Phần II
- Bài 3
Giới
thiệu học thuyết phân kỳ
về
hệ thống phán giáo
Khải Thiên
Nội
dung của bài này sẽ giới thiệu khái quát về học thuyết
Phân kỳ và hệ thống Phán giáo. Ðây là cách thức tiếp
cận hệ thống giáo lý Phật giáo rất quan trọng, giúp học
viên nắm rõ tiêu chí cơ sở của các bộ kinh thuộc Nam tạng
và Bắc tạng. Bài này sẽ là bước mở đầu để học viên
đi vào nội dung cơ bản của một số tông phái của đạo
Phật tiếp theo.
A- Dẫn nhập
Học thuyết Phân
kỳ và hệ thống Phán giáo (của Phật học Trung Hoa) có thể
nói là một phương pháp tiếp cận lịch sử-tư tưởng có
hệ thống và rất bao quát. Các giai đoạn trong lịch sử Phân
kỳ và Phán giáo, ở đó phần lớn các tư tưởng đã được
hệ thống hóa hoàn chỉnh. Một cách tương đối, nó giúp
chúng ta nắm bắt và xác định các học thuyết cơ bản của
các giai đoạn đáng chú ý trong tiến trình lịch sử-tư tưởng
triết học Phật giáo. Vì lẽ đó, ngày nay khi nghiên cứu
Phật học, phần lớn đều dựa vào phương pháp tiếp cận
này.
B- Nội dung
I.- Học thuyết
phân kỳ - Lịch sử tư tưởng
Một trong những
học thuyết Phân kỳ nổi tiếng được các nhà Phật học
chuyên môn, đặc biệt là về tánh Không luận như T.R.V. Murti,
Ed. Conze, J. May... đánh giá rất cao, đó là học thuyết của
Stcherbatsky, một nhà luận lý học Phật giáo (1).
Trong những trang
đầu của tác phẩm «Logic học Phật giáo«, cũng như
trong quyển «The Conception of Buddhist Nirvana« (Khái niệm
về Niết bàn Phật giáo), ông đã có những nhận định chính
xác và toàn diện về bối cảnh lịch sử-tư tưởng của
Phật giáo tại Ấn Ðộ. Và theo Stcherbatsky, lịch sử phát
triển của Phật giáo Ấn Ðộ có thể được chia thành 3
thời kỳ chính cộâng với một số tư tưởng trung tâm của
mỗi thời kỳ. Các giai đoạn của lịch sử được bắt đầu
và kết thúc trong vòng 1.500 năm, kể từ 500 năm trước Tây
lịch. Và mỗi 500 năm là một thời kỳ, gồm có: sơ kỳ,
trung kỳ và hậu kỳ.
1- Thời kỳ
thứ nhất (500 năm tr.TL)
Sơ kỳ
- Thời kỳ này, triết học Phật giáo được gọi chung là
«đa nguyên luận« - phủ định về Ngã thể. Ở đây, khi
nói đến từ Ða nguyên luận là nhằm chỉ đến cách thức
phân tích các «pháp« hiện hữu trên cơ sở của 5 uẩn, 12
xứ và 18 giới. Và cũng trên cơ sở của các uẩn, xứ, giới
này, Phật giáo hoàn toàn phủ nhận về Ngã thể bất biến
- (Unreality of the Ego).
2- Thời kỳ
thứ hai (500 năm sau TL)
Trung kỳ
- Thời kỳ này, triết học Phật giáo được gọi chung là
«Nhất nguyên luận« - phủ định về pháp - pháp vô ngã (Unreality
of the Elements of existence). Triết gia xuất sắc trong thời kỳ
này là Luận sư Long Thọ, người xiển dương về tánh Không
luận - tất cả pháp vốn không có tự tính.
3- Thời kỳ
thứ ba (500 năm kế tiếp)
Hậu kỳ
- Thời kỳ của «Quan niệm luận«, do hai Luận sư Vô Trước
(Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu) xiển dương triết học Duy
thức - tất cả pháp đều được xem như là sự biểu hiện
của tâm thức, chúng không có tự ngã, và do đó, sự hiện
hữu của chúng là không thực (Unreality of the External world).
