Phần II
- Bài 5
GIỚI
THIỆU VÀI NÉT
VỀ
VĂN HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Thích Tâm Hải
DẪN
NHẬP
Trong bài Tổng quan về lịch sử
Phật giáo Việt Nam ở chương trình của năm thứ ba, chúng
ta đã được giới thiệu sơ lược về các giai đoạn phát
triển của Phật giáo nước ta. Ðể cụ thể một mặt của
sự phát triển và tính chất đặc thù của nền Phật giáo
đó, trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu vài nét về văn
học, một lĩnh vực quan trọng không những giúp cho việc xác
định nền Phật học nước nhà mà còn là một nguồn tư
liệu quan trọng, nếu không nói là quan trọng nhất, để tìm
hiểu tư tưởng Phật giáo Việt Nam nói riêng và của dân
tộc nói chung.
Văn học là một ngành khoa học
lớn, tuy nhiên ở đây, với đặc trưng của nền văn học
Phật giáo và trong phạm vi một bài giảng cho đối tượng
là học viên của chương trình Phật học hàm thụ, chúng tôi
không thể đi sâu khảo sát các vấn đề của ngành khoa học
này đặt ra, mà như đã nói, chỉ giới thiệu vài nét dưới
góc độ lịch sử văn học. Ðây chỉ là một nỗ lực giới
thiệu bước đầu để cung cấp bỗ sung cho học viên một
khía cạnh của nền Phật học Việt Nam, địa hạt gặp không
ít khó khăn không những trong vấn đề văn bản học mà còn
vì sự cách biệt về ngôn ngữ, bởi hầu hết đều được
viết bằng chữ Hán và chữ Nôm và không phải ai cũng có
thể tiếp xúc được.
Một vấn đề khác, ở đây chúng
tôi chỉ xét đến những tác giả mà tác phẩm của họ chủ
yếu viết về nội dung Phật giáo, chứ chưa đề cập đến
các tác giả dẫu là Phật tử nhưng nội dung Phật giáo không
phải là chủ lưu trong sự nghiệp văn học của họ, như Nguyễn
Trãi, Lê Quý Ðôn, Ngô Thời Sỹ, Ðặng Huy Trứ...
Ngôn ngữ là chất liệu của văn
học, trong nền văn học nước ta từ thời cổ đến cận
đại có hai bộ phận chính, đó là bộ phận văn học sáng
tác bằng chữ Hán và bộ phận văn học sáng tác bằng tiếng
nói của dân tộc (chữ Nôm). Bộ phận văn học sáng tác bằng
chữ Nôm với các văn bản hiện nay đã xác định được
tính từ các tác phẩm của Trần Nhân Tông. Do đó, ở đây
chúng tôi sẽ trình bày sự phát triển của nền văn học
Phật giáo qua hai giai đoạn: giai đoạn từ du nhập đến đầu
đời Trần, và từ thời Trần Nhân Tông đến cận đại.
I.
Văn học Phật giáo Việt Nam từ thời du nhập đến đầu
đời Trần
Phật giáo có mặt tại nước ta
rất sớm, có khả năng vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch.
Thiền uyển tập anh, một tác phẩm lịch sử Phật giáo Việt
Nam xưa nhất hiện biết được, xác định rằng, vào thế
kỷ thứ II, tại nước ta đã hình thành trung tâm Luy Lâu,
một trong những trung tâm Phật giáo sớm nhất ở Viễn Ðông,
với sự hiện diện của nhiều Tăng sĩ, tự viện và đặc
biệt là đã dịch được 15 bộ kinh [1]. Nhưng đáng tiếc
là tên và nội dung của 15 bộ kinh ấy như thế nào thì Thiền
uyển tập anh không nêu ra. Tuy nhiên, qua một số dấu vết
còn lại trong lịch sử, chúng ta có thể xác minh một vài
bộ kinh có mặt tại nước ta, những kinh điển làm kim chỉ
nam trong đời sống tâm linh-tôn giáo cho người Phật tử,
đồng thời là cơ sở lý luận của Phật giáo Việt Nam trong
buỗi đầu và cả sau này.
1. Những bộ
kinh xưa nhất của Phật giáo Việt Nam
Theo một một số công trình nghiên
cứu mới đây, Lục độ tập kinh, Tạp thí dụ kinh và Cựu
tạp thí dụ kinh... là những bộ kinh được lưu hành tại
nước ta muộn lắm là vào thời ngài Khương Tăng Hội (?-280),
trong đó, Lục độ tập kinh có thể được tập thành vào
khoảng nửa đầu thế kỷ thứ II [2]. Lục độ tập kinh và
Cựu tạp thí dụ kinh sau đó được Khương Tăng Hội dịch
sang tiếng Hán khi ngài du hóa tại Trung Hoa, còn dịch giả
Tạp thí dụ kinh hiện chưa được xác định. Chúng ta sẽ
điểm qua nội dung của các bộ kinh này.
Lục độ tập kinh hiện nay, bản
chữ Hán do ngài Khương Tăng Hội dịch vào thời Tam quốc,
là một bộ kinh thuộc tư tưởng Ðại thừa, gồm 91 truyện
có tính tương đối độc lập trong nội dung, thuyết minh về
lý tưởng và hành động của các vị Bồ tát (sáu hạnh ba
la mật). Khảo sát vấn đề văn bản học của bộ kinh này,
so sánh với những điển tích trong văn học Phạn cùng cấu
trúc ngôn ngữ của tiếng Hán, nó được xác định là dịch
từ một bản tiếng Việt, chứ không phải từ một bản Phạn
ngữ như một số nhà Phật học Trung Quốc đã giả thiết
[3].
Lục độ tập kinh thuộc văn hệ
Bát nhã, nhưng nội dung của nó có những khái niệm độc
đáo, không thấy trong văn học Phật giáo Ấn Ðộ hay Trung
Hoa.
Chúng ta có thể tìm thấy trong Lục
độ tập kinh các quan niệm về giới luật, lý tưởng và
hành động của một vị Bồ tát, cũng như các phạm trù giải
thoát, giác ngộ, con đường tu tập để được sinh thiên
[4], v.v... Bên cạnh những nội dung quan trọng đó, bộ kinh
này còn phản ánh các đặc điểm văn hiến của dân tộc
ta thời bấy giờ như các quan niệm về hạnh, hiếu nghĩa,
đời sống tín ngưỡng, ngôn ngữ, lịch pháp [5]... Ðiều
này là một minh chứng cho tính độc lập của nền văn hóa
nước ta, đồng thời cho biết người Phật tử Việt Nam đã
tiếp thu Phật giáo một cách lựa chọn, và khi lưu hành, dịch
thuật kinh điển Phật giáo, họ đã gởi gắm các quan niệm
của mình vào đó, làm cho nó trở nên thân thiết và gần
gũi với đời sống văn hóa của người Việt.
Lưu hành đồng thời với Lục độ
tập kinh, còn có hai bộ kinh khác hiện nay biết được nội
dung của chúng là Tạp thí dụ kinh và Cựu tạp thí dụ kinh.
