đã phủ nhận
niềm tin này, hay ít ra cũng là lãnh đạm với niềm tin này.
Thật vậy, lịch sử khoa học cho thấy tôn giáo phương Tây,
thường tự cho là văn minh tiến bộ, là khai phóng, đã luôn
luôn làm đủ mọi cách, trong phạm vi quyền lực thế gian,
để ngăn ngừa những khả năng tự tại quý báu nhất của
con người, thí dụ như óc sáng tạo, tự do suy tư v.v..., những
thành tố tất yếu của sự phát triển khoa học nói riêng,
kiến thức con người nói chung. Trong khi đó, Phật giáo, thường
bị xuyên tạc là một tôn giáo yếm thế, chậm tiến, lại
có rất nhiều điểm tương đồng với khoa học, luôn luôn
hòa hợp, cỗ vũ, và hôỵ trợ những tiến bộ của khoa học,
và ngày càng giữ một vị thế thoải mái trong thời đại
khoa học. Ðiều này không có gì là lạ, vì căn bản tu tập
trong Phật giáo dựa trên thực nghiệm giống như khoa học,
và nếu ta để tâm tìm hiểu thì sẽ thấy, và phải nói rằng
trong nhiều bộ môn, Phật giáo đã tiến trước khoa học khá
xa về tư tưởng và phương pháp hành trì chứng nghiệm trực
tiếp.
Hẳn nhiên trong một bài báo ngắn
ngủi, tôi không có cách nào trình bày toàn vẹn tinh thần
khoa học trong Phật giáo cũng như không thể đi vào tất cả
các bộ môn mà tư tưởng Phật giáo có thể coi như là tiền
phong cho những khám phá khoa học sau này. Cho nên sau đây tôi
chỉ đưa ra vài sự kiện so sánh giữa những khám phá của
Phật giáo hơn 2500 năm trước và những khám phá mới đây
của khoa học chính xác, và tôi sẽ tự hạn trong đề tài
"Vũ trụ luận" trong Phật giáo. Tôi sẽ chứng tỏ cho bạn
đọc thấy nhiều khi Phật giáo còn chính xác và đầy đủ
hơn khoa học, và rằng một tư tưởng Phật giáo và phương
pháp trình bày các tư tưởng này đã đi trước khoa học nhiều
thế kỷ.
Quan niệm của Phật giáo về vũ
trụ như sau: Thế giới chúng ta đang sống không phải là duy
nhất và cũng không phải là trung tâm vũ trụ. Ngoài thế giới
chúng ta đang sống, còn có rất nhiều thế giới khác, và
Phật giáo phân loại các thế giới thành ba loại: Tiểu thiên
thế giới, Trung thiên thế giới và Ðại thiên thế giới.
Danh từ thế giới trong Phật giáo chỉ một thiên thể (thí
dụ như trái đất) hoặc một tập hợp các thiên thể được
coi như thuộc một nhóm (thí dụ Thái dương hệ mà trái đất
là một hành tinh trong đó). Vậy, một ngàn thế giới hợp
thành một Tiểu thiên thế giới, một ngàn Tiểu thiên thế
giới hợp thành một Trung thiên thế giới, và một ngàn Trung
thiên thế giới hợp thành một Ðại thiên thế giới. Như
thế, lấy đơn vị là một hệ thống tương tự như hệ thống
Thái dương hệ và gọi là thế giới thì Tiểu thiên thế
giới gồm có khoảng một ngàn thế giới, Trung thiên thế
giới gồm khoảng một triệu thế giới, Ðại thiên thế giới
gồm khoảng một tỷ thế giới v.v... Ðó là quan niệm về
vũ trụ của Phật giáo từ hơn 2500 năm về trước. Nhưng
sau đó hai mươi hai thế kỷ, vào thế kỷ thứ XVII, phương
Tây vẫn còn chưa thoát khỏi quan niệm tối tăm về trời
tròn đất vuông, trái đất được coi là trung tâm vũ trụ,
và rằng mặt trời quay xung quanh trái đất như đã viết trong
Thánh kinh. Những khám phá mới, xác thực về vũ trụ của
các khoa học gia như Copernicus (các hành tinh quay xung quanh mặt
trời) và Galileo (trái đất quay xung quanh mặt trời) đều
bị quyền lực tôn giáo đương thời lên án, vì không phù
hợp với Thánh kinh. Vì trường hợp của Galileo đã nói lên
phần nào tinh thần tôn trọng sự thật và bất khuất của
các khoa học gia, và vì Galileo được coi như là người mở
một kỷ nguyên mới cho nền khoa học tân tiến phương Tây,
nên tôi nghĩ kể lại vài dòng về trường hợp của ông cũng
không phải là vô ích:
"Năm 1633, dựa trên những dữ kiện
khoa học không thể phủ nhận, đoan quyết trong một cuốn
sách khảo cứu thiên văn của ông (Galileo) rằng: không phải
là mặt trời quay xung quanh trái đất mà chính là trái đất
quay xung quanh mặt trời, thì ông bị kéo ra trước Tòa án
dị giáo của Giáo hoàng Urban VIII, khi đó ông đã già, gần
chết. "Ngươi hãy sửa lại điều trên vì nó ngược lại
với Thánh kinh. Bất cứ điều nào ngược lại với Thánh
kinh đều đương nhiên sai lầm, vì Thánh kinh là lời của
Thượng đế".
