Phần II
- Bài 3
GIỚI
THIỆU ÐẠI CƯƠNG VỀ DUY THỨC HỌC
(Tâm lý học
Phật giáo)
Tuệ Hạnh
Duy thức học (Tâm
lý học Phật giáo Phát triển) là một trong những hệ thống
tư tưởng lớn của Phật giáo đã gây sự kinh ngạc đối
với khoa Tâm lý học phương Tây hiện đại, đặc biệt là
chuyên ngành Tâm lý học trị liệu. Tuy nhiên, khác với Tâm
lý học thông thường, Duy thức học không phải là một nhận
thức luận đơn thuần, cũng không nhằm xiển dương cho một
triết lý nào đó, mà trong mục tiêu cứu kính của Phật giáo,
Duy thức học đã khai sáng một nhận thức mới về sự giác
ngộ qua hành trình tìm hiểu Tâm. Ðây là một vấn đề Phật
học quan trọng và rộng, nhưng trong giới hạn dung lượng
của chương trình Phật học hàm thụ, Ban Hướng dẫn trân
trọng giới thiệu bài giảng: "Ðại cương về Duy thức học"
của tác giả Tuệ Hạnh, Ph.D.; ngoài bài giảng này, trong điều
kiện cho phép, học viên cần tham khảo thêm các tài liệu
được giới thiệu ở cuối bài.
BAN HƯỚNG DẪN CHƯƠNG
TRÌNH PHHT
-ooOoo-
DẪN
NHẬP
Duy thức và Trung quán là hai trường
phái lớn, triển khai tư tưởng Ðại thừa đến cực điểm
của triết học Phật giáo vào những thế kỷ II đến thế
kỷ VI tại Ấn Ðộ. Duy thức được biết qua Phạn ngữ bằng
3 từ: 1) Cittamàtra, chủ trương tất cả đều do tâm, duy tâm;
2) Yogacàra, gồm 2 từ Du-già và hạnh, đề xướng hành trì
du-già, quán tưởng thiền định để phát huy hạnh nguyện
Bồ tát; 3) Vijnanaptivàda, học thuyết cho rằng tất cả vạn
vật đều do thức hiện khởi, duy thức. Cả ba từ này được
dùng cùng nghĩa với nhau, tuy rằng về sau, do các bộ luận
chuyên về "duy thức" của Thế Thân, Vijnanaptivàda được phỗ
biến hơn và chấp nhận như là tên gọi cho triết thuyết
của tông này (Vijnanaptimatràtavàda). Trong khi đó, Cittamàtra
hầu như không còn được nhắc tới, còn Yogàcàra được
dùng xen lẫn với Vijnanaptivàda như là đồng nghĩa. Trong khi
Trung quán chú trọng về biện chứng bằng trí tuệ thì Du-già
đặt trọng tâm vào việc hành trì thiền định; cả hai đều
nhằm mục đích nhận chân thực tánh của hiện hữu.
Tuy rằng sự ra đời của trường
phái Duy thức được xem là xiển dương và phát huy triết
lý Ðại thừa đến cực điểm, nhưng căn bản tư tưởng
của nó, cũng như của Trung quán, bắt nguồn từ truyền thống
sớm nhất của Phật giáo, tức ngay vào thời Ðức Phật tại
thế, khi Ngài dạy trong kinh Pháp Cú, rằng "Tâm làm chủ, Tâm
dẫn đầu, Tâm tạo tác tất cả các pháp", rằng Thức vốn
có bản tánh thanh tịnh, v.v... Tâm do đó rất quan trọng trong
Phật giáo ngay từ thời nguyên thủy. Có thể nói rằng tất
cả các học phái của Phật giáo, tại Ấn Ðộ cũng như tại
Trung Hoa, cũng đều xây dựng triết thuyết trên vấn đề
hiện hữu hay không hiện hữu của Tâm.
Du-già [1] thực ra không phải là
một phương pháp thực hành thiền quán đặc biệt nào, mà
là một phương tiện diễn đạt dùng để tìm hiểu nội trạng
của hành giả khi hành động và ý nghĩ của hành giả khi
thực hiện hành động đó. Mục đích là để chuyển biến
thức thành trí (tuệ). Sự ra đời của triết thuyết Duy thức,
theo vậy, không phải là để xiển dương một triết lý, mà
là để khai sáng một nhận thức mới về sự giác ngộ qua
hành trình tìm hiểu Tâm thức bằng thuyết Ba tự tánh (trisvabhava)
rồi thiết lập một con đường thực hành (Bồ tát đạo),
tạo nên một triết thuyết đưa nội dung tư tưởng Ðại
thừa đến chỗ toàn vẹn.
I. CÁC LUẬN
SƯ DUY THỨC
Thế Thân (Vasubandhu) và người anh
là Vô Trước (Asanga), sống khoảng thế kỷ IV, được xem
là hai khuôn mặt vĩ đại, đã chủ xướng, hệ thống hóa
và xiển dương triết lý Duy thức khiến chỉ trong một thời
gian ngắn, học phái này được phỗ biến rộng rãi và lôi
cuốn một số luận sư tài danh khác, đương thời cũng như
các thế kỷ sau, nhập cuộc và khởi đầu cho một số luận
sớ, sớ giải, v.v..., hoặc tán thành và triển khai thêm, hoặc
biện bác, phủ quyết, v.v... với học thuyết này.
Thế Thân (315-395 sdl) [2] nỗi tiếng
qua hai quyển luận ngắn, luận thuyết rằng tất cả đều
duy chỉ là thức [3] (Duy thức Nhị thập tụng và Duy thức
Tam thập tụng, Vimsatikà- và Trimsikà-vijnịapti-kàrikà) [4],
cùng một quyển nhỏ khác, nói về ba tánh của hiện hữu,
tức tam tự tánh (Trisvabhàva-nirdesa), hay còn gọi là Tam vô
tự tánh luận (Trinisvabhàva-sàstra) [5]. Truyền thuyết cho rằng
sau khi được người anh khác mẹ là Vô Trước thuyết phục
theo Ðại thừa, Thế Thân mới viết các luận trên để bày
tỏ quan điểm mới và phủ nhận ý hướng Tiểu thừa được
biết qua bộ A-tì-đạt-ma Câu-xá luận (Abhidharma-kosa-bhàsya)
cũng vô cùng nỗi tiếng của ngài. Thật ra, là một triết
gia lỗi lạc, càng lớn tuỗi thì kinh nghiệm tâm linh càng
thâm sâu và tư tưởng triết lý càng cao rộng, cho nên các
bộ luận trên chỉ là thành quả triển khai đương nhiên của
nhà luận sư tài ba này mà thôi.
Vô Trước là tác giả của Bồ
tát địa (Bodhisattvabhùmi), A-tì-đạt-ma Tạp tập luận (Abhidharmasamuccàya),
và Du-già sư địa luận (Yogàcàryà-bhùmi-sàstra) [6], viết
theo quan niệm Duy thức.
Thầy của Vô Trước là luận sư
Di Lặc (Maitreyanàtha) [7], một nhân vật lịch sử, mà các
học giả ngày nay như giáo sư Giuseppe Tucci đã có ý kiến
rằng ngài mới chính là người xiển dương và là sáng tổ
của Duy thức tông; tài năng của ngài không kém Long Thọ,
tuy rằng tên tuỗi và niên đại của ngài lại ít người
biết đến [8]. Theo truyền thống Tây Tạng, ngài là tác giả
5 bộ luận, mà nỗi tiếng nhất là Biện trung biên luận tụng
(Madhyànta-vibhàga-kàrika) [9], luận giải về sự phân biệt
giữa trung đạo đối với các cực đoan [10]; cùng với Ðại
thừa trang nghiêm (Mahàyànasùtra-lankàra), Hiện chứng trang
nghiêm (Abhisamayàlamkàra) v.v...
Ðại diện trường phái Duy thức
tại Ấn Ðộ có Sthiramàti (An Huệ, sống khoảng thế kỷ
VI), vốn là đại đệ tử của Gunamàti, Ðức Huệ, người
sáng lập trung tâm Valabhì, trong khi Dharmapàla, Pháp Hộ (530-591),
người có công xác lập vị trí của trung tâm Ðại học Nàlandà
với khuynh hướng xiển dương Duy thức, là hai trung tâm học
thuật Phật giáo nỗi tiếng đương thời. Pháp Hộ chủ trương
Duy thức tuyệt đối, trong khi An Huệ có ý muốn dung hòa quan
điểm "thực tướng" của Nagarjuna (Long Thọ) với quan niệm
"nhất thiết duy tâm tạo" của Duy thức [11]. Ngoài ra còn có
đệ tử Thế Thân là Dignàga (Trần Na), và đệ tử Trần
Na là Dharmakìrti (Pháp Xứng); cả hai dựa trên quan điểm nội
hàm luận lý học của Thế Thân về tương liên giữa nhận
thức về đối tượng để xiển dương Nhân minh học (Hetuvidyà),
một phương pháp tranh luận bằng lý luận, logic.
Tại Trung Hoa, Duy thức được xiển
dương bởi ngài Huyền Tráng và đệ tử là Khuy Cơ (K'uei-chi,
632-685), người được xem như là sáng tổ Duy thức hay Pháp
Tướng tông (Fa-hsiang), một trong 8 tông phái lớn của Phật
giáo Trung Hoa. Ngài Huyền Tráng (Hsuan-tsang, 596-664) sau khi dịch
Duy thức Nhị thập tụng và nhất là Duy thức Tam thập tụng,
bèn hội ý tất cả mười bản luận giải của các luận
sư Ấn Ðộ về Duy thức Tam thập tụng để viết Thành Duy
thức luận (Vijnịapti-màtratà-siddhi), làm căn bản triết thuyết
cho Pháp Tướng tông Trung Hoa [12]. Ngoài ra còn có Ðại Thừa
Ðăng, một đại sư người Việt Nam, cùng với Khuy Cơ được
xem như là hai đại đệ tử đã cộng tác với Huyền Tráng
trong công trình dịch thuật các bộ luận về Duy thức này,
cho thấy tài năng của một đại sư Việt Nam mà tên tuỗi
chưa được giới học thuật Phật giáo Việt Nam trước đây
chú ý [13].
