Phần I
- Bài 1
TAM TẠNG THÁNH
ÐIỂN PHẬT GIÁO
TAM
TẠNG THÁNH GIÁO NAM TRUYỀN
TT. Thích Phước
Sơn
DẪN NHẬP
Sau khi Ðức Thế Tôn nhập diệt,
tôn giả Ma Ha Ca Diếp (Mahàkassapa) lãnh đạo 500 vị A la hán
mở đại hội kết tập Pháp tạng lần thứ nhất. Kế đến,
khoảng 100 năm sau, 700 vị A la hán lại kết tập Pháp tạng
lần thứ hai, dưới sự chủ trì của trưởng lão Nhất Thiết
Khứ và Ly Bà Ða. Thế rồi, cách chừng 118 năm sau đó, 1.000
vị A la hán lại kết tập Pháp tạng lần thứ ba, dưới sự
chủ trì của tôn giả Mục Kiền Liên Tử Ðế Tu (Moggaliputta-tissa).
Lần kết tập này mới bắt đầu biên tập Luận điển. Sau
đó, vương tử Ma Sẩn Ðà (Mahinda) đem tam tạng này truyền
sang Sri Lanka (Tích Lan) và được gọi là Tam tạng Thánh giáo
Pàli (Pàli Tipitaka). Các điển tịch Ðại tạng kinh hiện còn
nói về niên đại thành lập không nhất trí. Do đó, niên
đại thành lập chậm nhất được suy đoán là vào khoảng
thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch.
Nhưng theo Ðảo sử Tích Lan thì lần đầu tiên Tam tạng được
ghi chép trên lá bối tại Sri Lanka (Tích Lan) là vào khoảng
năm 83 trước Tây lịch, dưới triều vua Sinhala Vattagamani Abhaya.
Tam tạng này chứa đựng tinh hoa giáo lý của Ðức Phật,
gồm có tạng Luật (Vinaya pitaka), tạng Kinh (Sutta pitaka) và
tạng Luận (Abhidhamma pitaka), tất cả 41 tập.
Phần
một: LUẬT TẠNG (VINAYA PITAKA)
Luật tạng nhằm thuyết minh về
những giới cấm và những chế định mà đời sống của
Tăng già cần phải thực hành. Tương tự như Luật tạng Pàli,
Hán dịch Bắc truyền gồm có các bộ sau đây:
1. Tứ Phần luật, 60 quyển;
2. Ngũ Phần luật, 30 quyển;
3. Thập Tụng luật, 60 quyển;
4. Ma Ha Tăng Kỳ luật, 40 quyển;
5. Căn bản Thuyết Nhất thiết
hữu bộ Tì nại da, 50 quyển.
Bốn bộ đầu nội dung hoàn toàn tương
đồng với Luật Pàli. Ðây chính là 4 bộ luật mà xưa nay
thường được nói đến. Hơn nữa, luật của Tây Tạng cũng
tương đương với Quảng luật này. Những bộ này đều phát
xuất từ một nguồn gốc, nội dung đại thể nhất trí, chỉ
vì bộ phái truyền thừa bất đồng mà có sự sai khác ít
nhiều. Ðiều đáng chú ý là sự hình thành của Luật Pàli,
Tứ Phần, Ngũ Phần là sớm hơn tất cả. Và bộ Luật Pàli
đối với các bộ luật khác được xem là hoàn chỉnh nhất.
Nội dung tổ chức của Luật Pàli
gồm 3 bộ phận cấu thành:
1. Kinh Phân biệt;
2. Kiền độ;
3. Phụ tùy.
Những giới bản bằng tiếng Phạn
của bộ Luật này đã được Bá Hi Hòa (Paul Pelliot) phát hiện
tại Trung Á, nhưng bài tựa và tiêu đề của 4 giới Ba la
di đã bị mất.
I. KINH PHÂN
BIỆT (Sutta Vibhanga)
Phần này được chia làm 2 loại
như sau:
A. Ðại phân biệt (Mahà Vibhanga),
tức là giới bản của Tỷ kheo, gồm có 8 nhóm:
1. Ba la di (Pàràjika): Tương đương
với tội cực hình của Tỷ kheo, người vi phạm bị mất
tư cách của Tỷ kheo và bị trục xuất ra khỏi Tăng đoàn.
Giới này gồm có 4 điều: Theo ý nghĩa được giải thích
thì người phạm giới này sẽ bị Tăng đoàn đả kích; còn
theo sự giải thích của Bắc truyền Hán dịch thì gọi là
Ðoạn đầu (bị chặt đứt đầu); Thối một (bị thoái hóa);
Tha thắng (bị kẻ khác đánh bại).