Cựu tạp thí dụ kinh cũng do ngài
Khương Tăng Hội dịch ra chữ Hán. Bản hiện nay được kết
tập trong Ðại tạng kinh Ðại Chính tân tu gồm 2 quyển (thượng
và hạ), phân thành 61 truyện, nhưng qua nội dung thực tế
thì có đến 65 truyện. Về thể tài, nó được chia làm hai,
thể tài truyện thí dụ chiếm đa số (56 truyện), phần còn
lại là những truyện tiền thân (bản sinh). Ngoài trọng tâm
nội dung Phật giáo, chẳng hạn đề cao các giá trị của
việc hành trì giới luật, giúp người không vụ lợi..., chúng
ta còn tìm thấy trong loại truyện thí dụ những lời giáo
huấn và cảnh tỉnh dưới dạng minh triết thường gặp trong
kho tàng truyện cỗ tích, ngụ ngôn của các dân tộc.
Một vấn đề đáng lưu ý là, qua
cụm truyện "Chiết La hán thí dụ sao" (Bẻ gãy La hán, các
truyện 55, 56, 57, 58, 59...), nội dung có những phê phán đối
với La hán, mẫu người lý tưởng trong văn học Pàli; bên
cạnh đó, Cựu tạp thí dụ cũng có đề cập đến Phật
A Di Ðà (truyện 60)và một số truyện có tính chất như công
án thiền... Như vậy, ở đây có sự nhất quán giữa tư tưởng
của bộ kinh này với Lục độ tập kinh... Chúng là tiền
đề cho sự ra ra đời cho sự ra đời và phát triển của
dòng thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi ở thế kỷ thứ VI.
Tạp thí dụ kinh hiện chưa xác
định được dịch giả (thất dịch), gồm 2 quyển, Ðại
tạng kinh liệt kê có 32 truyện nhưng thực tế thì chỉ có
29 truyện, được dịch sang chữ Hán vào trước những năm
220. Qua nghiên cứu về văn bản học, điểm nổi bật ở đây
là có những cấu trúc ngôn ngữ không tuân thủ văn phạm
Hán văn mà mang đặc trưng của tiếng Việt. Theo tác giả
Lê Mạnh Thát, nó được dịch từ một bản tiếng Việt lưu
hành tại nước ta vào khoảng thế kỷ thứ II [6]. Bản kinh
này đặc biệt có những ảnh hưởng rất lớn đến nền
văn học nước ta thời bấy giờ, mà dấu tích của nó hiện
có thể tìm thấy trong một số truyện cỗ tích thuộc kho
tàng văn học dân gian của dân tộc.
Nội dung của Tạp thí dụ kinh thuyết
minh về các vấn đề giáo lý như mười hai nhân duyên, bốn
chân lý, năm uẩn, bốn đại, sáu hạnh ba la mật, 37 phẩm
trợ đạo...; như vậy, có thể nói là đã đề cập đến
các vấn đề giáo lý Phật giáo tương đối có hệ thống
tuy chỉ ở mức độ hệ thống đơn giản. Cùng với những
nội dung đó, Tạp thí dụ kinh còn đề cập đến các khía
cạnh những khả năng phi thường của đức Phật và các tăng
sĩ, đặc biệt là có đề cập đến Duy Ma Cật và bốn ân,
những khái niệm đặc thù của tư tưởng Phật giáo Ðại
thừa.
Xét dưới góc độ tác phẩm văn
học, những truyện trong các bộ kinh này, đặc biệt là Cựu
tạp thí Dụ kinh, có cấu trúc của thể loại truyện kể,
một trong những thể loại xuất hiện sớm nhất trong lịch
sử văn học.
Ngoài ba bộ kinh trên, chúng ta còn
được biết vào khoảng năm 258 tại nước ta còn có mặt
Pháp hoa tam muội kinh, do ngài Chi Cương Lương Tiếp (người
Ấn Ðộ, tên tiếng Phạn là Kalyànàsiva) dịch từ Phạn văn
ra chữ Hán và ngài Ðạo Thanh (khoảng 220 - 300), một tăng
sĩ Việt Nam, bút thọ. Chúng ta chỉ biết như thế, còn bản
tiếng Việt ra sao thì hiện chưa có manh mối gì.
Tư tưởng cơ bản của những kinh
điển này thuộc hệ tư tưởng Ðại thừa, ca ngợi mẫu hình
lý tưởng là các vị bồ tát "quên mình cứu người". Những
nội dung đó đã xác định nền Phật giáo mà người Phật
tử Việt Nam đã lựa chọn từ đầu là Phật giáo Ðại thừa,
nó không chỉ gồm các phạm trù tâm linh cá nhân, mà việc
tu tập vì mục tiêu giải thoát - giác ngộ gắn liền với
đời sống xã hội, với hoàn cảnh thực tế của nước ta,
cụ thể là vì sự thanh bình của xứ sở. Ðây cũng chính
là nền tảng ban đầu của Phật giáo Việt Nam.
2. Lý hoặc
luận, tác phẩm lý luận đầu tiên trong văn học Phật giáo
Việt Nam
Với sự lưu hành kinh điển và
với sự phát triển của trung tâm Phật giáo Luy Lâu (dịch
được 15 bộ kinh), một môi trường đào tạo nên những gương
mặt điển hình như Khương Tăng Hội, người đã sang Trung
Quốc truyền bá Phật giáo và dịch những kinh điển đã được
học tập tại quê hương nơi mình sinh trưởng, chắc chắn
thời bấy giờ nước ta có một bộ phận văn học giảng
luận, chú giải và trước tác phong phú. Tuy nhiên, qua chiến
tranh cùng những hoàn cảnh khác, hiện chúng ta chưa biết được
gì nhiều, ngoài một vài tác phẩm hiếm hoi, mà sớm hơn hết
là Lý hoặc luận.
Lý hoặc luận do Mâu Tử, một Phật
tử người Việt [7], viết vào năm 198, nhằm đề cao những
giá trị của đạo Phật, được viết dưới hình thức hỏi
và trả lời, gồm tất cả 37 điều. Ðây là một tác phẩm
lý luận - tư tưởng đầu tiên không những của văn học
Phật giáo Việt Nam mà còn của cả nền văn học và tư tưởng
dân tộc. Những lập luận của Mâu Tử trong tác phẩm này
không chỉ nhắm vào mục tiêu giải đáp những nghi vấn và
đánh tan các chỉ trích về đạo Phật, mà mặt khác, trong
sự so sánh với Ðạo giáo và Nho gia, ông đã đập đổ luận
điệu tự tôn dân tộc của Trung Hoa thời bấy giờ. Lập
trường của Lý hoặc luận với trọng tâm là các vấn đề
Phật giáo, nhưng bên cạnh đó, ý thức văn hóa dân tộc cũng
được vận dụng một cách nhuần nhuyễn, nó được xây dựng
trên tư tưởng trong những bộ kinh phổ biến tại nước ta
và trên nền tảng của một nền văn hóa độc lập.