II. SƠ LƯỢC
VỀ DUY THỨC NHỊ THẬP TỤNG VÀ DUY THỨC TAM THẬP TỤNG (Nhị
thập tụng và Tam thập tụng)
Vasubandhu viết Nhị thập tụng và
tự viết thêm phần chú giải, trong khi Tam thập tụng thì
có phần chú giải của Sthiramati (An Huệ). Theo hai bản luận
căn bản của Duy thức tông này [14], thì tất cả mọi hiện
tượng đều là sự biến hiện của thức trong hành vi và
hoạt động nội tại của chúng; những nhận thức của chúng
ta không phải là do từ đối tượng ngoại tại tạo thành,
những đối tượng mà ta tưởng là hiện hữu bên ngoài và
tạo thành ý nghĩ của chúng ta. Cũng giống như trong giấc
mộng, chúng ta có những kinh nghiệm về thiên hình vạn trạng,
người ta, cảnh vật, thời điểm, cảm giác, v.v..., tất cả
đều y như thật trong giấc mộng đó. Ðến khi tỉnh giấc,
ta còn vẫn còn có những cảm giác như thật khi tiếp xúc
và phản ứng với những gì trong mộng [15]. Ấy thế mà khi
tỉnh giấc, thì chẳng có gì. Cũng vậy, tất cả các đối
tượng ngoại tại chẳng qua chỉ là do thức hiện khởi mà
thôi.
Do đó mà Thế Thân mới kết luận
rằng những chứng cớ bằng nhận thức về sự hiện hữu
của thế giới đối tượng không thể tin được. Dụ như,
ta có thể đặt vấn đề, là những đối tượng của nhận
thức qua đôi mắt, nhãn thức, chỉ hoàn toàn là một hiện
thể trọn vẹn, hay nhiều thành tố như nguyên tử hợp lại.
Chúng không thể hoàn toàn là một, bởi vì nếu là một trọn
vẹn thì phải bao gồm nhiều thành phần trong chúng; chúng
cũng không thể có đặc tính của những nguyên tử, là những
thành tố không còn có thể chia chẻ phân tách ra nữa được
[16]; bởi lý do đơn giản là nếu chúng có thể phối hợp
được thì chúng đã không thể được xem là nguyên tử. Ðể
phối hợp, một thành tố phải có 6 cạnh, Nam Bắc Ðông Tây
trên dưới [17], như vậy có nghĩa là nguyên tử đó không
còn phải là nguyên tử nữa. Lại nữa, nếu những đối tượng
của nhận thức hoàn toàn là một, thì sự tiếp diễn và
kết quả của nó không thể giải thích được và nhận thức
của ta về sự vật khác biệt nhau cũng không thể nào kể
đến được. Do thế mà tuy chúng không có một hiện hữu
thật sự là đối thể, nhận thức đó lại dẫn dắt ta đến
việc tin tưởng là chúng hiện hữu thật sự bên ngoài. Như
trong giấc mộng, chúng ta tạo dựng một thế giới khách thể
mà chỉ khi nào ta đạt được trí tuệ siêu việt đối đãi,
nhị nguyên, ta và không-ta (lokottaranirvikalpa- jnanalabhat prabuddho
bhavati), khi ấy chúng ta mới biết rằng thế giới đó cũng
giả tá như giấc mộng giả tá với thiên hình vạn trạng
mà thôi. Theo quan điểm này, thì không có một thế giới khách
thể bên ngoài, và nhận thức của chúng ta không phải bị
ảnh hưởng bởi những đối tượng ngoại tại.
Trong Tam thập tụng của Vasubandhu
và chú giải của Sthiramati, quan điểm Duy thức được quảng
diễn rõ ràng hơn. Chủ thể tri nhận và những gì được
tri nhận như là ý tưởng chủ thể hay đối tượng khách
thể đều chỉ là sự hiện hành của thức (vijnnànaparinàma)
tàng trữ thanh tịnh. Sự hiện hành hay chuyển biến (parinàma)
của thức là sự hình thành của một kết quả khác biệt
với sự hình thành của một gian kỳ nhân-quả mà cùng lúc,
gian kỳ nhân-quả đó cũng chấm dứt. Ở nơi thức này, không
có ngoại tại cũng không có chủ thể, nhưng chúng bị lầm
tưởng là có; mà vì bị tưởng lầm như thế cho nên phải
có một tồn thể nào đó hiện hữu nhưng bị tưởng lầm
là một cái gì khác. Tồn thể đó, Thế Thân định nghĩa
là Thức (Thức a-lại-da nơi trạng thái thanh tịnh, vijnanaptimatràta),
mà Thế Thân và cả An Huệ đều cho là thực tại chân thật
tối hậu. Trong khi đó, kinh Lăng Già cùng một số luận sư
cực đoan khác lại phủ định luôn cả thực tại của thức
này (asat).
Thức tối hậu vốn hàm chứa tất
cả mọi biến thái do hai thức trước gửi vào, gọi là àlayavijnanana
(thức A-lại-da) trong dạng thức bị biến thái, bởi vì nó
là cái kho chứa đựng (huân tập) tất cả kinh nghiệm nhận
thức. Khi tâm của bậc giác ngộ đã định tĩnh (pratisthita)
trên thức thanh tịnh này, thì khuynh hướng suy nghĩ nhị nguyên
về chủ thể và khách thể (grahyagrahaka-anusaya) chấm dứt
và trí vô phân biệt (nirvikalpa) và siêu việt thế gian (lokottara)
hiện khởi. Trí này đã tẩy sạch hết tất cả phiền não
(klesa), không còn một khuynh hướng đối đãi nào nữa cả,
nên được gọi là trí vô lậu (anàsrava), có nghĩa là không
còn rơi lọt vào vòng nhị nguyên nữa. Nó không thể nghĩ
bàn được (bất khả tư nghị), không thể diễn đạt được
(bất khả thuyết) vì đó là trí tự chứng (pratyatmavedya)
đồng thời biết tất cả, nhất thiết trí tri (sarvajnanata;
omniscience), vì không còn gì có thể hạn cuộc, không gì có
thể chướng ngại (àvarana) được nó nữa. Alayavijnnana trong
trạng thái trong sạch thuần túy được gọi là pháp giới
(dharmadhàtu) của mọi đức tính, và cũng là nơi mà tất cả
những tâm thức đã đánh mất tất cả những phiền não hạn
cuộc và được gọi là Pháp thân (dharmakàya) của Phật (klesajneyavarana-prahanat
[...] sarvadharma-vibhutualabhata's ca dharmakaya ity ucyate). Ðây là
giai đoạn chuyển thức thành trí.
III. HỌC THUYẾT
1. Bốn điểm quan yếu của học
thuyết Duy thức: Đó là
a. tất cả hiện hữu chỉ
là do thức, duy thức (vijnanapti-màtratà);
b. tất cả do vì tạng thức (àlayavijnanana)
hiện khởi;
c. thức có ba tự tánh (tri-svabhàva),
mà sau khi phân tích, thật ra lại là ba vô tự tánh;
d. tương liên giữa ba tự tánh
và ba thân Phật (trikàya).
Theo Duy thức, a-lại-da huân tập các
hạt giống (chủng tử, bìja) trong quá khứ, từ đó sinh khởi
các hiện tượng tâm thức do vì chủng tử chín muồi theo
tác động của nghiệp (nghiệp quả). Chúng tác động nhau
tạo nên ảo ảnh mà chúng ta cho là thật. Cảm nhận của
con người do đó bị nhiễm ô, khiến phát sinh ra ấn tượng
về một cái "ta". Ấn tượng này là sai lầm, vì chỉ có sự
cảm nhận (thức), chứ không có "người" cảm nhận; do vì
sai lầm bám víu vào cái ngã cho nên phải đau khổ. Sự cảm
nhận, hay nhận thức ngoại cảnh, được phân tích là vốn
không có tự tánh (ba tự tánh). Ðể không còn bị thức chuyển
hiện, ta phải hành trì Du-già để chuyển thức thành trí,
chuyển ba tự tánh thành ba thân Phật.
2. A. Thế nào là tất cả hiện
hữu chỉ duy thức?
Duy thức học hay Duy thức tông chủ
trương mọi hiện tượng đều chỉ là thức, là cảm nhận
của tâm, ngoài thức đang cảm nhận thì không có gì hiện
hữu, không có một đối tượng khách thể, độc lập. Thế
gian chỉ là ảo ảnh (màyà), hay tợ cảnh, bởi vì tất cả
hiện thể đều không bền vững, không có tự thể (vô ngã),
và không tồn tại (vô thường). Tâm thức, bị ảnh hưởng
của vô minh (avidyà), tin vào những gì mà nó tiếp xúc, trong
cả hai trạng thái tỉnh giấc và ngủ mơ, cho rằng đối tượng
thật sự hiện hữu bên ngoài nó, trong khi thật ra, chỉ vì
cái tâm thức đó phóng thể, hay là hiện ra (tập khởi), cho
nên thấy như là thế gian như là hiện hữu, vậy thôi. Chủ
thể, cái ta, do đó không có thật; và khách thể, thế giới
bên ngoài, cũng không có thật.
KHÁI NIỆM VỀ THỨC
Thức, hay ý thức, là sự nhận
biết về một "cái ngã", "cái ta". Nguyên lý căn bản của
Duy thức học là "tất cả một hiện hữu đều do thức tạo
tác" (nhất thiết duy tâm tạo). Thức là nền tảng của tất
cả mọi hiện hành, từ khi sinh ra cho đến khi đạt giác ngộ;
"tất cả đều đặt trên tiến trình sinh khởi và diệt tận
của ý thức, tức là sự phân biệt tự bên trong của tâm.
Thức là hành vi, hoạt động tạo tác phân biệt của tâm,
vừa tạo tác (tập khởi tâm) vừa sinh khởi phân biệt (tư
lương tâm), không chỉ trong trạng thái tỉnh thức mà ngay
cả trong trạng thái vô thức hay tiềm thức nữa. Ý thức,
trong khi phân biệt cái ta và tất cả những gì không phải
là ta, trở thành chủ thể và xem tất cả những hiện tượng
bên ngoài cái ngã đó là đối tượng, là khách thể. Ý thức,
tự nó, là thật. Nó hiện hữu như là một tràng tiếp nối
liên tục nhau của từng gian kỳ (moment) nhận biết về những
hiện tượng diễn biến bên ngoài nó (duyên lự tâm); mỗii
một gian kỳ như thế vừa hiện khởi lên thì liền được
thay thế bởi gian kỳ kế tiếp liên tục nhau, không gián đoạn
(tương tục thức). Ý thức do đó, không có thực chất, nó
sinh khởi nhờ nương dựa vào ý thức của gian kỳ hiện khởi
trước. Do vì tất cả, cho đến khi hành giả đạt đến giây
phút giác ngộ, đều là do thức, cho nên tất cả mọi đối
tượng của thế giới ngoại tại đều chỉ là những biểu
hiện, những "đại diện", những biểu hiện của thức (hiện
thức) mà thôi. Do vì tất cả đều chỉ là biểu hiện của
thức, cho nên mỗii một hiện tượng sinh khởi đều không
có tự tánh nội tại của chúng. Cho nên cái mà ta tưởng
là "cái ta", cái ngã của ta, chỉ là một ảo tưởng, không
có cái "Ngã" chân thật; mọi vật đều chỉ là hiện tượng
do thức tạo thành. Cuối cùng, khi ý thức dính mắc vào những
biểu hiện để rồi phát sinh ra phân biệt nhị nguyên đó
được nhận diện, và chuyển thành trí tuệ, thì tất cả
mọi chấp trước vào cái ngã và những hiện tượng ngoài
ngã đều bị diệt tận, và giác ngộ hiện tiền.