2. Tăng già bà thi sa (Sanghàdisesa):
Tội này tuy cũng nặng nhưng kém hơn Ba la di một bậc. Người
vi phạm tuy không mất tư cách của Tỷ kheo, nhưng phải ở
riêng thực hành 6 ngày đêm pháp tùy hỷ (làm cho Tăng chúng
hoan hỷ). Sau đó, Tăng sẽ giải tội (xuất tội). Giới này
gồm có 13 điều:
3. Bất định pháp (Aniyata): Tôi
không thể quyết định được. Khi Tỷ kheo ngồi một mình
với phụ nữ ở chỗ khuất hoặc chỗ trống và bị một
tín nữ thuần thành phát hiện, báo cho Tăng biết. Tăng sẽ
tùy theo sự tường thuật ấy mà kết một trong 3 tội: Ba
la di, Tăng tàn, hoặc Ba dật đề.
4. Ni tát kì ba dật đề (Nissaggiya-pàcittiya):
Tỷ kheo cất chứa những y phục và vật dụng quá quy định,
do đó, phải đem những vật ấy ra xả giữa chúng Tăng hoặc
cho người khác, rồi sám hối tội phạm. Nghĩa là xả bỏ
tài vật đã vi phạm và sám hối tội đọa địa ngục. Giới
này gồm có 30 điều.
5. Ba dật đề (Pàcittiya): Cũng như
pháp Ni tát kì ba dật đề (xả đọa) ở trên, nhưng tội
này không liên quan đến tài vật mà liên quan đến các vấn
đề như vọng ngữ, sát sinh, uống rượu v.v..., và các tội
thuộc về phiền não, chấp trước. Người phạm tội này
sám hối trước 3 vị Tỷ kheo thanh tịnh. Giới này gồm có
92 điều, Bắc truyền gọi là Ðơn đọa.
6. Ba la đề đề xá ni (Pàtidesanìya):
Nghĩa là hướng đến người khác mà sám hối. Hán dịch là
Hối quá, nghĩa là phải đối diện với người khác mà tự
bạch sám hối tội phạm. Giới này gồm 4 điều, liên quan
đến việc ăn uống.
7. Chúng học (Sekhiya): Nguyên ngữ
có nghĩa là học tập, đây không phải là tên tội mà là
những việc cần phải học, cho nên còn gọi là Ưng đương
học. Giới này thuộc về oai nghi, liên quan đến tác phong
của Tỷ kheo khi tiếp xúc với người thế tục. Nếu Tỷ
kheo cố ý phạm thì phải sám hối với một Thượng tọa,
còn khi vô tình phạm thì sám hối bằng cách tự trách tâm
mình. Giới này gồm 75 điều. Bắc truyền đến 100 điều.
8. Diệt tránh (Adhikarana-samatha):
Ðây không phải là tên tội mà là những phương thức dùng
để giải quyết các sự tranh chấp, xung đột gây nên mối
bất hòa giữa Tăng đoàn. Nếu Thượng tọa không giải quyết
được những rắc rối xảy ra trong chúng thì phạm tội Ðột
cát la (hành vi xấu).
B. Tiểu phân biệt (Cùla Vibhanga)
hay Tỷ kheo ni phân biệt:
1. Ba la di: Gồm 8 giới, nhiều hơn
Tỷ kheo 4 giới.
2. Tăng già bà thi sa: Gồm 17 giới,
nhiều hơn Tỷ kheo 4 giới.
3. Xả đọa: Gồm 30 giới, giống
như Tỷ kheo.
4. Ba dật đề: Gồm 166 giới, nhiều
hơn Tỷ kheo 74 giới.
5. Ba la đề đề xá ni: Gồm 8 giới,
nhiều hơn Tỷ kheo 4 giới.
6. Chúng học: Gồm 75 giới, giống
như Tỷ kheo.
7. Diệt tránh: Gồm 7 điều, giống
như Tỷ kheo.
Tỷ kheo ni không có giới Bất định
như Tỷ kheo.
II. KIỀN ÐỘ
(Khandha)
Kiền độ có nghĩa là khối, nhóm
hay chuyên đề, được chia làm 2 phần lớn và nhỏ như sau:
A- Ðại phẩm (Mahà-bhanga)
Ðại phẩm bao gồm 10 Kiền độ,
trình bày về những chế độ, quy tắc, nghi thức và nguyên
nhân thành lập giới luật.
1. Ðại kiền độ (Mahà-khandha):
Nói về nguyên nhân Ðức Phật thành đạo, đến việc Xá
Lợi Phất, Mục Kiền Liên xuất gia, cùng những phương thức
thọ giới Cụ túc và các quy tắc khác. Kiền độ này gồm
có 10 phẩm.