|
Bảng 1
(Học thuyết phân kỳ)
Sơ kỳ (500
năm tr.TL)
Dòng triết
học: Ða nguyên thực tại luận
«Nhân Không«:
Phủ định Ngã thể (Ego)
Trung kỳ (500 năm
s.TL)
Dòng triết
học: Nhất nguyên luận
«Pháp không«:
Phủ định Ngã tính của các pháp
Triết gia đầu
tiên - Long Thọ - Tánh Không luận
Hậu kỳ (500 năm
tiếp theo)
Dòng triết
học: Duy thức
Triết gia xuất
sắc: Vô Trước và Thế Thân
Chủ trương:
Tam giới Duy thức (Tất cả pháp đều là sự biến hiện của
Tàng thức Alaya)
|
Trên cơ sở này,
chúng ta thấy được bối cảnh phân kỳ tư tưởng của Phật
giáo Ấn Ðộ khá rõ ràng. Tuy nhiên, giữa thời kỳ thứ hai
(trung kỳ) và thứ ba (hậu kỳ) còn có những mốc lịch sử
tư tưởng quan trọng, do đó Stcherbatsky tiếp tục phân chia
thêm một bảng phân kỳ dành cho sự phát triển của tư tưởng
Ðại thừa Phật giáo.
|
Bảng 2
Thế kỷ I -
Hưng khởi của Ðại thừa
Dòng triết
học: A lại da và chân như Duyên khởi của Mã Minh
Thế kỷ II
Dòng triết
học: Tánh Không, Duyên khởi luận do Long Thọ và Ðề Bà (còn
gọi Thánh Thiên) thành lập
Thế kỷ III &
IV
Một khoảng
trống
Thế kỷ V
Dòng triết
học: Duy thức luận (Vijnànavàda) của Vô Trước và Thế Thân
Thế kỷ VI
Sự phân
hóa giữa phái Duy thức và tánh Không - An Huệ (Sthiramati) và
Trần Na (Dingnàga) đại diện cho phái Duy thức; Phật Hộ (Buddhapalita)
và Thanh Biện (Bhàvaviveka) đại diện cho phái Không luận
Thế kỷ VII
Hệ thống
Trung quán do Nguyệt Xứng (Candrakirti) xiển dương và hoàn thành.
|
Bảng phân kỳ
(số 2) trên, theo học giả J.Takakusu, trong «The Essentials
of Buddhism Philosophy« (2), khoảng trống của thế kỷ thứ
III và thứ IV, có thể điền vào bằng Kiên Huệ (Saramati)
và Di Lạc (Maitreya). Di Lạc là thầy trực tiếp hoặc gián
tiếp dạy Duy thức cho Vô Trước. Tuy nhiên, có lẽ do Di Lạc
được truyền tụng bởi quá nhiều huyền thoại - có thuyết
nói Ngài là vị Bồ tát trên cung trời Ðâu Suất, xuống trần
gian dạy Duy thức cho Vô Trước... - nên về mặt lịch sử,
Stcherbatsky đã không đề cập đến.
Từ các hệ thống
phân kỳ lịch sử trên, giáo sư Takakusu đề xuất thêm một
bảng phân kỳ mới, khác hơn, bao gồm 4 thời kỳ: Thực tại
luận, Hư vô luận, Quan niệm luận và Phủ định luận.
|
Bảng 3
1- Thực tại
luận: Thuộc Tiểu thừa hữu tông, đại biểu: thuyết
Nhất thiết hữu bộ, xác định tất cả pháp đều có. Phủ
định về ngã tính (Nhân không - Pudgala Sùnyata). Kết luận:
Ðây là thuyết về Hữu (Ens).
2- Hư vô luận:
Thuộc Tiểu thừa không tông, chủ trương «Nhất thiết pháp
không« - phủ định thực tính của tâm và vật. Kết luận:
Ðây là thuyết về Không (non-ens). Harivarman (Ha Lê Bạt Man)
(kh. 250-350 tr.TL). Ở đây, Hư vô luận đối lập với Thực
tại luận.
3- Quan niệm
luận: Thuộc Ðại thừa bán giáo, chủ trương Duy thức
luận, phủ định thực tính của tất cả pháp, chỉ có sự
biểu hiện của thức. Kết luận: Ðây là giáo lý về Hữu
(Ens) và phi hữu (non-ens).
4- Phủ định
luận: Thuộc Ðại thừa không luận, chủ trương Trung quán
luận (Madhyamika), cho rằng thực tại có thể nhận thức bằng
phủ định tổng hợp (synthetic negation) - phủ định cái phủ
định. Ðại biểu là Long Thọ, giáo thuyết cơ bản là «Bát
bất Trung đạo«. Kết luận: Ðây là giáo lý về phi hữu
- phi phi hữu. |
Trong bảng (số
3) phân kỳ này, mục đích của Giáo sư Takakusu là đưa Không
luận của Harivarman (3) lên trên Long Thọ.