Khi cho rằng "thế gian chỉ do tâm
hiện khởi", triết thuyết Duy thức phủ quyết rằng thế
gian không phải là một thể hiện hay tạo cụ của một đấng
tối cao vô biên hay tuyệt đối nào đó. Thượng đế, chúa
trời, hay thiên chủ, v.v..., chỉ là một đối tượng sản
xuất do bởi tâm thức mà thôi.
Không có gì có thể hiện hữu độc
lập hay bên ngoài thức. Thế gian chỉ là sự cấu tạo bằng
nhận thức của chúng ta, và nếu ta phân tích cái tâm chưa
giác ngộ sẽ khám phá ra có nhiều cấp độ nhận thức khác
nhau dựa trên ý thức tàng trữ, tạng thức hay a-lại-da thức,
thức thứ 8, nơi chứa đựng các hạt giống, chủng tử (bìja),
nghiệp lực của các hành vi, hoạt động thuộc quá khứ.
2. B. Tám thức
Tâm lý học phương Tây thông thường
giải thích cơ cấu của sự nhận thức bằng 6 thức, dựa
trên 6 căn (indriyas), tức là 6 giác quan: mắt (nhãn, caksu-),
tai (nhĩ, srotra-), mũi (tĩ, ghràna-), lưỡi (thiệt, jihva-), thân
(kàya-) và ý căn (mana-indriyas). Mắt, khi tiếp nhận đối tượng
của nó là cảnh vật bên ngoài (trần cảnh), thì thấy; cũng
vậy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm và ý nghĩ
suy. Nhưng nếu nhận thức của chúng ta chỉ dựa trên các
căn, thì chỉ là một mớ nhận thức rất rời rạc, không
thể giải thích được những hiện tượng tâm lý tương quan
và thâm sâu. Thí dụ, từ thuở nhỏ, ta quen biết một người
bạn, cách xa nhau ba mươi mấy năm, tình cờ gặp lại, ta nhận
được ngay là người bạn cũ thuở xưa. Trong hơn 30 năm đó,
ta không hề nghĩ nhớ đến người ấy, mà nay bỗng nhiên
gặp, vẫn nhận ra ngay, vậy thì trong suốt thời gian này,
hình ảnh của người đó được giữ ở đâu trong 6 giác
quan trên để khi vừa gặp lại nhận biết ra ngay? Vấn đề
này Tâm lý học phương Tây không giải thích được.
Trong khi đó, ngài Thế Thân đã
tiến xa một bước, và đóng góp một thành quả lớn lao cho
tư tưởng thế giới, đó là đề nghị một cơ cấu ý thức
gồm 4 thành tố: i. 5 thức trước; ii. thức thứ 6; iii. thức
thứ 7, gọi là mạt-na thức; và iv. thức thứ 8, tức a-lại-da
thức, hay tạng thức. Hai thành tố sau, mạt-na và a-lại-da
thức là đóng góp vĩ đại của Thế Thân đối với lịch
sử triết lý của nhân loại. Thức thứ 8, như tên gọi, là
tạng thức, tức tàng trữ tất cả những nhận thức của
chúng ta, có thể ví như bộ nhớ (memory) của máy vi tính.
Chính nơi tạng thức này mà hình ảnh của người quen 30 năm
trước được cất giữ; khi gặp lại, thì thức thứ 7, vừa
tiếp nhận hình ảnh người mới vừa gặp lại, vừa tìm
kiếm trong tận cùng sâu thẳm của thức thứ 8 hình ảnh người
quen cũ trước đó 30 năm, phối hợp lại, để trong nháy mắt
cho ta biết ngay đây là người đã quen. Thức thứ 7 này là
bộ xử lý (DOS) của vi tính.
2. B. i. A-lại-da thức (àlaya-vijnanana)
Như vậy, phần chính yếu của nhận
thức của chúng ta là thức thứ 8, a-lại-da thức, hay thức
tàng trữ (tạng thức, năng tàng) làm cơ sở cho 7 thức kia.
A-lại-da thức còn gọi là "chứa đựng mọi ảnh tượng"
(sở tàng); từ nơi a-lại-da này mà tất cả những ý niệm
về cái ta (ngã chấp), và những hành vi hoạt động của nó
trong thế giới ngoại tại (pháp chấp) sinh khởi. Nếu ta có
thể lấy ví dụ a-lại-da thức này như là một biển nước
rộng lớn mênh mông, thì 7 thức kia chính là những đợt sóng
nhấp nhô, hay ào ạt, trên mặt nước đó. Theo đó, 7 thức
trước không thể tách rời khỏi thức thứ 8 này, cũng không
làm quấy động sự yên tịnh nơi đáy sâu của biển; nước
và sóng là một, thì cả 8 thức này căn bản cũng không hai.
Ta cũng tìm thấy tỷ dụ về nước và sóng này trong học
thuyết Tánh Không.
Thức thứ 8 này siêu việt "nhị
nguyên của chủ thể và khách thể, của hiện hữu và không
hiện hữu"; nó không có một chủ ý nào trong hoạt trình của
nó, không hề nhận biết đến đối tượng, không phân biệt,
không bị ngăn che (vô phú), không tốt cũng không xấu (vô
ký). A-lại-da thức là nơi tàng trữ các hạt giống (chủng
tử) do hành động tạo tác bắt đầu từ nguyên nhân đưa
đến kết quả (nghiệp), do vì những hành động mê muội
của chúng ta. Thức này không tạo nên nghiệp chủng, nhưng
nó giữ vai trò như là chủ thể của quả báo đối với những
hành hoạt cố ý trong quá khứ, dẫn đến kết quả nơi hiện
tại, và ảnh hưởng đến những hoạt động và chấp trước
vào tương lai, khiến chúng sinh phải luân hồi trong 3 cõi (tam
giới) và 9 vùng (cửu địa). Tiến trình chín muồi của các
chủng tử, những suy tư, những nhận thức về đối thể,
tất cả đều là chủ quan; cho nên tiến trình đó và kết
quả của nó đều không có thật.
Giải thoát khỏi vòng luân hồi
khi tất cả những hạt giống phiền não được thay thế bởi
các chủng tử thanh tịnh do những tịnh nghiệp tạo thành.
A-lại-da thức cũng huân chứa các hạt giống thanh tịnh nội
tại, là nguồn gốc cho ý chí hướng về giác ngộ. Khi đạt
được giác ngộ, thì thức thứ 8 này không còn những hạt
giống chưa chín muồi (dị thục chủng) nữa, và chuyển thành
Trí của tấm gương tròn lớn (Ðại viên cảnh trí, Great mirror
wisdom).
A-lại-da thức có 2 phần: phần
chủ thể và phần đối tượng được nhận thức. Phần trước
thì tương duyên với thức thứ 7, phần sau duyên với thức
thứ 6 và 5 thức trước, thể hiện qua các trạng thái trí
thức, đạo đức và tâm linh, như tham ái, tính toán, phân
tích, thiền định, tin tưởng, hỗ thẹn, trí tuệ, v.v... Khi
phần sau chuyển biến trong lúc giác ngộ, thì nó trở thành
Hậu đắc trí (subsequently-attained wisdom). Tuy A-lại-da thức
phải duyên với tất cả 3 loại biến chuyển (parinàma) để
chuyển thức thành trí, nhưng bên trong nó còn có một cơ sở
thường tồn trì giữ tư tưởng trong sạch, bất biến và
vĩnh cửu. Ðó là thức thứ 9, a-mạt-na hay a-mà-na thức (amàna-vijnanana)
do Phật giáo Tây Tạng chủ trương nhưng chưa được bàn rộng
sâu, bởi vì đến đó, chỉ còn trạng thái tự nhận mà thôi,
không còn phải nương theo những loại hình ngôn ngữ thông
thường.
B. ii. Thức thứ 7 (Mạt-na thức,
mano-vijnanana)
Thức thứ 7 che lấp chân tánh của
con người bởi quan niệm về cái ngã, cái tôi (ngã chấp).
Ðây cũng gọi là thức truyền thống (defiling-transmitter consciousness),
bởi vì nó là nơi chất chứa, huân tập những hiện hữu
của thế giới không thật bên ngoài, biến chúng thành những
hạt giống ảo tưởng, từ đó cho rằng có một cái ngã cá
biệt bên trong, làm cho ô nhiễm 6 thức trước. Thức thứ
7 này cũng làm nhiễm ô thức thứ 8 bằng cách liên tục cung
cấp cho thức A-lại-da một cái ngã tưởng rằng có thật
(chấp nội ngã, ngã thật tướng), trong không gian và thời
gian.
Tri nhận của thức thứ 7 này là
sai lầm (phi lượng) do vì bản tánh chấp trước của nó,
tạo nên 4 loại ảo ảnh: ngã kiến, ngã ái, ngã si và ngã
mạn. Nó cũng duyên với 8 đại tùy phiền não, như giải đãi,
bất tín, v.v...
B. iii. Thức thứ 6 (manaskàra)
Tri kiến và nhận thức hiện hành
nơi thức thứ 6, ý thức. Thức này, cùng 5 thức trước, "nhìn
thấy" thế giới hiện tượng bên ngoài. Thức này chấp mắc
vào những hiện hành của 5 uẩn như là đối tượng và nảy
sinh những ý niệm không ngừng nghỉ về cái ta như là chủ
thể, trong tiến trình tương duyên 51 pháp với tâm. Thức này
là thức phân biệt nhị nguyên, phải trái, trắng đen, lạnh
nóng, v.v..., và tự chuyên phê phán, phân biệt, tính toán,
so lường trên căn bản đạo đức (duyên lự tâm) những gì
mà 5 thức trước thâu nhập vào. Phân biệt (vikalpavasana),
gồm có 3:
i. tự tánh phân biệt;
ii. kế độ phân biệt, phân biệt
do tính toán khiến tạo nghiệp trong tương lai;
iii. tuỳ niệm phân biệt, phân
biệt do hồi tưởng những kinh nghiệm quá khứ.