2. Bố tát kiền độ (Uposatha-khandha):
Trình bày về thể thức tụng giới của Tăng đoàn vào mỗi
nửa tháng.
3. An cư kiền độ (Vassupanayika-khandha):
Trình bày về quy chế an cư của Tăng đoàn mỗi năm 3 tháng
vào mùa mưa hay mùa Hạ.
4. Tự tứ kiền độ (Pavàrana-khandha):
Trình bày về cách thức Tự tứ - yêu cầu Tăng đoàn chỉ
bảo những sai phạm của mình - sau khi an cư kết thúc.
5. Bì cách kiền độ (Camma-khandha):
Ðề cập về cách thức dùng các loại da đối với chúng
Tỳ kheo.
6. Dược kiền độ (Bhesajja-khandha):
Thuyết minh về các loại thuốc mà các Tỷ kheo được phép
sử dụng.
7. Ca hi na kiền độ (Kathina-khandha):
Thuyết minh về y công đức, tức y được tưởng thưởng
sau mùa An cư.
8. Y kiền độ (Civara-khandha): Thuyết
minh về vấn đề y phục của Tỷ kheo.
9. Chiêm ba kiền độ (Campà-khandha):
Ðề cập đến những việc rắc rối xảy ra tại Chiêm Ba.
10. Kiều thưởng di kiền độ (Kosambi-khandha):
Ðề cập đến những sự xung đột xảy ra tại Kiều Thưởng
Di.
B. Tiểu phẩm (Culla-vagga)
Sau Ðại phẩm là Tiểu phẩm, tức
là những chuyên đề nhỏ hơn, và được chia thành 12 loại,
hay 12 Kiền độ.
1. Yết ma kiền độ (Kamma-khandha):
Thuyết minh về các phương pháp thực hiện việc yết ma.
2. Biệt trú kiền độ (Pasivàsika-khandha):
Thuyết minh thể thức xử phạt Biệt trú đối với Tỷ kheo
phạm tội Tăng tàn mà che giấu.
3. Tập kiền độ (Samuccaya-khandha):
Thuyết minh về phương thức xử trí đối với Tỷ kheo phạm
tội Tăng tàn.
4. Diệt tránh kiền độ (Samatha-khandha):
Thuyết minh về phương pháp dập tắt những sự xung đột
trong nội bộ Tăng đoàn.
5. Tiểu sự kiền độ (Khuddaka vatthu-khandha):
Những quy định về các tư cụ và các việc khác trong nếp
sinh hoạt của Tỷ kheo.
6. Ngọa tọa cụ kiền độ (Sesàsana-khandha):
Những quy định về cách thức kiến lập tinh xá và các dụng
cụ dùng để ngồi, nằm của các Tỷ kheo.
7. Phá Tăng kiền độ (Sanghabhedaka-khandha):
Thuyết minh về nhân duyên xuất gia của các đồng tử dòng
họ Thích và sự kiện Ðề Bà Ðạt Ða phá Tăng.
8. Nghi pháp kiền độ (Vatta-khandha):
Trình bày về thể thức tập hợp Tăng chúng để giải quyết
các công việc.
9. Già thuyết giới kiền độ (Patimakhàthapana-khandha):
Thuyết minh về thể thức ngăn cản Tỷ kheo phạm tội tụng
giới.
10. Tỷ kheo ni kiền độ (Bhikkhuni-khandha):
Thuyết minh về những qui định liên quan đến sinh hoạt của
Tỷ kheo ni.
11. Ngũ bách (kết tập) kiền độ
(Pãncasatika-khandha): Thuyết minh về việc 500 Tỷ kheo kết tập
pháp tạng lần đầu tiên tại thành Vương Xá, sau khi Phật
vừa nhập diệt.
12. Thất bách (kết tập) kiền độ
(Sattasatika-khandha): Sau Phật diệt độ khoảng 100 năm, nhóm
Tỷ kheo ở Bạt Kỳ đề xướng 10 điều phi pháp, do đó,
700 Tỷ kheo tập họp tại Tỳ Xá Li để giải quyết việc
ấy, đồng thời kết tập pháp tạng.
III. PHỤ TÙY
(Parivàra)
Phần này thuộc về phụ lục, dùng
để toát yếu những điểm chính của 2 phần trên : Kinh Phân
biệt và Kiền độ. Phương thức biên soạn phần lớn dùng
lối kệ tụng để cho dễ đọc tụng [1].
