Phần II
- Bài đọc thêm
Lý
do Phân phái và tình hình Phân phái
trong
đạo Phật
Minh Chi
A- Tình hình
chung
Sự phân phái
đã từng xảy ra hai lần trong thời kỳ Phật còn tại thế.
Lần phân phái thứ nhất ở Kausambi được giải quyết nhanh
chóng. Lần phân phái thứ hai, do Devadatta chủ xướng, dẫn
tới thành lập một bộ phái riêng rẽ, mà đến thế kỷ
thứ VII, khi Huyền Trang qua Ấn Ðộ vẫn còn ghi tiếng vang.
Dưới thời vua Asoka (300 trước CN), Phật giáo tuy đại thịnh,
nhưng nội bộ Phật giáo đã có sự chia rẽ nghiêm trọng,
mà Asoka có nói tới trong các trụ đá ở Kosambi, Sanchi và
Sarnath. Trong các trụ đá, Asoka đe dọa sẽ tẩn xuất khỏi
Tăng chúng tất cả những ai chủ xướng chia rẽ và phân phái.
Nhưng cũng dưới thời Asoka đã xảy ra lần phân phái nghiêm
trọng và lớn nhất, khiến tách ra bộ phái Ðại chúng bộ
(Mahasanghika) chiếm số đông, tán thành 5 điểm của Mahadeva
(Ðại Thiên), đối lập với Thượng tọa bộ, thiểu số
và có tư tưởng bảo thủ. Ngay ở Sri Lanka, nơi truyền giáo
của Mahinda cũng không tránh được sự phân phái. Các Tăng
sĩ của tu viện lớn Mahavihara, dưới triều vua Dutthagamani
tách khỏi bạn đồng tu mà lập ra ở Abhayagira một đồ chúng
mới, cắt đứt mọi quan hệ với Tăng chúng ngày trước do
chính Mahinda thành lập.
Thời ấy, người
ta phân biệt rõ hai khái niệm: phân phái (samghabheda) và chia
rẽ (samgharaji). Sự phân phái xảy ra khi có ít nhất là 9 Tỷ
kheo, sinh hoạt trong một hội chúng tại cùng một địa phương,
nhưng có một số quan điểm khác biệt về Luật hay Pháp,
so với quan điểm truyền thống của hội chúng, và sau một
cuộc bỏ phiếu tổ chức theo đúng Luật, bèn tách khỏi hội
chúng đó và tiến hành riêng rẽ lễ bố tát và một số
Phật sự khác. Nếu số Tỷ kheo không đến 9 người, thì
không phải là phân phái mà là chia rẽ.
Chính thể theo
một cuộc bầu phiếu đúng luật mà Ðại chúng bộ hình thành
và tách khỏi Thượng tọa bộ. Và sau một thời gian, cả
hai bộ phái chính nói trên lại tách ra nhiều bộ phái khác
với những quan điểm khác nhau về một hay một vài điểm
trong Luật và Pháp. Không bao lâu, con số bộ phái lên đến
20, kể cả hai bộ phái chính Ðại chúng bộ và Thượng tọa
bộ. Quá trình phân phái nhiều khi xảy ra một cách tự phát,
do địa bàn Phật giáo mở rộng ra khắp đất nước Ấn Ðộ,
rồi vượt biên giới Ấn Ðộ, lan rộng nhiều vùng khác nhau
trên thế giới.