Các vấn đề Phật học mà Lý hoặc
luận đặt ra có thể nói là vẫn còn giá trị cho đến hôm
nay. Ðặc biệt, nó không những là một nguồn tư liệu văn
học quan trọng giúp chúng ta tìm hiểu tư tưởng của Phật
giáo Việt Nam trong giai đoạn đầu, nền tư tưởng Phật giáo
quyền năng, mà còn góp phần xác định tính độc lập trong
văn hóa của dân tộc, đồng thời nói lên sự gắn bó giữa
dân tộc và Phật giáo ngay ở buỗi đầu.
3. Sáu lá thư
- cuộc tranh luận về tư tưởng đầu tiên trong văn học Phật
giáo Việt Nam và sự lưu hành của các kinh Duy Ma, Vô lượng
thọ, Quán vô lượng thọ...
Tiếp sau những giải đáp của Lý
hoặc luận cuối thế kỷ thứ II, trong thời kỳ sau đó, Phật
giáo nước ta chắc chắn có những bước phát triển, nhiều
danh tăng nước ngoài (Ấn Ðộ và Trung Hoa) đã đến tu học
và chắc chắn có nhiều kinh điển Phật giáo được mang vào,
dịch thuật và chú giải bằng tiếng Việt, nhưng thật đáng
tiếc là hiện chưa tìm được một văn bản nào. Mãi đến
thế kỷ thứ V, may mắn chúng ta có được văn bản của sáu
lá thư trao đổi về tư tưởng Phật giáo mà vấn đề trọng
tâm là tại sao không thấy đức Phật hiện chân hình trong
đời cho người Phật tử thấy (nạn Phật bất kiến hình
sự). Ðây là những trao đỗi mang tính tranh luận, giữa "sứ
quân Giao Châu" Lý Miễu và hai vị thầy của ông là Ðạo
Cao và Pháp Minh [8]. Văn bản của sáu lá thư này hiện được
kết tập trong Minh hoằng tập thuộc Ðại tạng kinh Ðại
Chính tân tu. Ðó là những tư liệu hết sức quý của nền
văn học Phật giáo nói riêng và văn học dân tộc nói chung,
nó cho biết một cách sinh động tình hình tư tưởng của
Phật giáo nước ta đương thời và sự phát triển của nền
văn hóa, vị thế độc lập trong chính trị của đất nước
một thời.
Cũng qua những lập luận mà các
ngài Ðạo Cao và Pháp Minh viện dẫn để trả lời nghi vấn
của Phật tử Lý Miễu, chúng ta còn biết thêm ngoài sự có
mặt có kinh Pháp Hoa (Pháp Hoa tam muội kinh), kinh Duy Ma Cật
cũng đã được lưu hành tại nước ta.
Cũng trong khoảng thời gian này,
có ngài Ðàm Hoằng, một vị tăng Trung Hoa đến nước ta tu
tại chùa Tiên Sơn (năm 423). Là người chuyên tu tập pháp
môn Tịnh độ với ước nguyện vãng sinh về cõi Cực lạc,
ngài đã mang một những kinh điển của truyền thống này
đến mà hiện tại chúng ta biết được tên hai bộ kinh quan
trọng của hệ tư tưởng Tịnh độ là Vô lượng thọ và
Quán Vô lượng thọ (Quán thọ) [9].
Như vậy, đến thế kỷ thứ V,
tại nước ta đã có mặt nhiều kinh điển quan trọng thuộc
hệ tư tưởng Phật giáo Ðại thừa. Những bộ kinh này làm
nên một nền tảng tư tưởng Phật giáo quyền năng. Và, cuộc
đấu tranh tư tưởng được thể hiện qua sáu lá thư đã
nói trên cho biết rằng, đã đến lúc nó cần vận động
để chuyển sang một giai đoạn phát triển khác, người Phật
tử Việt Nam đã bắt đầu đi tìm một giải đáp mới trước
những bước phát triển của thời đại như chúng ta đã điểm
qua trong phần tỗng quan về lịch sử Phật giáo Việt Nam ở
năm thứ 3.
4. Sự du nhập
của các bộ kinh quan trọng thuộc văn hệ Bát nhã, Hoa nghiêm
và Mật giáo
Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi đến nước
ta (năm 580), cùng với kinh Tổng trì dịch tại đây, chắc
chắn hai bộ kinh khác là Tượng đầu tinh xá và Nghiệp báo
sai biệt do ngài đã dịch ở Quảng Châu 6 năm trước đó
đã được giới thiệu cho Phật tử Việt Nam. Ðiều này dễ
thấy qua sự ra đời của dòng thiền đầu tiên trong lịch
sử Phật giáo nước nhà, bước đầu giải tỏa những khủng
hoảng tư tưởng của nền Phật giáo quyền năng mà đại
biểu là nghi vấn của Lý Miễu qua những lá thư với hai vị
thầy của ông.
Qua tiểu sử của thiền sư Thanh
Biện (?-686) trong Thiền uyển tập anh, chúng ta biết được
vào thời bấy giờ, kinh Kim Cương, một bản kinh cốt lõi
của văn hệ Bát nhã đã thịnh hành, và có thể được đưa
vào nước ta muộn lắm là đầu thế kỷ thứ VII. Như vậy,
nếu trước đó, chúng ta biết được ngài Khương Tăng Hội
có dịch Ðạo phẩm (Bát thiên tụng Bát nhã) nhưng lại ở
Kiến Nghiệp (sau năm 247), thì đến thời ngài Thanh Biện,
tại nước ta đã có mặt các bộ kinh như Tổng trì, Tượng
đầu tinh xá, và đặc biệt là kinh Kim Cương, người Phật
tử Việt Nam đã được tiếp nhận tinh túy của văn hệ Bát
nhã, làm kim chỉ nam cho đời sống thực nghiệm tâm linh và
nền tảng cho triết lý hành động tích cực trong phong trào
vận động vì độc lập dân tộc mà chúng ta sẽ đề cập
trong một trào lưu văn học sau.
Cũng qua Thiền uyển tập anh, các
tiểu truyện về thiền sư Pháp Thuận (925-990), Hứa Ðại
Xả (1120-1180)... các kinh văn thuộc hệ tư tưởng Hoa nghiêm
như Diệu môn phổ hiền, Hương hải đại bi đà la ni....cũng
đã có mặt, các thiền sư hành trì hàng ngày giảng dạy cho
đồ chúng.
Những cột kinh do Nam Việt vương
Ðinh Liễn cho khắc Phật đỉnh tôn thắng gia cú linh nghiệm
đà la ni [10] vào khoảng năm 979 được giới khảo cổ nước
ta phát hiện gần đây, cùng các chi tiết khác trong tiểu truyện
của các thiền sư được Thiền uyển tập anh ghi lại, như
truyện Giác Hải [11], Nguyện Học [12], Ma Ha [13], v.v..., là
một xác chứng cho sự có mặt của hệ tư tưởng Thai tạng
giáo thuộc Mật tạng ở thế kỷ thứ X tại nước ta.