Phần
hai: KINH TẠNG (SUTTA - PITAKA)
Tạng kinh này được chia thành 5
bộ, là : Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ
và Tiểu Bộ. Trường Bộ và Trung Bộ được sắp theo hình
thức của kinh, tức kinh dài và kinh trung bình. Tương Ưng Bộ
và Tiểu Bộ được sắp theo thể tài của kinh. Còn Tăng Chi
Bộ thì được sắp theo pháp số từ ít đến nhiều. Ta có
thể trình bày rõ hơn như sau:
I. KINH TRƯỜNG
BỘ (Dìgha-nikàya)
Bộ kinh này tập hợp những bài
kinh dài, gồm tất cả 34 kinh, tương đương với kinh Trường
A Hàm thuộc Hán tạng.
II. KINH TRUNG
BỘ (Majjhima-nikàya)
Bộ kinh này tập hợp những bài
kinh trung bình, gồm tất cả 152 kinh, tương đương với kinh
Trung A Hàm thuộc Hán tạng.
III. KINH TƯƠNG
ƯNG BỘ (Samyutta-nikàya)
Bộ kinh này tập hợp những bài
kinh cùng chung thể loại theo sự tương quan của từng vấn
đề, gồm tất cả 7.762 kinh, tương đương với kinh Tạp A
Hàm thuộc Hán tạng.
IV. KINH TĂNG
CHI BỘ (Anguttara-nikàya)
Bộ kinh này được sắp theo pháp
số, chia thành 11 chương, từ chương một pháp đến chương
11 pháp, gồm tất cả 171 phẩm, 2.203 kinh (có chỗ nói 2.198
kinh, hoặc 2.308 kinh). Tương đương với bộ kinh này là kinh
Tăng Nhất A Hàm thuộc Hán tạng.
V. KINH TIỂU
BỘ (Khuddaka-nikàya)
Bộ kinh này tập hợp những bài
kinh tương đối nhỏ, và không có tương đương trong Hán tạng.
Nội dung được chia thành 15 loại như sau:
1. Tiểu tụng kinh (Khuddaka-pàtha):
Nội dung bao gồm 9 loại:
a) Văn 3 quy y; b) Văn 10 giới;
c) Ba mươi hai thân phần; d) Văn chất vấn Sa di; e) Kinh Cát
tường; f) Kinh Tam bảo; g) Kinh Hộ ngoại; h) Kinh Phục tạng;
i) Kinh Từ bi.
Bốn loại đầu từ trong kinh luật
chép ra, văn cú giản lược, nhằm giúp những kẻ sơ học
dễ dàng đọc tụng. Kinh Cát tường, kinh Tam bảo và kinh Từ
bi thuộc về một bộ trong Kinh tập. Kinh Hộ ngoại được
rút ra từ Ngạ quỉ sự. Kinh Phục tạng thuyết minh về phương
pháp giữ gìn sự giàu có [2].
2. Pháp Cú kinh (Dhammapada):
Những câu kệ này có tác dụng rất mãnh liệt làm cho hành
giả phấn khởi nỗ lực tiến tu; vì thế được giới Phật
giáo rất xem trọng. Ðây vừa là nấc thang của những người
mới học, vừa là tạng bí áo của những người đã thâm
nhập. Bộ này gồm có 26 phẩm, 423 bài kệ.
3. Tự thuyết kinh (Udàna):
Bộ này còn được dịch là "Vô vấn tự thuyết", nghĩa là
không do ai hỏi mà Phật tự trình bày; hay còn gọi là "Cảm
hứng ngữ", tức là những lời cảm hứng. Bộ này gồm có
8 phẩm, mỗi phẩm gồm 10 kinh, cộng tất cả 80 kinh.
4. Như thị ngữ (Itivuttaka):
Ðây là bộ thứ tư của kinh Tiểu Bộ, được biên tập theo
lối trùng tụng từ một pháp tăng dần đến nhiều pháp,
gồm có 4 tập, 112 kinh. Bộ này tương truyền do nữ cư sĩ
Dhammapàla Khijjuttara nghe Phật thuyết giảng rồi về tường
thuật lại.
5. Kinh tập (Sutta-nipàta): Thể
văn của bộ này theo lối kệ tụng, gồm 5 phẩm, 71 kinh. Bộ
này gồm những kinh được xem là xưa nhất, gần với thời
Ðức Phật hơn hết.
6. Thiên cung sự (Vimàna-vatthu):
Bộ này được chia làm 7 phẩm, 85 mẩu chuyện, thuyết minh
về những người được sinh lên cõi trời hưởng hạnh phúc,
rồi thuật lại những nỗi khổ đau bi thảm trong kiếp ngạ
quỉ trước kia của mình. Hễ ai gây nhân lành thì được
hưởng phước báo an lạc, ai gây nhân bất thiện thì phải
chịu quả báo đau khổ, nó có tác dụng cỗ vũ mọi người
bố thí cúng dường, làm những việc phước đức. Bộ này
và Ngạ quỉ sự liên quan với nhau rất mật thiết. Về thể
tài và ý nghĩa thì 2 bộ này vô cùng nhất trí.