Thức này cũng duyên với các tâm sở
căn bản và tùy phiền não đồng thời với tam tánh và tam
trí khi các tánh trí này xâm nhập vào ba trạng huống bên
ngoài (tam cảnh). Trong tiến trình đó, thức thứ 6 tạo nên
nghiệp bởi do phân biệt, suy đoán, và quyết định đưa đến
thể hiện những hành động cụ thể bằng thân và khẩu,
hoặc bằng hành động tâm linh như tính toán, nghĩ ngợi, hoặc
bằng hành động tình cảm như yêu, ghét, tham muốn, v.v...
Khi hành giả đạt đến địa thứ 8, thì những dính mắc
chấp trước vào cái ngã của thức thứ 6 này đã đoạn dứt,
chỉ còn chấp mắc vào pháp.
B. iv. Năm thức trước (panäca-parijnananas)
Năm thức trước được gọi là
thức tiếp nhận, do 5 giác quan (căn) cảm nhận, gồm có nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức. Những cảm nhận này sinh khởi
từ nơi thức thứ 8. Mỗi căn thức gồm có 2 phần: a. Phần
chất thể, tức 5 căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân; và b. Phần
nhận thức; và những thần kinh dẫn đưa 5 căn vào phần nhận
thức của a-lại-da. Chúng có thể hiện sinh cùng một lúc
nhưng không nhất thiết phải theo thứ tự như liệt kê, hoặc
chỉ 1 hay 2 căn hiện sinh mà thôi, tùy theo hoàn cảnh. Năm
căn thức này duyên với 31 tâm sở (5 biến hành, 5 biệt cảnh,
11 thiện, 10 tùy phiền não), và đồng thời duyên với thức
thứ 6 khi thức này tiếp nhận những gì mà 5 căn thức thâu
nhập vào, để tạo nên một hình ảnh trong tâm thức về
thực tại. Sau khi những nhận thức của 5 căn thức này được
thức thứ 6 tiếp thu, chúng được chuyển qua thức thứ 7,
để từ đó những tri nhận này được gửi vào thức thứ
8 là nơi tàng trữ tất cả những gì mà 5 căn nhận thức
xuyên qua quá trình tiếp nhận của thức thứ 6 và 7. Tiến
trình này tương tục tiếp diễn không ngừng, và tạo nên
những hạt giống nghiệp nơi thức thứ 8. Tất cả 5 thức
tiếp nhận này đều không có khả năng phân biệt đạo đức,
cho nên chúng thuộc tánh trung dung (vô ký tánh). Cả 5 căn thức
đều có mặt nơi cõi dục giới, trong khi nhãn, nhĩ và thân
thức còn có mặt nơi địa thứ nhất của cõi sắc giới.
Qua đến địa thứ hai (nhị thiền định, sinh hỷ lạc địa)
của sắc giới thì 5 căn thức này không còn sinh khởi.
B. v. Tiến trình phân biệt của
thức
a. Ba loại trí phân biệt (Tam lượng)
Sự phân biệt, là thấy có ta có
người, có chủ thể và khách thể, có cái ngã nội tại và
thế giới ngoại tại. Chủ thể có 3 loại trí phân biệt
(tam lượng):
i. Nhận thức trực tiếp
ngay tức thời hiện tượng đang xảy ra (hiện lượng, direct
veridical perception), duyên với 5 thức trước, cho thấy hình
ảnh chân thật của thực tại. Thí dụ: Quả cam màu xanh.
ii. Dựa trên nhận thức đó, nảy
sinh suy đoán (tỷ lượng). Thí dụ: Trái cam này chắc sẽ
ngọt/chua.
iii. Nhận thức tưởng tượng, ảo
giác, không phù hợp với giá trị chân thật của thực tại
(phi lượng). Thí dụ: Quả cam này chắc sẽ có nhiều người
giành mua.
b. Ba cảnh (Tam cảnh)
Ba trí phân biệt thì duyên với
chủ thể, đến phần hai của sự phân biệt thì duyên với
đối tượng hay khách thể của nhận thức.
i. Khi những phương diện
của cảnh giới tự nhiên bên ngoài (tánh cảnh) được thức
tiếp nhận, chúng chưa bị méo mó bởi dính mắc vào ngã và
pháp. Tánh cảnh này chưa bị điều kiện của nhân quả chen
vào, tương đương với nhận thức a/i. của tam trí kể trên.
Thí dụ: ta thấy một đóa hoa mọc bên vệ đường.
ii. Những ấn tượng do trí suy đoán
và tưởng tượng a/ii. & a/iii. của thức thứ 6 tạo thành
(đới chất cảnh) khiến ta lại suy đoán. Thí dụ: đóa hoa
này đẹp quá.
iii. Quan niệm về cái ngã khiến
ta suy nghĩ sai lạc và bóp méo thực chất của đối tượng,
tạo nên một ảnh tượng không có thật (độc ảnh cảnh).
Thí dụ: đóa hoa này chắc chắn là vì ta mà nở đây.
c. Ba loại cảm thọ (Tam thọ)
Tất cả những kinh nghiệm tình
cảm hay tâm linh của chúng ta, do 6 căn duyên hợp với 6 trần,
để sinh ra 6 thức, được phân tích thành 3 loại: i. vui vẻ
(lạc), ii. không được như ý (khổ), iii. không khổ không
vui (vô ký). Mỗi một kinh nghiệm đều phải thuộc một trong
3 loại này.
d. Ba [đức] tánh
Ðể phân biệt với Tam tự tánh
là 3 đặc thái thuộc về hiện tượng của thức, ta gọi
đặc thái thuộc về đạo đức là 3 đức tánh, phân tích
theo hành hoạt nhân quả của thức mà diễn đạt. Ba tánh
này, theo khái niệm đạo đức, thay đỗi từng giây phút một,
và gồm 3 loại:
i. Tốt, thiện (wholesome);
khi một hành động mang lại lợi ích, là kết quả của những
nghiệp chủng từ những hành hoạt thiện trong quá khứ. Hành
hoạt thiện này duyên với 11 thiện pháp.
ii. Không tốt, bất thiện (unwholesome);
hành động trái với thiện là bất thiện, tạo thành những
nghiệp chủng xấu. Tánh này duyên với các tâm sở tùy phiền
não.
iii. Vô ký, những hành động không
thiện không ác. Tánh này duyên với 5 thức trước.
B. vi. Pháp
Duy thức tông, cũng như các tông
phái khác trong đạo Phật, có mục đích tối hậu là diệt
tận cái tâm thức nhị nguyên (pratisamkhyà-nirodha) đó, bằng
phương pháp phân tích tâm hay thức, đưa đến kết luận rằng
chúng vốn chỉ là thành tố của các pháp (bách pháp) cho nên
vô ngã, vì chỉ là một phối hợp của ngũ uẩn. Do vậy không
có một bản thể (dravya) có thể tìm thấy được; cho nên
khi nói rằng một cái tâm hay một người có ý nghĩ là vì
tâm thức (vijnanana) đó chỉ là một dòng lưu chuyển của
những ý nghĩ (vijnanapti) mà thôi.
Pháp là những yếu tố tối hậu
củng cố và duy trì sự hiện hữu của vạn vật. Trong truyền
thống triết học Ấn Ðộ, trong đó có Phật giáo, quan niệm
tất cả mọi hiện hữu đều là pháp. Con người là một
pháp; con người gồm có đầu, thân, tay chân, v.v..., thì đầu
là một pháp; đầu gồm có mắt, mũi, miệng, tóc, chân mày,
v.v., thì mắt là một pháp, tai là một pháp; mắt gồm có
vành mi, tròng trắng, tròng đen, lông nheo, v.v..., thì tròng
trắng, lông nheo, v.v..., lại cũng là pháp, v.v... Và cứ thế
mà chia chẻ ra cho đến tận cùng, đến chỗ không còn có
thể chia chẻ được nữa, mà khoa học gọi là nguyên tử.
Những nguyên tử này là những thực thể hiện hữu liên đới
nhau, tạo nên bản tánh của thực tại. Do đó mà Thế Thân
đã nêu lên vấn đề, ngay cả nguyên tử cũng không phải
là không chia chẻ được, bởi vì chúng phải liên hợp nhau,
mà khi có liên hợp thì phải có chất thể, gồm 6 mặt, Ðông,
Tây, Nam, Bắc, trên, dưới, không phải là không có gì hết
để không còn chia chẻ được nữa. Cho nên, mỗi một pháp
là do tâm thức tạo thành theo một chuỗi các sự cố liên
hợp theo gian kỳ. Từ đó, những gì hiện hữu cũng chỉ là
sự dính mắc chấp trước vào một thực tại huyễn hóa do
thức tạo tác mà thôi. Trong tiến trình các sự cố hiện
hình, thì các pháp đều ảnh hưởng và bị ảnh hưởng (tương
tức) bởi 8 thức.
Duy thức học kê 100 pháp thuộc
về tâm thức, vốn có thể xếp làm nhiều loại dựa trên
3 tánh (thiện, bất thiện và vô ký, đã kể trên) của chúng,
bởi vì các pháp đều không hiện hữu thực sự. Có 5 loại
pháp (ngũ vị):
a. Tâm pháp, gồm có 8, thể
hiện 8 thức;
b. Tâm sở hữu pháp, gồm 51, liên
đới hiện hành (tương ưng) với 8 tâm pháp. 51 tâm sở hữu
pháp này lại được chia làm 6 loại phụ: i. liên đới hoạt
động phỗ quát, có 5 (5 tâm sở biến hành); ii. 5 trạng thái
đặc biệt ( 5 biệt cảnh); iii. 11 pháp hoàn toàn tốt (11 tâm
sở thiện: tin tưởng, biết hỗ thẹn, v.v.); iv. 6 căn bản
phiền não: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến; v. 20 tâm sở
tùy phiền não: trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi,
phóng dật, thất niệm, bất chánh tri, vô tàm, vô quí, v.v...;
và vi. 4 tâm sở bất định (hối, miên, v.v...).
c. Sắc pháp, gồm có 11: 5 căn (mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân) và 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp); các pháp này là hình bóng của hai loại trên;
d. Bất tương ưng hành pháp, gồm
có 24 pháp không tương ưng với 3 loại trên, dụ như thời
gian, sinh diệt, phân biệt, v.v...;
e. Vô vi pháp, gồm có 6, là những
pháp không bị điều kiện, như hư không, sự suy nghĩ, v.v...,
do 4 loại trên hiển bày.
