Phần I
- Bài 1
Lịch
sử Phật giáo
Tổng
quan về lịch sử Phật giáo Việt Nam
Thích Tâm Hải
A- Dẫn nhập
Phật
giáo từ Ấn Ðộ du nhập Việt Nam đã trên hai ngàn năm. Ngay
từ rất sớm, Phật giáo đã được tiếp nhận và trở thành
một tư tưởng chủ đạo trong nền văn hóa dân tộc, dĩ nhiên
là sau khi đã bản địa hóa Phật giáo. Suốt hơn hai ngàn
năm lịch sử, Phật giáo luôn đồng cam cộng khổ với vận
mệnh thăng trầm của xứ sở, trong công cuộc chống ngoại
xâm cũng như sự nghiệp dựng nước, mở mang bờ cõi, đánh
bạt âm mưu xâm lăng và nô dịch về văn hóa của thế lực
phương Bắc trong nhiều giai đoạn. Do vậy, lịch sử Phật
giáo Việt Nam phải được trình bày như thế nào để phản
ánh được sự thật sinh động và mối quan hệ mật thiết
đó? Ðây là một vấn đề không đơn giản, bởi những khó
khăn nhất định, đặc biệt là về tư liệu, mà chúng ta
gặp phải.
Với khuôn khổ
của bài giới thiệu tổng quan về lịch sử Phật giáo Việt
Nam, đối tượng là học viên trong chương trình Phật học
hàm thụ năm thứ ba, chúng tôi không thể trình bày các vấn
đề một cách tường tận, đặc biệt là các dữ kiện và
quan điểm lịch sử mới. Nếu muốn tìm hiểu một cách kỹ
lưỡng hơn, thì xin tham khảo các sách và tài liệu chúng tôi
sẽ giới thiệu trong phần cuối bài cũng như trong các phần
trích dẫn.
Vả lại, nghiên
cứu lịch sử là một địa hạt luôn sôi động với các
phát hiện mới, hoặc có thể là bổ sung hoặc có thể làm
thay đổi các quan điểm cũ. Và trong những thập niên gần
đây, lĩnh vực này đã được sự quan tâm lớn của giới
làm công tác nghiên cứu văn hóa, lịch sử nước nhà (1),
đáng chú ý hơn cả là công trình Lịch sử Phật giáo Việt
Nam của tác giả Lê Mạnh Thát vừa mới xuất bản (2).
Với tinh thần đó, những gì được giới thiệu ở đây cũng
vậy, chúng tôi cố gắng cập nhật những phát hiện và quan
điểm mới về lịch sử Phật giáo dân tộc để góp phần
giúp học viên có những kiến thức cơ bản về truyền thống
và bản sắc của dân tộc nói chung và Phật giáo Việt Nam
nói riêng. Từ đó làm cơ sở để tìm hiểu và góp phần
hiểu thêm, hiểu chính xác hơn về nền Phật học Việt Nam.
Nội dung của
phần Tổng quan về lịch sử Phật giáo Việt Nam này
trình bày qua năm thời đại, chia thành 3 bài. Bài 1 là Phật
giáo từ thời du nhập đến sự ra đời của Nhà nước độc
lập Vạn Xuân thế kỷ thứ VI. Bài 2 là Phật giáo từ Nhà
nước Vạn Xuân của Lý Nam Ðế đến thời Trần Nhân Tông.
Bài 3 là giai đoạn Phật giáo từ thời ngài Trần Nhân Tông
đến cận đại.
Bài 1
Phật
giáo Việt Nam từ Du nhập đến thời Lý Nam Ðế với sự
ra đời của Nhà nước độc lập Vạn Xuân
Thích Tâm Hải
Một
quan niệm thông thường khi nói về Phật giáo giai đoạn này
là không ít người cho rằng tư liệu nghiên cứu hiện quá
ít, nếu không nói là nghèo nàn hay thậm chí có thời kỳ
không có. Nói khác đi, vô hình trung đánh giá Phật giáo giai
đoạn này là không phát triển, gán lý do cho hoàn cảnh xã
hội, nói thẳng ra là vì đất nước ta bị ngoại bang [phương
Bắc] đô hộ. Tuy nhiên, dẫu cho ở hoàn cảnh nào, lúc đất
nước độc lập cũng như khi bị xâm lăng, sau khi hòa nhập
với văn hóa bản địa, Phật giáo vẫn có mặt trong sức
sống của nền văn hóa, trong cuộc đấu tranh bền bỉ và
mãnh liệt chống lại âm mưu nô dịch của của ngoại xâm,
để tồn tại và góp phần làm nên một tính cách bất khuất
của dân tộc mà chúng ta hằng tự hào, và thành quả cụ
thể của nó là sự ra đời của Nhà nước độc lập Vạn
Xuân với sự kiện xưng đế của Lý Bôn vào năm 544. Những
dữ kiện lịch sử mới trong sách Lịch sử Phật giáo Việt
Nam của tác giả Lê Mạnh Thát đã phần nào cho thấy điều
đó. Thừa kế những thành quả của các nhà nghiên cứu, các
công trình hiện có, chúng tôi cố gắng trình bày được phần
nào tinh thần trên. Nhưng trước hết, chúng ta đi vào tìm
hiểu những điểm cơ bản về vấn đề con đường du nhập
của Phật giáo vào nước ta, niên đại và trung tâm Phật
giáo đầu tiên, sau đó sẽ lần lượt tìm hiểu các vấn
đề khác để có thể hình dung và đánh giá sơ bộ tình hình
Phật giáo ở nước ta trong giai đoạn phát triển đầu.
I. Con đường
và Niên đại Du Nhập
Vị trí địa
lý của nước ta nằm ở bán đảo Ðông Dương, trên con đường
giao thông đường bộ cũng như đường thủy giữa hai lục
địa, nơi sản sinh những nền văn minh lớn của loài người
là Ấn Ðộ và Trung Quốc. Do đó, từ rất sớm, qua con đường
buôn bán, các nền văn hóa của hai chiếc nôi văn minh này
đã đi theo các đoàn thương nhân đến với nước ta, trong
đó có Phật giáo.
Theo Thiền uyển
tập anh (3), một bộ sách quan trọng về các vấn đề
lịch sử, tư tưởng, văn học của Phật giáo Việt Nam nói
riêng và của dân tộc nói chung, thì Phật giáo được truyền
vào nước ta trực tiếp từ Ấn Ðộ, trước cả Trung Quốc.
Trong tiểu sử Thiền sư Thông Biện (? -1134), một vị Quốc
sư ở đời Lý, có chép cuộc đối thoại giữa Ngài và Hoàng
thái hậu Ỷ Lan về nguồn gốc của Phật giáo Việt Nam, trả
lời của vị Quốc sư này, đoạn dẫn những ghi nhận của
Pháp sư Ðàm Thiên (542-607) trình với vua [Trung Quốc] Tùy Cao
Tổ, có chi tiết: «Một phương Giao Châu, đường thông Thiên
Trúc, Phật pháp lúc mới tới, thì Giang Ðông chưa có, mà
Luy Lâu lại dựng chùa hơn hai mươi ngôi, độ Tăng hơn năm
trăm người, kinh dịch mười lăm quyển...« (4). Như vậy,
Phật giáo được du nhập nước ta (thời bấy giờ là Giao
Châu) trực tiếp từ Ấn Ðộ, nhưng chính xác vào năm nào
thì chưa thấy ai khẳng định. Tuy nhiên, điều chắc chắn
là vào khoảng thế kỷ thứ II dương lịch (từ đây trở
đi viết tắt là dl), Phật giáo đã trở nên thịnh hành ở
nước ta với một cơ sở mạnh mẽ thể hiện qua hệ thống
những cứ liệu về số lượng Tăng sĩ, chùa chiền, thành
quả của công tác dịch thuật kinh điển, v.v... tại trung
tâm Luy Lâu. Với tình hình phát triển vào nửa cuối thế
kỷ thứ II như vậy, dứt khoát nó phải được hình thành
trên cơ sở ban đầu khá lâu.
Nếu liên kết
với những sự kiện khác, như là truyền thuyết Chử Ðồng
Tử học đạo với nhà sư Phật Quang; sự kiện Bát Nàn phu
nhân, một nữ tướng của Hai Bà Trưng, xuất gia sau cuộc
kháng chiến vệ quốc thất bại năm 43 dl; và, những xác nhận
về tín ngưỡng của người Việt mà Dương Phù đã ghi lại,
rằng khoảng 100 năm sdl dân chúng tại nước ta có trồng một
loài hoa [uất kim hương] dùng để cúng Phật; v.v...Một hiện
trạng Phật giáo sinh động như thế chắc chắn phải là kết
quả của một quá trình đâm chồi nẩy lộc trước đó khá
lâu trên mảnh đất này. Như vậy, Phật giáo đã có mặt
ngay tại nước ta từ những năm đầu của kỷ nguyên dl, nếu
không nói là sớm hơn. Cũng có quan điểm cho rằng, Phật giáo
truyền vào nước ta có thể là vào thời vua A Dục (Asoka)
ở thế kỷ III trước dương lịch (từ đây trở đi viết
tắt là tdl) với sự hiện diện của đoàn truyền giáo do
Sona dẫn đầu; nhưng đây mới chỉ là giả thuyết, điều
này cần được xác minh bằng các cuộc khảo cổ tại một
số địa điểm nghi vấn là có khả năng còn các chứng cứ
lịch sử quan trọng ở khu vực chùa Nê Lê (Tam Ðảo), núi
Quỳnh Viên (Cửa Sót, Hà Tĩnh)...
Vậy, về con đường
du nhập, các nghiên cứu mới đây cho biết rằng, Phật giáo
từ Ấn Ðộ du nhập nước ta chủ yếu theo đường biển,
một phần khác là theo đường bộ, con đường mà các nhà
sử học thường gọi là «Con đường Tơ lụa«. Vào những
năm đầu của kỷ nguyên dl, Phật giáo đã phát triển trên
đất nước ta với tư cách là một trong những hệ thống
tín ngưỡng, tôn giáo phổ biến trong quần chúng nhân dân,
qua các dữ kiện đã nêu trên.