7. Ngạ quỉ sự (Peta-vatthu): Bộ
này gồm 6 phẩm, 51 mẩu chuyện. Về giá trị của nó như
đã trình bày ở Thiên cung sự.
8. Trưởng lão kệ (Thera-gàthà):
Bộ này gồm có 1.279 bài kệ của 264 vị trưởng lão, chia
thành 21 chương, từ chương một kệ đến chương cuối cùng
71 kệ. Phần kệ tụng là do các vị trưởng lão nói lên hạnh
tu, quả chứng của chính mình.
9. Trưởng lão ni kệ (Theri-gàthà):
Bộ này gồm 522 kệ do 73 vị trưởng lão Ni trình bày, được
chia thành 16 chương. Nội dung của bộ này với Trưởng lão
kệ nói lên tinh thần thiểu dục, tri túc, nhàm chán nếp sinh
hoạt của trần thế, nỗ lực thực hiện nếp sống tự tại
giải thoát của các đệ tử Ðức Phật. Có thể nói những
vần thi kệ này rất gần gũi với những bài kệ của các
Thiền sư Trung Hoa.
10. Thí dụ (Apadàna): Thể
văn của bộ này theo lối kệ tụng, được chia làm 4 chương:
a) Phật thí dụ; b) Bích
chi Phật; c) Trưởng lão thí dụ; d) Trưởng lão Ni thí dụ.
Tuy chia làm 4 chương nhưng chủ yếu
là Trưởng lão thí dụ. Các trưởng lão đệ tử Phật tự
thuật lại nhân hạnh kiếp trước của mình, trải qua nhiều
đời, nhiều kiếp, cuối cùng được theo Phật Thích Ca xuất
gia tu hành, chứng đắc cứu cánh giải thoát.
11. Bản sinh kinh (Jàtaka): Trong
Tiểu Bộ kinh, chỉ có bộ này là dài nhất và được hoàn
thành khá muộn so với các bộ khác. Toàn bộ gồm có 547 mẩu
chuyện Bản sinh. Bộ này được lưu hành rất phỗ biến tại
Sri Lanka và được xem là tư liệu chủ yếu dùng để tuyên
dương Phật pháp. Theo Gandhavamasa thì nguyên bản Pàli chỉ
có kệ tụng, còn bản văn là do ngôn ngữ Sri Lanka được
chuyển dịch thành tiếng Pàli.
12. Vô ngại giải đạo (Patisambhidà-magga):
Nội dung bản kinh này phân loại trình bày về đường hướng
tu hành giải thoát. Toàn kinh được chia làm 3 phẩm là: Ðại
phẩm, Song kết phẩm và Tuệ phẩm, đồng thời mỗi phẩm
có phụ thêm 10 luận. Ở đây Ðại phẩm là trung tâm của
toàn kinh. Bản kinh này tuy thuộc về Kinh tạng, nhưng hình
thức và nội dung lại mang tính chất của một luận thư.
13. Phật chủng tánh kinh (Buddha-vamsa):
Kinh này gồm 28 phẩm, do kệ tụng hợp thành, thuyết minh về
chủng tộc, nhân hạnh của Ðức Thích Ca trong đời quá khứ.
Ðoạn nói về 7 Ðức Phật quá khứ từ Phật Tì Bà Thi đến
Ðức Thích Ca trong kinh này cũng được tìm thấy trong kinh
Ðại bản và kinh A sá nang chi thuộc kinh Trường Bộ. Trong
kinh tạng Pàli, bản kinh này với Thí dụ và Sở hành tàng
bị xem là được biên tập muộn màng nhất.
14. Sở hành tàng (Cariyà-pitaka):
Bộ này còn được dịch là Nhược dụng tàng, nội dung tự
thuật về những việc làm (sở hành) của Ðức Thế Tôn trong
các kiếp quá khứ, tức những cố sự Bản sanh của Ðức
Phật, được chia thành 7 Ba la mật, gồm 35 mẩu chuyện.
15. Nghĩa thích (Niddesa): Bộ
sách này nhằm chú thích về Kinh tập của Tiểu Bộ kinh. Nội
dung được chia làm 2 phần: Ðại nghĩa thích (Mahà-niddesa)
và Tiểu nghĩa thích (Culla-niddesa). Ðại nghĩa thích dùng chú
thích phẩm thứ tư của Kinh tập tức phẩm Nghĩa. Tiểu nghĩa
thích dùng chú thích phẩm thứ 5 của Kinh tập túc phẩm Bỉ
ngạn đạo và phần kết luận. Toàn sách chủ yếu dựa vào
các từ ngữ mà giải thích ý nghĩa.