Trên đây là một
số nét cơ bản của sự phân kỳ trong tiến trình phát triển
của lịch sử-tư tưởng Phật giáo Ấn Ðộ. Như thế, trong
suốt 1.500 năm này là thời kỳ phát triển hưng thịnh của
Phật giáo Ấn Ðộ. Và từ đó, kéo dài cho đến thế kỷ
thứ XI TL thì Phật giáo Ấn Ðộ rơi vào suy vong. Có điều,
chúng ta nên nhớ rằng, trước khi Phật giáo Ấn Ðộ đi vào
thời kỳ suy vong, thì mọi sự phát triển của nó đã được
truyền sang các nước (theo hai hướng Nam truyền và Bắc truyền)
khác. Và tất nhiên, trong sự truyền thừa đó, có cả những
phát triển khác biệt mà nó được nảy sinh từ Ấn Ðộ.
Trong trường hợp này, có thể nói tại Trung Hoa là nơi có
những bước phát triển mới làm cho nền Phật học trở nên
hoàn thiện, đặc biệt là quá trình hệ thống hóa các tư
tưởng dị đồng được du nhập từ Phật giáo Ấn Ðộ.
Ðiều này được trình bày cụ thể trong hệ thống phán giáo
của Phật học Trung Hoa.
II.- Hệ thống
phán giáo Phật học Trung hoa
Phán giáo cũng
có nội dung và tính chất như phân kỳ, nhưng phần lớn nó
được tập trung vào hệ thống giáo lý, kinh điển. Nếu,
nói một cách chính xác thì lịch sử phán giáo bắt nguồn
từ Ấn Ðộ vào thời đại của ngài Giới Hiền và Trí Quang,
hai vị Luận sư này đều phân chia giáo lý Phật giáo theo
ba thời giáo khác nhau, như được tìm thấy trong Pháp tướng
tông (của ngài Giới Hiền) và Tam luận tông (của ngài Trí
Quang) (4). Tuy nhiên, khi Phật giáo truyền sang Trung Hoa, thì
phần lớn đều được hình thành qua hình thức tông phái,
và trên cơ sở của mỗi tông phái mà hệ thống phán giáo
được tổ chức khác nhau, theo hình thức khởi nguyên từ
Ấn Ðộ.
Hệ thống phán
giáo Phật học Trung Hoa, như đã đề cập, bắt đầu từ
thời đại Nam Bắc triều (5) (cũng gọi là thời đại Lục
triều), các nhà Phật học đã tổ chức hệ thống phán giáo
khởi đầu, thông qua việc nghiên cứu kinh Niết Bàn mà ngài
Ðạo Sinh đề xuất học thuyết «đốn ngộ thành Phật«,
và ngài Tuệ Quán đề xuất học thuyết «đốn tiệm bất
địch«, và học thuyết của Tuệ Quán được xem là một
trong những sự khởi xướng hệ thống Phán giáo đầu tiên
của nền Phật học Trung Hoa mà đời sau gọi là «Nam tam -
Bắc thất« (ba hệ thống phán giáo ở phương Nam và bảy
hệ ở phương Bắc).
A/- Ba hệ thống
phán giáo ở Giang Nam
a)- Hệ thống
một (do Pháp sư Hổ Khưu Sơn Cập lập thành) - có ba pháp
luân:
1- Ðốn
giáo: Kinh Hoa Nghiêm
2- Tiệm giáo:
Hữu tướng
giáo: (11 năm thuyết giáo của Phật sau thời Hoa Nghiêm)
Vô tướng giáo:
(12 năm sau cho đến thời Pháp Hoa)
Thường trụ
giáo: (thời Niết bàn)
3- Bất
định giáo: Các kinh điển ngoài đốn, tiệm như luật, kinh
Thắng Man, Giải Thâm Mật...