Không những thế, cũng trong khoảng
thời gian này, ngài Pháp Thuận (925-990) đã viết Bồ tát sám
hối văn, thiền sư Huệ Sinh (?-1064) viết Pháp sự trai nghi,
thiền sư Viên Chiếu (999-1090) soạn Tán Viên Giác kinh, ngài
Viên Thông (1080-1151) viết Tăng già tạp lục, v.v... Ðây là
những tư liệu văn học quan trọng, cho phép chúng ta nghiên
cứu và xác định truyền thống sinh hoạt tu tập lâu đời
của người Phật tử Việt Nam, khác với những hình thức
của Trung Hoa, Nhật Bản hay Tây Tạng...
Trong thế kỷ thứ VIII, chúng ta
hiện biết được có một danh tăng Việt Nam là Ðại Thừa
Ðăng, người đã từng cộng tác dịch thuật với ngài Huyền
Trang (600-664) tại Trung Hoa và những bài thơ của các nhà thơ
Ðường cự phách như Dương Cự Nguyên, Cỗ Ðảo, Trương
Tịch tặng các thiền sư Việt Nam Ðịnh Không, Duy Giám...
khi các ngài được mời sang hoằng pháp ở Trung Hoa [14]...
5. Trào lưu
văn học vận động vận động độc lập dân tộc (dòng văn
học thời sự)
Ngay từ thế kỷ thứ II, với Lý
hoặc luận của Mâu Tử, mối quan hệ mật thiết giữa Phật
giáo và dân tộc đã được người Phật tử Việt Nam xác
định là không thể phân ly. Mối quan hệ này ngày càng được
củng cố qua các giai đoạn phát triển của Phật giáo và
dân tộc. Ðến thời thiền sư Ðịnh Không (?-808), nó được
đẩy lên cao và trở thành một trong những sứ mệnh của
người Phật tử, bên cạnh mục tiêu tu tập để đạt đến
giải thoát-giác ngộ, nó được lưu truyền qua nhiều thế
hệ, trở thành một phong trào lớn mạnh mà đỉnh điểm của
nó có thể nói là thời thiền sư Vạn Hạnh (?-1025). Một
trong những âm vang của phong trào này là sự ra đời của
dòng văn học Phật giáo đặc thù, những bài sấm, thi kệ,
thi tụng nuôi dưỡng ý thức quốc gia và vận động cho nền
độc lập của dân tộc của các thiền sư mà Thiền uyển
tập anh và một số nguồn tư liệu khác đã ghi lại được
đôi phần.
Ðọc những tác phẩm của các thiền
sư giai đoạn từ ngài Ðịnh Không đến các thời Ðinh, Tiền
Lê, Lý..., chúng ta dễ dàng nhận thấy bên cạnh nội dung
biểu hiện những thực nghiệm trong đời sống tâm linh-tôn
giáo, các thiền sư còn bộc lộ hoặc kín đáo hoặc thẳng
thắn các quan niệm chính trị của mình mà điển hình là
bài thơ Quốc tộ (Vận nước) của thiền sư Pháp Thuận và
bài từ tiễn sứ thần Lý Giác về nước (Vương lang quy từ)
của thiền sư Khuông Việt, một tác phẩm văn học hết sức
đặc sắc ở nội dung tư tưởng lẫn nghệ thuật thuộc bộ
phận văn học ngoại giao hiếm thấy trong lịch sử văn học
dân tộc [15]. Dòng văn học này có hệ thống tác phẩm hiện
bảo lưu được với số lượng khoảng 20 bài, nó không những
đặc trưng cho Phật giáo Việt Nam giai đoạn này mà còn là
một hiện tượng văn học độc đáo của dân tộc. Lâu nay,
nó đã được giới thiệu nhiều, nên ở đây chỉ điểm
qua sơ lược như thế [16].
Cũng cần lưu ý thêm về bối cảnh,
ý nghĩa và vai trò tư tưởng của người khởi xướng, thiền
sư Ðịnh Không. Ngài Ðịnh Không đã thành công trong việc
kết hợp hai nội dung để làm nên một xu hướng phát triển
mới của thời đại, đấy là chủ nghĩa địa linh và lấy
Phật giáo làm ý thức hệ cho phong trào đấu tranh [17]. Dòng
chủ lưu của văn học giai đoạn này cũng nằm trong xu hướng
phát triển đó. Bên cạnh các sáng tác của các thiền sư,
đây cũng là thời kỳ ra đời của những tác phẩm văn học
như truyền thuyết Phù Ðỗng thiên vương, truyện Tấm Cám...
với sự xuất hiện của những "ông tiên", "Bụt" từ bi, trở
thành những hình tượng văn học, hiện hữu trong tâm thức
của người dân, là một thế lực siêu nhiên luôn thường
trực sẵn sàng giúp đỡ người ăn hiền ở lành mỗi khi
gặp nguy khốn.
Văn học Phật giáo Việt Nam giai
đoạn này nở rộ, không chỉ với sự có mặt đầy đủ
các hệ tư tưởng Phật giáo Ðại thừa, mà còn phong phú
trong bộ phận văn học chú giải [18], lịch sử (bi ký, bi
minh), trước tác sám văn, đặc biệt là trào lưu văn học
vận động cho nền độc lập và phát triển của dân tộc
như đã nói. Có thể nói, đây là giai đoạn văn học mang
tính bản lề của nền văn học Phật giáo Việt Nam và văn
học dân tộc.
Dòng văn học sáng tác mang tính
trữ tình cũng hết sức đặc sắc, nhất là trong thời đại
nhà Lý đến đầu đời Trần. Về nghệ thuật, thể loại
văn xuôi đạt đến "cỗ áo xương kính, phảng phất như văn
đời Hán" [19], đối với thơ thì "... có thể tìm thấy trong
tâm hồn của thi sĩ, người đời, những đường nét, những
màu sắc hài hòa cùng với những tình tứ chân thật mà sâu
rộng và một ý vị say sưa mà trong trẻo..." [20]. Có thể
tạm mượn lời nhận định của một nhà nghiên cứu về
giá trị của giai đoạn văn học thời trung đại mà văn học
Phật giáo là dòng chủ lưu : "... dù thiên về triết lý cao
thâm hay cuộc sống đời thường đều có những phần, những
tác phẩm đạt đến độ sâu sắc, có thể xếp vào hàng
danh tác. Tùy theo mức độ thành công và con đường khác nhau,
chúng đem đến cho người đọc niềm vui trí tuệ và những
cảm xúc thẩm mỹ. Chúng là phần quan trọng làm phong phú
bộ phận văn học nước nhà" [21].