Phần
ba: LUẬN TẠNG
So với Luật tạng và Kinh tạng
thì Luận tạng được trước thuật muộn hơn, bắt đầu
từ lần kết tập Pháp tạng thứ 3 trở đi, còn hai lần kết
tập thứ nhất và thứ nhì thì chưa có. Do đó, các nhà Phật
học thế giới cho là không mang tính chất nguyên thỉ, vì
vậy mà họ ít trọng thị. Tuy thế, đối với giới Phật
giáo Sri Lanka và Myanmar lại gọi đây là Vi diệu pháp, cho
nên đôi khi còn xem trọng hơn cả Kinh và Luật. Bộ này gồm
có 7 quyển như sau:
1. Pháp tập
luận (Dhamma-sangani): Nội dung quyển sách này nhằm
phân loại giải thích tất cả các pháp. Ðây là một trong
7 bộ luận thuộc phân biệt Thượng tọa bộ Sri Lanka. Quyển
sách nêu ra Thiện pháp, Bất thiện pháp, Vô ký pháp v.v...
bao gồm 122 mục thuộc bản luận gốc, và Hữu lậu pháp,
Vô lậu pháp v.v... gồm 42 loại thuộc danh mục của bản kinh
gốc để giải thích.
2. Phân biệt
luận (Vibhanga): Bộ này nhằm phân tích, giải thích
tất cả các pháp trên nhiều phương diện. Có người cho rằng
bộ này là tục biên của Pháp tập luận. Trong các luận thư
thuộc Hữu bộ thì Pháp uẩn túc luận rất giống với quyển
này. Bộ luận này gồm có 18 phân biệt (phẩm), 15 phẩm đầu
trình bày 2 phần là: Kinh Phân biệt, Luận Phân biệt và những
chất vấn. Ba phẩm cuối chia làm 2 đoạn là Bản mẫu và
Quảng thích để giải thích các pháp.
3. Giới luận
(Dhàtu-kathà): Nội dung trình bày về mối quan hệ
giữa các pháp Uẩn, xứ, giới được thu nhiếp, không thu
nhiếp, có tương ưng hay không tương ưng. Bộ này tương đương
với các quyển 3, quyển 8, 9, 10 và quyển 18 của phẩm Loại
túc luận thuộc Luận tạng Hán dịch.
4. Nhân thi thiết
luận (Puggala-pannanatti): Bộ luận này nhằm phân loại
thuyết minh về "bỗ đặc già la" (Puggala: con người), chủ
yếu luận về 6 phần: Uẩn, xứ, giới, căn, đế, nhân. Nội
dung chia làm Mẫu luận và phần giải thích, nhưng phần giải
thích là bộ phận chủ yếu. Mọi người đều công nhận
bộ này và phân biệt luận là 2 bộ được trước tác sớm
nhất. Bộ luận này có mối quan hệ mật thiết với phẩm
Nhân (người) trong bộ "Xá Lợi Phất A tì đàm luận" và "Tập
dị môn túc luận" thuộc hệ Hán dịch.
5. Song luận
(Yamaka): Ðây là bộ luận thứ 5 thuộc văn hệ Pàli
của Nam truyền. Nội dung nhằm thuyết minh tính chất hỗ tương
của các pháp có nhiếp nhập hay không nhiếp nhập, và các
mối quan hệ sinh khởi, biến diệt, bao gồm 10 phẩm:
1) Căn bản song luận; 2)
Uẩn song luận; 3) Xứ song luận; 4) Giới song luận; 5) Ðế
song luận; 6) Hành song luận; 7) Tùy miên song luận; 8) Tâm song
luận; 9) Pháp song luận; 10) Căn song luận. Trong mỗi phẩm
này lại chia ra 3 phần: phần Thi thiết, phần Chuyển dịch
và phần Biến tri.
6. Phát thú luận
(Patthàra-kathà): Bộ luận này thuyết minh về mối
quan hệ giữa 122 môn với 24 duyên. Phần đầu là phần thiết
trí của luận mẫu và phần riêng biệt thuộc Duyên phần;
tiếp đến thuật về Bản văn, do 24 phát thú (vấn đề) mà
thành lập.
7. Luận sự
(Kathà-vatthu): Tác phẩm này trình bày lập trường
của Ðại tự phái ở Sri Lanka nhằm mục đích đả phá những
chấp trước sai khác của các bộ phái. Tương truyền bộ
luận này do Mục Kiền Liên Tử Ðế Tu (Moggaliputta-tissa), người
chủ trì cuộc kết tập pháp tạng lần thứ 3, trước tác.