Có thể nói, phân
phái là hệ quả không thể tránh của sự phát triển của
đạo Phật trong không gian và thời gian. Không gian mới, thời
gian mới khiến nảy sinh ra những nhu cầu mới về tâm linh,
về tri thức trong dân chúng nói chung cũng như trong Phật giáo
đồ nói riêng. Sự phân phái thể hiện yêu cầu cập nhật
hóa và bản địa hóa của Phật giáo. Ðể khỏi bị lạc
hậu so với thời thế, đạo Phật phải cập nhật hóa, hiện
đại hóa. Ðể tránh khỏi mâu thuẫn, xung đột với truyền
thống văn hóa, tập tục và tín ngưỡng địa phương, Phật
giáo bắt buộc phải bản địa hóa. Hoàn cảnh địa lý, chính
trị xã hội, kinh tế rất đa dạng của các vùng mà Phật
giáo mới du nhập vào đặt ra cho những người lãnh đạo
Tăng chúng ở các vùng khác nhau hàng loạt vấn đề mới phải
giải quyết. Thí dụ có những vùng điều kiện sinh hoạt
dễ dàng. Tăng chúng có thể rất đông đảo và sống dựa
một chiều vào sự cúng dường của thập phương; nhưng cũng
có những vùng điều kiện sinh hoạt rất khó khăn, Tăng chúng
phải tự tăng gia và nuôi sống mình, hoặc một phần hoặc
toàn bộ. Có những vùng và quốc gia, trong đó chính quyền
ủng hộ Phật giáo. Nhưng có những vùng chính quyền công
khai chống đối Phật giáo. Cũng có những vùng chính quyền
giữ thái độ trung lập đối với các tôn giáo và hệ tín
ngưỡng khác nhau. Có những nước, những vùng vốn là cái
nôi của một nền văn minh và văn hóa lâu đời, có tiếng
tăm, như Trung Quốc, v.v... Nhưng cũng có những vùng, dân chúng
sống rất lạc hậu, mù chữ, có thể nói là trong tình trạng
dã man, hay bán khai. Có những vùng có khí hậu rất khắc nghiệt,
quanh năm chỉ là băng tuyết, hay là có địa hình hiểm trở,
giao thông đi lại khó khăn, hay chỉ là sa mạc cát nóng v.v...
Ðạo Phật muốn du nhập và tồn tại, phát triển tại những
vùng khác nhau như thế, chắc chắn là không thể giữ nguyên
tình trạng và tổ chức như khi còn ở vùng trù phú của trung
châu sông Hằng.
Ở Ấn Ðộ, thời
bấy giờ, tuy có tình trạng phân phái, thế nhưng giữa các
bộ phái, quan hệ vẫn là quan hệ giữa những người đồng
đạo, những người con Phật. Khi Huyền Trang qua Ấn Ðộ vào
thế kỷ VII Tây lịch, ông có nhận xét là các Tăng sĩ Tiểu
thừa giáo và Ðại thừa giáo có thể ở cùng trong một chùa,
một tu viện mà không xảy ra xích mích gì. Chỉ có điều
khác là Tăng sĩ Tiểu thừa thì tụng các kinh sách Tiểu thừa,
còn các Tăng sĩ Ðại thừa giáo thì tụng các kinh Ðại thừa.
Tăng sĩ bất cứ thuộc bộ phái nào, đều được các chùa
và tu viện Phật giáo tiếp đón tử tế lịch sự, theo đúng
nghi thức của Tăng đoàn.
Ngày nay, chúng
ta có thể biết các tình hình bộ phái Phật giáo ở Ấn Ðộ
vào đầu Tây lịch qua các tác phẩm lịch sử Phật giáo,
đặc biệt là cuốn «Samayabhado paracanacakra« (Dị bộ
tôn luận) của Vasumitra, hay là cuốn Kathavathu, đối
với một thời kỳ phân phái sớm hơn.
B- Về những
lý do đặt tên các bộ phái
1. Dựa vào
nội dung của quan điểm giáo lý:
như Sthaviravada
- Thượng tọa bộ - tức là bộ phái của các vị Trưởng
lão, Thượng tọa. Lokottaravada - Thuyết xuất thế bộ - là
bộ phái thuyết minh những pháp siêu thế, Ekavya vaharika - Nhất
thuyết bộ, Prajnaptivadin - Thuyết giả bộ - phân biệt giữa
thực giáo và giả danh, Sautrantika - Kinh lượng bộ - chỉ thừa
nhận giáo lý chính thống ghi trong kinh tạng.