Cũng thật may mắn, dù còn không
nhiều, nhưng qua những gì còn sót lại đã phần nào giúp
chúng ta hình dung diện mạo của nền văn học Phật giáo trong
mấy trăm năm đầu của thời kỳ độc lập và kiến thiết
quốc gia. Văn học Phật giáo thời kỳ này cũng chính là văn
học dân tộc, bởi trong hơn mười thế kỷ, Phật giáo từ
một hệ tư tưởng được du nhập trở thành một trong những
nội dung quan trọng của nền văn hóa bản địa, và trải
qua quá trình đấu tranh bền bỉ vì mục tiêu độc lập dân
tộc, mối quan hệ đó càng khăng khít và đã thành một thể
thống nhất, nói như Giáo sư Trần Văn Giàu đã từng nhận
định: "Bình minh của lịch sử dân tộc ta đã gắn liền
với Phật giáo. Phật giáo là ngọn đuốc văn minh ở xứ
ta" [22]. Do thế, trong lĩnh vực văn học nói riêng và văn hóa
- tư tưởng nói chung, đặc biệt là ở giai đoạn này, chúng
ta dễ dàng nhận ra điều đó, những gì còn lại của nền
văn hiến nước ta một phần được bảo lưu trong các kinh
điển của Phật giáo như Lục độ tập kinh, Tạp thí dụ,
Cựu tạp thí dụ kinh, Lý hoặc luận, Sáu lá thư, văn bia
chùa Linh Xứng (Ðạo tràng Bảo An, năm 618), bài minh trên chuông
chùa Thanh Mai, các cột kinh ở Hoa Lư, trào lưu văn học vận
động cho mục tiêu độc lập dân tộc khởi đầu với thiền
sư Ðịnh Không và cao trào là trong thời của các thiền sư
Khuông Việt, Pháp Thuận, đặc biệt là Vạn Hạnh... Nói cách
khác, văn học Phật giáo giai đoạn trước đời Trần cũng
chính là diện mạo của nền văn học dân tộc ở giai đoạn
này.
II.
Văn học Phật giáo từ thời vua - thiền sư Trần Nhân Tông
(1258-1308) đến cận đại
Phật giáo Việt Nam luôn vận động
và phát triển trong xu thế gắn bó với dân tộc mà sự ra
đời của các dòng thiền và sự có mặt của các hệ tư
tưởng Phật giáo cùng các dòng văn học là một trong những
biểu hiện sinh động. Ðến thời Trần, nó phát triển tiếp
tục với đỉnh cao là sự ra đời của dòng thiền thuần
túy Việt Nam Trúc Lâm Yên Tử.
Nền văn học Phật giáo cũng có
những bước phát triển mới theo xu hướng đó. Trong thời
kỳ độc lập của dân tộc, khi mà mọi ưu tiên dành cho công
cuộc xây dựng đất nước, ngoài sự phát triển kinh tế,
thì việc xây dựng văn hóa mà cơ bản là tư tưởng, là một
lĩnh vực quan trọng. Ðiều đó được thể hiện rõ trong
giai đoạn này. Nhiều tác giả văn học Phật giáo xuất hiện
với những thành tựu nhất định trong cả nội dung tư tưởng,
ngôn ngữ và nghệ thuật.
Ðầu đời Trần, chúng ta có những
tác phẩm quan trọng của Trần Thái Tông (1218-1277), như Khóa
hư lục, nội dung bàn về các vấn đề triết lý và giới
luật, phương pháp và các nghi thức hành trì của Phật giáo
một cách toàn diện. Ngoài ra, văn bản hiện còn có các bài
tựa viết cho kinh Kim Cương (Kim cương tam muội kinh tự), và
sách Thiền tông chỉ nam (Thiền tông chỉ nam tự)... Ðặc
biệt là bài tựa viết cho sách Thiền tông chỉ nam mà nội
dung chứa những quan điểm hoằng pháp mới của người Phật
tử Việt Nam [23].
Không thể không nói đến một "hiện
tượng tư tưởng" thời bấy giờ là những tác phẩm của
Tuệ Trung Thượng Sỹ (1230-1291), một nhà tư tưởng và là
một tác giả văn học lớn không chỉ của Phật giáo mà của
cả dân tộc. Văn bản tác phẩm của ngài hiện nay gần như
đầy đủ, tiêu biểu là Tuệ Trung Thượng Sỹ ngữ lục.
Tuy nhiên, phải đến vua Trần Nhân
Tông, những quan điểm đó mới được thực hiện một cách
sinh động. Tác phẩm của nhà vua-thiền sư Trần Nhân Tông
tuy không đồ sộ nhưng lại có những đóng góp vĩ đại cho
nền văn học Phật giáo nói riêng và dân tộc nói chung, đặc
biệt là đối với nền văn học tiếng Việt [24]...
1. Trần Nhân
Tông, người đặt nền móng cho nền văn học tiếng Việt
Với những tác phẩm bằng tiếng
Việt (Cư trần lạc đạo phú và Thú đắc lâm tuyền thành
đạo ca), lần đầu tiên chúng ta có được những văn bản
hoàn chỉnh sử dụng ngôn ngữ dân tộc để để diễn đạt
những phạm trù tư tưởng và lý luận, nhưng vẫn có những
giá trị nghệ thuật của nó. Với những thành tựu về tư
tưởng và ngôn ngữ nghệ thuật đó, chúng có một vị trí
hết sức quan trọng trong sự phát triển không chỉ trong nền
văn học Phật giáo mà cả dân tộc.
Chữ Nôm dùng để ghi tiếng Việt
được hình thành trước thời vua Trần Nhân Tông [25]. Tương
truyền thiền sư Từ Ðạo Hạnh (?-1117) ở đời Lý có viết
bài "Giáo trò", đây là một "bài thơ" ngắn nhưng vấn đề
văn bản học đến nay vẫn chưa được giám định; Nguyễn
Thuyên (thế kỷ XIII) có viết Văn tế cá sấu song văn bản
hiện không còn. Dẫu cho bài Giáo trò với văn bản hiện nay
của thiền sư Từ Ðạo Hạnh có được xác định đi nữa,
thì tiếng Việt ở đấy hãy còn chất phác và đơn giản.
Phải đến hai tác phẩm Cư trần lạc đạo phú và Thú đắc
lâm tuyền thành đạo ca của vua Trần Nhân Tông, nó mới thực
sự trở thành ngôn ngữ văn học, có khả năng diễn đạt
những chủ đề tư tưởng-triết lý một cách nhuần nhuyễn
và cuốn hút. Nói cách khác, chữ Nôm đã chính thức đi vào
đời sống văn học, mà trước hết là văn học Phật giáo,
đặc biệt là với bài phú Cư trần lạc đạo thể hiện
chủ trương cơ bản của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử của
nhà vua-thiền sư Trần Nhân Tông.
Hai tác phẩm văn học trên đã cắm
một cột mốc lớn đánh dấu một giai đoạn phát triển cả
trong nền văn học Phật giáo lẫn dân tộc. Ðây là nền móng
cho sự phát triển của bộ phận văn học chú giải kinh điển,
với sự xuất hiện ồ ạt của các tác phẩm văn học dịch,
chú giải cũng như sáng tác bằng tiếng Việt trong các thế
kỷ sau.