Trọn bộ gồm 213 phẩm, 217 luận, cuối mỗi phẩm đều có
bài tụng tóm tắt. Nội dung của bản luận này có mối quan
hệ mật thiết với Di Lan vương vấn kinh.
PHỤ LỤC
Ngoài 3 tạng giáo kể trên, Ðại
tạng Nam truyền Tích Lan còn thu thập một số tác phẩm khác
vào Ðại tạng gồm các trước tác sau đây:
1. Di Lan Vương vấn kinh (Milinda-panha):
Kinh này so với kinh Na Tiên Tỷ kheo thuộc Hán tạng thì đại
đồng tiểu dị. Nội dung nguyên thỉ chia làm 2 quyển, phần
mở đầu và phần đối thoại chính. Phần đầu lược thuật
về hành trạng của vua Di Lan (Milanda) và Tỷ kheo Nàgasena (Na
Tiên). Phần hai đề cập đến cuộc đối thoại giữa hai
người về các vấn đề như: Duyên khởi, vô ngã, nghiệp
báo, luân hồi v.v..., vốn là những giáo lý căn bản của
Phật giáo nguyên thỉ; nhưng cách trình bày thật là sắc sảo,
mạnh mẽ, sáng sủa, tinh vi và nhất là sống động, luôn
luôn kèm theo nhiều thí dụ rất sát ý, khiến người đọc
thấy tâm hồn mình phấn khởi một cách phơi phới. Ðặc
điểm độc đáo chính là ở đây. Và chính vì đặc điểm
độc đáo ấy mà Milindapanha được Giáo hội Phật giáo Sri
Lanka tôn thờ ngang hàng với Thánh điển Ngũ bộ kinh; Phật
giáo Myanmar thì xếp Milindapanha vào Thánh điển hẳn... Trải
qua thời gian, Phật giáo Sri Lanka thêm dần dần vào, ngày nay
thành ra 7 quyển" [3].
Bộ kinh này ngày nay đã được
dịch sang các thứ tiếng: Anh, Nhật, Pháp, Ðức, Ý và Việt
Nam.
2. Ðảo vương thống sử (Dipa-vamsa):
Gọi tắt là Ðảo sử hay Châu sử, được biên soạn khoảng
thế kỷ thứ tư, thứ năm, không rõ tác giả. Ðây là loại
sử thi biên niên tối cỗ của Sri Lanka. Ai muốn nghiên cứu
về Phật giáo Sri Lanka thì không thể thiếu bộ sử này. Bộ
sách được chia thành 37 chương, tường thuật vắn tắt về
sự sinh hoạt của Phật, về sự tích Ngài đến Sri Lanka truyền
giáo (?); đồng thời đề cập đến 3 lần kết tập pháp
tạng, lịch sử của các bộ phái và sự quy y Phật giáo của
vua A Dục [4]
3. Tiểu vương thống sử (Culla-vamsa):
Còn gọi là Tiểu sử; đây là bộ sử biên niên nói về mối
quan hệ giữa vương triều với Phật giáo tại Sri Lanka. Bộ
này là tục biên của Ðại sử (Ðại vương thống sử). Học
giả của Sri Lanka trước đây đem Ðại sử và Tiểu sử viết
chung thành một bộ và gọi là Ðại sử. Về sau, vị học
giả tiếng Pàli người Ðức là Uy Khiêm Cái Cách Nhĩ (Wilhelm
Geiyer, 1856-1943) đem chia ra thành Ðại sử và Tiểu sử, rồi
dịch sang tiếng Ðức, hiệu đính lại nguyên điển, và đem
xuất bản.
4. Thanh tịnh đạo luận (Visuddhi-magga):
Bộ luận này gồm 3 quyển, chia làm 23 chương, do Phật Âm
(Buddhaghosa), vị cao tăng người Ấn Ðộ, trước tác khoảng
thế kỷ thứ 5 Tây lịch. Nội dung nhằm giải thích giáo nghĩa
của Thượng tọa bộ, chủ yếu là Tam vô lậu học, được
trình bày theo thứ tự Giới, Ðịnh và Tuệ. Quyển sách này
là một luận thư có quyền uy tối cao đối với Phật giáo
Nam truyền. Nội dung của nó ví như một bộ bách khoa toàn
thư, giải thích khá tường tận về những điểm giáo lý
căn bản, có thể so sánh với bộ Ðại tì bà sa luận của
Thượng tọa hữu bộ. Hiện nay, bộ luận này đã được
dịch sang các thứ tiếng: Hán, Nhật, Anh và Việt.