2. Dựa vào
cơ cấu của Hội chúng thành lập bộ phái:
Mahasanghika - Ðại
chúng bộ khẳng định tính đại chúng của hội chúng thành
lập. Bahusratva (Ða văn) là bộ phái mà hội chúng thành lập
gồm toàn những bậc học rộng đa văn. Dharmottarya - (Pháp
thượng bộ) là bộ phái của những người đề cao giáo pháp.
Bhadrayaniya - Hiền vị bộ, bộ phái của các bậc trí giả
v.v...
3. Dựa vào
địa bàn hoạt động của bộ phái:
Haimavata (Tuyết
sơn bộ) địa bàn hoạt động là vùng núi Tuyết Sơn (Himalaya),
Caityasaila (Chế đa sơn bộ) có địa bàn hoạt động tại
vùng núi Kaitya (ở xứ Andhra) Aparasaila - Tây sơn trụ bộ,
có địa bàn hoạt động ở phía Tây dãy núi (xứ Andhra).
4. Dựa vào
tên vị cao tăng sáng lập ra bộ phái:
Vatsiputrya - (Ðộc
tử bộ), dựa vào tên vị A la hán có tên như vậy. Mahisasaka
(Hóa địa bộ), tên một người Bà la môn sáng lập có tên
như vậy. Dharmaguptaka (Pháp tạng bộ) được sáng lập bởi
một đệ tử của Maudgalyayana, tên là Dharmapupta. Và Sammatiya
(Chánh lượng bộ) do Sammita sáng lập v.v...
C- Số bộ phái
thật sự có bao nhiêu?
Lịch sử hình
thành các bộ phái đã trải qua nhiều năm, thì các sử gia
Ấn Ðộ cũng như Trung Hoa mới bắt đầu công việc thu thập
tài liệu để viết về lịch sử truyền thừa các bộ phái,
cũng như nội dung chủ thuyết của các bộ phái. Vì thiếu
tài liệu, cho nên cái gọi là sử liệu các bộ phái, do các
sử gia Ấn và Trung Hoa viết không tránh khỏi có những phần
hư cấu. Các sử gia chú trọng nhiều tới lịch sử truyền
thừa của các bộ phái, lịch sử đó do chính người của
các bộ phái viết, do đó mà tùy theo bộ phái, lịch sử truyền
thừa có điểm khác nhau. Vì ai cũng muốn nói tốt cho bộ
phái mình.
a/ Bảng hai
bộ phái chính của sử gia Tây Tạng Taranatha:
Trong cuốn lịch
sử Phật giáo Ấn Ðộ, xuất bản 1968, Taranatha công bố
bảng hai bộ phái chính, mà ông cho là do Thượng tọa bộ
soạn:
A- Mahasanghika:
phân thành 8 bộ:
1. Nulamahasanghika;
2. Ekavyavaharika;
3. Lokottaravadin
(Thuyết xuất thế bộ).
4. Bahusrutya (Ða
văn bộ);
5. Prajnativadin
(Thuyết giả bộ);
6. Caitika (Chế
đa sơn bộ);
7. Purvasaila (Ðông
sơn trụ bộ);
8. Aparasaila (Tây
sơn trụ bộ).
B- Sthavira: phân thành
10 bộ:
1. Mulasthavira;
2. Sarvastivada
(Nhất thiết hữu bộ);
3. Vatsiputrya (Ðộc
tử bộ);
4. Dharmottarya
(Pháp thượng bộ);
5. Bhadrayaniya
(Hiền vị bộ);
6. Sammatiya (Chánh
lượng bộ);
7. Mahisasaka (Hóa
địa bộ);
8. Dharmaguptaka
(Pháp tạng bộ);
9. Suvarsaka (Ấm
quang bộ);
10. Uttariya (Mật
lâm bộ).
Bảng phân phái trên
đây mà Taranatha cho là thuộc bộ phái Sthavira (hay Theravada),
trùng hợp với các bảng của Vasumitra được La Thập và Chân
Ðế (Paramartha) dịch ra chữ Hán, với đầu đề Dị bộ tôn
luận. Bộ luận của Vasumitra cũng được Huyền Trang dịch.