2. Sự phát
triển của bộ phận văn học tiếng Việt
Các văn bản dịch và chú giải
kinh điển bằng tiếng Việt xuất hiện sớm nhất trong lịch
sử văn học nước ta hiện có được là Phật thuyết đại
báo phụ mẫu ân trọng kinh và Phật thuyết báo phụ mẫu
ân trọng kinh của thiền sư Viên Thái (1400-1460). Viên Thái
cũng chính là người dịch Cổ châu Pháp Vân bản hạnh ngữ
lục. Ðồng thời, chúng ta có Thập giới cô hồn văn và một
số bài thơ ca ngợi Phật Pháp Vân, chùa Trấn Quốc của vua
Lê Thánh Tông (1442-1497). Ngọc âm chỉ nam giải nghĩa và Cỗ
châu Pháp Vân bản hạnh của thiền sư Pháp Tính (1470-1550)
cũng ra đời trong trào lưu này. Thế kỷ XVI có thiền sư Thọ
Tiên Diễn Khánh với Nam hải Quan AÂm Phật sử tích ca; Thế
Nghi lần đầu tiên dịch Tân biên truyền kỳ mạn lục. Thế
kỷ XVII-XVIII, xuất hiện hàng loạt tác giả lớn như Minh
Châu Hương Hải (1628-1708) với các bản dịch kinh A Di Ðà,
Kim cương, Tâm kinh Bát Nhã... [26]; thiền sư Chân An Tuệ Tĩnh
với các tác phẩm về y học; thiền sư Chân Nguyên (1647-1726)
viết các truyện Nôm Nam hải Quan AÂm, Ðạt Ma thái tử hạnh...;
Như Trừng (1690-1728) với Sa di thập giới quốc âm, Ngũ giới
quốc âm...; Như Thị với Oai nghi quốc ngữ; thiền sư Toàn
Nhật (1755-1832) với Hứa sử truyện vãn...; Nguyễn Du (1765-1820)
với Văn tế thập loại chúng sinh...; thiền sư Pháp Liên (1800-1860)
với tác phẩm dịch thơ đồ sộ Pháp Hoa quốc ngữ kinh (3214
câu), dịch từ Diệu pháp liên hoa kinh của ngài Cưu Ma La Thập,
v.v... Ấy chỉ là đại khái điểm qua, và như vậy, kể từ
thời Trần Nhân Tông, nền văn học chữ Nôm đã phát triển
mạnh mẽ, nó tạo nên một phong trào sáng tác văn học rầm
rộ, không còn là một loại chữ bị cho là "nôm na cha mách
qué", như thiền sư Pháp Tính đã khẳng định trong Ngọc âm
chỉ nam:
"Thánh xưa đặt chữ xem
hình
Lấy bàng làm nghĩa, lấy mình làm
tên
Giáo ra muôn nước thừa truyền
Khác nước khác tiếng chữ in một
lề
Nói Nôm tiếng thị tiếng phi
Ðến lập văn tự lại y thánh
hiền..."
Như vậy, nền văn học viết tiếng
Việt không chỉ có những tác phẩm sớm nhất mỗi Quốc âm
thi tập của Nguyễn Trãi (1380-1442) và Hồng Ðức quốc âm
thi tập của vua Lê Thánh Tông (1442-1497) như Từ điển văn
học Việt Nam [27] đã nhận định, mà còn có rất nhiều tác
phẩm và tác giả lớn khác và những đóng góp của họ là
rất có ý nghĩa. Ðấy là những tác phẩm văn học đích thực,
xứng đáng làm đối tượng để nghiên cứu một cách khách
quan và nghiêm túc. Không phải vì những tác giả này là Phật
tử-thiền sư và tác phẩm của họ thuộc nội dung Phật giáo
mà không kể đến, bởi văn học Phật giáo là một bộ phận
của nền văn học dân tộc. Ðiều này sẽ là một lý giải
cho sự vận động đi đến những đỉnh cao của các tác phẩm
văn học, nếu không có những bước đi của bộ phận văn
học này thì khó lý giải về sự xuất hiện của các tuyệt
tác trong nền văn học dân tộc như Truyện Kiều và Văn tế
thập loại chúng sinh của Nguyễn Du (1765-1820)...
Song song với sự phát triển ồ
ạt của bộ phận văn học tiếng Việt, bộ phận văn học
sáng tác bằng chữ Hán cũng nở rộ chưa từng có. Trong giai
đoạn này, chúng ta có các tác giả lớn như Trần Thái Tông,
Tuệ Trung Thượng Sỹ, Trần Nhân Tông, thiền sư Kim Sơn, Minh
Châu Hương Hải, thiền sư Chân Nguyên với hơn 12 tác phẩm
viết bằng chữ Hán lẫn chữ Nôm, thiền sư Pháp Chuyên viết
trên dưới 20 tác phẩm, sự nghiệp văn học của thiền sư
Toàn Nhật hiện được xác định có ngoài 24 tác phẩm, hòa
thượng An Thiền Phúc Ðiền đã để lại gần 10 công trình...
Ðấy là chưa kể đến những tên tuỗi như các thiền sư
Huyền Quang, Viên Văn Chuyết Chuyết, Như Trừng, Minh Giác Kỳ
Phương, Tính Quảng Ðiều Ðiều, Hải Lượng (Ngô Thì Nhiệm),
Nguyễn Du, Thanh Ðàm, Nhất Ðịnh, Từ Phong, Viên Thành... sự
nghiệp văn học của họ không chỉ có ý nghĩa đối với
nền văn học Phật giáo Việt Nam, mà còn có những đóng góp
tích cực cho nền văn học-văn hóa dân tộc.
3. Các bộ phận
văn học khác
Tư tưởng Phật giáo phóng khoáng
được thiết định bởi ngài Trần Nhân Tông đã mở ra một
thời đại phát triển vượt bực của Phật giáo. Nền văn
học Phật giáo trong giai đoạn này cũng vậy. Văn học Phật
giáo không đóng khung trong các vấn đề Phật học, dịch thuật
và chú giải kinh điển, mà bên cạnh vấn đề trọng tâm
đó, chúng ta có thể tìm thấy nhiều bộ phần văn học khác,
chẳng hạn ngôn ngữ, y học, lịch sử ...
Quan tâm đến vấn đề ngôn ngữ
có Ngọc âm chỉ nam của thiền sư Pháp Tính. Ðiển hình cho
bộ phận y học có các tác phẩm của thiền sư Tuệ Tĩnh
(1630-1711). Ðặc biệt, từ sau thời Trần Nhân Tông, bộ phận
văn học viết về lịch sử Phật giáo Việt Nam đã xuất
hiện nhiều tác phẩm giá trị như Thiền uyển tập anh, Thánh
đăng ngữ lục... của Thiền sư Kim Sơn (1300-1460) [28], một
trong những học trò của Trúc Lâm Ðiều Ngự. Ðặc biệt,
Thiền uyển tập anh là một cuốn sử xưa nhất của Phật
giáo Việt Nam hiện có được. Ngoài ra, còn có các tác phẩm
của các thiền sư Pháp Tính (Cỗ châu Pháp Vân bản hạnh),
Trương Thị Ngọc Trong (Truyện Ỷ Lan), Chân Nguyên (Thiền
tông bản hạnh; Thiên Nam ngữ lục, bộ sử bằng tiếng Việt...),
Như Sơn (Ngự chế thiền uyển kế đăng lục), Tính Quảng
Ðiều Ðiều (1740-1780, Tam tổ thực lục, Phật quốc ký...),
v.v...