Galileo là một khoa học gia vĩ đại,
dù đã tám mươi tuổi, sắp chết, nhưng vẫn còn đầy đủ
óc khôi hài tuyệt vời. Ông nói:
"Không thành vấn đề, tôi sẽ sửa
lại lời tôi viết, tôi sẽ viết lại trong sách của của
tôi đúng như lời Thượng đế đã viết trong Thánh kinh -
nghĩa là mặt trời quay xung quanh trái đất. Nhưng có một
điều tôi cần trình ngài rõ: Cả trái đất lẫn mặt trời
đều không đọc sách của tôi. Và sự thực thì, trái đất
sẽ tiếp tục quay xung quanh mặt trời. Nếu ngài nhất định
muốn biết tại sao thì tôi có đầy đủ bằng chứng. Tôi
đã dùng cả đời tôi để nghiên cứu vấn đề này, và những
người có đầu óc khoa học đều tuyệt đối đồng ý với
sự khám phá của tôi. Trước sau gì rồi ngài cũng phải đồng
ý vì không ai có thể chống lại sự thực lâu dài".
(Galileo was a great scientist who,
even at the age of eighty, when he was dying, had such a beautiful sense
of humor. He said: There is no problem. I will change it; I will write
in my book exactly what God has written in the bible - that the sun goes
around the earth. But one thing I must make clear to you: neither the earth
nor the sun reads my book. As far as reality is concerned, the earth will
continue going around the sun. And why shoudd you insist? Because I have
every proof; I have devoted my whole life to the search, and all those
who have a scientific miad in absolute agreement with me. Sooner or later
you will have to agree because one cannot remain against truth for long.
Priests and Politicians, Second revised edition, Cologne, West Germany,
p.27).
Tuy vậy, Galileo vẫn bị buộc phải
sửa đổi sự thực khoa học ông đã viết trong sách, bị
kết án là "lạc đạo" và bị biệt giam tại nhà cho đến
khi ông chết năm 1642. Nhưng lời tiên đoán của ông đã thành
sự thực, tuy hơi chậm. Ba trăm năm mươi chín năm sau, ngày
hai mươi chín tháng mười năm 1992, Giáo hoàng John Paul II tuyên
bố vụ án Galileo là một sai lầm và phục hồi danh dự cho
Galileo, sau khi một ủy ban gồm những bộ óc thượng thặng
của Tòa thánh nghiên cứu trong mười ba năm về vấn đề
Galileo. Trong dòng thời gian vô tận, ba trăm năm mươi chín
năm cũng chẳng phải là lâu. Và, mười ba năm dùng để nghiên
cứu một vấn đề mà đối với toàn thế giới đã rõ như
ban ngày từ mấy trăm năm nay cũng chẳng phải là điều vô
ích.
Trở lại quan niệm về vũ trụ
của Phật giáo, chúng ta thấy rằng quan niệm này hầu như
tương hợp hoàn toàn với những kiến thức ngày nay của những
nhà thiên văn (astronomers) hay những nhà vật lý học về thiên
thể (astrophysicists), và đã đi trước khoa học nhiều thế
kỷ. Một Tiểu thiên thế giới có thể so sánh với quan niệm
hiện đại về một thiên hà (galaxy) gồm có cả triệu ngôi
sao và những hành tinh có thể có sinh vật trên đó. Thí dụ
như giải Ngân hà (Milky Way) hay M31, hay chòm sao (consteliation
andromeda). Một Trung thiên thế giới có thể so sánh với một
chùm thiên hà (galactic cluster), thí dụ như chùm Goma Berenices,
và một Ðại thiên thế giới có thể so sánh với cái mà
Hannes Alfven gọi là siêu thiên hà (metagalaxy) ở trong Ðại
Vũng (Big Dipper) của Tiểu Ursa (Minor Ursa) trong đó có ít ra
là cả triệu thiên hà. Cho tới nay, vì những giới hạn tự
tại của những dụng cụ quan sát cho nên các khoa học gia
chưa thể đi xa hơn trong việc khảo sát vũ trụ. Nhưng không
phải vì những giới hạn theo, và nay chúng ta đã hiểu tại
sao Ðức Phật lại "bỏ ngỏ" quan niệm về vũ trụ hữu hạn
hay vô hạn. Ðiều này chứng tỏ Ðức Phật đã thấy rõ
khả năng vô tận của con người, và rằng Phật pháp không
phải là những giáo điều cứng nhắc không bao giờ thay đổi.