II. Trung tâm
Phật giáo Luy Lâu
Về sự hiện
diện của trung tâm Luy Lâu trên đất nước ra (thuở đó là
Giao Châu) nay đã được giới nghiên cứu sử học khẳng định
rõ ràng. Ðây là một trung tâm Phật giáo hình thành sớm nhất
trong khu vực, trước cả các trung tâm của Trung Quốc như
Bành Thành hay Lạc Dương. Tuy nhiên, nó được hình thành từ
lúc nào thì vẫn chưa thể xác định. Những sử liệu còn
lại chỉ cho chúng ta biết chính xác về tình hình của trung
tâm ở nửa cuối thế kỷ II dl, khi mà Luy Lâu đã là một
trung tâm Phật giáo hoàn chỉnh với số lượng khoảng 500
Tăng sĩ, xây dựng 20 chùa và dịch được 15 bộ kinh (5). Với
những con số như thế cho phép chúng ta hình dung về tình hình
hoạt động khá sôi động của Phật giáo ngay từ những thế
kỷ đầu du nhập và phát triển trên đất Việt, và chắc
chắn nó phải được hình thành từ trước đó khá xa.
Luy Lâu được
Quốc sư đời Lý là Thông Biện nhắc đến trong sách Thiền
uyển tập anh, qua sự dẫn lại lời của sư Ðàm Thiên
tâu với một ông vua nhà Tùy là dữ liệu ít ỏi trực tiếp
cho biết về Luy Lâu mà chúng ta có được. Ngoài những lời
trên, Quốc sư Thông Biện không cho chúng ta biết thêm điều
gì cụ thể hơn về tên của 20 ngôi chùa, (việc độ) 500
vị Tăng sĩ và tên của 15 bộ kinh đã được dịch. Nhưng
điều đáng nói là, việc một trung tâm Phật giáo ở nơi
bị đô hộ được nhắc đến trong lời của một vị pháp
sư Trung Quốc là Ðàm Thiên nói với vua Tùy là Tùy Cao Tổ
như thế là một minh chứng về tình hình phát triển rầm
rộ của Phật giáo tại nước ta ở thời điểm đó. Ðiều
này thể hiện rõ hơn trong phần sau mà chúng ta sẽ tìm hiểu,
qua những thành quả cụ thể của nền giáo dục Phật giáo,
mà tài năng của các gương mặt Tăng sĩ, Phật tử là minh
chứng tiêu biểu và thuyết phục.
Với sự ra đời
của Trung tâm Luy Lâu, Phật giáo Việt Nam được xem là một
trong những trung tâm Phật giáo lớn và hình thành sớm nhất
tại vùng Viễn Ðông.
III. Tình
hình Phật giáo trong giai đoạn đầu du nhập
1. Người Phật
tử Việt Nam đầu tiên
Trong sách Lịch
sử Phật giáo Việt Nam tập 1, bằng cách chứng minh qua
truyền thuyết Chử Ðồng Tử, về niên đại xuất hiện và
giá trị lịch sử của nó, tác giả Lê Mạnh Thát cho rằng,
Chử Ðồng Tử là người Phật tử Việt Nam đầu tiên liên
hệ và học Phật pháp trực tiếp qua người thầy Ấn Ðộ
là nhà sư Phật Quang tại núi Quỳnh Viên (Cửa Sót, Hà Tĩnh
ngày nay). Niên đại của Chử Ðồng Tử cũng được tác giả
xác lập là có thể khoảng vào thời Hùng Nghị Vương thứ
nhất hoặc thứ hai, tức khoảng thế kỷ II-III tdl (6). Nếu
xem Chử Ðồng Tử và Tiên Dung là những người Phật tử
Việt Nam đầu tiên hiện biết được tên tuổi có nghĩa là
xác định được sự hiện diện của Phật giáo trên nước
ta là vào thế kỷ thứ II-III tdl.
2. Tiến trình
tiếp thu và bản địa hóa Phật giáo
Một vấn đề
cần được nhắc đến đầu tiên là trước khi Phật giáo
du nhập nước ta, tại đây đã có một nền văn hóa phong
phú. Căn bản của nền văn hóa này xây dựng trên cơ sở
của nền văn minh nông nghiệp với các thành tựu rực rỡ,
mà cụ thể là ngoài những chứng tích của các nền văn minh
còn lại, như vào thời Hai Bà Trưng, tại nước ta đã có
bộ Việt luật, trong đó hơn 10 điều khác với Hán
luật (7), những dấu tích về ngôn ngữ Việt qua bài Việt
ca còn sót lại trong thư tịch cổ Trung Quốc (8), có hệ
thống lịch pháp riêng, hoàn toàn khác với lịch pháp phương
Bắc (9), những tín ngưỡng đặc thù cổ xưa còn lưu lại
trong tín ngưỡng Phật điện đến tận ngày nay, và đặc
biệt là nền văn hóa này có sức mạnh tiếp thu và đã chủ
động bản địa hóa Phật giáo, một yếu tố văn hóa nước
ngoài, để phù hợp với nó; và hơn thế nữa, biến nó trở
thành một trong những vũ khí sắc bén và uy vũ đối kháng
âm mưu đồng hóa và nô dịch về văn hóa của phương Bắc
ngay từ những ngày đầu.
a. Tư tưởng
Phật giáo tại nước ta trong buổi đầu
Tư tưởng Phật
giáo được truyền bá đến nước ta trong buổi đầu là gì?
Giáo lý mà ông cha ta tiếp nhận đầu tiên, ít ra là vào thời
điểm xưa nhất mà chúng ta biết được, là theo hệ thống
giáo lý nào? Theo học giả Lê Mạnh Thát, đó là tư tưởng
Phật giáo có tính chất quyền năng. Nghĩa là quan niệm cơ
bản như Phật là con người siêu nhiên, có khả năng làm tất
cả những điều ngoài óc tưởng tượng bình thường của
con người, như có thể biến hóa khôn cùng, có thể làm mọi
điều theo ý muốn, v.v...
b. Sự ra đời
của tín ngưỡng Phật Pháp Vân, một sự hòa nhập bước
đầu giữa Phật giáo và văn hóa bản địa, hay chính là bước
Việt hóa Phật giáo và Phật giáo hóa văn hóa bản địa đầu
tiên
Như đã nói, trước
khi Phật giáo đến nước ta, tại đây đã có một nền văn
hóa phát triển rực rỡ với hệ thống các quan niệm đặc
thù trong đời sống văn hóa tinh thần, trong đó có tín ngưỡng
sùng bái các vị thần biểu tượng cho các yếu tố tự nhiên
có ý nghĩa sống còn đối với một nền văn minh nông nghiệp
là thần mây, thần mưa, thần sấm, thần sét. Là một triết
lý phóng khoáng, không câu nệ giáo điều và cố chấp hay
chủ trương loại trừ các tín lý ngoài tôn giáo mình, Phật
giáo đến nước ta, theo các thương nhân Phật tử và Tăng
sĩ Ấn Ðộ trong thời gian lưu trú tạm thời để buôn bán,
trao đổi hàng hóa, đã sớm ảnh hưởng vào lối sống của
người dân bản địa, và rồi được nhân dân ta từng bước
chấp nhận bởi sự gần gũi của nó, đặc biệt là trong
tín ngưỡng, đời sống của người Phật tử tại gia.
Nước ta vào khoảng
thế kỷ thứ II có thể nói là có một nền kinh tế khá mạnh,
có chính sách mở cửa đón và đã thu hút nhiều nước khác
đến giao dịch buôn bán, trong đó có các đoàn thương nhân
Ấn Ðộ, và trong số họ có người là Phật tử thọ trì
năm giới cũng như có sự hiện diện các Tăng sĩ đi theo đoàn
để cầu nguyện trong những chuyến vượt biển đầy hiểm
nguy. Họ đã đến dù không phải vì mục đích truyền đạo,
nhưng sự có mặt của họ, thông qua sinh hoạt tín ngưỡng
của người Phật tử hàng ngày, đã ảnh hưởng đến đời
sống văn hóa tinh thần của nhân dân ta.
Nếu nói Chử
Ðồng Tử là người Phật tử đầu tiên mà chúng ta biết
được hiện nay, thì đạo Phật mà Chử Ðồng Tử và Tiên
Dung tiếp nhận từ nhà sư Phật Quang còn mang nặng tính chất
Ấn Ðộ, đến những người Phật tử Việt Nam tiếp sau,
như Man Nương (người trở thành Phật Mẫu trong tín ngưỡng
của Phật giáo Việt Nam sau này, được thờ tại chùa Phúc
Nghiêm, làng Mãn Xá, gần Luy Lâu), đặc biệt là sự ra đời
của tín ngưỡng Phật điện (Tứ pháp) mà tiêu biểu là Phật
Pháp Vân, đã thể hiện sự hòa nhập của Phật giáo vào
văn hóa vốn có của bản địa. Nói khác đi là nó phản ảnh
một quá trình bản địa hóa Phật giáo, và ngược lại, Phật
giáo hóa tín ngưỡng (văn hóa) bản địa một cách hòa bình
và tự nhiên. Các vị thần mà cư dân nông nghiệp nước ta
thờ tự như thần mây, thần mưa, thần sấm và thần sét
được Phật hóa, trở thành Phật Pháp Vân, Phật PhápVũ,
Phật Pháp Lôi, và Phật Pháp Ðiện. Qua sự kiện này, chúng
ta khẳng định rằng Phật giáo ngay từ ban đầu không hề
có sự chống đối với nền văn hóa bản địa, và nền văn
hóa bản địa cũng không có dấu hiệu gì phản kháng với
hệ thống triết lý này.