III.
Những đóng góp về ngôn ngữ đối với ngôn ngữ dân tộc
Văn học Phật giáo Việt Nam là
một kho tàng đồ sộ và quy mô. Nó không chỉ đồ sộ và
quy mô trong nội dung mà hết sức phong phú trong thể loại
và ngôn ngữ.
Về thể loại, văn học Phật giáo
đã cống hiến cho nền văn học dân tộc nhiều thành tựu
trong các thể loại thơ, truyện kể, lý luận và dịch thuật-chú
giải trong cả hai bộ phận chữ Hán và chữ Nôm.
Với một kho tàng đồ sộ và phong
phú như thế, văn học Phật giáo đã đóng góp một khối
lượng khái niệm, từ ngữ làm giàu thêm cho tiếng Việt,
đồng thời qua quá trình dịch thuật-chú giải, biên soạn
và sáng tác, nó đã góp phần quan trọng trau dồi tiếng nói,
góp phần làm cho tiếng Việt trở thành một ngôn ngữ hình
tượng có thể diễn đạt được các mặt của cuộc sống
xã hội và con người. Những khái niệm của Phật giáo không
còn khu biệt trong phạm vi Phật giáo, mà đã đi vào đời
sống, trở thành lời ăn tiếng nói của nhân dân và hơn thế
nữa, là một chất liệu thân thiết để sáng tác văn học
nghệ thuật.
KẾT
LUẬN
Không phải đến thời Lý-Trần
mới hiện diện một "dòng văn học Phật giáo" như một số
người đã nhận định một cách dễ dãi và thiếu khách quan.
Với lịch sử hơn hai ngàn năm phát triển và gắn bó với
dân tộc, Phật giáo Việt Nam đã có một nền văn học đồ
sộ và quy mô mà những gì trình bày sơ sài trên chỉ là bước
đầu trong nỗ lực để giới thiệu về nó.
Vào đầu kỷ nguyên Tây lịch, tại
nước ta đã có mặt các tác phẩm kinh điển theo hệ tư tưởng
Phật giáo Ðại thừa, nó được người Phật tử Việt Nam
tiếp nhận và gởi gắm các quan niệm của mình khi chuyển
dịch và truyền bá. Những kinh điển này không những làm
kim chỉ nam trong đời sống tâm linh-tôn giáo của người Phật
tử mà còn là cơ sở lý luận cho Phật giáo Việt Nam trong
giai đoạn đầu, để thiết định nền tư tưởng Phật giáo
quyền năng, và các ảnh hưởng của nó đối với văn học
nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung là rất lớn.
Qua các giai đoạn phát triển của
Phật giáo [29], đáp ứng yêu cầu của thời đại, các hệ
tư tưởng quan trọng của Phật giáo đã được du nhập nước
ta. Trong hoàn cảnh đó, nhiều tác phẩm dịch thuật, chú giải
kinh, luận và sáng tác văn học đã ra đời, nhiều tác giả
văn học lớn cũng đã xuất hiện. Ðặc biệt là từ sau thời
vua Trần Nhân Tông với nền tư tưởng Phật giáo cởi mở
mà ngài chủ trương, trong tình hình chung, văn học Phật giáo
đã đi vào nhiều lĩnh vực của đời sống đất nước, cả
trên hai bộ phận văn học chữ Nôm và chữ Hán. Ðặc biệt,
văn học Phật giáo đã đóng góp hết sức quan trọng đối
với sự hình thành và phát triển của bộ phận văn học
viết bằng tiếng nói dân tộc (chữ Nôm). Ðấy là chưa kể
đến những tác phẩm chịu sự ảnh hưởng sâu sắc hoặc
lung linh tư tưởng Phật giáo trong các tác giảư mà chưa thể
trình bày ở đây.
Thật đáng tiếc là phần lớn của
nền văn học ấy, trước thế kỷ XIII, nguồn tư liệu bằng
văn bản hiện chúng ta còn rất ít, rất nhỏ so với tầm
vóc phát triển của Phật giáo trên đất nước ta trong hơn
một ngàn năm đầu. Nó đã bị hủy diệt dưới sự tàn bạo
của mưu đồ triệt tiêu văn hóa Ðại Việt trong vòng 20 năm
dày xéo nước ta của quân xâm lăng nhà Minh đầu thế kỷ
XV. Nhưng những gì còn lại cũng đã phần nào nói lên diện
mạo, sự phong phú và đồ sộ của nền văn học đó. Với
thực tế trên, chúng ta cần chú ý và nhìn lại một cách
nghiêm túc đối với kho tàng văn học này. Bởi nghiên cứu
văn học Phật giáo Việt Nam, chúng ta không những tìm hiểu
và xác định được những đặc trưng của lý tưởng và
phương pháp tu tập theo truyền thống Phật giáo nước nhà,
mà còn tìm về cội nguồn bản sắc văn hóa dân tộc được
bảo lưu và tiềm tàng trong đó.
-ooOoo-
Ghi chú:
[1] Xem tiểu truyện về Thiền sư
Thông Biện
[2] Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật
giáo Việt Nam, tập 1, Nxb Thuận Hóa, 1999, tr.97
[3] Xem Lê Mạnh Thát, Lục độ tập
kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta, Tu thư Ðại
học Vặn Hạnh, 1972
[4] Chẳng hạn, lý tưởng hành động
của Bồ tát được nhấn mạnh là ở sự "quên mình cứu
người", "Bồ tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt lệ xông mình
vào nơi chính trị hà khắc để cứu dân khỏi nạn lầm than"
(truyện 68) v.v... Quan niệm này không tìm thấy trong các kinh
sách Phật giáo ở Trung Hoa hay Ấn Ðộ trong khoảng ba thế
kỷ đầu của kỷ nguyên Tây lịch.
