Phần II
- Bài đọc thêm
Lịch
sử kết tập Pháp tạng lần thứ tư
Thích Phước
Sơn
I- Thuyết thứ
nhất
Sau
Phật Niết bàn khoảng 400 năm, tại nước Kiền Ðà La (Gandhàra)
có vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishca) trị vì, đất nước phú cường,
danh vang khắp nơi ,các nước xung quanh đều quy phục. Trong
những lúc rảnh rỗi việc triều đình, nhà vua thường đọc
kinh Phật. Mỗi ngày vua thỉnh một vị cao tăng vào cung thuyết
pháp. Nhưng vua thấy quan điểm mỗi người một khác, không
ai giống ai, nên rất băn khoăn, không biết làm sao để giải
tỏa. Vì vậy vua liền thỉnh giáo Hiếp Tôn Giả (Parsva), Hiếp
Tôn Giả liền thưa: « Tâu Ðại vương, vì đức Như Lai nhập
diệt trải qua năm tháng đã lâu, các đệ tử thường dựa
theo quan điểm của thầy mình, có những nhận thức bất đồng,
do đó mà sinh ra mâu thuẫn với nhau«.
vua nghe nói thế
rất lấy làm buồn lòng, trầm ngâm hồi lâu, rồi bạch với
tôn giả: «Trẫm nhờ hưởng được phúc đức của tổ tiên,
nên được kế thừa tông miếu, cai trị muôn dân, nay tuy xả
cách Thánh nhân (Phật), nhưng còn may mắn nếm được pháp
vị. Trẫm muốn quên sự hèn kém của mình, dốc lòng thiệu
long chánh pháp, mở đại hội kết tập pháp tạng để thống
nhất những quan điểm riêng của các bộ phái«.
Hiếp Tôn Giả
tán thán: «Ðại vương đã gieo trồng căn lành từ đời trước,
nên đời này đủ phước lộc, lại lưu tâm đến Phật pháp,thực
là hợp với nguyện vọng của bần tăng«. Thế rồi, vua truyền
lệnh triệu tập các bậc thánh triết xa gần. Nhận được
sắc chỉ, các bậc minh triết thông đạt tam tạng, những
bậc hiền tài xuất chúng từ bốn phương vân tập về kinh
thành.Vua bèn thiết lễ cúng dường suốt 7 ngày, và bàn kế
hoạch mở đại hội kết tập. Nhưng thấy số người khá
đông đúc, sợ khó tránh khỏi ô hợp, nên vua đem điều thao
thức của mình trình lên Tăng chúng rồi truyền lệnh: «Những
vị nào đã chứng đắc Thánh quả thì ở lại, những vị
nào còn triền phược xin hãy trở về chỗ cũ«. Tuy vậy,
chúng hội vẫn còn quá đông, nên vua lại ra lệnh: «Các bậc
vô học (chứng quả A la hán) xin hãy ở lại,còn các bậc
hữu học hãy ra về. Thế nhưng số người vẫn còn nhiều,
vì thế vua lại hạ lệnh: «Những vị đầy đủ tam minh lục
thông hãy ở lại, còn những vị khác đều hãy trở về«.
Nhưng hội chúng vẫn còn đông, buộc lòng vua phải hạ lệnh
một lần cuối cùng: «Những ai đối với nội giáo thì tinh
thông Tam tạng, đối với ngoại điển thì quán triệt ngũ
minh, xin mời ở lại, còn những vị khác xin hoan hỷ lui về
trú xứ«.
Chung cục, sau
bốn lần gạn lọc, số người còn lại tính được 499 người.Lúc
ấy, nhà vua thấy trong nước mình hay mưa nắng bất thường,
sợ làm khổ nhọc các vị tôn túc, nên định đưa hội chúng
đến thành Vương Xá - nơi thạch thất mà tôn giả Ca Diếp
xưa kia đã kết tập giáo pháp - mở đại hội kết tập.Nhưng
Hiếp Tôn Giả cùng các vị tôn túc can rằng: «Thưa Ðại
vương, không nên. Vì ở đó có nhiều ngoại đạo, nhiều
luận sư khác phái rất phức tạp. Chúng ta sẽ phải bận
rộn thù tiếp,giao tế với họ mất hết thì giờ, ắt hẳn
sẽ gây trở ngại công việc kết tập và soạn ra luận giải.