IV. Những
gương mặt tiêu biểu và tình hình Phật giáo từ thế kỷ
II đến thế kỷ VI
Sau Chử Ðồng
Tử và Tiên Dung, hai gương mặt được xem là những Phật
tử Việt Nam đầu tiên mà hiện nay chúng ta biết được,
có nhiều gương mặt hoặc là Tăng sĩ bản địa, hoặc từ
nước ngoài đến như Khâu Ðà La và Ma Ha Kỳ Vực (đến nước
ta vào cuối thế kỷ thứ II), hay các «sĩ nhân Trung Quốc
đến tỵ nạn«, có các nhân vật được sử sách nhắc nhiều
như Tu Ðịnh, Man Nương (sống khoảng 175-255)...đã sinh sống
hoặc đến ở nước ta một thời gian và đã chịu những
ảnh hưởng nhất định; trong đó có những Phật tử, cao
tăng như Mâu Tử, Khương Tăng Hội, Ðạo Thanh, Huệ Thắng,
Ðạo Thiền... tiếng tăm không những vang trong nước mà còn
vọng đến kinh đô của kẻ đô hộ và họ là thành quả
được đào tạo hay ít ra là chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi
môi trường văn hóa dân tộc và Phật giáo Việt Nam, có người
đã «chống gậy Ðông du« sang truyền đạo ở xứ người,
để lại tiếng thơm muôn thuở. Chúng tôi sẽ điểm vài gương
mặt tiêu biểu ở giai đoạn này mà sử liệu hiện nay đã
xác định.
1. Mâu Tử,
người đầu tiên dùng Phật giáo làm cơ sở để đánh tan
luận điệu tự tôn dân tộc của dân tộc Hán
a. Ðôi nét
về con người Mâu Tử
Tên tuổi của
Mâu Tử gắn liền với tác phẩm nổi tiếng Lý hoặc luận
(10). Mâu Tử tên Dung, tự Tử Bác, nên có nơi gọi là Mâu
Bác, người Việt, có thời gian sống ở Thương Ngô, niên
đại khoảng 198-230 (11). Mâu Tử là người đọc rộng biết
nhiều, thông kinh làu sử, được đánh giá là một trong những
nhân tài nổi bật đương thời: «văn võ kiêm bị, có tài
chuyên đối«. Gặp lúc Thương Ngô loạn lạc, ông đem mẹ
trở về nước ta (Giao Chỉ) rồi trở thành Phật tử. Năm
26 tuổi, ông trở sang Thương Ngô để cưới vợ rồi về
lại Việt Nam. Khoảng mười năm sau đó thì mẹ mất, ông
dốc lòng vào đạo. Khi Mâu Tử về Giao Chỉ thì nước ta
đang trong thời kỳ độc lập về chính trị với chính quyền
do Chu Phù và Sĩ Nhiếp (12) lãnh đạo. Dù được cử đi đô
hộ, là ngoại tộc, nhưng khi đến nước ta, có người đã
bị Việt hóa và Phật giáo hóa, mà Chu Phù và Sĩ Nhiếp là
hai điển hình. Chính quyền của Chu Phù và Sĩ Nhiếp là những
chính quyền độc lập không lệ thuộc văn hóa Hán, «vứt
thánh điển của tiền thánh, bỏ pháp luật của Hán gia«
để theo một quy cách mới, được xây dựng trên cơ sở của
một nền văn hóa mới vừa Việt Nam vừa Phật giáo. Phật
giáo nước ta thời bấy giờ do thế đã phát triển rực rỡ
lắm rồi. Ðiều này được xác nhận qua dữ liệu nói về
trung tâm Luy Lâu đã nêu trước và qua những quan điểm của
Mâu Tử trong tác phẩm của ông. Ðó là bối cảnh đã sản
sinh những anh tài cho đất nước như Mâu Tử và là động
lực để ông viết nên tác phẩm Lý hoặc luận bất
hủ. Là người tài giỏi, nhưng ông không thích ra làm quan,
đã từ chối nhiều lời mời của các đại diện chính quyền
trong thời gian ông sống ở Giao Chỉ như Chu Phù và Sĩ Nhiếp,
cũng như lúc về Thương Ngô.
Ðiều này sẽ
được làm sáng tỏ hơn trong những quan điểm của Mâu Tử
ở tác phẩm Lý hoặc luận, ở chí khí tự tín và tư
tưởng đối kháng đã đánh tan luận điệu tự tôn dân tộc
và khinh miệt các dân tộc khác của Trung Quốc vào thời bấy
giờ.
b. Vài nét về
nội dung sách «Lý hoặc luận«
Lý hoặc luận
được Mâu Tử viết năm 198, nội dung các vấn đề được
triển khai dưới hình thức những câu hỏi và trả lời, tất
cả có 37 điều. Khảo sát nội dung của 37 điều này, học
giả Lê Mạnh Thát chia nó thành 3 nhóm chính. Nhóm 1 trình bày
tổng quát về Phật giáo (điều 1 đến điều 3). Nhóm 2 tập
trung bàn về những mối quan hệ giữa Phật giáo và Nho giáo
(điều 4 đến điều 28). Nhóm 3 tập trung phê phán Ðạo giáo
(điều 29 đến điều 37). Bằng những thủ pháp trình bày
vấn đề tài tình, thuyết phục và có hệ thống, tác giả
của Lý hoặc luận đã không những đề cao giá trị
của đạo Phật (dĩ nhiên là đạo Phật mà Mâu Tử đã tiếp
thu được ở Giao Chỉ), mà với những nhận xét tinh tế,
nhất là về Nho giáo, ông đã phê phán các quan điểm sai lầm
và cứng nhắc của nó một cách kịch liệt. Ðiểm nổi bật
của Lý hoặc luận là ở chỗ, qua sự bài Nho và Lão
giáo, đề cao Phật giáo, Mâu Tử đã đánh tan luận điệu
tự tôn dân tộc và thái độ khinh bạc các dân tộc khác
của Trung Quốc. ơâng đã khẳng khái tuyên bố, rằng «Thi
Thư chưa phải là lời thánh hiền«, «đất Hán chưa hẳn
là trung tâm của trời đất«, đây là đòn chí mạng đánh
vào óc tự tôn và hẹp hòi của văn hóa Hán lúc bấy giờ
cũng như cả sau này. Giá trị cơ bản của tác phẩm Lý
hoặc luận là gì? Theo học giả Lê Mạnh Thát, «trong bối
cảnh văn hóa Việt Nam thời Mâu Tử, Lý hoặc luận
không phải viết để xiển dương Phật giáo, mà là cuộc
tổng kết cuộc đấu tranh về văn hóa, giữa văn hóa Việt
Nam đối với văn hóa phương Bắc, mà chủ yếu là Phật giáo
đối với Nho giáo...« (13). Bối cảnh văn hóa thời Mâu Tử
là như thế nào? Ðấy là lúc đất nước ta bị Bắc thuộc.
Chính quyền đô hộ sử dụng chính sách «đức giáo« để
cai trị, nhưng thực chất là áp đặt văn hóa Hán để âm
mưu đồng hóa dân tộc ta. Họ đem Kinh Thi, Kinh Thư ra dạy
cho người Việt, và tuyên truyền tư tưởng độc tôn «đất
Hán là trung tâm của trời đất«. Trong Lý hoặc luận,
Mâu Tử đã phân tích vạch trần những điều man trá đó
một cách hùng hồn. Qua những phê phán về Nho giáo và Lão
giáo, ông đã cho thấy rằng hai hệ tư tưởng này không có
quan hệ với Phật giáo và văn hóa Việt Nam. Lập trường
đối thoại của Mâu Tử được thiết lập trên nền tảng
của ý thức văn hóa dân tộc Việt Nam và văn hóa Phật giáo,
một nền văn hóa không bảo thủ và luôn cởi mở, được
nhân dân ta tiếp nhận và nhanh chóng được vận dụng làm
vũ khí sắc bén chống lại âm mưu đồng hóa và nô dịch
văn hóa của nhà nước Trung Quốc, cụ thể là qua tư tưởng
của Lý hoặc luận mà chúng ta biết được cho đến
tận hôm nay. Xu hướng này luôn được thể hiện rõ qua các
thời kỳ lịch sử, trước những yêu cầu của thời đại,
trong giai đoạn xây dựng nền độc lập tự chủ của dân
tộc cũng như trong công cuộc bảo vệ đất nước của nhân
dân ta.
Những tư liệu
về văn hóa và lịch sử của dân tộc ta trước thế kỷ
XV hiện có rất ít, các tác phẩm sớm hơn càng hiếm hoi do
bị thất lạc hoặc bị kẻ thù thủ tiêu ở các giai đoạn
nước ta bị phương Bắc xâm lăng và đô hộ. Do đó, Lý
hoặc luận của Mâu Tử là một trong những tư liệu rất
quý hiếm. Nó không những cho phép chúng ta truy về tình hình
văn hóa, học thuật, tư tưởng, chính trị của đất nước
ta ở thế kỷ II và III sdl, mà còn cho biết vị trí hết sức
quan trọng của Phật giáo trong nền văn hóa dân tộc, và tư
tưởng Phật giáo phổ biến của tổ tiên chúng ta thời bấy
giờ là tư tưởng Phật giáo mang tính quyền năng, thí dụ
quan niệm Ðức Phật có những năng lực siêu nhiên mà Mâu
Tử đã viết trong Lý hoặc luận: «Phật nghĩa là giác
ngộ, nhanh chóng biến hóa, phân thân tán thể, hoặc còn hoặc
mất, hay lớn hay nhỏ, hay tròn hay vuông, hay già hay trẻ, hay
ẩn hay rõ, đạp lửa không cháy, đi dao không đứt, gặp bẩn
không dơ, mắc tai không họa, muốn đi thì bay, ngồi thì tỏa
sáng...« (14). Và đồng thời thông qua đó, chúng ta biết được
tình hình phát triển rực rỡ của Phật giáo Việt Nam ở
thế kỷ thứ II và thứ III sdl, mà gương mặt người Phật
tử anh tài đại diện là Mâu Tử.
2. Khương Tăng
Hội, vị Tăng Việt Nam đầu tiên thành công rực rỡ trong
công tác khai hóa truyền bá Phật giáo ở nước ngoài (Trung
Quốc)
a. Vài nét về
con người Khương Tăng Hội
Khương Tăng Hội
là một nhân vật đặc biệt không những đối với Phật
giáo nước ta mà ngay cả đối với Phật giáo Trung Quốc,
bởi Ngài là người đầu tiên sau khi học đạo ở Việt Nam
đã mang những sở học và sở tu của mình sang truyền bá
ở Trung Quốc (nước Ngô), gây dựng một phong trào học Phật
ngay tại đó.