[5] Thí dụ, về truyền thuyết "trăm
trứng trăm con" nói về nguồn gốc của cộng đồng người
Việt chúng ta hiện được bảo lưu trong Lục độ tập kinh
(truyện 23). Một số chi tiết đặc thù của truyền thuyết
này không tìm thấy trong nền văn học của Ấn Ðộ. Ðiều
này chứng tỏ, truyền thuyết này xuất hiện rất sớm, và
nó phỗ biến vào đầu kỷ nguyên Tây lịch và đã được
Khương Tăng Hội đưa vào bản dịch của ngài để thay thế
cho truyện Một trăm người con (một trăm bọc thịt sinh ra
một trăm người con) trong văn học Phạn ngữ... Xem Lê Mạnh
Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân
tộc ta, Tu thư Ðại học Vạn Hạnh, 1972
[6] Xem Lê Mạnh Thát, Lịch sử...,
Sđd, tr.127-133
[7] Có quan niệm cho rằng nó là
một tác phẩm thuộc văn học Trung Quốc, tuy nhiên phân tích
nội dung tư tưởng, chúng ta thấy lập trường của tác giả
Mâu Tử là lên án văn hóa Trung Quốc một cách trực diện,
thí dụ ông cho rằng: "Thi thư chưa phải là lời Thánh hiền",
"đất Hán chưa phải là trung tâm của trời đất"... Là tác
phẩm của người Phật tử, nhưng nó không chỉ đề cập
đến nội dung Phật giáo, mà có thể xem đây là một tác
phẩm đấu tranh tư tưởng-văn hóa giữa hai nền văn hóa Việt-Hoa
[8] Xem Thích Tâm Hải, Tỗng quan
về lịch sử Phật giáo Việt Nam, trong Phật học cơ bản,
tập 3, Nxb TP.HCM, 2000, tr.34-40
[9] Vô lượng thọ kinh chủ yếu
trình bày những tiền thân của Ðức Phật A Di Ðà và 48 lời
nguyện lớn của Ngài khi chưa thành Phật. Quán vô lượng
thọ chủ yếu nói về 16 phép quán liên hệ đến thế giới
của Ðức Phật A Di Ðà và các vị Bồ tát Quán Thế AÂm,
Ðại Thế Chí...
[10] Nội dung của bản kinh khắc
trên các cột đá này đã thu hút được sự chú ý của giới
học thuật nước ta. Hiện có nhiều bài nghiên cứu về nó,
chẳng hạn của giáo sư Hà Văn Tấn trong Theo dấu các văn
hóa cỗ, Nxb Khoa học xã hội, 1998; Lê Mạnh Thát trong Lịch
sử Phật giáo Việt Nam, tập 2, Nxb TP.HCM, 2001, v.v...
[11] Xem Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu
về Thiền uyển tập anh, Nxb TP.HCM, 1999, tr.232-233
[12] Xem Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu
về Thiền uyển tập anh, Sđd, tr.234-245
[13] Xem Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu
về Thiền uyển tập anh, Sđd, tr.262-264
[14] Xem Lê Mạnh Thát, Về mấy bài
Ðường thi liên quan đến Phật giáo Việt Nam, Tập văn Ban
Văn hóa TƯ GHPGVN, số 46 (2000)
[15] Xem Nguyễn Tài Cẩn, "Về vấn
đề lập trường đối với nhà Tống của bài 'Vương Lang
quy từ' của Ngô Chân Lưu" trong Một số chứng tích về ngôn
ngữ văn tự và văn hóa, Nxb Ðại học Quốc gia Hà Nội, HN,
2001, tr.48-57; và xem Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt
Nam, tập 2, Nxb TP.HCM, 2001, các chương VIII, XIX và X
[16] Thơ văn Lý-Trần (Nguyễn Huệ
Chi chủ biên), Thiền uyển tập anh...
[17] Qua các bài sấm kệ, Thiền
sư Ðịnh Không đã đánh thức ý thức tự chủ và độc lập
dân tộc, rằng đất nước ta cũng là xứ sở địa linh nhân
kiệt, có người có khả năng làm vua, và những vị vua ấy
mỗi khi lãnh đạo đất nước sẽ làm cho Phật giáo hưng
thịnh. Ðây là một chủ thuyết hoàn hảo để đẩy cao phong
trào đấu tranh vì độc lập dân tộc và xây dựng đất nước
giai đoạn đầu. Bởi với kinh nghiệm từ sự đỗ vỡ nhanh
chóng của Nhà nước Vạn Xuân trước đó, nếu vì chủ trương
vì độc lập dân tộc thôi thì chưa đủ, mà muốn giữ được
độc lập lâu dài thì cần phải có đề cương xây dựng
đất nước, bởi nếu không có nó, trước sau gì cũng dẫn
đến tình trạng phân hóa như kết cuộc của Nhà nước Vạn
Xuân do Lý Nam Ðế mở đầu. Ðiều này được khẳng định
qua sự ra đời của các triều đại độc lập sau đó, mà
hầu hết người lãnh đạo tối cao đều là Phật tử
[18] Thiền uyển tập anh cho biết
nhiều thiền sư ở giai đoạn này đã viết rất nhiều tác
phẩm nhưng đã bị tán thất, ngày nay chúng ta chỉ được
biết qua tên của chúng mà thôi. Chẳng hạn các Thiền sư
Huệ Sinh (?-1063), Viên Chiếu (999-1091), Pháp Bảo (?-?), Khánh
Hỷ (1067-1121), Viên Thông (1080-1151)... Có nhiều tác phẩm được
Thiền uyển tập anh ghi lại tên, phần lớn văn bản đều
không còn
[19] Phạm Ðình Hổ (1769-1839). Trích
theo Nguyễn Ðổng Chi trong Việt Nam văn học cổ sử, Phủ
Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa tái bản, Sài Gòn, 1970
[20] Giáo sư Ðặng Thái Mai, Mấy
điều tâm đắc về một thời đại văn học trong Thơ văn
Lý-Trần, tập I, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997
[21] PGS Nguyễn Thị Băng Thanh, Tạp
chí Văn học, chuyên đề về văn học Phật giáo, số tháng
4 năm 1992, tr.35
[22] Ðạo Phật và một số vấn
đề của lịch sử tư tưởng Việt Nam, trong Mấy vấn đề
về Phật giáo và lịch sử tư tưởng của dân tộc, Viện
Triết học xuất bản, Hà Nội, 1998, tr.15
[23] Trong bài tựa này có một chủ
trương về truyền bá Phật giáo xuất hiện trước đó, nhưng
đến nay mới được Trần Nhân Tông khái quát thành một chủ
trương: Phật giáo ta phải dùng phương tiện Nho gia để truyền
bá (Ngã Phật chi giáo dĩ Thánh hiền nhi truyền chi)... Xem Thơ
văn Lý-Trần, Nxb Khoa học xã hội, HN, 1989
[24] Xem Lê Mạnh Thát, Toàn tập
Trần Nhân Tông, Nxb TP.HCM, 2000
[25] Theo Thiền sư Viên Thái thì
chữ Nôm có mặt vào thời Sĩ Nhiếp (Ngọc âm chỉ nam giải
nghĩa)
[26] Xem Lê Mạnh Thát, Minh Châu Hương
Hải toàn tập, Nxb TP.HCM, 2000
[27] Lại Văn Ân và Bùi Văn Trọng
Cường biên soạn, Nxb Giáo dục, 1995, tr.256
[28] Xem Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu
về Thiền uyển tập anh, Nxb TP.HCM, 1999
[29] Xem Thích Tâm Hải, Tỗng quan
về lịch sử Phật giáo Việt Nam, Sđd.
-ooOoo-
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Trình bày tóm tắt về
những bộ kinh lưu hành sớm nhất tại nước ta.
2. Những tác phẩm của Trần
Nhân Tông có vị trí như thế nào trong sự phát triển của
nền văn học Phật giáo nói riêng và nền văn học dân tộc
nói chung?