Nhận diện được ngũ vị trăm pháp
này khi chúng tương ưng hay câu sinh với các thức, là bước
đầu căn bản trên đường giác ngộ, cho đến khi đạt đến
Ðại viên cảnh trí, khi hành giả không còn phân biệt về
ngã và ngã sở nữa.
2. C. Ba tự tánh hay ba vô tự
tánh
Luận Trisvabhavanirdesa đặc biệt
xiển dương ba tự tánh, phân tích tường tận các đặc thái
của chúng và sự liên hệ giữa 3 tánh này với nhau. Trong
Nhị thập tụng, ngài Thế Thân bảo vệ thuyết Duy thức và
đả kích các chủ trương chống đối bài bác Duy thức, nhưng
chưa nói rõ vai trò và cấu trúc của ba tánh trong học thuyết
Duy thức của mình. Trong Tam thập tụng, ngài Thế Thân bàn
đến sự liên hệ giữa ba tánh vốn trở thành là ba "vô tự
tánh", khi phân tích theo đặc tánh về tướng trạng của chúng
(laksana-nihsvabhavata), khi phân tích về sự tạo tác của chúng
(utpatti-nihsvabhavat), và cuối cùng là về tự tánh chân thật
của chúng (paramartha-nihsvabhavata). Kinh Giải Thâm Mật (Samdhinirmocana
-sùtra) có bàn đến Ba tự tánh này, nhưng không đề cập
đến liên hệ của chúng với quan điểm Duy thức, cũng không
đi sâu vào những liên hệ giữa chúng với nhau.
Duy chỉ có ngài Thế Thân trong luận
Tam tự tánh này mới phân tích tỉ mỉ về triết lý Duy thức
khi bàn đến ba tự tánh và giải thích chúng tương liên sự
vận hành và hoạt động cùng nhau như thế nào. An Huệ, khi
chú giải Tam thập tụng (Trimsikà-kàrika), đã đồng nhất
Ba tự tánh với ba vô tự tánh theo trong kinh Giải Thâm Mật.
Quan điểm này của An Huệ được các luận sư Tây Tạng như
Tsong-Khapa và MKhas Grub tuyệt đối chấp nhận không tranh cãi
thêm. Bởi vì:
a. Một đối tượng khi hiện
hữu, mang nhiều ý nghĩa cho nhiều chủ thể khi nhìn thấy
đối tượng đó. Thí dụ: i. Một cô gái đẹp có thể khiến
nhiều thanh niên ham muốn nhục dục, mà cũng là miếng mồi
ngon cho con cọp trong rừng, hay chỉ là một đãy thịt thúi
đối với vị La hán đã giác ngộ; ii. một ly rượu, đối
với người ghiền là "nước cam lồ", với người bệnh gan
là thuốc độc, v.v...
b. Duy thức thường dùng thí dụ
về giấc mộng để chỉ sự không có thật có thực tại.
Ðiều thích thú là, ngày nay, khoa học nhất là phân tâm học,
cũng đã tiến đến trình độ chứng minh những sai lầm và
thiếu sót của các căn thức. Thí dụ như một người, sau
khi dùng các ngón tay để bịt kín đôi mắt và đôi tai, sau
một lúc sẽ thấy mắt chói lòa và tai lùng bùng, tiếp đến
sẽ sinh ra những ảo giác như tự bay được lên mây, lên
trời, vào thiên đình nghe Ngọc hoàng Thượng đế sai phán,
v.v... Người đó tự tạo một thế gian đầy đủ ba chiều
(3 dimensions) y như thật. Tỷ dụ với những hiện tượng xảy
ra trong giấc mộng cũng thế, đối với phân tâm học và tâm
lý học phương Tây ngày càng có cơ sở chứng thực và được
chấp nhận học tập cũng như ứng dụng để trị bệnh [18].
c. Duy thức phủ bác sự hiện hữu
độc lập của các đối tượng bằng dẫn chứng là ngay cả
nguyên tử cũng vẫn còn có thể bị chia chẻ đến vô cùng
vô tận. Thuyết này nay cũng được tân vật lý học phương
Tây chấp nhận, khi khám phá ra rằng, cũng như ngài Thế Thân
đã đề xướng gần hai ngàn năm về trước, là nguyên tử
(atom) - một đơn vị chất thể không còn bị chia chẻ ra được
nữa- là bất khả thể. Bởi vì sau atom còn có thêm một loạt
những đơn vị chi li hơn atom nữa, nào là proton, neutron, negatron,
v.v...
Sau khi phủ bác sự hiện hữu chân
thật của đối tượng vật chất, các luận sư Duy thức bèn
xướng lập thuyết tương đối giữa chủ thể và khách thể,
nội ngã và ngoại tại, để nhận diện đối tượng của
thức trong tương liên với chính các thức tự nó/chúng. Thuyết
này rất quan trọng trong Duy thức học, tức là thuyết ba tự
tánh của thực tại. Nói cách khác, ba tự tánh là 3 đặc
tánh của một pháp, được nhận diện qua kinh nghiệm của
hành giả. Cả ba tánh này đều trực tiếp có mặt khi nhận
thức hiện khởi.
a. Tánh biến kế sở chấp,
là tánh chấp trước vào những biến hiện bên ngoài mà cho
là thực (biến kế sở chấp tánh, parikalpita). Thật ra, tất
cả những hiện hữu trong thế gian đều chỉ là ảo ảnh
(màyà), hay tợ cảnh, bởi vì chúng không bền vững, không
chắc thật có không tự thể (vô ngã), và không tồn tại
(vô thường). Ðây là tánh tưởng tượng do phân biệt chủ
thể-khách thể tạo thành; là tánh chấp nhận thực tại của
"cái ngã", chấp nhận giá trị của sự tưởng tượng đó
cho là thật. Thí dụ, khi đi trên sa mạc khô khan và nóng bỏng,
ta thấy có nước lấp lánh, thì liền cho là có nước thật,
nhưng thật ra chỉ là ảo ảnh, là bóng nước mà thôi.
b. Tánh y tha khởi, là tánh nương
dựa vào những yếu tố khác để có thể sinh khởi được
(y tha khởi tánh, paratantra). Tánh này là cơ sở cho tánh biến
kế phát sinh, và cho tánh viên thành thật xuất hiện. Tánh
này dựa theo các nguyên nhân và điều kiện bên ngoài mà tạo
hình thành, cho nên những hình ảnh mà ta nhận thức đều
bị méo mó theo những nguyên nhân và điều kiện kia. Từ đó,
ta đau khổ, bởi vì những hình ảnh đó không duyên hợp với
thực tại được nhận thức. Thí dụ: Thấy bóng nước, ngỡ
là sẽ được hết khát; đến chừng khám phá ra bóng nước
không có, ta thất vọng, đau khổ. Tánh y tha khởi này, tự
nó cũng chính là một bóng nước mà thôi.
c. Tánh viên thành thật, là tánh
tròn đầy, chân thật (viên thành thật tánh, parinispanna). Ðây
là tánh đầy đủ, chân thật và hoàn toàn, là tánh tối hậu,
tánh duy nhất có thật. Tánh này không còn phân biệt nhị
nguyên, nhìn thế giới như là những biểu hiện mà thôi. Do
vì lúc nào tánh này cũng như thế, không bị ảnh hưởng bởi
điều kiện, cho nên tánh này là như vậy, là "như thật" của
tất cả. Tánh này khi nhìn thấy bóng nước, biết là đang
nhìn thấy bóng nước.
Khi ta kinh nghiệm sự tương duyên trong
tiến trình của tâm, biết là thức y tha hiện khởi không
có những đặc tánh đối thể ngoại tại của thức biến
kế sở chấp, khi đó ta còn có thức viên thành thật; mọi
khái niệm về "cái ta", về "đối tượng" đều đoạn diệt,
thì kết quả là "sự vật như là tự nó", là giác ngộ. Tô
Ðông Pha đã diễn đạt kinh nghiệm này qua hai câu sau viết
về Lô Sơn: "... Ði rồi về lại không gì lạ, Lô Sơn mù
tỏa khói triều dâng".
(Lô Sơn yên tỏa Triết giang
triều
Vị đáo bình sinh hận bất tiêu
Ðáo đắc hoàn lai vô biệt sự
Lô Sơn yên tỏa Triết giang triều).
Trong 3 tánh trên, Y tha khởi tánh giữ
vai trò hết sức quan trọng, làm trọng tâm cho triết thuyết
Duy thức, bởi vì tánh này, một mặt có thể tạo nên ảo
giác làm ta phải lăn lộn trong sinh tử luân hồi; mặt khác,
cũng tánh này, có khả năng đưa ta đến giác ngộ, Niết bàn.
Khi tâm thức phân biệt một đối tượng ngoại tại, khiến
tánh y tha khởi này nhận thức là có chủ thể và khách thể,
tạo nên tánh biến kế sở chấp, rồi ta chấp mắc vào đó,
thì đó là luân hồi. Nhưng cũng tánh y tha khởi này, một
khi đã thanh tịnh, siêu việt những ý nghĩ có tánh cách phân
biệt, khi Tánh Không của chủ thể và khách thể được nhận
diện, thì cũng có thể duyên với tạng thức (thức thứ 8,
hay căn bản thức, theo Tây Tạng), khiến thức này thanh tịnh,
siêu việt nhị nguyên, thì hành giả đạt giải thoát. Như
thế, tánh y tha khởi này đứng giữa hai lộ trình của tâm
thức, hoặc tạo tác ảo tưởng khiến đi vào sinh tử luân
hồi, hoặc duyên với tánh chân thật tròn đầy do trí tuệ
bất nhị điều hành, thì đó là Niết bàn.