Ngài là người
gốc Khương Cư (Sogdiane), nhưng tổ tiên đã mấy đời di cư
đến Ấn Ðộ. Cha Ngài là một thương nhân, đến nước ta
(Giao Chỉ) sống để buôn bán và sinh Ngài tại đây. Năm sinh
của Ngài không rõ, nhưng khoảng những năm 200-220 sdl. Về
thân thế của mẹ Ngài thì không thấy sử liệu nào ghi chép,
nhiều nhà nghiên cứu giả thiết có thể là một người con
gái Việt Nam. Năm Ngài hơn 10 tuổi thì cha mẹ qua đời. Sau
khi chịu tang song thân, ngài xuất gia tu học, nổi bật là
người có tính siêng năng hết mực. Ðánh giá về con người
Khương Tăng Hội, Cao tăng truyện (15), một tác phẩm
quan trọng ghi chép tiểu sử các cao tăng Trung Quốc, viết:
«Là con người học rộng và nhã nhặn, có tầm hiểu biết,
dốc chí hiếu học, rõ hiểu ba tạng (16), xem khắp sáu kinh
(17), thiên văn đồ vỹ, phần lớn đều biết, giỏi việc
ăn nói, lanh việc viết văn« (18).
Khương Tăng Hội
sinh ra, xuất gia và thọ giới Tỳ kheo ở nước ta, được
thừa hưởng và trưởng thành trong môi trường văn hóa Việt
Nam và giáo dục Phật giáo Việt Nam, «một nền giáo dục
tổng hợp toàn diện«, «không chỉ giới hạn trong chức năng
truyền giáo, đào tạo ra những con người Phật giáo, mà trên
hết và trước hết là đào tạo ra những trí thức dân tộc
toàn diện có tính bách khoa am hiểu và lãnh hội được tinh
hoa dân tộc và nhân loại của thời đại mình, rồi trở
lại đóng góp bằng những thành quả của mình cho kho tàng
hiểu biết của loài người« (19). Bởi vậy, không ngạc nhiên
gì khi các nhà viết sử Trung Quốc đã nhận định về ngài
Khương Tăng Hội như đã trích dẫn ở trên.
Sau khi được
đào tạo trong môi trường giáo dục như thế, Khương Tăng
Hội lên đường vân du hóa đạo. Năm Xích Ô thứ mười theo
lịch phương Bắc, tức năm 247 dl, Ngài đến Kiến Nghiệp,
thủ đô của nước Ngô (nay là Nam Kinh, Trung Quốc) để hoằng
pháp. Ngài đã hành đạo trên đất nước này khoảng 33 năm,
thuyết phục vua Ngô là Tôn Quyền dựng chùa Kiến Sơ, một
ngôi chùa đầu tiên tại đây, rồi quy y năm giới cho Tôn
Hạo (ở ngôi 264-280), và dịch thuật, chú giải nhiều kinh
điển. Ngài mất vào tháng Chín năm 280 (năm Thiên Kỷ thứ
tư), không biết chính xác thọ bao nhiêu tuổi, nhưng theo học
giả Lê Mạnh Thát thì chắc chắn phải ngoài sáu mươi, nếu
chấp nhận giả thiết Ngài sinh vào khoảng những năm 200-220
dl (20). Khương Tăng Hội là vị Tăng Việt Nam đầu tiên hiện
biết được đã thành công rực rỡ trong công tác hoằng pháp
và đã để lại dấu ấn lớn trong lịch sử Phật giáo không
những của nước ta mà của cả Trung Quốc.
b. Vài nét về
sự nghiệp hoằng pháp của ngài Khương Tăng Hội và tình
hình Phật giáo Việt Nam thế kỷ thứ III
Sự nghiệp phiên
dịch và trước tác của ngài Khương Tăng Hội khá lớn, có
nơi nói tất cả gồm «14 bộ hợp thành 29 quyển« (21), những
nghiên cứu mới đây cho biết tác phẩm của Ngài gồm có
Lục
độ tập kinh, Ðạo phẩm, Tạp thí dụ kinh, An ban thủ ý
kinh chú, Pháp kính kinh chú, Ðạo thọ kinh chú, An ban thủ
ý kinh tự, Pháp kính kinh tự, Ðạo thọ kinh tự, nhưng
hiện đã bị mất phân nửa, chẳng hạn các tác phẩm
Ðạo
phẩm, Pháp kính kinh chú, Ðạo thọ kinh chú và
Ðạo
thọ kinh tưạ không còn. Tuy nhiên, qua những tác phẩm
còn lại trên là những tư liệu vô cùng quý giá, giúp chúng
ta nhận thức đúng hơn về lịch sử và đời sống văn hóa
của dân tộc nói chung, và tình hình của Phật giáo Việt
Nam sau thời của Mâu Tử, tức thế kỷ thứ III, nói riêng.
Khương Tăng Hội
là một thành quả cụ thể và sống động của nền giáo
dục dân tộc và giáo dục Phật giáo thời bấy giờ. Trong
con người vị Tăng này luôn âm ỉ ý thức về quê hương
là đất nướcViệt. Ðiều đó được Ngài thể hiện vào
các dịch phẩm của mình, bảo lưu những đặc trưng văn hóa
của nơi chôn nhau cắt rốn, đặc biệt là về truyền thuyết
Trăm trứng trong Lục độ tập kinh (22), hay những tình
cảm tha thiết mà Ngài bộc bạch trong bài tựa (tự) kinh An
ban thủ ý: «Hội tôi, sinh ra tới tuổi vác củi
thì cha mẹ đã qua đời. Các bậc tam sư cũng theo nhau khuất
núi, mỗi khi ngước nhìn đất trời không khỏi cảm thấy
xúc động, buồn thương rơi lệ...«. Ðó là những thông tin
hết sức quý giá cho chúng ta biết về lịch sử khởi nguyên
của dân tộc, về sức mạnh của nền văn hóa Việt Nam vào
giai đoạn những thế kỷ đầu kỷ nguyên dương lịch, mà
Phật giáo là nhân tố nuôi dưỡng và gìn giữ.
Qua con người
Khương Tăng Hội, một vị cao tăng xuất gia tu học trong môi
trường văn hóa dân tộc và Phật giáo Việt Nam, đã nói lên
điều gì về tình hình Phật giáo nước ta thời bấy giờ?
Về vấn đề này, học giả Lê Mạnh Thát nhận định: «Phật
giáo Việt Nam vào thời Khương Tăng Hội đã xây dựng thành
công một cơ cấu giáo dục khá hoàn chỉnh và đa dạng, bao
gồm toàn bộ tất cả các ngành tri thức có mặt ở thời
đó, mà không đóng khung vào một giới hạn chật hẹp nào.
Người ta không chỉ học ba tạng kinh điển, sáu kinh của
Nho giáo, mà còn học tới cả khoa sấm vỹ thiên văn, thậm
chí cả khoa ứng đối, và đặc biệt truyền thống dân tộc
Việt Nam. Nền giáo dục ấy, vì vậy, có thể nói là đại
diện cho nền giáo dục Việt Nam thế kỷ thứ II và thứ III
đối lập lại với nền giáo dục nô dịch Trung Quốc đang
tồn tại song song cùng nó. Nhờ thế, qua lịch sử nó đã
đào tạo ra những thiên tài đáp ứng được yêu cầu của
đất nước, và được tiếp nối cho đến ngày nay« (23).
Một nền giáo dục Phật giáo tự tin như thế chỉ có thể
tồn tại trong một môi trường đất nước có những độc
lập về văn hóa, và ở đó Phật giáo phát triển mạnh mẽ.
Dĩ nhiên, nền giáo dục này không thuần túy tôn giáo, mà
hòa quyện trong đó là một ý thức dân tộc sâu sắc. Con
người, sự nghiệp và tư tưởng của Khương Tăng Hội là
một thí dụ điển hình.
Ðến thế kỷ
thứ III, với Khương Tăng Hội và những hoạt động hoằng
pháp thành công của Ngài trên đất nước Trung Quốc, Phật
giáo Việt Nam đã phát triển rực rỡ và khẳng định một
bản lĩnh và sứ mệnh của Phật giáo đối với dân tộc
mà Mâu Tử trước đó đã vạch đường. Ðể đánh giá về
vị thế của con người này trong lịch sử Phật giáo Việt
Nam và lịch sử dân tộc, tác giả của Lịch sử Phật
giáo Việt Nam Lê Mạnh Thát đã viết, «...lần đầu tiên
Phật giáo nước ta đã thành công khi thực hiện nghĩa vụ
hoằng pháp của mình đối với thế giới và dân tộc ta,
đã khẳng định mạnh mẽ bản lĩnh văn hóa ưu việt của
mình qua việc Ðông du khai hóa của Khương Tăng Hội...« (24),
và « ...dân tộc ta thông qua và kết hợp chặt chẽ với Phật
giáo đã xây dựng xong bức tường thành văn hóa có khả năng
chận đứng mọi âm mưu xâm lược và đồng hóa của kẻ
thù, mà Khương Tăng Hội là một cột mốc trong bức tường
thành đó« (25). Ðấy cũng chính là điểm đáng chú ý của
Phật giáo nước ta ở thế kỷ thứ III. Con đường này được
tiếp nối sau đó với những gương mặt nổi bật hiện biết
được như các ngài Thích Huệ Thắng, Thích Ðạo Thiền, Ðại
Thừa Ðăng, v.v...
3. Ðôi nét
về nhà dịch thuật Thích Ðạo Thanh
Ngoài ngài Khương
Tăng Hội, thế kỷ thứ III còn có tên tuổi Tăng sĩ Việt
Nam cự phách khác hiện biết được là nhà dịch thuật Việt
Nam Ðạo Thanh (26) (sinh khoảng năm 220, mất năm 300), người
đã bút thọ cho bản dịch Pháp Hoa tam muội kinh (27)
của Chi Cương Lương Tiếp (28) dịch từ tiếng Phạn sang chữ
Hán, lưu hành tại nước ta khoảng sau năm 258. Qua ngài Ðạo
Thanh và mối liên hệ trong bản dịch kinh Pháp Hoa, chúng
ta biết thêm về Chi Cương Lương Tiếp, một nhà sư người
gốc Ấn Ðộ đếân ở và làm việc tại Việt Nam vào khoảng
những năm 256.
