Phần III
- Bài 1
BÀI ĐỌC THÊM
ÐẶC
TRƯNG CỦA ÐẠO PHẬT
Thích Phước Sơn
Trăn trở trước
nỗi trầm thống của kiếp người, Thái tử Tất Ðạt Ða
đã dũng cảm từ bỏ cuộc sống vàng son nhung lụa, từ bỏ
địa vị của một bậc nhân vương mà mình sắp kế thừa,
dấn thân vào nẻo đường gió bụi đi tìm chân lý. Cuối
cùng, Ngài đã tìm được phương thuốc kỳ diệu cứu khổ
cho nhân loại, trở thành đấng Vô thượng Y vương; và phương
thuốc mà Ngài đã tìm ra đó chính là 4 Thánh đế: Khổ đế,
Tập đế, Diệt đế và Ðạo đế. Vậy Khổ đế là gì?
"Sinh là khổ, già là khổ, bệnh
là khổ, chết là khổ, phải kết hợp với những gì mình
không ưa là khổ, phải xa lìa những gì mình thích là khổ,
không đạt được những gì mình khao khát là khổ; tóm lại,
chấp chặt vào năm uẩn là khổ".
Nguyên nhân của Khổ đế (Tập
đế) là gì?
"Chính khát ái dẫn đến tái sinh,
thích thú nơi này nơi kia; đó là khao khát những dục lạc
(Dục ái: Kàmatanhà), khao khát được hiện hữu (Hữu ái:
Bhavatanhà) và khao khát sự diệt tận (Vô hữu ái: Vibhavatanhà)".
Diệt đế là gì?
"Ðó là sự đoạn tận chính khát
ái này không còn để sót, từ bỏ nó, buông xả nó, giải
thoát khỏi nó".
Con đường chính dẫn đến Diệt
khổ (Ðạo đế) là gì?
"Ðó là Tám Chánh đạo, gồm có
Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng,
Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định".
Dù chư Phật có xuất hiện hay không,
Bốn Diệu đế này vẫn có trong vũ trụ. Chư Phật chỉ phát
hiện những chân lý này khi chúng tiềm ẩn trong vực thẳm
của thời gian.
Giải thích theo khoa học, pháp có
thể được gọi là định luật nhân quả. Hai yếu tố này
bao gồm toàn bộ giáo lý đạo Phật.
Ba chi đầu tiêu biểu triết lý
Phật giáo, chi thứ tư tiêu biểu luân lý Phật giáo, căn cứ
vào triết lý trên. Tất cả 4 chi này đều dựa vào chính
cái thân này. Ðức Phật đã nhận định: "Căn cứ vào chính
cái thân dài một trượng này với tri giác và tư duy, Ta tuyên
bố thế giới, nguyên nhân của thế giới, chung cục của
thế giới, và con đường dẫn đến chung cục thế giới".
Ở đây, danh từ "thế giới" dùng để chỉ đau khổ.
Ðạo Phật đặt nền tảng trên
trục đau khổ, nhưng không vì thế mà cho Phật giáo là bi
quan. Nó chẳng phải hoàn toàn bi quan, hay hoàn toàn lạc quan;
trái lại, Phật giáo dạy một chân lý ở giữa hai cực đoan
ấy. Chúng ta có thể có lý khi bảo Ðức Phật là một người
bi quan nếu Ngài chỉ tuyên bố chân lý về đau khổ mà không
đưa ra một phương pháp để chấm dứt khổ đau. Ðức Phật
đã nhận thấy tính phỗ biến của đau khổ và chính Ngài
đã đề ra một phương thuốc để chữa trị căn bệnh phỗ
biến này của nhân loại. Theo Ðức Phật, hạnh phúc cao cả
có thể nhận thức được là Niết bàn, đó là đoạn tận
đau khổ.
Trong Từ điển Bách khoa của Anh,
tác giả ở mục nói về chủ nghĩa bi quan, viết: "Chủ nghĩa
bi quan chỉ rõ một thái độ thất vọng về cuộc đời, một
quan niệm đại khái mơ hồ về đau khổ và tội lỗi, chúng
chi phối những hành vi của con người. Giáo lý nguyên thủy
của Ðức Phật thực sự lạc quan như bất cứ một chủ
nghĩa lạc quan nào khác của phương Tây. Bảo nó là chủ nghĩa
bi quan chỉ là áp đặt cho nó một nguyên lý đặc biệt Tây
phương, theo đó, không thể có hạnh phúc nếu không có bản
ngã. Người Phật tử chân chính nhiệt thành mong đợi được
thể nhập vào cảnh an lạc vĩnh cửu".