D. Ba thân Phật
Tuy rằng tâm giác ngộ thì bất
nhị, nhưng căn bản Duy thức thì lại là một phương pháp
diễn đạt và phân tích, cho nên ta cần biết đến sự phân
loại hoạt trình của tâm thức trong tương quan với 4 bậc
tâm giác ngộ (được gọi là trí, tức trí tuệ). Ðó là
sự chuyển biến 8 thức thành 4 trí, khi tánh Y tha khởi duyên
với tánh chân thật tròn đầy, khi hành giả đạt giác ngộ.
i. Năm thức trước (tiền
ngũ thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) trở thành trí thành
công trong hành hoạt, tức Thành sở tác trí (wisdom of successful
performance). Ðặc tính của trí này là thanh tịnh và không
còn bị vướng mắc khi tiếp xúc với các căn và đối tượng
của chúng, tức các trần.
ii. Thức thứ 6, trở thành trí quán
sát tuyệt vời, tức Diệu quan sát trí (wonderful contemplation
wisdom). Ðặc tính của trí này là biết tường tận về cái
hoàn toàn không của ngã (cái ta) và của pháp (vạn vật bên
ngoài), tức ngã không và pháp không. Với trí này, Ðức Phật
biết rõ các pháp như thật không bị bóp méo, không bị ngăn
trở, từ đó, Ngài biết rõ tất cả các điều kiện thuộc
tâm và thân của vạn vật, hữu tình cũng như vô tình, cho
nên có thể tùy phương tiện giáo hóa chúng.
iii. Thức thứ 7 trở thành trí có
tánh bình đẳng, Bình đẳng tánh trí (wisom of equality), với
đặc tánh là nhận biết tận tường bản tánh bình đẳng
giữa cái tưởng là ta và những hiện hữu không phải ta.
iv. Thức thứ 8 trở nên trí sáng
soi như tấm gương tròn lớn, tức Ðại viên cảnh trí (Great
mirror wisdom), phản chiếu toàn thể vũ trụ một cách như thật,
không sai trái, méo mó.
Tuy rằng 4 trí này chỉ hiện hành
sau khi con người đã đạt được giác ngộ, nhưng một vài
khía cạnh của Diệu quan sát trí và Ðại viên cảnh trí cũng
đã bắt đầu hoạt động trong một cường độ yếu kém
hơn trước khi bước đến cảnh giới giác ngộ.
Trước khi giác ngộ, sự hiểu biết
của chúng ta chỉ là mớ kiến thức thu thập qua kinh nghiệm,
đọc sách, học hỏi khi giao tiếp với thế giới hàng ngày
của chúng ta mà tập thành. Một khi tri kiến đó tập trung
vào nơi giác ngộ, thì tri kiến này bắt đầu chuẩn bị để
tiếp nhận trí căn bản (Căn bản trí). Cần nhắc lại, trí
tuệ là sự hiểu biết nhất nguyên, nhận biết sự vật là
như thật, như là chính nó, không có phân biệt chủ thể và
đối thể, không phê phán, không có nhận thức nhị nguyên
chen vào. Trí tuệ này siêu việt ngôn từ, văn cú, khái niệm;
hoàn toàn là sự biết thanh tịnh rằng Chân như là căn bản
của thực tại. Trí căn bản này nảy sinh Trí hậu đắc (Hậu
đắc trí: subsequently-attained wisdom) là một hình thức thanh
tịnh của trí tuệ phát sinh khi không còn phân biệt, nhưng
chưa đạt đến giác ngộ giải thoát, cho nên đó gọi là
"trí thế gian đã thanh tịnh". Ðây là trí cần thiết phải
có để có thể phân biệt tất cả các pháp, mà không vướng
mắc dính chấp vào chúng hay bởi chúng, nên có thể loại
bỏ mọi mê lầm về hiện tượng giả tá do thức tạo thành.
Ðức Phật dùng trí hậu đắc này để thuyết pháp độ sinh
mà không thấy có người được độ, cho nên thong dong tự
tại, đi lại không còn buộc ràng, là bậc Như Lai. Trí hậu
đắc này giải thích hành vi, hoạt động của bậc sau khi
đã giác ngộ, vẫn có thể đối diện với tất cả những
hình danh sắc tướng của ngoại tại trong thế gian huyễn
hóa này.
Phật có ba thân: Pháp thân, Báo
thân và Hóa (hay Ứng) thân. Chỉ có thân thứ 3, Pháp thân
(Dharmakàya) là chân thật. Báo thân (Sambhogakàya, Enjoyment body)
và Hóa thân (Nirmànakàya, Transformation body) chỉ là những biểu
hiện của Pháp thân, và là những hiện thể dùng làm phương
tiện tương đối tương đương với thức còn mê muội, chưa
giác ngộ.
a. Hóa thân, nói đến thân
thể vật chất trong thế giới hiện tượng này. Hóa thân
này cần thiết để Ðức Phật giáo hóa chúng sinh, đưa họ
đến con đường giác ngộ. Thành sở tác trí hiện hữu nơi
Hóa thân này để Ðức Phật có thể hành vi, hoạt động
bằng nhận thức, như người bình thường trong chúng ta. Ðó
là Ðức Phật lịch sử, Ðức Thích Ca Mâu Ni, thị hiện nơi
cõi Ta bà này để thuyết giảng giáo lý vạn pháp duy thức.
b. Báo thân là một hiện thể vô
hạn, diệu dụng mà Ðức Phật dùng để giáo hóa bậc Bồ
tát, những đấng hữu tình trước giai đoạn cuối cùng của
giác ngộ. Có rất nhiều Báo thân, mỗi Báo thân có một cõi
trời, hay một tịnh độ riêng, siêu việt ngoài hệ thống
mặt trời của thế giới chúng ta, nơi rất dễ dàng để
được nghe và thực tập pháp. Bình đẳng tánh trí tương
đương với Báo thân này.
c. Pháp thân Phật có 2 tướng:
i. Tổng tướng, là cái Nhất
siêu việt cả một và nhiều, là chân thể tuyệt đối, là
bản tánh nội tại mà tất cả chư Phật đều có, thể hiện
như là trí vẹn toàn, hoàn hảo, tuyệt đỉnh; là bản tánh
tối thượng của thực tại, của chân như, như thị, không;
ii. Biệt tướng, là Sai biệt, là
hoạt trình hiện tượng, là hình thức đặc thù của Pháp;
đó là thức thứ 8, tạng thức, hay a-lại-da thức chuyển
biến và là Pháp thân được trực nhận thể hiện ngay khi
đạt giác ngộ. Pháp thân này tương đương với Ðại viên
cảnh trí.
Lý tưởng và mục đích của con người
theo Phật giáo là đạt đến giác ngộ. Duy thức quan niệm
giác ngộ là thực trạng của Chân như (True Suchness, hoặc
Thusness), là bản tánh tối thượng của vạn vật. Chân như
là trạng thái hiện hữu duy nhất của thực tại. Khi không
còn phân biệt giữa nội tại và ngoại giới, thì hành giả
đạt giác ngộ, trực nhận một sự thật bất nhị tuyệt
đối, siêu việt ý thức về một "cái ta" phân biệt, chấp
trước, dính mắc. Trong ý nghĩa này, ta thấy Duy thức học
không phải là thuần túy một triết lý dùng để biện luận
suông. Khi giác ngộ, tiến trình đi tìm kiếm đối tượng
bên ngoài của tâm chấm dứt, cũng như tiến trình liên tục
phóng thể năng lực của thức vào thế giới ngoại tại vốn
bị điều kiện ràng buộc cũng đoạn diệt. Khi đó, tâm thức
đã ở trong trạng thái định tĩnh, tiếp thu năng lực ngoại
tại để củng cố và tăng trưởng tâm thức không còn phân
biệt đó, giống như cành hoa cúc tiếp nhận năng lượng ánh
sáng mặt trời để rạng rỡ.
E. Phản đề của Ba thân Phật
Ðoạn trên, ta đã nói đến chuyển
thức thành trí, do từ nơi tánh y tha khởi. Cũng tánh này,
khi tâm thức phân biệt một đối tượng ngoại tại, khiến
tánh y tha khởi nhận thức là có chủ thể và khách thể,
tạo nên tánh biến kế sở chấp, rồi ta chấp mắc vào đó,
tạo nhân đưa đến quả, gây thành nghiệp, thì đó là luân
hồi.
a. Nghiệp
Kết quả của những hành động
tạo tác, cố ý hay vô tình, của chúng ta, gọi là nghiệp.
Hậu quả của những hành động đó để lại dấu vết hay
là hạt giống gieo trồng trong tạng thức. Những hạt giống
này nẩy mầm theo thời gian và nảy sinh thêm những hạt giống
mới. Từ đó, những cuộc đời của chúng ta, trong quá khứ,
hiện tại cũng như ở tương lai, đều bị dẫn dắt bởi
những hành động trong quá khứ kết thành nơi hiện tại (dị
thục, vipaka) và đưa đẩy đến những hành động trong tương
lai. Nghiệp chịu trách nhiệm cho sự tiếp diễn liên tục
của cá tánh mỗi hiện thể, thông qua sự chết hoặc vô thức.
Sau khi một hạt giống kết trái, thì nó đã xong trách vụ.
Tuy nhiên, những hạt giống mới cũng theo đó mà sinh khởi
ngay, trong mỗi gian kỳ nhanh hơn nháy mắt. Và cứ thế mà
chúng ta cứ bị dẫn dắt mãi trong vòng ảo ảnh của hiện
tượng ngoại tại, vẫn cứ mãi tin tưởng vào sự thật bị
bóp méo trong khuôn khổ của nhận thức nhị nguyên, cho đến
khi nào mà ta đạt đến giây phút giác ngộ mới thôi.
Bởi vì giữa các chủng tử của
nghiệp và những ảo tượng mà chúng tạo tác giống nhau,
cho nên sự nhận thức của mỗi người về thế gian bên ngoài
đều tương tự với nhau. Cho nên, chúng ta thường đồng ý
với mọi người về cái thế giới ngoại tại mà chúng ta
đang đắm chìm trong vòng sinh tử luân hồi trong đó. Ðồng
thời, chúng ta cũng kinh nghiệm những ảnh hưởng từ bên
ngoài theo dòng hiện tượng tâm thức, bởi vì những thể
hiện của riêng mình cũng ảnh hưởng đến thế giới bên
ngoài, trong đó có những người khác.