Ngài Ðạo Thanh
là người đã cộng tác với Chi Cương Lương Tiếp trong công
việc phiên dịch kinh điển, mà một trong những kết quả
hiện biết được là bút thọ bản dịch kinh Pháp Hoa
từ chữ Phạn sang chữ Hán. Việc phân trách nhiệm bút thọ
bản dịch kinh Pháp Hoa chứng tỏ rằng Ngài phải là
người có một trình độ Phật học vững vàng, có sự hiểu
biết chắc chắn không những về Phạn ngữ mà còn thông thạo
tiếng Việt và Hán văn. Ðây lại là một bằng chứng về
thành quả của nền giáo dục Phật giáo chất lượng và uy
tín tại nước ta ở giai đoạn bấy giờ; và việc các nhà
Phật học đến nước ta, cộng tác với các nhà sư Việt
Nam, cho biết nước ta là một trung tâm Phật giáo lớn trong
khu vực, đủ sức hấp dẫn để thu hút các nhà Phật học
từ các nơi khác hội tụ về, và các nền giáo dục Phật
giáo nước ta đã đào tạo nên những con người thực chất,
mà những đại biểu ưu tú là các ngài Mâu Tử, Khương Tăng
Hội, Ðạo Thanh...
Cũng qua việc
ngài Ðạo Thanh hợp tác với nhà sư nước ngoài là Chi Cương
Lương Tiếp dịch kinh Pháp Hoa tam muội, một bộ kinh
có sự liên hệ chặt chẽ với phương pháp thiền định an
ban do Khương Tăng Hội xiển dương trước đó; nói đúng hơn,
đây chính là cơ sởã lý luận vững vàng cho phương pháp
trên, cũng như là một trong những nền tảng để giải đáp
các thắc mắc nảy sinh trong quá trình đấu tranh để phát
triển của tư tưởng Phật giáo tại nước ta sau này.
4. Vu Pháp Lan
và Vu Ðạo Thúy, hai danh tăng của Phật giáo Trung Quốc đến
Việt Nam vào thế kỷ IV
Phật giáo thế
kỷ thứ IV thường bị hiểu một cách sai lệch, không ít
người cho rằng giai đoạn này Phật giáo nước ta không có
gì nổi bật, không có các gương mặt Phật tử và Tăng sĩ
tiếng tăm vang dội chẳng những ở trong nước mà còn cả
ở nước ngoài như trước. Ðó là một ngộ nhận hết sức
sai lầm. Vào thế kỷ thứ IV, Phật giáo Việt Nam vẫn là
một trung tâm Phật giáo lớn ở phương Ðông, vẫn thu hút
các danh nhân, cao tăng ngoài nước tụ hội về, mà trường
hợp các ngài Vu Pháp Lan (khoảng 270-320) và Vu Ðạo Thúy (khoảng
285-315), hai nhân vật cự phách trong học giới Phật giáo Trung
Quốc, vị Tăng Ấn Ðộ Kỳ Vực với nhiều khả năng linh
dị, đã đến hoặc ghé qua nước ta là những thí dụ điển
hình. Ðấy là chưa kể đến những gương mặt như Chí Hàm,
tác giả của Triệt tâm ký (sống ở nước ta khoảng
từ năm 300 đến 360), hay Hiền Pháp sư , người viết Minh
tường ký nổi tiếng, v.v...
Theo Cao tăng
truyện của Huệ Hạo, Vu Pháp Lan người Cao Dương, xuất
gia năm 15 tuổi, có tư chất thông minh khác thường, tu học
rất tinh tấn, đạo phong lẫy lừng núi sông, lại có tính
thích thưởng ngoạn phong thủy. Tương truyền, Ngài có nhiều
khả năng khác thường, ở chung với cọp mà không bị cọp
hại, lại có thể thuần hóa nó. Ðương thời, mặc dù được
mọi giới trọng vọng, nhưng tự thấy chưa thỏa mãn với
những gì đã tiếp thu, Ngài quyết định lên đường đi Ấn
Ðộ nhằm có thể tham cứu kinh điển Phật giáo một cách
đầy đủ hơn. Trên đường đi, Ngài đã dừng chân ở Giao
Châu, mắc bệnh rồi mất tại nước ta. Vu Pháp Lan có nhiều
học trò, nhưng nổi bật hơn cả là Vu Pháp Khai và Vu Ðạo
Thúy, hai nhà y dược tiếng tăm đồng thời là những nhà
Phật học lớn. Hai vị này là người đã chủ trương hai
trong bảy trường phái Bát nhã học của Trung Quốc (29).
Cũng Cao tăng
truyện cho biết, Vu Ðạo Thúy là người Ðôn Hoàng, cha
mẹ mất lúc tuổi còn nhỏ, ở với người chú, là người
có lòng hiếu nghĩa hết mực. Năm 16 tuổi xuất gia làm đệ
tử của ngài Vu Pháp Lan. Vu Ðạo Thúy là người có học nghiệp
cao minh, kiến thức rộng rãi, không chỉ uyên thâm Phật học
mà còn giỏi cả nghề y, nhân cách thì thanh cao giản dị,
tính cũng thích thưởng ngoạn phong cảnh núi non sông nước.
Người đời rất ngưỡng mộ tài năng và nhân cách của Ngài.
Ngài theo thầy là Vu Pháp Lan đi Ấn Ðộ, nhưng chưa đi hết
chuyến hành trình thì mất tại bình nguyên Bắc bộ của nước
ta.
Sự kiện hai nhân
vật Tăng sĩ tầm cỡ như thế chọn con đường phương Nam
để đi Ấn Ðộ và đã hiện diện ở Việt Nam vào thế kỷ
thứ IV (khoảng sau năm 307) dĩ nhiên không thể diễn ra trong
không khí im lặng, mà nhất định phải có những hoạt động
trao đổi về học thuật Phật giáo giữa họ với các cao
tăng, các học giả huyền học bản xứ. Và do đó, những
vấn đề quan trọng trong tư tưởng và triết học Phật giáo
như Bát nhã, Không, Phật, Tâm, v.v... có thể đã được đem
ra thảo luận một cách sôi nổi. Nhưng đáng tiếc là hiện
chúng ta chưa biết được gì nhiều. Hơn thế nữa, cũng có
khả năng hai nhân vật này đã ghé lại đây để tìm hiểu
thêm văn hóa và học ngôn ngữ để chuẩn bị cho việc đến
Thiên Trúc, bởi như đã nói, tại nước ta ở giai đoạn này
có không ít người Ấn Ðộ đến sinh sống và giao thương.
Về mặt tư tưởng, có một đặc điểm đáng chú ý là, học
phong của hai vị Tăng trên mặc dù thuộc trường phái Bát
nhã học, nhưng bản chất nó, đặc biệt là đối với ngài
Vu Pháp Lan, là tư tưởng Phật giáo mang tính quyền năng, biểu
hiện cụ thể qua việc hàng phục thú dữ, điều được quỷ
thần, mà tiểu truyện về Ngài trong Cao tăng truyện
đã chép. Ðây là điểm phù hợp với xu hướng chung của
Phật giáo Việt Nam, xu hướng Phật giáo quyền năng vốn có
trước đó mà Mâu Tử và Khương Tăng Hội đã từng quan niệm.
Và, chính điều này là điểm lôi cuốn người Phật tử Việt
Nam khi các Ngài sang nước ta, chứ không phải là học phong
Bát nhã học của họ.
Trước khi hai
thầy trò tiếng tăm lẫy lừng Vu Pháp Lan và Vu Ðạo Thúy
đến và mất tại nước ta, có một nhà sư Ấn Ðộ là Kỳ
Vực đã ghé ở. Trong thời gian lưu lại đất Việt, cũng
như hai nhân vật trên, hành tích của ngài Kỳ Vực không thấy
sử sách Trung Quốc ghi rõ, nhưng qua hành trạng của Ngài,
một người với những khả năng phi thường, có thể qua sông
mà không cần đò, xoa đầu cọp dữ, có thể biến hóa tùy
ý, biết được tiền kiếp của người khác...như một minh
chứng cho mẫu người giác ngộ mà Mâu Tử đã quan niệm trong
Lý
hoặc luận từ thế kỷ thứ II và Khương Tăng Hội tiếp
theo sau (thế kỷ thứ III) đã chỉ ra phương cách để đạt
đến mục tiêu đó là bằng pháp tu thiền định (an bang) gồm
bốn giai đoạn được viết trong bài tựa cho bản dịch An
bang thủ ý của Pháp sư An Thế Cao. Xu hướng Phật giáo
quyền năng đến thế kỷ IV lại càng được khẳng định,
bổ trợ qua sự hiện diện của những vị Tăng Ấn Ðộ và
Trung Quốc có khả năng linh dị, khác thường như các ngài
Kỳ Vực, Vu Pháp Lan, Vu Ðạo Thúy... mà chúng ta hiện biết
được.
Vậy, Phật giáo
ở nước ta vào thế kỷ thứ IV vẫn phát triển, nếu không
nói là phát triển rực rỡ trong các phạm trù Phật giáo do
các ngài Mâu Tử và Khương Tăng Hội thiết lập nên ở hơn
một trăm năm trước, đó là nền tư tưởng Phật giáo quyền
năng. Về mặt xã hội, Phật giáo Việt Nam vẫn là một trong
những trung tâm lớn được sự chú ý đặc biệt, là nơi
chọn dừng chân, hoặc đến ở tu học của nhiều danh tăng
nước ngoài, kể cả Ấn Ðộ và Trung Quốc; vẫn tồn tại
một nền giáo dục toàn diện, thành công trong công tác đào
tạo nhân tài cho Phật giáo và đất nước, như trường hợp
ngài Ðạo Thiền, mà kiến thức lẫn đạo phong vang dội ở
Trung Quốc, được mọi giới trí thức và bình dân đều trọng
vọng và kính ngưỡng.