Bản Hán dịch của Huyền Trang được Masuda dịch ra tiếng
Anh: Origin and Doctrines of Buddhist Schools (Asia Major II 1925, p.I-78,
cũng được A.Barreau dịch ra tiếng Pháp Trois traités sur les
sectes bouddhiques. J.A 1954 P.235-266).
Ðệ tử của
Huyền Trang là Khuy Cơ có viết cuốn «Dị bộ tôn luận thuật
ký« là bản sớ giải về bản dịch của Huyền Trang, được
viết theo những chỉ dẫn của Huyền Trang. Theo bản dịch
của Huyền Trang thì Vadumitra phân chia các bộ phái như sau:
b/ Bảng Vadumitra:
A- Mahasanghika:
1. Ehavyavaharika
(Nhất thuyết bộ),
2. Lokottaravadin
(Thuyết xuất thế bộ),
3. Kaukutika (Kê
dẫn bộ),
4. Bahusrutya (Ða
văn bộ),
5. Prajnativa (Thuyết
giả bộ),
6. Caityasala (Chế
đa sơn bộ),
7. Aparasaila (Tây
sơn trụ bộ),
8. Uttarasaila (Ðông
sơn trụ bộ).
B- Sthaviravada:
1. Sarvastivada
hay là Hetuvada, phân phái thành,
2. Vataiputrya (độc
tử bộ),
3. Dharmottariya
(Pháp thượng bộ),
4. Bhadrayaniya
(Hiền vị bộ),
5.Channagarika (hay
Sannagarika) (Mật lâm bộ),
6. Mahisasaka (Hóa
địa bộ),
7. Dharmaguptaka
(Pháp tạng bộ),
8. Kasyapiya hay
Sauvaraika (Ấm quang bộ),
9. Sautrantika hay
Samkrantivadin (Kinh lượng bộ),
10. Mulasanrvastivada
hay Haimavata (Tuyết sơn bộ).
Cũng theo Vasumitra,
chính thuyết năm điểm do Mahadeva (Ðại thiên) đề xuất vào
năm 116 sau Niết bàn đã dẫn tới sự phân phái giữa Thượng
tọa bộ (Sthavira) và Ðại chúng bộ (Mahasanghika). Ðại chúng
bộ rút về phía Bắc thành Vương xá (Rajagrha), và đến thế
kỷ II sau Niết bàn thì chia thành 4 bộ phái: Ekavyavaharika (Nhất
thuyết bộ), Lokottaravadin (Thuyết xuất thế bộ), Kaukuttika
(Kê dẫn bộ) và Bahusrutya (Ða văn bộ). Bốn bộ phái này
đều tôn luận chủ Yajnava kya làm thầy. Ðến thế kỷ III
sau Niết bàn, một cuộc chia rẽ mới dẫn tới thành lập
tại vùng núi Andhra bộ phái Caityasaila (Chế đa sơn bộ), và
bộ phái này lại chia làm hai Tây sơn trụ bộ và Ðông sơn
trụ bộ.
Trong thời gian
hai thế kỷ sau Niết bàn, Thượng tọa bộ vẫn giữ được
sự thống nhất nội bộ dưới sự hướng dẫn của các vị
Thượng thủ tiếng tăm như các Ngài Kasyapa (Ca Diếp) Ananda
(Anan), Madhyantika, Sanavasin, Upagupta, Purna, Mecaka và Katyayaniputra.
Sau khi Ngài Katyayaniputra tịch, vào đầu thế kỷ III sau Niết
bàn, thì Thượng tọa bộ phân làm hai nhánh:
1). Nhánh
các vị trưởng lão, trung thành với truyền thống Kinh tạng,
rút về vùng dãy núi Tuyết Sơn và lấy tên là Tuyết Sơn
bộ (Haimavata) và
2). là nhóm theo
luận chủ Katyayaniputra, chủ trương phát triển Luận tạng
Abhidharma, và có những đổi mới được phái Thượng tọa
bộ chính thống xem là nguy hiểm. Nhóm này mang tên Sarvastivadin
(Nhất thiết hữu bộ).