Và đây cũng chính là tinh thần khoa học hiện đại, không
có gì có thể coi như là vĩnh cửu, bất biến.
Nói đến quan niệm về vũ trụ
của Phật giáo thì chúng ta không thể bỏ qua kinh Hoa Nghiêm,
phẩm Thế giới thành tựu. Trong phẩm này, Bồ tát Phổ Hiền
tuyên thuyết về 10 đặc tính của các thế giới: nhân duyên
khởi, chôỵ trụ nương, hình trạng, thể tánh, trang nghiêm
tánh, thanh tịnh tánh, Phật xuất hiện, kiếp trụ, kiếp chuyển
biến sai biệt, và môn vô sai biệt. Ðể cho vấn đề tương
hợp với khoa học được rõ ràng, sau đây tôi xin luận về
hai điểm: hình trạng và kiếp trụ các thế giới. Chúng ta
hãy xét đoạn kinh văn sau đây:
"Lúc đó Phổ Hiền Bồ tát lại
bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử! Thế giới hải có nhiều
hình tướng sai khác, hoặc tròn... hoặc hình như nước xoáy...
hoặc hình như hoa..., có vi trần số hình sai khác như vậy".
Rồi trong phẩm tiếp theo, phẩm
Hoa Tạng thế giới, Phổ Hiền Bồ tát lại tuyên thuyết:
"Chư Phật tử! Tất cả thế giới
chủng đó hình trạng đều khác nhau: hoặc hình núi Tu Di,
hoặc hình nước xoáy, hoặc hình trục xe... hoặc hình hoa
sen..., có vi trần số hình trạng như vậy" (Kinh Hoa Nghiêm,
Thích Trí Tịnh dịch, Phật học viện Quốc tế xuất bản).
So sánh với những hình trạng của
các chòm sao, giải thiên hà, ngân hà khám phá bởi khoa học
ngày nay, chúng ta thấy Phật giáo đã mô tả hình trạng của
chúng một cách vô cùng chính xác. Thí dụ như các hình bánh
xe, nước xoáy, chúng ta có thể quan sát được trong các chòm
sao như Cetus, Pegasus và Hercules, hình sông là giải ngân hà
(Milky Way) và nhiều thiên hà khác, hình dạng như hoa là những
khối tinh vân trong khoảng không gian liên-thiên-hà (intergalactic
clounds of gas) có chứa hàng tỷ ngôi sao v.v...). Thật tôi không
thể tưởng tượng được ở một thời chưa hề có kính
thiên văn, dù thô sơ nhất, mà Ðức Phật và các Ðại Bồ
tát đã có những hiểu biết chính xác về vũ trụ như trên.
Nếu không phải vì đã giác ngộ hoàn toàn, nắm vững cơ
cấu huyền bí của vũ trụ, thì làm sao có thể biết được
những điều như trên. Và chúng ta cũng nên nhớ là những
điều Ðức Phật và các Bồ tát chọn để tuyên thuyết cho
người đời chẳng qua cũng chỉ là một nắm lá trong tay so
với số lá cây trong rừng.
Tiếp theo, về kiếp trụ của các
thế giới, kinh văn viết rằng:
"Lúc đó Phổ Hiền Bồ tát lại
bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử! Nên biết thế giới
hải có thế giới hải vi trần số kiếp trụ, hoặc có a
tăng kỳ kiếp trụ, hoặc có vô lượng kiếp trụ, hoặc có
vô biên kiếp trụ, hoặc có vô đẳng kiếp trụ, hoặc có
bất khả sổ kiếp trụ, hoặc có bất khả xưng kiếp trụ,
hoặc có bất khả tư kiếp trụ, hoặc có bất khả lượng
kiếp trụ, hoặc có bất khả thuyết kiếp trụ..., có vi trần
số kiếp trụ như vậy".