5. Sự kiện
«sáu lá thư« trao đổi giữa hai vị Tăng Việt Nam là Ðạo
Cao và Pháp Minh với Lý Miễu, và cuộc đấu tranh tư tưởng
chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới của Phật giáo
Việt Nam
a. Về các nhân
vật Ðạo Cao, Pháp Minh và Lý Miễu
Sáu lá thư trao
đổi giữa hai vị Tăng Việt Nam là Ðạo Cao và Pháp Minh với
Lý Miễu là một trong những phát hiện quan trọng của học
giả Lê Mạnh Thát từ thư tịch chữ Hán của Trung Quốc (30),
cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu lịch sử dân tộc nói
chung và lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng một tư liệu
hết sức giá trị, đặc biệt là cho biết về cuộc vận
động tư tưởng của dân tộc và của Phật giáo ở giai đoạn
trước khi Nhà nước độc lập Vạn Xuân ra đời năm 544.
Ðạo Cao và Pháp
Minh là hai vị Tăng người Việt Nam (Giao Châu pháp sư), niên
đại được xác định như sau: ngài Ðạo Cao sinh khoảng năm
365 và mất năm 445, ngài Pháp Minh sinh khoảng năm 370 và tịch
khoảng năm 460. Ngài Ðạo Cao được biết thêm là tác giả
của tác phẩm Tá âm, Ðạo Cao pháp sư tập, nhưng đáng
tiếc là nay đã mất. Ngoài những thông tin ít ỏi trên, và
những thông tin từ các lá thư cho biết, chúng ta hiện chưa
biết gì rõ hơn về thân thế và sự nghiệp của hai vị Tăng
uyên thâm này.
Về Lý Miễu thì
cũng không khá hơn. Tư liệu Trung Quốc ghi là sứ quân của
Giao Châu. Tuy nhiên, trong số những người mà chính quyền
phương Bắc cử đi làm thái thú ở nước ta không thấy ai
tên là Lý Miễu. Có giả thiết cho rằng, Lý Miễu có thể
là tên khác của Lý Trường Nhân (khoảng 420-470) , hoặc cũng
có thể là một người lãnh đạo của nước ta, đứng đằng
sau chính quyền «hữu danh vô thực« dưới danh nghĩa là các
thái thú để điều hành đất nước với sự độc lập về
chính trị cũng như văn hóa thường thấy trong giai đoạn này.
Căn cứ vào cách xưng hô của hai vị thầy của Lý Miễu (31),
thì ông phải là một trong những vị hoàng đế của nhà nước
độc lập Việt Nam thời bấy giờ. Nhưng dẫu thế nào đi
nữa, khi tiểu sử của các nhân vật như Pháp sư Ðạo Cao,
Pháp Minh, Phật tử Lý Miễu chưa thể xác định rõ, thì sự
kiện «sáu lá thư« vẫn là một hiện thực lịch sử, có
niên đại khoảng 435-455, và tại nước ta đã diễn ra một
cuộc vận động, đấu tranh tư tưởng gay gắt, mà nội dung
của sáu lá thư đã phản ánh được vấn đề chính của
cuộc đấu tranh tư tưởng ấy.
b. Nguyên nhân
sự ra đời của sáu lá thư hay tình hình của Phật giáo Việt
Nam thế kỷ V
Vấn đề nổi
bật trong cuộc trao đổi giữa Lý Miễu với các vị thầy
của ông qua sáu lá thư là gì? Và lý do tại sao nó diễn ra
trong giai đoạn này? Ở đây không thể nói kỹ, mà chỉ nêu
lên vài nguyên nhân sơ lược tạm để hình dung bối cảnh
của nó, đồng thời qua đó thấy được tình hình của Phật
giáo trong thế kỷ thứ V, thời điểm mà những tư tưởng
Phật giáo quyền năng do các ngài Mâu Tử và Khương Tăng Hội
thiết lập từ thế kỷ thứ II và III đang rơi vào khủng
hoảng.
Sau hơn năm trăm
năm du nhập, Phật giáo được tiếp nhận và đã có nền
tảng vững vàng. Người Phật tử không chỉ tin theo giáo lý
do những nhà truyền giáo tiên phong thiết lập nên, mà chủ
động đặt vấn đề đối với giáo lý đó. Sự hoài nghi
và liên hệ so sánh giữa các hệ thống tư tưởng, nói rõ
hơn là giữa Phật giáo với Nho và Lão giáo, thậm chí ngay
trong nội thân các khuynh hướng tư tưởng của Phật giáo,
đã tạo nên một cuộc tranh luận sôi nổi vào thế kỷ thứ
V ở Trung Quốc cũng như ở nước ta.
Ở Trung Quốc,
nổi bật đáng chú ý của cao trào đó là sự ra đời của
tác phẩm Quân thiện luận (32) của một vị sư nổi
tiếng đa tài là Huệ Lâm, người từng có một vai trò chính
trị quan trọng trong triều đại của Tống Văn đế cầm quyền,
từng được mệnh danh là «Hắc y tể tướng« (Tể tướng
thầy tu). Trong đó, sư Huệ Lâm công kích Phật giáo, nói đúng
hơn là phê phán hiện trạng Phật giáo Trung Quốc đương thời,
một cách kịch liệt. Sư Huệ Lâm, qua tác phẩm này, bộc
lộ ý đồ xã hội hóa Phật giáo để nó trở thành một
lực lượng tích cực dấn thân xây dựng đất nước qua việc
thiết lập một quan niệm Phật giáo dung hòa tư tưởng Nho
gia, đặc biệt là về mặt đạo đức xã hội, với thuyết
«thù đồ đồng quy« (33). Quan điểm này bị chống đối
nhiều hơn là ủng hộ. Nó đã tạo nên làn sóng phản ứng
giận dữ trong hàng ngũ Phật giáo, kết quả là sư Huệ Lâm
bị trục xuất sang Việt Nam vào khoảng sau năm 456 và sống
những năm cuối đời tại nước ta.
Sau khi sang Việt
Nam, với tài năng như thế, chắc chắn sư Huệ Lâm sẽ được
người lãnh đạo nước ta hoặc lãnh đạo các phong trào khởi
nghĩa giành độc lập dân tộc thời bấy giờ quan tâm đặc
biệt, đồng thời cũng tạo nên ảnh hưởng trong giới Phật
giáo. Một vấn đề hết sức đáng quan tâm là vào thế kỷ
thứ V, tại nước đang ở cao trào vận động giành quyền
tự chủ độc lập cho dân tộc, chống lại thế lực phương
Bắc. Về mặt chính trị, chúng ta đã có những thành quả
lớn, chẳng hạn cuộc khởi nghĩa của Lý Trường Nhân thành
công, mở ra một giai đoạn độc lập tự chủ dân tộc tạm
thời. Về mặt trận văn hóa và tư tưởng, cũng trong tình
hình đó, đòi hỏi chúng ta có một nền văn hóa, tư tưởng
không những đủ sức mạnh để phản kháng với văn hóa phương
Bắc mà còn đối thoại trong thế bình đẳng. Ðó có thể
nói là bối cảnh ra đời của sự kiện «sáu lá thư«, hay
cuộc đấu tranh về tư tưởng của Phật giáo để tương
thích với xu thế mới của lịch sử và thời đại.
Với tầm quan
trọng như thế, vậy nội dung chính mà «sáu lá thư« đặt
ra là gì?
c. Nội dung
của cuộc trao đổi giữa Lý Miễu và hai vị thầy của ông
là Pháp sư Ðạo Cao và Pháp Minh, hay sự khủng hoảng của
nền Phật giáo quyền năng
Nội dung cơ bản
của cuộc trao đổi giữa Phật tử Lý Miễu với hai người
thầy của ông là các ngài Ðạo Cao và Pháp Minh xoay quanh vấn
đề tại sao nói Phật linh nghiệm, quyền năng biến hóa tùy
ý, nhưng không thể thấy được Phật, Ðức Phật không thị
hiện ra giữa đời cho người Phật tử chứng kiến? (34) Cuộc
thảo luận qua thư từ này đã giải quyết được vấn đề
gì? Và quan niệm về Ðức Phật nói riêng và Phật giáo nói
chung có gì khác so với quan niệm trước đó và của Trung
Quốc?
Trọng tâm của
«sáu lá thư« là bàn luận quan niệm về Ðức Phật, một
vấn đề cơ bản của tư tưởng Phật giáo. Tuy nhiên, nó
không xây dựng hay đề ra một định nghĩa mới so với quan
niệm mà các ngài Mâu Tử và Khương Tăng Hội xiển dương.
Những nghi vấn tại sao không thấy được Phật hay Phật không
thị hiện cho người đời thấy mà Phật tử Lý Miễu đã
đặt ra được Pháp sư Ðạo Cao đáp lại bằng thuyết cảm
ứng (35) vốn phổ biến trong dân gian và đã được Phật
giáo hóa thành tín ngưỡng tôn giáo của dân tộc khá lâu
trước đó. Sự kiện này đã phản ánh tình trạng khủng
hoảng niềm tin tôn giáo trước một xu thế đang trỗi dậy
của ý thức dân tộc, xu thế tự ý thức khả năng và sức
mạnh vô cùng to lớn của bản thân, xu thế tư duy mang tính
duy lý hơn đang diễn ra trong xã hội, trong yêu cầu cấp thiết
là xây dựng nền độc lập tự chủ lâu dài cho dân tộc.
Mặc dù có những
ảnh hưởng qua lại giữa Phật giáo nước ta và Trung Quốc,
nhưng với quan niệm trên, qua «sáu lá thư«, đã cho thấy
Phật giáo mà tổ tiên chúng ta tiếp thu và xây dựng có những
đặc thù so với Phật giáo phát triển ở Trung Quốc. Thế
kỷ thứ V, hệ thống kinh điển được đưa đến Trung Quốc
khá đầy đủ, quan niệm về Ðức Phật cũng đã khác, yếu
tố lịch sử được chú trọng nhiều hơn. Ðức Phật là
bậc Giác ngộ nhưng Ngài cũng có nơi xuất thân, danh tánh,
sinh quán, dòng tộc cụ thể. Và như vậy, mặc dù có những
ảnh hưởng qua lại, đặc biệt là ở thế kỷ thứ V, lúc
sư Huệ Lâm bị trục xuất sang nước ta, nhưng tính độc
lập trong việc tiếp thu và xây dựng các quan niệm về Phật
giáo của nước ta vẫn được giữ vững. Tính chất độc
lập này có nền tảng sâu xa là sự độc lập của nền văn
hóa Việt Nam, của sức sống bền bỉ và mãnh liệt của nền
văn hóa đó.