Trong thế kỷ III
và vào đầu thế kỷ IV sau Niết bàn, thì Hữu bộ Sarvastivada
sinh ra bốn bộ phái mới là Vatsiputrya (Ðộc tử bộ) Mahisasaka
(Hóa địa bộ), Kasyapiya (Ấm quang bộ) và Sautrantika (Kinh lượng
bộ). Thành lập bộ phái Ðộc tử bộ là một Bà la môn tên
là Vataiputrya, học trò của Rabula. Chính Rahula đã truyền bộ
luận A Tỳ Ðàm của Xá lợi Phất (Sariputra abhdharma Vatsiputrya.
Sau đó, từ Ðộc tử bộ lại nảy sinh ra bốn bộ phái mới
là Dharmottarya (Pháp thượng bộ), Bhadrayaniya (Hiền vị bộ),
Sammatiya (Chánh lượng bộ) và Channagirika (Mật Lâm bộ).
Bộ phái Mahisasaka
được thành lập bởi một Bà la môn, trước khi xuất gia
có làm quan chức về địa bạ, địa chính, sau đó xuất gia,
chứng quả A la hán. Một bộ phái mới, Dharmaguptaka (Pháp tạng
bộ) sinh ra từ bộ phái Mahisasaka (Hóa địa bộ).
Còn bộ phái Kasyapiya
hay Sauvarsaka (Ấm quang bộ) là do A la hán Suvarsaka Kasyapiya thành
lập.
Bộ phái Kinh lượng
bộ (Sautrantika) theo tên gọi của nó cho biết, chỉ công nhận
tính chính thống của Kinh tạng, do Phật đích thân thuyết
giảng mà thôi.
c/ Bảng phân
phái của Ðại chúng bộ:
Bảng này thuộc
Ðại chúng bộ, nhưng không rõ tác giả là ai. Bản này được
dịch ra chữ Hán, giữa các năm 317 và 420.
I. Ðại chúng
bộ:
1.Ekavyavahara
(Nhất thuyết bộ)
2. Lokottara (Thuyết
xuất thế bộ)
3. Kukukklika (Kê
dẫn bộ)
4. Bahusrutaka (Ða
văn bộ)
5. Prajnativadin
(Thuyết giả bộ)
6. Mahadeva - thế
kỷ III sau Niết bàn.
7. Caitika (Caitra)
(Chế đa sơn bộ)
8. Matara (Uttarasaila)
II. Thượng tọa
bộ:
1. Sarvastivada
(Hữu bộ)
2. Mahisasaka (Hóa
địa)
3. Dharmaguptaka
(Pháp tạng)
4. Suvarsa (Ấm
quang)
5. Vatsiputrya (Ðộc
tử)
6. Dharmottarika
(Pháp thượng)
7. Shadrayanya (Hiền
vị)
8. Sammatiya (Chánh
lượng)
9. Sannagarika (lâm
sơn bộ)
10. Kasyapiya
11. Sutravadin
12. Samkrantika
(Kinh lượng bộ)
d/ Bảng phân
phái, lập ra từ các kinh sách chữ Pàli:
Trong tư liệu
dẫn chứng, có thể kể: Dipavamsa (đảo sử), Mahavamsa, cuốn
Kathavattu v.v...
I. Mahasanghikas:
1. Cokulika
2. Pannati
3. Bahussutaka hay
Bahulika
4. Cetya
5. Bkavyoharika
II. Theravada:
1. Mahimsasaka
2. Sabbatthivada
3. Kassapiya
4. Samhantika
5. Suttavada
6. Dhammaguttika.
7. Vajjiputtaka
8. Dhammuttarya
9. Bhadrayanika
10. Chandagarika
11. Sammitya
Về thời điểm
phân phái, các tài liệu Tích Lan cho biết:
1. Trong thế kỷ
đầu tiên sau Niết bàn (486-386), hiện tượng phân phái chưa
xảy ra.