b)- Hệ thống
hai (do Pháp sư Tăng Ai lập thành) - có ba pháp luân:
1- Ðốn
giáo: (như hệ thống một)
2- Tiệm giáo:
Hữu tướng
giáo: (như hệ thống một)
Vô tướng giáo:
(12 năm sau Phương Ðẳng và Bát Nhã)
Ðồng qui giáo:
(thời Pháp Hoa)
Thường trụ
giáo: (thời Niết bàn)
3- Bất định giáo:
(như hệ thống một)
c)- Hệ thống
ba (do Tăng Nhu, Huệ Thứ, Huệ Quán lập thành) - có ba pháp
luân:
1- Ðốn
giáo: (như hệ thống một)
2- Tiệm giáo:
Hữu tướng
giáo: (như hệ thống một)
Vô tướng giáo:
(Bát Nhã)
Ức dương giáo:
(Phương Ðẳng)
Ðồng qui giáo:
(như hệ thống một)
Thường trụ
giáo: (như hệ thống một)
3- Bất định giáo:
(như hệ thống một)
B/- Bảy hệ thống
phán giáo ở Giang Bắc
a)- Hệ thống
một (Hoặc Sư lập) - có năm pháp luân:
1- Nhân
thiên giáo: (Ðề-vị-bà-lợi)
2- Vô tướng
giáo: (Tịnh độ)
3- Ðốn giáo:
(Hoa Nghiêm)
4- Tiệm giáo:
(Phương Ðẳng)
5- Bất định
giáo: (như trước)
b)- Hệ thống
hai (Bồ Ðề Lưu Chi lập) - có hai pháp luân:
1- Tiên
giáo bán tự: (12 năm trước - Tiểu thừa giáo)
2- Hậu giáo mãn
tự: (12 năm sau - Ðại thừa giáo)
Bán tự và mãn tự
- dụ cho trẻ con khi mới học thì trước hết dạy nửa chữ
(tiên giáo bán tự), rồi sau đó mới dạy tiếp nguyên chữ
(hậu giáo mãn tự).
c)- Hệ thống
ba (Quang Thống lập)
Hệ thống này
do ngài Giác Hiền, Huệ Quang đề xuất, có 4 tông:
1- Nhân
duyên tông: (thuộc Tiểu thừa - Hữu bộ, chủ thuyết Tứ
nhân lục duyên)
2- Giả danh tông:
(thuộc Thành Thật tông, chủ thuyết Thành Thật luận: giảng
về Tam giả - Nhân thành giả, Tương tục giả, Tương đãi
giả)
3- Cuống tướng
tông: (học thuyết Tam luận - Nhất thiết pháp không - Tính
không luận)
4- Thường tông:
(giáo lý Hoa Nghiêm và Niết bàn)
d)- Hệ thống
bốn (Hoặc Sư lập) - có năm tông:
1- Nhân
duyên tông: (A Tỳ Ðàm)
2- Giả danh tông:
(Thành Thật)
3- Cuống tướng
tông: (Tam luận)
4- Thường trụ
tông: (Niết bàn)
5- Pháp giới
tông: (Hoa Nghiêm)
e)- Hệ thống
năm (Pháp Sư ở Kỳ Xà) - có sáu tông:
1- Nhân
duyên tông: (A Tỳ Ðàm)
2- Giả danh tông:
(Thành Thật)
3- Cuống tướng
tông: (Tam luận)
4- Thường trụ
tông: (Hoa Nghiêm - Niết bàn)
5- Chân tông:
(Pháp Hoa)
6- Viên tông:
(Ðại Tập)
f)- Hệ thống
sáu (Hoặc Sư lập) - có hai tông:
1- Hữu
tướng Ðại thừa
2- Vô tướng
Ðại thừa
g)- Hệ thống
bảy (Hoặc Sư lập) - có một tông:
Nhất âm giáo:
(Phật dùng một âm thanh thuyết pháp, chúng sanh tùy theo đó
mà hiểu biết về giáo pháp khác nhau).
Trên đây là phần
trình bày đại cương về «Nam tam - Bắc thất« - sự khái
lược hóa về các hệ thống phán giáo Phật học Trung Hoa.
C/- Hệ thống
phán giáo của các tông phái Ðại thừa
Khi các tông phái
Ðại thừa Phật giáo hình thành tại Trung Hoa, thì mỗi tông
phái lại tổ chức hệ thống phán giáo đặc thù theo tư tưởng
của từng tông phái. Theo truyền thống lịch sử Phật giáo
Trung Hoa, các tông phái chính có hệ thống phán giáo được
thành lập như sau:
1- Pháp tướng
tông
Tông phái này
y cứ trên cơ sở của kinh Giải Thâm Mật rồi đem giáo pháp
của Phật chia làm ba pháp luân (ba lần chuyển pháp luân của
Phật).