Bên cạnh vấn
đề trung tâm như đã sơ bộ nói trên, «sáu lá thư« còn
cung cấp nhiều thông tin quan trọng khác đối với lịch sử,
văn học, ngôn ngữ...của dân tộc mà không thể nói ra ở
đây, vì khá dài dòng. Chỉ qua một vài điều nói trên cũng
cho thấy giá trị tư liệu mà nó đem lại nhằm soi sáng cho
việc tìm hiểu về tình hình Phật giáo giai đoạn này, ở
một thời điểm rất sôi nổi của cuộc vận động tư tưởng
Phật giáo để thích nghi với những xu thế mới của thời
đại.
Ðến thời điểm
này, nền Phật giáo được thiết lập bởi Mâu Tử và sau
đó được củng cố, bổ sung bởi ngài Khương Tăng Hội tỏ
ra không còn là niềm tin tuyệt đối ở nước ta, những thắc
mắc mà Lý Miễu nêu ra là đại diện cho người Phật tử
Việt Nam thời bấy giờ. Nền tư tưởng Phật giáo quyền
năng bị lay chuyển thực sự. Phật giáo nước ta rơi vào
cuộc khủng hoảng về tư tưởng, cái cũ thì ngày càng không
đủ sức thuyết phục, các quan niệm mới thì chưa thấy hình
thành. Cuộc đấu tranh tư tưởng đó đến hồi gay gắt với
sự kiện sư Ðàm Hoằng (36) tự thiêu tại chùa Tiên Sơn năm
455, để lại nhiều điều linh dị, có thể nói là một câu
trả lời hùng hồn cuối cùng của nền tư tưởng Phật giáo
quyền năng trước những hoài nghi có xu hướng ngày càng phổ
biến tại nước ta.
Hồi kết thúc
của cuộc đấu tranh này ra sao, sẽ được đề cập qua việc
tìm hiểu các nhân vật Phật giáo nổi bật sau đó, «những
ngọn đèn cuối cùng của một thời đại Phật giáo« (37),
thời đại đủợc xây dựng trên nền tảng tư tưởng Phật
giáo quyền năng, đó là các ngài Huệ Thắng và Ðạo Thiền.
6. Về các ngài
Huệ Thắng và Ðạo Thiền, hai bậc cao tăng Việt Nam cuối
cùng của thời đại Phật giáo thứ nhất, thời đại Phật
giáo quyền năng
a. Về ngài
Huệ Thắng
Năm sinh của ngài
Huệ Thắng không thấy tài liệu nào ghi rõ. Cao tăng truyện
cho biết sư thọ 70 tuổi và mất vào khoảng những năm 502-519.
Vậy chắc chắn năm sinh của Ngài khoảng 432-449. Ngài sống
tại chùa núi Tiên Châu của nước ta, chuyên hành trì kinh
Pháp Hoa. Người giản dị, thích tịch lặng. Ngài học Thiền
(38) với một vị Tăng nước ngoài tên là Ðạt Ma Ðề Bà
(Dharmadeva). Mỗi khi nhập định, hết ngày mới thôi; đạo
phong được người đời kính trọng. Tiếng tăm vang xa, quan
đô hộ Lưu Hội (39) nghe danh đến mời về và đưa sang Trung
Quốc, an trí tại chùa U Thê. Sư cương quyết không hợp tác
bằng cách thường tỏ ra như người ngu, không hưởng những
đãi ngộ của kẻ cầm quyền phương Bắc mà sống trinh bạch,
thanh bần bằng đồ khất thực trong nhân dân. Năm 487 (Vĩnh
Bình ngũ niên), sư bị đưa đến tinh xá Diên Hiền ở Chung
sơn và mất năm 70 tuổi. Bị đưa sang và sống trên đất
Trung Quốc, xa quê hương gần ba mươi năm nhưng lòng sư vẫn
«trinh bạch ngay thẳng«.
Trước khi đến
Trung Quốc, sư Huệ Thắng đã từng học Thiền với một vị
thầy nước ngoài là Ðạt Ma Ðề Bà, và khi đến Trung Quốc,
Ngài có thể không cổ xúy cho phong trào Thiền học tại đây;
tuy nhiên, chắc chắn rằng Ngài đã có những ảnh hưởng
quan trọng đối với lịch sử Phật giáo Trung Quốc, cho nên
các nhà viết sử Phật giáo nước này mới dành những dòng
viết về Ngài với thái độ trân trọng, cảm khái trước
đạo phong và nhân cách «từ nhỏ tới già, lòng Thắng trinh
bạch thẳng ngay« (40) của một vị cao tăng Việt Nam.
b. Ngài Ðạo
Thiền với công tác giảng dạy và hoằng pháp thành công rực
rỡ tại Trung Quốc
Sau ngài Khương
Tăng Hội, thế kỷ thứ IV, có một vị Tăng Việt Nam lại
«chống gậy Ðông du« sang giảng dạy, hoằng pháp thành công
rực rỡ tại Trung Quốc, đã để lại cho giới trí thức
tại đây niềm kính trọng sâu sắc, bất kể rằng con người
này xuất thân từ một xứ mà họ thường miệt thị vào
loại «mọi rợ«, đó là ngài Ðạo Thiền.
Về ngài Ðạo
Thiền, Tục cao tăng truyện (41) cho biết, Ngài là người
Giao Chỉ, xuất gia từ nhỏ, giới pháp trong sạch, được
trong tăng ngoài tục đều kính trọng không những vì sự tu
hành khắc kỷ, mà còn vì sở học uyên thâm, đặc biệt là
về luật học. Ngài là người có những khả năng kỳ lạ,
như chuyện ghi rằng, tại chùa núi Tiên Châu có nhiều cọp
dữ hại người, nhưng kể từ khi Ngài đến ở thì nạn ấy
không còn. Sau đó, Ngài sang Trung Quốc giảng dạy Phật pháp
ở Kim Lăng, tham dự các đại hội thuyết giảng do Cánh Lăng
Vương nhà Tề tổ chức vào khoảng những năm 483-487. Ngài
ở lại giảng dạy Thiền và Luật, đặc biệt là về Luật
Thập tụng tại đây, anh tài Trung Quốc khắp nơi đã rong
ruổi ngàn dặm về Kim Lăng để thọ giáo, «họ đều là
tiêu lĩnh của bốn bể, người tài trong đời và tay giỏi
trong đạo« (42). Năm Vĩnh Minh thứ nhất (483), Ngài đến ở
chùa Vân Cư hạ tại Chung sơn và được mời làm công tác
điều khiển Tăng chúng. Uy tín của Ngài càng vang xa do sự
uyên bác, đức hạnh và phong thái đạm bạc nơi Ngài, nên
hàng ngàn người ở kinh đô tìm đến cầu pháp. Cuộc sống
của Ngài thường giản dị và đơn sơ, thích sự tĩnh lặng.
Hễ ai cúng dường đồ ngon vật đẹp, Ngài liền phân phát
cho người nghèo và kẻ đau ốm. Cuối đời, Ngài đến ẩn
cư trong núi rừng, không giao thiệp với thế cuộc cao sang
cho đến khi mất ở tuổi 70, năm Ðại Thông thứ nhất, tức
năm 527.
Là người Việt
Nam (Giao Chỉ), trên danh nghĩa đang bị nội thuộc và thường
bị miệt thị là «Nam di« (mọi rợ phương Nam), nhưng sử
sách Trung Quốc vẫn dành những lời hết sức trân trọng
khi viết về Ngài, về tài năng và đức hạnh, những đóng
góp của Ngài đối với sự phát triển của Phật giáo tại
đất nước này cũng đủ thấy bản lĩnh sự ảnh hưởng
của Ngài là lớn và rất sâu đậm đối với sự phát triển
của Phật giáo tại Trung Quốc.
Trên đây là hai
gương mặt nổi bật của Phật giáo Việt Nam sống vào cuối
thế kỷ thứ V và đầu thế kỷ thứ VI hiện biết được,
các ngài Huệ Thắng và Ðạo Thiền, những thành quả cuối
cùng của nền giáo dục Phật giáo theo truyền thống mà các
Phật tử, Tăng sĩ tiền nhân đã kiến thiết. Họ sinh ra và
sống trong tình hình Phật giáo Việt Nam đang diễn ra cuộc
đấu tranh tư tưởng, tình trạng khủng hoảng niềm tin đối
với nền Phật giáo do các ngài Mâu Tử và Khương Tăng Hội
gầy dựng; để cứu vãn nền Phật giáo ấy, họ đã có những
nỗ lực, thậm chí cả đến việc tự thiêu như ngài Ðàm
Hoằng, dẫu vậy cũng không thể vực nó dậy trước xu thế
mới của thời đại, xu thế tự ý thức khả năng tiềm tàng
ngay trong bản thân và ý thức xây dựng nền độc lập tự
chủ cho dân tộc, mà cao điểm của nó là phong trào khởi
nghĩa của Lý Bôn thành công dẫn đến sự kiện xưng đế
của ông năm 544, khai sinh đất nước độc lập Vạn Xuân
tồn tại hơn nửa thế kỷ (544-603).
Nhà nước độc
lập Vạn Xuân ra đời với sự kiện xưng đế của Lý Bôn
năm 544 là một sự kiện trọng đại đánh dấu một bước
ngoặt mới của lịch sử dân tộc, một thời đại phát triển
mới của Phật giáo Việt Nam. Chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu
sơ lược trong các phần sau./.
* Chú thích:
(1) Sau
những công trình mở đường trước năm 1975, như khuyết danh,
Phật
giáo Nam lai khảo (1928); Trần Văn Giáp, Le Bouddhisme en
dès orgigines au XIII e-siècle (1932); Mật Thể, Việt Nam
Phật giáo sử lược (1943); Nguyễn Lang, Việt Nam Phật
giáo sử luận tập I; v.v...một số cố gắng nghiên cứu
trong lĩnh vực này được công bố như Nguyễn Lang, Việt
Nam Phật giáo sử luận tập II (1978), tập III (1985); Viện
Triết học, Lịch sử Phật giáo Việt Nam (1988), bản
này sau đó được dịch sang chữ Anh và chữ Pháp.