Thông thường, sự hưởng thụ dục
lạc là khoái lạc duy nhất của người thế tục. Hiển nhiên
là có thứ hạnh phúc nhất thời trong khi ta mong đợi thỏa
mãn và hồi tưởng những lạc thú vật chất thoáng qua như
vậy, nhưng chúng thực là hão huyền, tạm bợ làm sao! Theo
Ðức Phật, không chấp thủ mới là niềm an lạc cao quý hơn
hết.
Ðức Phật không mong các tín đồ
của Ngài lúc nào cũng nghĩ đến khổ đau và sống một cuộc
đời bất hạnh khốn cùng. Ngài khuyến khích họ phải luôn
vui tươi và hoan hỷ, vì hỷ (piti) là một trong những yếu
tố giác ngộ.
Hạnh phúc chân thật được tìm
thấy trong nội tâm, và không được định nghĩa bằng tài
sản, con cái, vinh quang và những sự xâm lấn chiếm đoạt.
Nếu những sở hữu được thủ đắc không chính đáng, do
ức hiếp, chiếm đoạt bất công mà có, thậm chí nhìn chúng
quyến luyến không rời, thì chúng sẽ là nguyên nhân đau khổ
cho kẻ sở hữu.
Thay vì cố dùng lý lẽ để giải
thích đau khổ, Phật giáo thừa nhận nó là điều hiển nhiên
và tìm nguyên nhân để diệt trừ nó. Chừng nào còn khát
ái thì còn đau khổ. Chỉ có thể diệt trừ đau khổ bằng
cách bước theo con đường Bát chánh và đạt đến an lạc
tối thượng của Niết bàn.
Bốn chân lý này có thể được
xác chứng bằng thực nghiệm. Vì thế, Phật pháp không căn
cứ trên lòng sợ hãi về cái không được biết, mà đặt
nền tảng trên các sự kiện mà chúng ta có thể thí nghiệm
và minh xác bằng chính kinh nghiệm của chúng ta. Do đó, Phật
giáo rất hợp lý và thực tiễn.
Một hệ thống hợp lý và thực
tiễn như thế không thể chứa những nghi lễ bí truyền và
mật truyền. Do đó, lòng tin mù quáng rất xa lạ đối với
đạo Phật.
Nơi nào không có lòng tin mù quáng
thì nơi đó không có sự cưỡng bức, đàn áp và cuồng tín.
Ðối với uy danh cao cả của đạo Phật, ta phải nói rằng
trải qua tiến trình suốt 2500 năm không đỗ một giọt máu
nào vì nhân danh Ðức Phật, không một thế lực quân chủ
nào dùng lưỡi gươm đầy quyền uy của mình để truyền
bá chánh pháp, và không có sự hóa đạo nào phải dùng đến
bạo lực hay những giải pháp cưỡng bách. Tuy vậy, Ðức
Phật đã là nhà truyền đạo đầu tiên và vĩ đại nhất
từng sống trên thế gian này.
Alodux Husley viết: "Trong tất cả
các tôn giáo lớn của thế giới, chỉ riêng đạo Phật đi
con đường của mình mà không cần đàn áp, kiểm duyệt, thẩm
tra ai cả".
Huân tước Rusell ghi nhận: "Trong
những tôn giáo lớn của lịch sử, tôi thích đạo Phật hơn
cả, đặc biệt ở hình thức nguyên thủy của nó, vì nó
ít có tính cách khủng bố nhất từ xưa đến nay".
Ðạo Phật lôi cuốn người ta trên
phương diện tri thức hơn là phương diện tình cảm, chú trọng
đến nhân cách của tín đồ hơn là sức mạnh của số đông.
Trường hợp Upali, một tín đồ
của Nigantha Nataputta, đến gần Ðức Phật, nghe Phật thuyết
pháp, ông hoan hỷ đến độ tức thì bày tỏ ý muốn trở
thành một đệ tử của Phật. Nhưng Ðức Phật đã khuyên
ông nên cẩn thận: "Này gia chủ, đối với chân lý, ông nên
tìm hiểu thấu đáo, như vậy sẽ tốt hơn đối với một
người xuất sắc như ông".
Rất vui sướng trước ý kiến bất
ngờ của Ðức Phật, Upali thưa: "Bạch Thế Tôn, nếu con trở
thành một tín đồ của một tôn giáo khác, thì các tín đồ
của tôn giáo ấy sẽ công kênh con, rước đi quanh ngoài đường
phố và tuyên bố rằng: "Một triệu phú như thế đấy, đã
từ bỏ tín ngưỡng trước của y và đi theo chúng ta". Nhưng
với Thế Tôn, Ngài lại khuyên con hãy tìm hiểu thấu đáo
đã. Qua ý kiến này của Thế Tôn, con càng vui sướng hơn.