a)- Pháp
luân I: Phật nói về Hữu (Hữu giáo)
b)- Pháp luân
II: Phật nói về Vô (Không giáo)
c)- Pháp luân
III: Phật nói về Trung đạo (Trung giáo)
- Hữu
giáo là giáo lý thời Nguyên thủy và Bộ phái
- Không giáo là
giáo lý tiền Ðại thừa và Ðại thừa
- Trung giáo là
giáo lý Ðại thừa và hậu Ðại thừa
* Pháp luân I:
Giáo lý cơ bản là 4 thánh đế và 12 nhân duyên
* Pháp luân II:
Giáo lý cơ bản là «Nhất thiết pháp không«
* Pháp luân III:
Giáo lý cơ bản là «Trung đạo đế«
Hai pháp luân đầu,
Phật nói về pháp phương tiện và bất liễu nghĩa (khế lý,
khế cơ). Pháp luân thứ ba, Phật nói về pháp liễu nghĩa
- chân thật tối thượng - Chủ đề cơ bản là Trung đạo:
- 3 tự tính và 3 vô tính (tam tính và tam vô tính).
Về kinh điển,
người đời sau đối chiếu như vầy:
* Pháp
luân I: Gồm 4 bộ A Hàm ~ 4 bộ Nikàya
* Pháp luân II:
Gồm kinh Bát Nhã (không tông)
* Pháp luân III:
Gồm kinh Giải Thâm Mật, Hoa Nghiêm...
2- Tam luận tông
Tông phái này
phân chia giáo pháp của Phật làm hai tạng và ba pháp luân:
- Hai tạng
(Tùng pháp giảng): Thinh Văn tạng , Bồ Tát tạng
- Ba pháp luân
(Tùng nhân giảng): Pháp luân gốc, Pháp luân ngọn, Pháp luân
ngọn về gốc
- Thinh Văn tạng:
gồm các kinh A Hàm và Nikàya
- Bồ Tát tạng:
gồm các kinh Ðại thừa
* Pháp luân gốc:
Phật nói kinh Hoa Nghiêm
* Pháp luân ngọn:
Phật nói kinh A Hàm đến Phương Ðẳng
* Pháp luân ngọn
về gốc: Phật nói kinh Pháp Hoa
Hệ thống Phán giáo
này do Cát Tạng đề xuất.
3- Thiên thai
tông
Tông phái này
chia giáo pháp của Phật thành ngũ thời, bát giáo.
Ngũ thời:
Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Ðẳng (Duy Ma, Lăng Già...), Bát Nhã,
Pháp Hoa - Niết Bàn. Năm thời tương ứng với năm vị (của
kinh Niết Bàn): Sữa tươi (ngưu nhũ), Váng sữa (lạc), Váng
bơ (sinh tô), Bơ kết (thục tô), Bơ lỏng (đề hồ). Ðề
hồ là tối thượng trong 5 vị, và kinh Pháp Hoa, Niết Bàn
được ví như đề hồ - tối thượng trong các kinh.
Bát giáo:
- 4 hóa
nghi (Hóa nghi tứ giáo) [4 phương pháp giáo hóa]
1- Ðốn
2- Tiệm
3- Bí mật
4- Bất định
- 4 hóa pháp (Hóa
pháp tứ giáo) [4 nội dung giáo lý cơ bản]
1- Tạng
giáo
2- Thông giáo
3- Biệt giáo
4- Viên giáo
Tứ giáo:
- Tạng
giáo: hệ thống kinh điển A Hàm và Nikàya
- Thông giáo:
hệ thống kinh điển xuyên thông cả Tam thừa
- Biệt giáo:
giáo lý đặc biệt dành cho đối tượng đặc biệt, như hàng
Bôì tát, (Lục độ, Nhị đế v.v...)
- Viên giáo: giáo
lý viên dung - nhất thừa, chỉ cho kinh Hoa Nghiêm, Niết Bàn,
Pháp Hoa
Tứ nghi:
- Ðốn
giáo: giáo lý đốn ngộ, dành cho hàng trí giả - Ðại thừa
- Tiệm giáo:
giáo lý được giảng tùy theo trình độ, căn cơ (các kinh
A Hàm, Phương Ðẳng)
- Bí mật: giáo
lý đặc thù dành cho đối tượng đặc thù (không phải ai
cũng được nghe và hiểu được)
- Bất định:
cùng một giáo lý, cùng một pháp hội nhưng chỗ này là đốn
giáo, chỗ kia là tiệm giáo - tùy theo trình độ mà nói.