5. Nhiếp A tì đạt ma nghĩa luận
(Abhidhammattha-sanghaha): Bộ luận này do A Nậu Lâu Ðà (Anuruddha)
soạn, nội dung trình bày những điểm cương yếu trong giáo
lý A tì đạt ma của phân biệt Thượng tọa bộ Sri Lanka,
được chia làm 9 phẩm.
6. A Dục Vương khắc văn (Dhamma-lipi):
Còn gọi là A Dục vương pháp sắc, chỉ cho những bản cáo
thị bằng giáo pháp, do vua A Dục cho khắc tại những hang
động và trụ đá v.v... Niên đại khắc văn khoảng năm 250
trước Tây lịch. Văn tự được dùng tương tự như loại
phương ngôn của Phạn văn và Pàli văn. Ngày nay, người ta
đã phát hiện được tại những tảng đá lớn và nhỏ gồm
7 chỗ, trụ đá gồm 10 trụ, những bài kinh và những thạch
bản gồm chừng 5 loại.
Tạng thánh giáo này khởi thủy
bằng tiếng Pàli thuộc Phật giáo Sri Lanka, gồm có 41 tập,
trải qua thời gian dần dần nó được dịch sang các tiếng:
1. Myanmar (gồm thành 21 tập)
2. Thái Lan (gồm 45 tập)
3. Campuchia (gồm 52 tập)
4. Anh văn (gồm 46 tập)
5. Nhật văn (gồm 65 tập)
6. Hán văn (gồm 65 tập)
Trong tạng Nhật văn được phân phối
như sau:
(1) Luật tạng gồm 5 tập
đầu, từ tập 1 đến tập 5.
(2) Kinh tạng gồm tất cả 39 tập,
từ tập 6 đến tập 44.
(3) Luận tạng gồm tất cả 14
tập, từ tập 45 đến tập 58.
(4) Phần phụ lục gồm 7 tập,
từ tập 59 đến tập 65. Trong đây, các tập 11, 16, 22, 48,
59 đều có 2 quyển thượng và hạ, riêng tập 65 gồm có 3
quyển.
Theo quan điểm của các nhà Phật học
quốc tế có uy tín mà cụ thể là Pháp sư Ấn Thuận [5] và
Kimura Taiken [6] thì chỉ công nhận tạng Luật và Kinh là Thánh
giáo, còn tạng Luận và các tác phẩm khác thì không công
nhận. Vì các tác phẩm này được trước tác theo quan điểm
riêng của bộ phái và được hình thành khá muộn màng không
phải thuần túy nguyên thủy, thậm chí một số kinh trong Tiểu
Bộ cũng rơi vào tình trạng ấy.
Tuy vậy, Pháp sư Ấn Thuận vẫn
tán thành việc soạn thuật những tác phẩm Phật giáo phù
hợp với thời đại, để cập nhật hóa giáo lý Ðức Phật,
làm cho giáo lý đạo Phật luôn luôn sinh động, hiện thực,
thích hợp với mọi trào lưu tiến hóa của nhân loại. Có
như vậy, chánh pháp thậm thâm vi diệu của Ðức Ðạo Sư
mới thực sự đem lại lợi ích cho mọi người và mọi thời
đại.
-ooOoo-
* Tài liệu tham khảo:
1. Hán dịch Nam truyền Ðại
tạng kinh, Luật bộ tập 1-5, chủ nhiệm: Thích Bồ Diệu,
Dân Quốc 79-1990.
2. Nguyên thủy Phật giáo Thánh điển
chi tập thành, Ấn Thuận trước, Ðài Bắc, 1988, tr.859, 870.
3. Cao Hữu Ðính, Kinh Na Tiên Tỳ
kheo, Minh Ðức xuất bản, 1971, Lời nói đầu, tr.4-5.
4. Phật Quang đại từ điển, chủ
biên: Từ Di, Ðài Bắc, xb.1989, tr.4088. Ngoài ra, nhiều chỗ
khác cũng dùng tư liệu của từ điển này.
5. Như tài liệu 2.
6. Kimura Taiken, Nguyên thủy Phật
giáo tư tưởng luận, HT.Thích Quảng Ðộ dịch, Khuông Việt
xb.1971, tr.14.
* Ngoài ra còn dùng: Nam truyền Ðại
tạng kinh sách dẫn, Thủy Dã Hoằng Nguyên trước, Nhật Bản
học thuật Chấn hưng hội phát hành, Ðông Kinh 1960.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Tam tạng thánh điển
Nam truyền là gì?
2. Học viên hãy trình bày sơ
lược nội dung của Kinh tạng Nam truyền.