2. Trong thế kỷ
II, tức là giữa Ðại hội kiết tập lần thứ hai, (386 trước
CN hay là 100 sau NB), và Ðại hội Kiết tập lần thứ ba (256
trước CN hay 236 sau NB) có 18 bộ phái xuất hiện.
3. Trong thế kỷ
III sau NB, tức từ 286 đến 186 trước CN, có 6 bộ phái mới
xuất hiện và phát triển ở Ấn Ðộ: Hemavata, Rajagirya, Siddhatika,
Pubbaseliya Aparaseliya và Vajiriya.
Có thể đây là
sáu bộ phái nhánh, tách khỏi Ðại chúng bộ năm 255 sau NB
(236 trước CN), rồi sau đó tạo thành ba bộ phái mới là:
Vetulya, Andhaka và Anya-Mahasamghika.
4. Năm 236 sau NB,
tức 250 trước CN, Thượng tọa bộ du nhập vào Xây Lan, dưới
sự chỉ đạo của Mahinda. Ðại biểu của Thượng tọa bộ
ở Xây Lan là các du sĩ thuộc tu viện Mahavira, kể cả tu viện
mới Mahameghavana, do vua Devanampiyatissa tặng họ. Trong khuôn
viên của tu viện mới này có bảo tháp Thuparama, do vua Devanampiyatissa
xây, và cây bồ đề lớn lên từ một nhánh của cây bồ
đề ở Caya, do em gái của Mahinda là Sanghamitta đem sang. Có
phòng làm lễ bố tát (Uposatha) do vua Dutthagamani xây cũng như
bảo tháp nổi tiếng Mahathupa hay là Dagoba Ruvanveli cũng do vua
này tạo dựng. Hiện nay các tu sĩ thuộc tu viện Mahavira cũng
tự xem mình là đại biểu uy quyền nhất của Kinh và Luật
tạng Phật giáo nguyên thủy.
Thế nhưng, ngay
ở Xây Lan, sự thống nhất của Thượng tọa bộ cũng không
giữ vững được.
Dưới triều vua
Vattagamani, tức năm 454 sau NB hay năm 32 trước CN, một số
tu sĩ tách khỏi bạn đồng tu của mình ở tu viện Mahavira
và đến tu viện Abhayagira, phía Bắc thủ đô Anuradhapura, lập
ra bộ phái Dhammarucika.
Dưới triều vua
Vcharikatissa, 746-768 sau NB, tức 260-262 TL, một nhánh Ðại thừa
gọi là Vetullavada xuất hiện ở Xây Lan, gặp sự chống đối
của Kapila, một Thượng thư trong triều, nhánh Ðại thừa
này vẫn còn một số Tăng sĩ trung thành trong bộ phái Dhammarucika.
Dưới triều vua
Gothakabhaaya (785-798 sau NB, tức 299-317 TL) một số Tăng sĩ thuộc
bộ phái Dhamamrucika tách ra sang ở chùa Dakhinavihara, lập ra
bộ phái mới gọi là Sangaliya. Sự phân phái này do Thượng
tọa Sagala chủ xướng xảy ra vào năm 795 sau Niết bàn.
Dưới triều vua
Mahasena (322-349 TL) bộ phái mới này chiếm tu viện mới Jevatana
ở Anuradhapura. Từ đó, bộ phái đổi tên là Jetavaniya.
e/ Bảng của
Manjusriparipracchha:
Bảng phân phái
này được dịch ra chữ Hán bởi Sanghabhara, năm 518.