Ở đây, có một
vấn đề. Tương truyền, ngũ thời bát giáo là do ngài Trí
Khải (6), đệ tử của Huệ Tư, sáng lập. Nhưng học giả
Sekiguchi Shindai trong bài viết «Khởi nguyên ngũ thời bát
giáo« (Goji hakkyo kyohanron no kigen) (xem Taisho daigaku kiyo,
tr.1-15 (1975)) cho rằng chính Trạm Nhiên (711-782) là người
hệ thống hóa phán giáo này (?).
4- Hoa nghiêm
tông
Tông phái này
do sư Ðỗ Thuận, Trí Nghiễm và Pháp Tạng thành lập. Giáo
pháp được chia thành 5 giáo, 10 tông.
* Năm giáo:
1- Tiểu
thừa giáo: giáo lý cho hàng Thanh văn, như A Hàm, A Tỳ Ðàm
luận, Thành Thật luận; 2- Ðại thừa sơ giáo: giáo lý cho
hàng Ðại thừa, như Trung Quán luận, Du Già Sư Ðịa luận...;
3- Ðại thừa chung giáo: giáo lý cho hàng Ðại thừa cao cấp,
như kinh Lăng Già, Thắng Man...; 4- Ðại thừa đốn giáo: giáo
lý cho hàng Ðại thừa ưu tú, như Thiền tông...; 5- Nhất thừa
viên giáo: giáo lý viên dung, tối thượng, như kinh Hoa Nghiêm...,
Nhất thừa viên
giáo có hai loại:
a)- Nhất
thừa đồng giáo: tương ứng với Tam thừa (kinh Pháp Hoa)
b)- Nhất thừa
biệt giáo: khác với Tam thừa (kinh Hoa Nghiêm)
* Mười tông:
(10 học thuyết cơ bản của Phật giáo Bộ phái và Ðại thừa)
Sáu học thuyết
của Phật giáo Bộ phái:
1- Tông
Ngã pháp đều có: thuộc giáo lý của Ðộc tử bộ, Pháp
thượng bộ, Hiền vị bộ, Chính lượng bộ, Mật lâm sơn
bộ, Kê dân bộ trong thời kỳ Phật giáo Bộ phái.
2- Tông Ngã không
pháp có: thuộc giáo lý của Nhất thiết hữu bộ, Tuyết sơn
bộ, Ẩn quang bộ, Kinh lượng bộ.
3- Tông Pháp không
khứ lai: thuộc quan niệm «Hiện tại hữu thể, quá vị vô
thể« của Hóa địa bộ, Pháp tạng bộ, Ðại chúng bộ,
Ða văn bộ, Chế đa sơn bộ, Tây sơn trụ bộ, Bắc sơn trụ
bộ.
4- Tông Hiện thông
giả thật: thuộc quan niệm «Chân giả tịnh hữu« của Thuyết
giả bộ.
5- Tông tục vọng
chân thật: Quan niệm của thuyết Xuất thế bộ.
6- Tông chư pháp
giả danh: Quan niệm «Tam thế chư pháp giả danh vô thể« của
Nhất thuyết bộ.
Bốn học thuyết
của Ðại thừa:
7- Tông
«Nhất thiết pháp không«: thuộc Ðại thừa thỉ giáo.
8- Tông «Chư pháp
thực tướng«: thuộc Ðại thừa chung giáo.
9- Tông «Tướng
và Tưởng đều không«: thuộc Ðại thừa đốn giáo.
10- Tông «Như
thị - viên mãn«: thuộc Nhất thừa viên giáo (7).
Trên đây là các
tông phái có hệ thống phán giáo cụ thể. Còn Thiền tông,
Tịnh độ tông và Mật tông (Chân ngôn tông) thì hệ thống
phán giáo không cụ thể và cũng khá đa diện. Tuy nhiên, với
ba tông này, chủ yếu là đi vào tu tập thực tiễn. Do đó,
nếu lập phán giáo thì phải lập theo một thể cách đặc
thù của nó.