Bạch Thế Tôn, một lần nữa, con xin quy y Phật, quy y Pháp
và quy y Tăng".
Phật giáo tràn ngập tinh thần tự
do cầu thị và hoàn toàn bao dung như vậy. Ðạo Phật là đạo
có tâm hồn khai phóng và trái tim cảm thông, soi sáng và làm
ấm áp toàn thể vũ trụ với hai tia sáng từ bi và trí tuệ;
hào quang kỳ diệu của nó chiếu xuống tất cả chúng sinh
đang lặn hụp trong biển sinh tử.
Ðức Phật bao dung đến nỗi Ngài
cũng không hề dùng uy quyền để ra lệnh cho các tín đồ
tại gia của Ngài. Thay vì dùng mệnh lệnh, Ngài nói: "Bỗn
phận các con nên làm điều này, bỗn phận các con không nên
làm điều kia". Ngài không ra lệnh nhưng khuyến khích.
Ðức Phật trải rộng lòng bao dung
đến mọi người và mọi loài hữu tình.
Chính Ðức Phật lần đầu tiên
đã cố hủy bỏ chế độ nô lệ và kịch liệt phản đối
hệ thống giai cấp hủ lậu đã mọc rễ sâu xa trên mảnh
đất Ấn Ðộ. Theo giáo lý Ðức Phật, người ta trở thành
kẻ hạ tiện hay cao quý không phải do giòng dõi mà do hành
vi của mình. Giai cấp hay màu da không làm cản trở một người
muốn trở thành một Phật tử hay gia nhập Tăng đoàn. Người
chài lưới, kẻ đỗ rác, gái giang hồ, cả đến những võ
tướng và những người Bà la môn, đều tự do gia nhập Tăng
đoàn, được hưởng sự đối xử bình đẳng, và cũng được
giao cho những địa vị tương xứng. Ví dụ như Tôn giả Upali,
thợ hớt tóc, giành được ưu thế hơn tất cả những người
khác, đứng đầu trên phương diện giới luật. Sunita, người
đỗ rác nhút nhát, được chính Ðức Phật nhận cô vào hàng
ngũ Tăng già và đã đắc quả A la hán. Angulimala, tên tướng
cướp và tội phạm, đã được giáo dục thành một bậc
Thánh từ bi. Alavaka kiêu hãnh, tìm đến quy y Phật và đã
trở thành một vị Thánh. Cô gái giang hồ Ambapali gia nhập
vào Tăng đoàn và đắc quả A la hán. Những điển hình như
thế thường thấy rất nhiều trong Tam tạng, chứng tỏ cánh
cửa của đạo Phật mở rộng cho tất cả, bất kể giai cấp,
màu da hay chủng tộc.
Ðức Phật cũng nâng cao địa vị
của những người phụ nữ bị chà đạp, không những khiến
cho họ ý thức được vị trí quan trọng của mình trong xã
hội, mà còn thành lập Giáo hội Ni giới sống độc thân
đầu tiên cho phụ nữ với những kỷ luật và những giới
điều.
Ðức Phật không hạ thấp nữ giới,
mà chỉ xem họ như những người có bẩm tính yếu đuối
hơn nam giới. Ðức Phật thấy rõ tính thiện bản nhiên của
cả nam và nữ giới, và quy định cho họ địa vị xứng đáng
trong giáo pháp của Ngài. Giới tính không làm chướng ngại
cho sự chứng đắc Thánh quả.
Danh từ Pàli Matugàma đôi khi dùng
để chỉ cho phụ nữ, nghĩa là hạng người mẹ hay xã hội
những người mẹ. Là một người mẹ, người phụ nữ giữ
được vị trí danh dự trong đạo Phật. Thậm chí người
vợ còn được xem như là "người bạn tuyệt hảo" (paramà
sakhà) của chồng.
Những người phê phán vội vàng
chỉ nhận định hời hợt bề ngoài khi họ trách Phật giáo
là đố kỵ phụ nữ. Mặc dù ban đầu Ðức Phật đã từ
chối thu nhận phụ nữ vào Tăng đoàn, trên cơ sở hợp lý,
nhưng về sau, Ngài đã nhượng bộ lời cầu xin của di mẫu
Ngài là Ba Xà Ba Ðề Kiều Ðàm Di (Pajapati Gotami) và thành
lập Giáo đoàn Tỳ kheo ni. Giống như hai vị A la hán Xá Lợi
Phất (Sariputta) và Mục Kiền Liên (Moggallana) đã được đặt
làm hai đệ tử thượng thủ trong Giáo đoàn Tỳ kheo, Ðức
Phật đã chỉ định các A la hán Khema và Uppalavannà như là
hai vị thượng thủ trong hàng nữ đệ tử. Nhiều nữ đệ
tử khác cũng được chính Ðức Phật gọi là những đệ
tử thuần thành và ưu tú của Ngài.