I. Mahasanghika:
- Ekavyavaharika
- Lokottaravada
- Kaukulika
- Bahusrutya
- Caitika
- Purvasaila (Tây
sơn trụ)
- Uttarasaila
II. Sthavira:
- Sarvastivada
- Haimavata
- Vatsiputrya
- Dharmottariya
- Bhadrayarmya
- Sammatiya
- Sangdagatika
- Mahisasaka
- Dharmaguptaka
- Kasyapiya
- Sautrantika
g/ Bảng phân
phái của Bhavya:
Shavya có thể
là tu sĩ kiêm nhà văn lớn Bhavaviveka, sống vào hậu bán thế
kỷ VI, là người sáng lập ra nhánh Svatantrika - Sautrantika của
trường phái Trung quán. Bảng này mở đầu bằng lời ghi nhận
cuộc phân phái lớn thứ nhất xảy ra dưới triều vua Asoka,
khoảng 160 năm sau Niết bàn, dẫn tới thành lập hai bộ phái
chính là Sthavira và Mahasanghika.
I. Mahasanghika:
- Malamahasanghika
- Ekavyavaharika
- Lokottaravadin
- Bahusrutya
- Prajnaptivadin
- Caitika
- Prvasaila
- Aparasaila
II. Sthavira:
- Mulasthavira
hay là Haimavata
- Sarvastivada hay
là Vibhajyavadin, Hetuvadin, Muruntaka.
- Vatsiputrya
- Dharmottariya
- Bhadrayaniya
- Sammatiya cũng
gọi là Avantaka hay Kurukulla
- Mahisasaka
- Dharmaguptaka
hay Kasyapiya
- Uttariya hay Samkrantivadin.
h/ Bảng của
bộ phái Sammatiya:
I. Mahasanghika
- Ekavyavaharika
- Gokulika
- Bahusrutya
- Prajnaptivadin
- Caitika
II. Sthavira
- Malasthavira
- Sarvastivadin
- Vibhajyavadin
- Mahasisaka
- Dharmaguptaka
- Tamrasatiya
- Kasyapiya
- Samkrantivadin
- Vassiputrya
- Mahagirya
- Dharmattariya
- Bhadrayaniya
- Sannagarika
- Sammatiya
- Haimavata.
i/ Bảng phân
phái của Ðại chúng bộ, theo sử gia Tây Tạng Taranatha:
I. Sthavira
- Sarvastivadin
- Mulasarvastivadin
- Sautrantika
- Vatsiputriya
- Sammatiya
- Dharmottariya
- Bhadrayaniya
- Sannagarika.
II. Mahasanghika:
- Mulamahassanghika
- Purvasaila
- Aparasaila
- Pajagirika
- Haimavata
- Siddharthika
- Cokulika
III. Vibhajyavadin:
- Mahisasaka
- Kasyakiya
- Dharmaguptaka
- Tamrasatiya.
Bảng phân phái này
chắc là ra đời muộn, cho nên có ghi thêm nhiều bộ phái
mới. Thí dụ, bộ phái Tamrasatiya, còn gọi là Tamrasarniya chính
là các tu sĩ ở vùng Xây Lan Taprobane, bao gồm nhiều luậạn
sư nổi tiếng với các chủ thuyết từng được các luận
sư Vasubandhu và Asanga bàn tới.
k/ Bảng năm
bộ phái:
Không rõ tác giả
lập ra bảng 5 bộ phái. Nhưng hình như năm bộ phái này là
nổi tiếng nhất và còn tồn tại khi Huyền Trang tới Ấn
Ðộ vào thế kỷ VII. Năm 630, khi Huyền Trang tới Uddiyana,
thì có được năm bộ Luật, thuộc năm bộ phái: Dharmaguptaka,
Mahisasaka, Kasyapiya, Sarvastivada và Mahasanghika. Ở Trung Quốc
vào năm 587, có bản dịch Hán văn của 5 tiểu sử Phật Thích
Ca, nhưng khác biệt nhau và thuộc về năm bộ phái khác nhau:
Mahasanghika, Sarvastivada, Kasyapiya, Dharmaguptaka và Mahisasaka.
Sau đây là bảng
năm bộ phái chính cùng với những bộ phái nhánh:
I. - Sarvastivada
- Vatsiputriya
- Dharmottariya
- Bhadrayaniya
- Sannagarika.