Riêng về phần
phán giáo như vừa trình bày trên đây, chúng ta thấy lộ rõ
một điều ở các hệ thống phán giáo, đó là sự tương
quan thống thiết giữa nhận thức của con người và chân
lý thực tại. Bởi lẽ, nhận thức của con người thì bất
khả thuyết - có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu nhận thức
khác nhau. Ở đây, sẽ không bao giờ có bất kỳ một khuôn
mẫu tư duy nào có thể dùng cho mọi người; cũng như, tất
cả mọi người đều mang giày, nhưng không thể có một đôi
giày nào khả dĩ được dùng cho tất cả mọi người. Vả
lại, chân lý thực tại cũng chỉ có Một, Ðông phương hay
Tây phương, đều chỉ có Một và chỉ Một mà thôi. Vì lẽ
đó, vấn đề được đặt ra ở đây là: chân lý luôn luôn,
lúc nào, và ở đâu, cũng bình đẳng trước mọi người;
và, làm thế nào để mọi người có thể trực nhận được
chân lý? Ðây là lý do tại sao Phật tử Trung Hoa đề xuất
và tổ chức các hệ thống phán giáo. Nó xuất hiện như là
sự nối kết các nhịp cầu phương tiện để giúp người
sang sông. Từ đó, ba thừa phân đốn, tiệm, quyền, thật
tất cả đều viên dung. Ðây là phương tiện thiện xảo để
mỗi người với căn tánh và trình độ khác nhau đều có
thể tu tập Phật giáo. Có thể tóm tắt ý nghĩa trên qua phát
biểu của Long Thọ như sau: «Nếu không nương tục đế, thì
không thể đạt đến chân lý. Nếu không đạt đến chân
lý, thì không thể hiểu được Phật pháp« (8)./.
Ghi chú:
Học viên đọc thêm cuốn«Tìm hiểu nhân sinh quan Phật
giáo« của tác giả Thích Tâm Thiện (phần Lược sử
các bộ phái Phật giáo); cuốn «Lịch sử tư tưởng
và triết học tánh Không« của tác giả Thích Tâm Thiện
(phần Học thuyết Phân kỳ và hệ thống Phán giáo);
«Tâm
lý học Phật giáo« của tác giả Thích Tâm Thiện (phần
Ðại
cương triết học Duy thức)./.
* Chú thích:
(1) T.H.Stcherbatsky
sinh ngày 19-9-1855 ở Keltse, Ba Lan (bấy giờ thuộc Nga), trong
một gia đình công chức khá giả. Tại Ðại học Saint Petersburg,
năm 1885, ông học các ngôn ngữ Ấn-Âu dưới sự hướng dẫn
của GS Minayeff và S.Oldenberg. Năm 1888, ông đến Viene (Áo) để
học Sanskrit. Từ 1893-1900, ông tập trung nghiên cứu Phật học.
Ông có nhiều tác phẩm: «The Theory of knowledge and logic in
the doctrine of later Buddhism« xuất bản năm 1903 bằng tiếng
Nga; «Buddhist Logic« 2 tập, tác phẩm này được Thủ
tướng Nehru (Ấn Ðộ) đánh giá cao như một tác phẩm về
logic học xuất sắc nhất được xuất bản trong vòng hai thế
kỷ. Ông là Giáo sư viện sĩ Hàn lâm viện Nga, thông thạo
6 thứ tiếng châu Âu và tiếng Sanskrit, tiếng Tây Tạng. Những
công trình của ông là sự cống hiến vĩ đại cho nền Phật
học Ấn Ðộ và châu Âu.
(2) Xem bản dịch
«Các
tông phái của đạo Phật« của Tuệ Sỹ, Tu thư Ðại
học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1973, tr.192-193.
(3) Harlvarman, tác
giả bộ «Thành Thật luận« (Satyasiddhi-sastra, 16 quyển).
Ông là người thuộc Kinh Lượng bộ, sinh ở vùng Trung Êẽn,
trong một gia đình Bà la môn. Trong «Thành Thật luận«
(gồm 202 phẩm), ở phẩm «Diệt Pháp Tâm«, Harlvarman nói rõ
về quan điểm «Nhân-pháp đều là không«. Quan điểm này
có lẽ là được kế thừa từ học thuyết «Quá, vị về
thể hiện tại hữu thể« của Kinh Lượng bộ (Sautràntika).
(4) Trí Quang (Jnànaprabha),
đệ tử của Thanh Biện theo dòng triết «Thật tướng luận«
của Long Thọ tại chùa Nalanda. Ngài là bậc tinh thông Tam tạng
của Ðại thừa và Tiểu thừa, nên tổng hợp lại giáo lý
và lần đầu tiên lập ra hệ thống Phán giáo gồm 3 hạng:
a- «Tâm cảnh câu hữu giáo«, b- «Tâm hữu cảnh không giáo«,
c- Tâm cảnh câu không giới«. Theo đó, Tiểu thừa Phật giáo
thuộc «Tâm cảnh câu hữu giáo«; giáo nghĩa của Vô Trước
và Thế Thân thuộc «Tâm hữu cảnh không giới«; và giáo
nghĩa của Long Thọ thuộc về «Tâm cảnh câu không giáo«.