Rồi trong bài kệ để tuyên lại
nghĩa này, Bồ tát Phổ Hiền có giải thích bằng một câu:
"Hoặc chỉ một kiếp hoặc vô số, bởi những tâm nguyện
đều chẳng đồng". Chỉ một câu "Bởi những tâm nguyện
đều chẳng đồng" cũng đã giải quyết vấn đề "thiên sai
vạn biệt" trong vũ trụ. Thật là đầy đủ, thật là rốt
ráo, thật là chính xác. Nếu chúng ta đi sâu vào một chút
trong đoạn kinh văn trên, chúng ta sẽ thấy Phật giáo đã
đi trước khoa học như thế nào.
Phật giáo phân biệt: Tiểu kiếp
có 16 triệu tám trăm ngàn năm, Trung kiếp có 336 triệu năm,
và Ðại kiếp có một tỷ 344 triệu năm. Theo khoa học hiện
nay thì một ngôi sao (coi như là một thế giới) mà chất lượng
(mass) càng nặng thì đời sống của ngôi sao chỉ "sống" được
từ một tới vài tỷ năm và người ta đã tính được rằng
một ngôi sao có chất lượng nhẹ hơn những ngôi sao trên
khoảng chín mươi phần trăm thì ngôi sao này có thể sống
tới ngàn tỷ năm. Ðiều này rất phù hợp với câu kệ trên
của Phổ Hiền Bồ tát, có thế giới chỉ tồn tại một
kiếp, có thế giới tồn tại vô số kiếp v.v...
Thứ đến, những danh từ như a
tăng kỳ, vô lượng, vô biên, bất khả thuyết... có vẻ mơ
hồ và không rõ ràng như những con số trong thời đại khoa
học. Thật ra không phải vậy, vì trong phẩm A tăng kỳ, kinh
Hoa Nghiêm, ta đọc được như sau, tôi xin đánh số cho rõ
ràng hơn:
"Phật nói: Này thiện nam tử!
1. Một trăm Lạc Xoa làm một Câu
Chi.
2. Câu Chi lần Câu Chi làm một
A Giu Ða.
3. A Giu Ða lần A Giu Ða làm một
Na Do Tha.
4. Na Do Tha lần Na Do Tha làm một
Tần Bà La.
và tiếp tục như vậy tất cả
là 123 lần, trong đó số 10 là a tăng kỳ, số 106 là số lượng,
số 108 là vô biên, số 110 là vô đẳng, số 112 là là bất
khả sổ, số 114 là bất khả xưng, số 116 là bất khả tư,
số 118 là bất khả lượng, và số 120 là bất khả thuyết".
Chúng ta biết rằng khoa học ngày
nay dùng ký hiệu thừa để viết những con số lớn. Thí dụ
như một triệu là con số 1 với 6 con số 0 đằng sau, 1.000.000,
theo ký hiệu điện toán được viết như sau: 106 và đọc
là 10 lũy thừa 6; 1 tỷ gồm có số 1 và 9 số 0 được viết
là 109 (billion), lớn hơn nữa là 1012 (1 ngàn tỷ hay trillion),
1015 (1 triệu tỷ hay zillion) và khoa học chưa có những danh
từ riêng để chỉ những con số lớn hơn. Tiếng Việt thì
chỉ tới số tỷ là cao nhất.
Theo kinh Phật thì Lạc Xoa là 100
ngàn, nghĩa là 105. Như vậy, 1 Câu Chi là 10 triệu, nghĩa là
107; 1 A Giu Ða là 100 ngàn tỷ, nghĩa là 1014; 1 Na Do Tha là 10
tỷ tỷ tỷ, nghĩa là 1028. Tiếp tục tính ra, ta sẽ thấy
1 A Tăng Kỳ là khoảng, nếu chỉ lấy 9 con số lẻ, 10(7.098843361
x 103), nghĩa là con số 1 tiếp theo bởi hơn 7.000 tỷ tỷ tỷ
con số 0 ở đằng sau, một con số vô cùng lớn nhưng vẫn
có một tên riêng. Chúng ta có thể suy ra:
Vô Lượng = 10(2.83953734 x 1032)
Vô Biên = 10(1.13581938) x 1033)
và Bất Khả Thuyết = 10(4.652297985
x 10320), nghĩa là con số 1 tiếp theo bởi khoảng hơn 4 tỷ
tỷ tỷ con số 0 đứng đằng sau.