II. - Mahisasaka
III. - Kasyapiya
- Samkrantika
- Sammatiya
IV. - Mahasanghika
- Ekavyavaharika
- Bahusrutya
- Prajnaptinvada
- Caitika
- Aparasaila
- Uttarasaila
V. - Dharmaguptaka.
l- Nhận xét
của Huyền Trang khi đến Ấn Ðộ, về tình trạng các bộ
phái:
Trong cuốn Tây
du ký, Huyền Trang mô tả ở Ấn Ðộ vào thời ông đến,
có các loại Tỷ kheo như sau:
1. Số
Tỷ kheo không thuộc bộ phái nào nhất định. Họ sống thành
những nhóm nhỏ.
2. Tỷ kheo theo
Tiểu thừa giáo, nhưng thuộc bộ phái nào không rõ.
3. Các Tỷ kheo
thuộc Ðại chúng bộ và Thuyết xuất thế bộ (Lokottavaradin).
4. Các Tỷ kheo
thuộc Hữu bộ (Sarvastivadin).
5. Các Tỷ kheo
Thượng tọa bộ và những Tỷ kheo Trưởng lão, chịu ảnh
hưởng của tư tưởng Ðại thừa.
6. Tỷ kheo thuộc
bộ phái Sammitiya.
7. Những Tỷ kheo
thuộc Ðại thừa giáo, sống tập trung đông đảo ở các
vùng Uddhiyana, Gharni, Magadha và miền Nam Kosala.
8. Số Tỷ kheo
Ðại thừa giáo, nhưng sống trong những tu viện trước đây
thuộc Tiểu thừa, do đó, họ cũng nghiên cứu Kinh và Luật
thuộc Tiểu thừa.
Theo các số liệu
của Huyền Trang, thì ở Ấn Ðộ cũng như ở Trung Á, số
Tỷ kheo theo Ðại thừa và Tiểu thừa xấp xỉ nhau, không
chênh lệch mấy: khoảng 134.000 Tỷ kheo Tiểu thừa đối lại
với 119.430 Tỷ kheo Ðại thừa giáo.
m/ Bảng bốn
bộ phái chính của Nghĩa Tịnh:
Một thế kỷ
sau Huyền Trang, Pháp sư Nghĩa Tịnh đi thăm Ấn Ðộ và các
đảo vùng Nam Hải. Ông cho biết thêm những chi tiết sau về
tình hình các bộ phái:
Nói chung chỉ
còn lại bốn bộ phái chính:
1- Bộ
phái Ðại chúng bộ phân thành năm bộ phái nhỏ. Mỗi tạng
của ba tạng của bộ phái này, gồm 100.000 câu kệ. Tổng
cộng ba tạng có 300.000 câu kệ.
2- Bộ phái Sthavira
phân thành ba bộ phái nhánh.
3- Bộ phái Hữu
bộ phân thành bốn bộ phái nhánh: Dharmaguptaka, Mahisasaka, Kasyapiya...
4- Bộ phái Sammitya
chia thành bốn bộ phái nhánh.
n/ Bảng của
Vinitadeva thuộc Hữu bộ:
I. Mahasanghika:
- Purvasaila
- Aparasaila
- Haimavaita
- Lokottaravadin
- Prajnajtivadin.
II. Sarvastivadin:
- Mulasarvastivada
- Kasyapiya
- Mahisasaka
- Dharmaguptaka
- Bahusrutya
- Tamrasatiya
- Vibhagyavadin.
III. Sthavira:
- Jevataniya
- Abhayagirivasin
- Mahaviharavasin.
IV. Sammitiya:
- Kaurukullaka
- Avantaka
- Vatsiputrya.
Trên đây là tình
hình phân phái qua các thời kỳ. Trong một bài sau (*) chúng
ta sẽ nghiên cứu chủ thuyết khác biệt của các bộ phái./.
(*) «Bàn
về chủ thuyết các bộ phái« . Minh Chi