(2) Tập 1, Học
viện Phật giáo Việt Nam tại Huế thực hiện, Nxb. Thuận
Hóa, 1999.
(3) Tác phẩm bằng
chữ Hán, trước đây thường được xem là khuyết danh, nhưng
theo học giả Lê Mạnh Thát thì có thể là do Thiền sư Kim
Sơn soạn, niên soạn là năm Ðinh Sửu Khai Hựu (1337). Tham
khảo Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh của Lê Mạnh
Thát, Nxb. TPHCM, 1999.
(4) Xem Lê Mạnh
Thát. Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Nxb. TPHCM,
1999, trang 203-204.
(5) Xem tiểu sử
Thiền sư Thông Biện, Thiền uyển tập anh.
(6) Xem Lê Mạnh
Thát. Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1, Nxb.Thuận
Hóa, 1999, trang 23-27.
(7) Sđd,
trang 36.
(8) Sđd,
trang 38-45.
(9) Sđd,
trang 61-70.
(10) Xem Lê Mạnh
Thát. Nghiên cứu về Mâu Tử, tập 1, Tu thư Vạn Hạnh
ấn hành, 1982.
(11) Lê Mạnh Thát.
Lịch
sử Phật giáo Việt Nam, sđd, trang 213-283.
(12) Chính quyền
độc lập của Chu Phù - Sĩ Nhiếp tồn tại khoảng thời gian
180 -197.
(13) Sđd, trang
293.
(14) Ðiều
2 của Lý hoặc luận. Xem Lê Mạnh Thát. Nghiên cứu về Mâu
Tử, tập II, Tu thư Vạn Hạnh, 1982, trang 443.
(15) Do Huệ Hạo
soạn vào đời Lương.
(16) Kinh tạng,
Luật tạng và Luận tạng của Phật giáo.
(17) Kho tàng điển
huấn của Nho giáo, gồm Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch và Xuân
Thu.
(18) Dẫn lại
theo bản dịch của Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt
Nam, sđd, trang 300.
(19) Lê Mạnh Thát.
Lịch sử Phật giáo Việt Nam, sđd, trang 317.
(20) Xem Lê Mạnh
Thát, Khương Tăng Hội toàn tập, tập I, Tu thư Vạn
Hạnh, 1975.
(21) Theo Phí Trương
Phòng, Lịch đại tam bảo ký, soạn năm 597 (Khai Hoàng
thứ 17, đời Tùy). Dẫn lại theo Lê Mạnh Thát, Sđd,
trang 119. Về danh mục các tác phẩm do ngài Khương Tăng Hội
dịch, chú giải hoặc trước tác có sự sai khác về số lượng,
nhưng cơ bản vẫn không có gì sai khác mấy, chủ yếu là
do khác quan điểm phân loại.
(22) Một bộ kinh
thuộc tư tưởng Phật giáo Ðại thừa, nói về hạnh Lục
độ ba-la-mật, do ngài Khương Tăng Hội dịch sang chữ Hán.
Có ý kiến cho rằng nó được dịch từ Phạn bản. Nhưng
bằng những nghiên cứu và đối chiếu về ngữ học, học
giả Lê Mạnh Thát khẳng định là Khương Tăng Hội đã dịch
bộ kinh này từ một bản tiếng Việt, lưu hành ở nước
ta từ thế kỷ I đến thế kỷ II và có thể là sớm hơn.
Xem Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi
nguyên của dân tộc ta, Tu thư Ðại học Vạn Hạnh, 1972.
(23) Lịch sử
Phật giáo Việt Nam, sđd, trang 321.
(24) Sđd,
trang 364-365.
(25) Sđd,
trang 364-365
(26) Còn gọi là
Ðạo Hinh, hay Sa môn Trúc Ðạo Thanh.
(27) Bản chữ
Việt nay đã mất.
(28) Theo học giả
Lê Mạnh Thát thì Chi Cương Lương Tiếp tiếng Phạn là Kalyànàsiva,
khác với Chi Cương Lương Lâu sống ở Quảng Châu khoảng
266 mà nhiều người đã đồng hóa. Xem Lịch sử Phật giáo
Việt Nam, sđd, mục Chi Cương Lương Tiếp, trang 279-283.
(29) Quan niệm
về Không được bàn luận sôi nổi, đưa đến sự hình thành
các trường phái với các cách luận giải khác nhau, như là:
1. Vốn không nên không (bản vô), do Thích Ðạo An chủ trương;
2. Vốn không khác nên không (bản vô dị), do Trúc Pháp Thâm
chủ trương; 3. Không tức sắc (tức sắc), do Chi Ðạo Lâm
đề xướng; 4. Lật đổ mê hoặc diệt được thức thì thấy
ba cõi là không (thức hàm), do Vu Pháp Khai chủ trương; 5. Huyễn
hóa là không (huyễn hóa), do Thích Ðạo Nhất khởi xướng;
6. Tâm không thì gọi là không (tâm không), do Trúc Pháp Ôn
đứng đầu; 7. Nhân duyên tập hợp nên gọi là không (duyên
hội), do Vu Ðạo Thúy chủ trương.
(30) Thuộc Minh
hoằng tập do ngài Tăng Hựu (445-519) kết tập, Ðại Chính
tân tu Ðại tạng kinh 2102.
(31) Trong lá thư
thứ tư, ngoài danh xưng «sứ quân«, Pháp sư Ðạo Cao đã
gọi ám chỉ Lý Miễu là «cư đại bảo chi địa« (ở vào
địa vị của một bậc thiên tử); và trong lá thư thứ hai,
khi nhắc đến học thức của ông, Pháp sư dùng bốn chữ
«thánh tư uyên viễn«, nghĩa là suy nghĩ của một bậc thánh,
một bậc đế vương...
(32) Còn gọi là
Bạch
hắc luận, hay Quân thánh luận, được viết vào
khoảng năm 433. Với quan điểm trong Quân thiện luận,
những đóng góp cho Phật giáo của sư Huệ Lâm là đáng ghi
nhận. Một mặt, sư là người dám nói lên thực trạng của
Phật giáo Trung Quốc đương thời, quá nặng về hình thức
và tín ngưỡng mà không quan tâm đến vấn đề xây dựng
đời sống xã hội thiết thực hiện tại; mặt khác, với
thuyết «thù đồ đồng quy«, sư là một trong những người
tiên phong trong xu hướng địa phương hóa Phật giáo, đồng
thời xây dựng một lý thuyết xã hội dấn thân cho nó, khiến
cho Phật giáo gắn bó với sự thịnh suy của một xứ sở
nhất định.
(33) Khác đường
nhưng cùng đích đến.
(34) Nạn Phật
bất kiến hình sự (Thắc mắc về việc tại sao không thấy
hình Phật thị hiện giữa đời).
(35) Thuyết cảm
ứng được Pháp sư Ðạo Cao quan niệm trong bức thư trả
lời như sau: « ...Quên mình và đem hết lòng thành thì có
cảm, có cảm tất có thấy, không có cảm thì không thấy,người
có thấy đem (điều thấy được) nói với người không thấy
thì rốt cuộc người không thấy cũng không tin (sự) có thấy,
(nên) thánh nhân đâu phải là không thường ở với chúng
sinh, đâu phải là không thường thấy.« Rõ ràng, cơ sở lý
luận của quan điểm này được xây dựng trên quan niệm về
Phật trong kinh Pháp Hoa có ở nước ta khoảng hai trăm năm
trước, qua bản dịch Pháp Hoa tam muội của các ngài
Chi Cương Lương Tiếp và Ðạo Thanh.
(36) Một vị Tăng
Trung Quốc, không biết chính xác năm sinh. Xuất gia từ nhỏ,
sư đặc biệt giỏi về Luật học. Sư đến nước ta, tu tại
chùa Tiên Sơn vào khoảng năm 425, chuyên trì tụng các kinh
Vô
lượng thọ, Thập lục quán... với ước nguyện vãng sinh
về thế giới Cực lạc. Sư hai lần tự thiêu, lần thứ nhất
bất thành do học trò phát hiện và dập tắt lửa giữa chừng,
lần thứ hai vào năm 455. Sau khi sư tịch, nhiều người kể
lại rằng thấy sư thân vàng sắc vàng, cưỡi một con nai
vàng đi về phía Tây rất gấp, không nói gì. Ngài Ðàm Hoằng
được biết là một người có công trong việc truyền bá
tư tưởng Tịnh độ ở nước ta sớm nhất.
(37) Chữ dùng
của học giả Lê Mạnh Thát trong Lịch sử Phật giáo Việt
Nam.
(38) Sách Cao
tăng truyện viết: «Học các quán hạnh«.
(39) Lưu Hội (547-502),
thuộc gia đình quyền quý ở Trung Quốc thời bấy giờ, làm
quan dưới trướng của Dự Chương vương Tiêu Dạo Ngung đến
chức Lục sự, nhưng về sau do có những xích mích và sợ
liên lụy nên xin đi làm tướng quận Nam Khương khoảng năm
485. Ông là người thông minh nhạy bén, có văn nghĩa và giỏi
ứng đối hơn người.
(40) Huệ Hạo
trong Cao tăng truyện, về tiểu sử Huệ Thắng.
(41) Một tác phẩm
lịch sử quan trọng của Phật giáo Trung Quốc, do nhà viết
sử Phật giáo Trung Quốc là Ðạo Tuyên soạn vào đời Ðường.
(42) Tục cao
tăng truyện.
Câu hỏi
hướng dẫn ôn tập
1- Hãy trình
bày những sự kiện liên quan đến thời điểm du nhập của
Phật giáo vào Việt Nam, và qua đó cho biết tổ tiên chúng
ta đã tiếp nhận Phật giáo như thế nào?
2- Trung tâm
Phật giáo đầu tiên của nước ta là gì, phát triển ra sao?
3- Hãy trình
bày về một gương mặt người Phật tử Việt Nam nổi bật
trong thời đại Phật giáo này, từ đó nói sơ lược về
tình hình của Phật giáo giai đoạn mà nhân vật đó sống.
4- Sự kiện
«sáu lá thư« mang ý nghĩa như thế nào trong lịch sử Phật
giáo Việt Nam?