Tiến trình của nghiệp có 3 giai
đoạn:
i. Ảo tưởng hiện khởi
bắt nguồn từ nơi thức thứ 6, là thức tạo tác nên hành
động dẫn đưa đến nghiệp (dẫn nghiệp);
ii. Nghiệp tạo tác do vì gây giống
(chủng tử) nơi thức thứ 8, là nơi chứa đựng tất cả
mọi tâm thức (tạng thức). Vòng sinh tử và luân hồi trong
tương lai dẫn đưa tạng thức này tái sinh vào trong 6 cõi
(lục đạo luân hồi, 6 levels of existence);
iii. Cuối cùng, thọ nhận nghiệp
báo là sự nảy nở của các hạt giống nghiệp (mãn nghiệp);
chúng ta gặt hái những gì chúng ta gieo trồng, gieo gió gặt
bão.
b. Nghiệp báo luân hồi dẫn dắt chúng
ta trong 3 cõi (tam giới: dục, sắc và vô sắc giới). Ba cõi
này, bậc phát tâm Bồ tát hành trì Du-già, lần lượt kinh
nghiệm qua, trải qua 9 vùng (cửu địa), trước khi giác ngộ
viên mãn, bởi vì, tuy nói là đạt giác ngộ, nhưng đấy chỉ
là một kinh nghiệm chớp nhoáng, là một "satori", chứ chưa
phải thực chứng Niết bàn.
Cửu địa trong tam giới gồm có:
b-1. Dục giới : địa thứ
nhất, thế giới của ái dục, nơi của 6 nẻo luân hồi, nơi
5 loại chúng sinh đồng sống lẫn lộn chung nhau (ngũ thú tạp
cư địa);
b-2. Sắc giới: 4 tầng thiền:
i. Sơ thiền ly sinh, hỉ lạc
địa (Joyful stage of leaving production);
ii. Nhị thiền định, sinh hỉ lạc
địa (Joyful stage of the arising of samàdhi);
iii. Tam thiền ly hỉ, diệu lạc
địa (Stage of wonderful bliss of being apart from joy);
iv. Tứ thiền xả niệm, thanh tịnh
địa (Stage of renouncing thought);
b-3. Vô sắc giới: 4 bậc thiền:
i. Không vô biên xứ địa
(Infinite Space);
ii. Thức vô biên xứ địa (Infinite
Consciousness); ở bậc thiền này, thức thứ 7 không còn câu
sinh với thức thứ 8, phá chấp ngã và trở thành Bình đẳng
tánh trí;
iii. Vô sở hữu xứ địa (Unmoving
Ground or Nothing Whatsoever); tất cả thức thứ 6 và 7 đều diệt
tận, trở thành Diệu quan sát trí;
iv. Phi tưởng phi phi tưởng xứ
địa (Neither Cognition nor Non-cognition).
KẾT
LUẬN
Một lần nữa, cần nhận định
rằng Duy thức hay Du-già không phải là một trường phái nhận
thức luận, thiết lập cơ cấu ý thức 4 nhánh chỉ để biện
luận suông. Trong khi Duy thức, như tên gọi, chú trọng đến
luận lý suy diễn về thức, thì Du-già, cũng theo tên gọi,
chú trọng đến sự thực hành tâm linh để chuyển thức đó
thành trí.
Ta cũng nên ghi nhận ở đây những
điểm tương tựå giữa hai triết lý Tánh Không và Duy thức.
Quan niệm về luân hồi và Niết bàn của Duy thức tương liên
với quan niệm Tục đế và Chân đế của Trung quán. Nhân
duyên (pratìtyasamutpàda, interdependent origination) là nguyên lý
nối liền Tục đế và Chân đế, nối liền luân hồi và
Niết bàn, sinh tử và giác ngộ. Như Long Thọ đề xướng,
nếu ta xem nhân duyên như là mốc nối giữa nhân và quả,
ta có luân hồi (samsara), nhưng nếu ta dụng nhân duyên như
Tánh Không, ta có Niết bàn. Ðiều làm mốc nối giữa nhân
và quả, giữa nghiệp và những hậu quả của nghiệp lực,
đó là khái niệm, là nhận thức, là tưởng tượng. Tục
đế của Trung quán như thế tương hợp với tánh biến kế
sở chấp của Duy thức, bởi vì cả hai đều luận về nhân
và quả, về chủ-khách, về nội-ngoại; trong lúc Chân đế
cũng là tánh viên thành thật, vì cả hai là thực tánh, là
không, bất nhị, vô-nhân (duyên).
Nguyên lý về nhân duyên của Trung
quán là nguyên lý về tánh y tha khởi của Duy thức. Cơ sở
cho cả hai thuyết này là Tâm (hay Thức); tâm rất quan yếu
trong cả hai, nhân duyên và y tha khởi. Giữa hai triết thuyết,
ta có một bên là tương đối, thực tại giả tá, đối đãi
nhị nguyên; một bên là tuyệt đối, chân như, tánh viên thành
thật; và mốc nối giữa hai cực đoan đó là nguyên lý tương
đối (của Trung quán), hay nguyên lý y tha khởi (của Duy thức),
vốn là căn bản của Tâm.
Tóm lại, tất cả các triết thuyết
của Phật giáo đều xoay quanh vấn đề Tâm (Thức) và, bằng
biện luận hay bằng hành trì, cũng đều đặt cơ sở trên
Tâm để đạt giác ngộ. Giác ngộ là mục đích tối hậu
của hành giả; ngoài giải thoát và giác ngộ, không còn mục
đích nào khác. Bồ tát phải đạt giác ngộ xong mới có thể
hoằng hóa mà không phải bị trầm luân trong luân hồi sinh
tử.
Phụ lục
CÁC TÁC PHẨM
CHÍNH TRONG DUY THỨC TÔNG
1. Kinh:
i. Lankàvatàra-sùtra: Lăng
già kinh; Suzuki Daisetz Taitero dịch ra Anh văn, một nguyên bản
kinh và một tập luận giải, gọi là Studies in the Lankavatara-sùtra;
ii. Mahàvaipulya-Buddha-Avatamsaka-sùtra:
Ðại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh, còn gọi là Bát thập
[chương] Hoa Nghiêm; Anh dịch: Flower Ornament sùtra. Ngoài ra còn
có Gandavyuha-sùtra, Lục thập Hoa Nghiêm, Garland sùtra;
iii. Sandhinirmocana-sùtra: Giải thâm
mật kinh;
iv. Mahàyàna-Abhidharma-sùtra, Ðại
thừa A-tì-đạt-ma, thường được các bản văn Nhiếp Ðại
thừa luận, Dugià sư địa luận..., nhắc đến, nhưng nay không
còn tồn bản nào.
2. Luận:
i. Vimsika-vijnịaptimàtratà-kàrika:
Duy thức Nhị thập tụng. Thế Thân soạn, Huyền Tráng dịch,
1q.;
ii. Trimsika-vijnịaptimàtratà-kàrika:
Duy thức Tam thập tụng. Thế Thân soạn, Huyền Tráng dịch,
1q.;
iii. Yogàcàryabhùmi-sàstra; Du Già
sư địa luận. Vô Trước soạn, Huyền Tráng dịch, 100q.;
iv. Trisvabhàva-nirdesa: Tam tự tánh
hay Trinisvabhàva-sàstra: Tam vô tự tánh luận. Thế Thân soạn,
Chân Ðế dịch, 2 q.;
v. Mahàyànasatadharma-vidyàvàra-sàstra:
Ðại thừa Bách pháp minh môn luận. Thế Thân soạn, Huyền
Tráng dịch, 1q.;
vi. Abhisamayàlankàra: Hiện chứng
trang nghiêm.
vii. Mahàyàna-samparigraha-sàstra: Nhiếp
đại thừa luận. Vô Trước soạn; Chân Ðế (Paramàrtha) dịch,
3q.; Huyền Tráng trùng dịch, 3q.;
viii. Abhidharma-samuccaya-sàstra: A-tì-đạt-ma
Tạp tập luận. Vô Trước soạn; Simhabodhi (Sư Tử Trí) chú
thích, Sthiramati (An Huệ) tập; Huyền Tráng dịch, 16q.;
ix. Madhyànta-vibhàga-kàrika-sàstra:
Biện trung biên luận. Di Lặc đại sư, Maitreyanàrtha, thuyết;
Huyền Tráng dịch, 3q.;
x. Mahàyàna-panịcaskandhakaprakarana:
Ðại thừa ngũ uẩn luận. Thế Thân soạn, Huyền Tráng dịch,
1q.;
xi. Àrya-sàsana-prakarana-sàstra: Hiển
dương thánh giáo luận. Vô Trước soạn, Huyền Tráng dịch;
20q.;
xii. Mahàyànasùtra-alankàra-sàstra:
Ðại thừa trang nghiêm kinh luận. Vô Trước soạn, Ba-la-phả
Mật-đa (Prabhàkàrànamitra) dịch, 13 q.;
3. Các luận khác: do An Huệ (Sthiramati,
thế kỷ VI) và các luận sư khác, viết:
i. Abhidharmakosa-bhàsya-tìkà-tattvàrtha-nàma:
A-tì-đạt-ma Câu-xá luận thuật nghĩa sớ;
ii. Vijnịàptimàtratàsiddhi-trimsikà-bhàsya:
Duy thức Tam thập tụng thích luận;
iii. Abhidharmasamuccaya-bhàsya-tìrka:
A-tì-đạt-ma Tạp tập luận thích;
iv. Mahàyànasùtralankàrawrtti-bhàsya-tìrka:
Ðại thừa Trang nghiêm luận nghĩa thích;
v. Mahàyànaratnakùta-dharma-paryàya:
Ðại bảo tích kinh luận;
3. Thư mục về Duy thức tông (Anh
ngữ)
Vasubandhu. Basic Teachings of
Consciusness (Yogacara) Only; compiled by Ron Epstein. New Delhi: Karmasiddhiprakarana,
1992.
Vasubandhu's 'Treatise on the Three Natures'
translated from the Tibetan edition with a commentary by Garfield, Jay
L. Asian Philosophy 6 No.2, July 1997.
Vasubandhu. A Buddhist Doctrine of Experience
: a New Translation and Interpretation of the Works of Vasubandhu the Yogacarin,
by Thomas A. Kochumutt. Boston: Shambala, 1996.
Vasubandhu. The Trisvabhàvanirdesa of
Vasubandhu. Tr. and edited by S. Mukhopadhyaya. New Delhi: Visvabharati,
1939.
Madhyanta-vibhàga : discourse on discrimination
between middle and extremes ascribed to Boddhisattve Maitreya and commented
by Vasubandhu and Sthiramati. Benares: Motilal Banarsidass, 1948.