Giới Hiền (Siladhadra),
đệ tử của Hộ Pháp, nước Samatata, Trung Êẽn. Ngài học
Duy thức với ngài Hộ Pháp tại Nalanda, khi Huyền Trang sang
Êẽn vào niên hiệu Chính Quán, năm thứ 16, đời Ðường
(636 TL). Huyền Trang đã thọ giáo với ngài Giới Hiền tại
Phật viện Nalanda, lúc đó, ngài Giới Hiền đã 106 tuổi.
Vì ngài Giới Hiền là luận sư xiển dương Duy thức học,
nên để đối ứng lại Phán giáo của ngài Trí Quang, Giới
Hiền lập ra ba thời giáo khác, gồm: «Hữu giáo«, «Không
giáo« và «Trung giáo«. Hữu giáo là giáo nghĩa của Tiểu
thừa, Không giáo là giáo nghĩa của Long Thọ, và Trung giáo
là giáo nghĩa của Vô Trước và Thế Thân. Trung giáo là ngôi
vị cao nhất trong ba thời giáo.
(5) Nhà Ðông Tấn
suy vong, các vương hầu kế tiếp nổi dậy, ở phương Nam
có các triều Lương, Tề, Tống, Trần; ở phương Bắc, nhà
Ngụy thống nhất Ngũ Hồ và lập thành Ðông Ngụy và Tây
Ngụy, kế Ðông Ngụy là Bắc Tề, kế Tây Ngụy là Bắc Chu;
về sau, nhà Tùy thống nhất Nam Bắc, Nam triều ủng hộ Phật
giáo, Bắc triều ủng hộ Ðạo giáo. Cho đến thời Võ đế-Bắc
Chu và Thái Võ đế-Ngụy, Phật giáo rơi vào suy vong (xem Tôn
giáo tỷ giảo - Thích Thánh Nghiêm).
(6) Trí Khải là
tác giả của nhiều kinh sớ, và 3 tác phẩm: a- Ma ha chỉ quán
- 209, Pháp Hoa huyền nghĩa - 109, và c- Pháp Hoa văn cú - 209,
là 3 bộ chính yếu của Thiên thai tông.
- Nguồn gốc truyền
thừa: Long Thọ-Bắc Tề Huệ Văn - Nam Nhạc Huệ Tư _ Thiên
Thai Trí Khải - Chương An quán đảnh - Tấn Văn Trí Oai - Tả
Khê Huyền Lăng - Kinh Khê Trạm Nhiên - Hưng Ðạo Ðạo Thúy
- Chí Hành Quảng Tu - Chỉ Ðịnh vật ngoại - Diệu thuyết
Nguyên Tú - Cao Luận Thanh.
(7) Sự truyền
thừa của Hoa Nghiêm tông như sau: Bồ tát Mã Minh - Long Thọ
_ Ðỗ Thuận - Trí Nghiễm - Pháp Tạng (Hiền Thủ) - Thanh Lương
- Tông Mật...
Dưới tay Pháp
Tạng có 6 đồ đệ ưu tú, gọi là Lục triết: Trí Quang,
Tông Nhất, Huệ Uyển, Huệ Anh, Hoằng Quán và Văn Siêu.
(8) Tục đế (Samvrtti-satya)
là chân lý của người còn vô minh, nó còn được gọi là
chân lý công ước, nó khác biệt với Chân đế (Paramàrtha-satya)
- tức chân lý tuyệt đối - là cảnh giới hiện quán của
chư Phật. Hai chân lý này, khi ứng dụng khéo léo, được
gọi là «Nhị đế viên dung« - như qua bên kia bờ thì phải
dùng thuyền, con thuyền là Tục đế (mang ý nghĩa phương tiện),
và bờ bên kia là Chân đế (mang ý nghĩa cứu cánh).
Câu hỏi hướng
dẫn ôn tập
1- Trình bày
sơ lược học thuyết Phân kỳ tư tưởng Phật giáo theo quan
điểm của T.H. Stcherbatsky.
2- Tóm tắt
những điểm cơ bản trong tổ chức hệ thống Phán giáo của
Phật học Trung Hoa.