Một dịp nọ, vua Kosala không hài
lòng khi hay tin hoàng hậu sinh một bé gái, Ðức Phật đã
nói với nhà vua:
"Thưa Ðại vương, một bé gái biết
đâu sau này có thể chứng tỏ là người con còn tốt hơn
một nam nhi!".
Nhiều phụ nữ đáng lẽ đã bị
rơi vào quên lãng, lại tỏ ra xuất chúng trong nhiều mặt
và đạt được giải thoát nhờ hành trì chánh pháp và gia
nhập giáo đoàn. Trong giáo đoàn mới này đã chứng tỏ là
một môi trường phước báu đối với nhiều phụ nữ; các
hoàng hậu, những công chúa, các cô gái của những nhà quý
tộc, các sương phụ, quả phụ, những phụ nữ bần cùng,
các cô gái giang hồ đáng thương; tất cả những người này,
dù giai cấp và địa vị xã hội khác nhau, đã gặp nhau trên
cùng một chỗ thuyết giảng, cùng hưởng niềm an ủi, thanh
tịnh tối thượng, và cùng hít thở bầu không khí tự do
mà những kẻ sống giam hãm trong các túp lều tranh hay nơi
cung điện đều không thể nào có được.
Chính Ðức Phật cũng đã cấm sát
hại những con vật đáng thương để tế lễ, và khuyên tín
đồ của Ngài mở rộng lòng từ với tất cả chúng sinh,
thậm chí đối với những sinh vật nhỏ bé nhất bò dưới
chân mình. Không một ai có quyền hủy hoại mạng sống của
một sinh vật khác, vì đời sống thực là quý báu đối với
tất cả mọi loài.
Người Phật tử chân chính phải
thể hiện lòng từ bi với tất cả chúng sinh và phải tự
đồng nhất mình với tất cả, không được phân biệt một
chút nào về phương diện chủng tộc, màu da hay giới tính.
Chính lòng từ bi này của đạo
Phật đã đạp đỗ mọi bức tường ngăn cách giữa người
này và người khác. Không có lý do gì để tách rời mình
ra khỏi những người khác chỉ vì họ thuộc về một tín
ngưỡng hay một dân tộc khác. Trong "Sắc dụ khoan hồng" cao
cả ấy, dựa trên các kinh Tiểu Phân Biệt và Ðại Phân Biệt
(Culla Vyùha and Mahà Vyùha), vua A Dục (Asoka) nói: "Chỉ có hòa
hợp là cao đẹp nhất, tất cả đều phải có thiện chí
lắng nghe giáo lý mà người khác tin theo".
Ðạo Phật không giới hạn vào
bất cứ một quốc gia hay một dân tộc đặc biệt nào. Ðạo
Phật là tôn giáo đại đồng. Phật giáo không phải là một
chủ nghĩa dân tộc, nói cách khác, chủ nghĩa dân tộc này
là một hình thức giai cấp dựa trên một nền tảng rộng
lớn hơn. Ðạo Phật là một chủ nghĩa siêu dân tộc, nếu
được phép nói như vậy.
Ðối với một Phật tử, không
có kẻ sơ hay người thân, kẻ thù hay người ngoại quốc,
kẻ phản giáo hay người cùng đinh, vì tình thương đại đồng
được thể hiện qua sự cảm thông tạo nên tình huynh đệ
giữa mọi loài chúng sinh. Một Phật tử xem toàn thế giới
như quê mẹ, và tất cả mọi người như anh chị em mình.
Do đó, đạo Phật thực là độc
đáo nhờ ở đức tính khoan dung, bất bạo động, hợp lý,
thực tiễn, hiệu nghiệm và tính đại đồng của nó. Ðó
là ảnh hưởng cao cả nhất trong mọi ảnh hưởng kết hợp
lại, và là đòn bẩy duy nhất có thể nâng thế giới lên
cao.
Ðấy là một số nét đặc sắc
của đạo Phật, và trong số giáo lý căn bản có thể kể
đến một số vấn đề khác như: nghiệp hay định luật đạo
đức nhân quả, thuyết tái sinh, vô ngã và Niết bàn.
(Dịch từ "Buddhism in a Nutshell",
Narada Thera)