Ch'eng Wei-Shih Lun; the Doctrine of Mere-Consciousness
by Hsuan Tsang. Tr. by Wei Tat. Hongkong: The Ch'eng Wei-Shih Lun Publication
Committee, 1973. Dịch Thành Duy thức luận của Huyền Tráng.
La Siddhi de Hiuan-Tsang; Louis de la Vallée-Poussin
dịch giải Thành Duy thức luận của Huyền Trang. Bruselles:
Institut des Hautes Etudes Chinoises, 1928-1948.
Deux traités de Vasubandhu: Vimsatika
et Trimsikà. Sylvain Lévi dịch Nhị thập và Tam thập tụng.
Paris: 1925.
Madhyàntavibhàga-kàrikà-bhàsya. Theodore
Stcherbatsky dịch Biện trung biên biện luận tụng. St. Petersburg:
Academie, 1936.
The Seven Works of Vasubandhu. Stefan Anacker
dịch và phê bình 7 tác phẩm của Thế Thân., trong đó có
Nhị thập và Tam thập tụng. Delhi: M. Banarsidass, 1984.
The Tattvasangraha of Sàntaraksita, with
the Commentary of Kamalasìla. Tr. into English by Ganganatha Jha. Delhi:
Motilal Banarsidass, 1986. 2 vols.
Anacker, Stefan. Vasubandhu: Three Aspects;
a Study of a Buddhist Philosopher. Ph. D. Dissertation, University of Wisconsin
at Madison, 1970.
Beyer, Steven. The Twenty Verses by Vasubandhu
with an anonymous commentary. Typescript.
Chatterjee, A. K. The Yogàcàra Idealism.
New rev. ed. Delhi: Motilal Banarsidass, 1975.
Clark, Joseph and Paul Panish. Remarks
on Vasubandhu's "Thirty Verses Proving the Doctrine of Mind Only. Typescript.
1974.
Das Gupta, Surendra Nath. Philosophy of
Vasubandhu in Vimsatika and Trimsika, in The Indian Historical Quarterly,
vol. 4:1 (March, 1928): 36-43.
de Silva, M. W. Buddhist and Freudian Psychology.
Colombo: Lake House, 1973.
Dịch Trimsika từ Phạn ngữ và so
sánh với Duy thức Tam thập tụng do Huyền Tráng dịch với
chú giải của Dharmapàla (Pháp Hộ).
Epstein, Ronald. General Pathways of Discrimination/Differentiation;
Interrelation of the Eight Consciousnesses;
Levels of Meditation Prior to Enlightenment. Charts. Các hình đồ trên
Internet.
Epstein, Ronald. Tranformation of Consciousness
into Wisdom in the Chinese Consciousness-Only School according to Cheng
Wei-Shr Lun. Vajra Bodhi Sea Journal. January-March, 1985.
Epstein, Ronald. Verse Delineating the
Eight Consciousnesses.
Dịch Bát thức quy củ tụng của
Huyền Tráng ra Anh văn. Internet.
Ganguli, Swatì. Treatise on Groups of
Elements; Abhidharmadhàtu-kàyapàdasàstra (Giới thân túc luận),
based on Sanskrit & Pali Sources on Buddhism. Delhi, M. Banarsidass,
1994.
Ganguli, Swati. Treatise in Thirty-verses
on Mere-Consciousness. Delhi: M. Banarsidass, 1992.
Guenther, Herbert V. & Leslie S. Kawamura.
Mind in Buddhist Psychology. Emeryville: Dharma Pub., 1975.
Huntington, C.W. The Emptiness of Emptiness.
Honolulu: University of Hawaii. 1989.
Jha, Subhadra. The Abhidharmakosa of Vasubandhu:
with commentary. Patna: TSWS, 1983
Katsura Shoryu. "Dharmakirti's Theory of
Truth" in Journal of Indian Philosophy 12: 215-235
Lê MạnhThát. The Philosophy of Vasubandhu.
Ph. D. thesis. University of Wisconsin-Madison. 1974.
MacLeod, D. N. G. A Study of Yogàcàra
Thought : the Integral Philosophy of Buddhism. Ph.D. Dissertation, University
of Dundee, 1978.
Nagao, G. M. Madhyamika and Yogacara. Trans.
by L. S. Kawamura. Albany: State University of New York Press. 1991.
Paul, Diana Y. Philosophy of Mind in Sixth
Century China. Ph.D. Dissertation. Stanford University, 1984.
Pradhan, Prahlad. Abhiharmakosabhàsyam
of Vasubandhu; deciphered and edited by P. Pradhan. Rev. with introd. &
indexes by Aruna Haldar. Patna: 1978.
Sharma, Ramesh Kumar. "Dharmakirti on the
Existence of Other Minds" in Journal of Indian Philosophy 13: 55-71
Sutton, Florin G. Existence and Enlightenment
in the Lankavatara- sutra; a Study in the Ontology & Epistemology of
the Yogacara School. New York: State Univ. of New York Press, 1995. (SUNY
Series in Buddhist Studies).
Tucci, Giuseppe. On Some Aspects of the
Doctrine of Maitreyanàtha and Asanga. Roma: IIMEO, 1938
Verdu, Alfonso. The Philosophy of Buddhism:
A "Totalistic" Synthesis. Boston: Martinus Nijhoff. 1981.
Willis, Janice D. On Knowing Reality. Tr.
with introd., commentary and notes. New York: Columbia University Press,
1979.
Wood, Thomas A. Mind-Only: A Philosophical
and Doctrinal Analysis of the Vijnànavàda. Honolulu: University of Hawaii
Press, 1991. (Society for Asian and Comparative Philosophy, Monograph no.
9).
Chú thích:
[1] Ðây là Du Già tông, một tên
khác của Duy Thức tông. Không nên nhầm lẫn với phương pháp
tu tập Du Già của Ấn Ðộ giáo.
[2] Theo Lê Mạnh Thát, The Philosophy
of Vasubandhu, Ph.D. dissertation . University of Wisconsin - Madison,
1974, p.71.
[3] Cognition-Only, Mind-Only
[4] Do Chân Ðế (thế kỷ VI) dịch
và sau, Huyền Tráng trùng dịch, từ Phạn bản Vimsatikà và
Trimsikà, Ð.T.1586, 1587, 1588, 1589
[5] Ð.T.1617
[6] Asanga, Bodhisattvabhùmi. Ed. by H.
Ui. Tokyo: Suzuki Gakuju Saipan, 1961; Asanga, Abhidharma-samuccaya. Ed.
by Pralhad Pradhan. Santiniketan: Visvabharati, 1950; Asanga. Yogàcàrabhùmi.
Ed. by Bhattacharya. Calcutta: Calcutta University Press, 1957.
[7] Cũng có truyền thuyết cho rằng
đó là Di Lặc Phật hay Di Lặc Bồ tát (Maitreyabuddha, Maitreyabodhisattva)
hóa thân, do trùng tên Maitreya. Luận sư Di Lặc là một nhân
vật lịch sử, sống khoảng thế kỷ IV sdl và được cho là
tác giả của 5 bộ luận, trong đó có Abhisamayàlamkàra, Hiện
chứng trang nghiêm, diễn tả 9 bậc thiền (anupurvasamapatti),
đạt đến trạng thái phi tưởng phi phi tưởng xứ (naivasa
mjnnanàsamjnànayatana).
[8] Sangharakshita. A Survey of Buddhism;
its Doctrin andMethods through the Ages. London: Tharpa, 1957, tr. 392-395,
viết theo Giuseppe Tucci. On Some Aspects of the Docrin of Maitreyanàtha
and Asanga. Rome: IIMEO, 1938.
[9] Còn gọi là Trung biên phân biệt
luận, Ð.T.1959; được Thế Thân chú giải gọi là Madhyànta-vibhàga-kàrika-tìka,
Ð.T.1960.
[10] Có ý kiến cho rằng quyển này
là để bài bác triết thuyết Trung quán của Long thọ. Xem
Shangarakshita. A Surveyof Buddhism, tr. 395.
[11] Không phải là ngẫu nhiên mà
Ian Charles Harris khi viết The Continuity of Madhyamaka and Yogacara
trong Indian Mahayana Buddhism (Brill's Indological Library, Vol. 6), cũng
chủ trương theo An Huệ, làm đề tài cho các nghiên cứu khác.
[12] Thành Duy thức luận đã được
Wei Tat dịch sang Anh văn năm 1973.
[13] Budden Gyoshi, Buddhism inVietnam,
Ph.D. thesis. Columbia Pacific University, 1991, tr. 78, viết theo Phật
quốc ký của Nghĩa Tịnh: "Ðại thừa Ðăng, được Phật
giáo Ấn Ðộ biết đến qua tên Mahayanapradìpa, người Ái
châu, thuộc Trung bộ Việt Nam [...]. Ông du hành sang Phật quốc
[...], giỏi tiếng Phạn, dã giảng Duyên sinh luận (Yuan sheng
lun, Nirdanasastra) và một số kinh luận khác cho Tăng đoàn tại
đây. Ðã từng giúp Nghĩa Tịnh những buỗi đầu khi nhà du
hành lừng danh này mới đến Ấn Ðộ. Sau, ông sang Trung Hoa",
có lẽ theo lời mời của Huyền Tráng, ngụ tại Từ AÂn tự
(Tz'u-yin temple), để cùng với Khuy Cơ phụ tá Huyền Tráng
trong công tác dịch thuật. Các bộ sử Trung Hoa chép tên ngài
là Ðại Thừa Quang. Học giả Lê Mạnh Thát đã chứng minh
Ðại Thừa Quang chính là Ðại Thừa Ðăng của Việt Nam.
[14] Vijnanaptimatratasiddhi do Louis de
la Vallée-Poussin tập thành năm 1925, Paris.
[15] Lê Mạnh Thát trong Philosophy
of Vasubandhu, tr. 12, note 22, dẫn chứng một thí dụ của Thế
Thân trong Nhị thập tụng, chú giải 3a-4a.
[16] Napi te samhata visayibhavanti, yasmat
paramanurekam dravyam na sidhyati. Nhị thập tụng chú giải, tr.
7.
[17] Lê Mạnh Thát, The Philosophy of
Vasubandhu, tr. 236-237, dẫn chứng theo Nhị thập tụng, 12a-d
& 13a-d.
[18] Xem mục Sách Phật. The Authority
of Experience: Essays on Buddhism and Psychology. Edited by John Pickering.
London: Curzon Press, 1997.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Thế nào là Duy thức?
2. Tóm tắt sơ lược về 8 thức.
2. Trình bày về Ba tự tánh và
Ba vô tánh.