Những con số khoa học hiện đại
dùng tới có lẽ chỉ vào khoảng 1040, nghĩa là chỉ có 40
con số 0 đứng sau. Chúng ta thấy ngay rằng, ngay cả về phương
diện toán số, Phật giáo đã đi trước khoa học khá xa về
sự biểu thị chính xác những con số và đã có quan niệm
về những con số vô cùng lớn, lớn ngoài mức tưởng tượng
của các khoa học gia hiện đại.
Trên đây, tôi đã trình bày sơ
lược, sơ lược vì còn rất nhiều chi tiết tôi chưa nói
tới, những sự tương đồng giữa Phật giáo và khoa học
hiện đại trong một số quan niệm về vũ trụ, và chứng
tỏ rằng những tư tưởng Phật giáo đi trước khoa học nhiều
thế kỷ, và rằng Phật giáo cũng vô cùng chính xác trong một
số nhận định. Nhưng Phật giáo không phải chỉ có những
tương đồng với khoa học trong bộ môn thiên văn như vừa
trình bày ở trên, hay với môn vật lý các hạt nhỏ (particle
physics) như đã trình bày trong cuốn The Tao of Physics của Fritjoff
Capra, mà còn nhiều tương đồng khác trong các bộ môn như
sinh học (bioscience), vật lý hạt nhân (nuclear physics), triết
lý khoa học (philosophy of science), tâm lý học (psychotheraphy),
di truyền học (genetics) v.v... và nếu khảo sát kỹ thì trong
bộ môn nào, tư tưởng Phật giáo cũng đi trước khoa học
khá xa. Cũng vì vậy mà những bộ óc khai phóng, tiến bộ
nhất của nhân loại hiện nay càng ngày càng phải tìm về
những chất liệu trong Phật giáo với hy vọng giải quyết
những bế tắc trong việc mở mang kiến thức loài người.
Ngoài ra, cái tinh thần từ bi hỷ xả và bản chất khoan dung
của Phật giáo cũng lần lần đi vào đầu óc của những
con người tiến bộ trong thời đại khoa học.
Ðể kết luận, tôi xin mượn lời
của luận gia Gerald Du Pré như sau:
"Trong thế kỷ này, đã có nhiều
công cuộc hòa hợp tôn giáo trên thế giới, với mục đích
đáng tán thưởng là tìm ra những điểm chung giữa các tôn
giáo. Tuy nhiên, điều này không làm cho tôn giáo sống lại,
vì những thứ mà hầu hết những tôn giáo cùng có là lòng
tin, giáo điều, thánh kinh và các thần tính, tất cả những
thứ này làm cho các tôn giáo đó không tương hợp với khoa
học. Phật giáo (cùng với Lão giáo) là một biệt lệ, vì
Phật giáo không phải là một tín giáo, không có giáo điều
cứng nhắc, không có thần quyền và không chấp nhận hiệu
lực của bất cứ ai khác. Tôi không tin rằng chúng ta nên
tìm cách hợp nhất Phật giáo với các tôn giáo khác. Ðiều
này chỉ dẫn đến sự lẫn lộn. Chúng ta hãy cố gắng tranh
đấu để hợp nhất Phật giáo và khoa học, để tạo nên
một tôn giáo khoa học cho thế giới hiện đại. Khoa học
Phật giáo sẽ làm tan biến sự hoang mang, bối rối bằng cách
làm sáng tỏ và hợp nhất lý thuyết và phương pháp hành
trì Phật giáo để làm một căn bản giác ngộ vững chắc,
hữu hiệu cho người phương Tây".
(During this century, a great deal of
works has been done for uniting the religions of the world, with the praiseworthy
object pf discovering what they have in common, and for promoting tolerance
among them. However, this had not lead to a revival of religion, because
what most religions have in common is faith, devine scriptures and deities,
all of which make them incompatible with science. Buddhism (along with
Taoism) is the great exception to this, for it is not a faith, has no dogma
or devine authority of its own and does not accept the validity of anyone
else's.
I don't believe that we should be trying
to unite Buddhism with other religions. This only leads to confusion. Instead,
we should be striving to unite Buddhism and science, so as to produce a
religions of science for our modern world. Science Buddhism will dispell
confusion by clarifying and unifying Buddhists practice and theory and
making it an effective stepping-stone to enlightenment for Westerners"
(Scientific Buddhism by Gerald Du Pré, in "Buddhism and Science", Edited
by Buddhadasa P.Kirthisinghe, New Delhi, India, 1984).