Hơn nữa, đại chúng giờ đây đều nhất trí muốn thực
hiện việc kết tập tại nước này. Vì đất nước này ở
bốn phía có núi non kiên cố,có thần Dược Xoa gìn giữ,
đất đai phì nhiêu , sản vật phong phú, là nơi thánh hiền
vân tập, các bậc thần tiên qua lại,và hiện giờ Tăng chúng
đang quy tụ tại đây«. Sau khi nghe trình bày, vua thấy hợp
lý, nên chuẩn thuận đề nghị ấy.
Thế rồi, vua
truyền lệnh cho công nhân xây dựng lo thiết lập già lam tại
thành Ca Thấp Di La (Kasmira) để kết tập pháp tạng.
Lúc bấy giờ,
các vị A la hán thấy tôn giả Thế Hữu (Vasumitra) mặc y phục
luộm thuộm, đang đứng trước hành lang, bèn nói với tôn
giả: «Ông chưa đoạn trừ kiết sử, nếu luận nghị giáo
pháp sẽ vấp phải sai lầm, vậy ông nên rời khỏi đây mà
đi nơi khác«.
Thế Hữu nói:
«Nay chư hiền đối với chánh pháp không có điều chi nghi
ngờ, muốn thay Phật để tuyên dương nên mới tập họp nơi
đây mà luận bàn Phật pháp. Tôi tuy không được thông tuệ,
nhưng cũng hiểu giáo pháp ít nhiều, văn chương u huyền của
tam tạng và những lý luận khúc chiết của ngũ minh cũng đã
từng nghiên cứu và đạt được những ý thú nhất định«.
Các vị A la hán
nói: «Lời nói suông không có gì làm bằng chứng, nếu vậy
thì thầy hãy ẩn cư nơi vắng vẻ một thời gian, lo tu tập
gấp để chứng đạt quả vô học, rồi mới tham dự cũng
chưa muộn«.
Thế Hữu nói:
« Tôi xem quả vô học cũng như đàm dãi, chí tôi chỉ cầu
Phật quả, chẳng thèm đi con đường nhỏ«. Bèn vò cái y
rách ném đi.Khi chiếc y chưa rơi tới đất, thì tôn giả (tuyên
bố mình) chứng được thánh quả vô học.
Lúc ấy, các vị
A la hán lại khiển trách: «Kẻ Tăng thượng mạn chính là
người này đây. Quả vô học được chư Phật hết lời tán
thán, đâu có thể chứng đắc dễ dàng như thế?«
Muốn cho mọi
người hết mối ngờ vực, Thế Hữu bèn ném chiếc y lên
hư không, chư Thiên bèn tiếp lấy và cung kính thỉnh cầu:
«Tôn giả nên chứng Phật quả để sau này kế thừa Ðức
Từ Thị (Di Lặc), làm bậc tôn quý nhất trong ba cõi, và làm
chỗ nương tựa cho bốn loài, chứ giờ đây tôn giả chứng
quả nhỏ làm chi?«.
Bấy giờ các
vị A la hán thấy sự ly kỳ như thế bèn tạ lỗi, và mời
tôn giả tham gia đại hội kết tập cho đủ số 500 người.
Ðồng thời hội chúng suy cử Thế Hữu làm đệ nhất và
Hiếp Tôn Giả làm đệ nhị chủ tọa cuộc kết tập để
quyết đoán những ý kiến bất đồng của cử tọa.Những
vấn đề của kinh điển, sau khi được hội nghị thảo luận
và biểu quyết, bèn biên tập thành ba bộ luận, đó là:
1. Bộ
luận «Ưu Ba Ðề Xá« gồm 10 vạn bài tụng, dùng để giải
thích Kinh tạng.
2. Bộ luận «Tì
Nại Da Tì Bà Sa« cũng gồm 10 vạn bài tụng, để giải thích
Luật tạng.
3. Bộ luận «
A Tì Ðạt Ma Tì Bà Sa« cũng gồm 10 vạn bài tụng, để giải
thích Luận tạng.
Như vậy cả ba bộ
gồm 30 vạn bài tụng, chín trăm sáu mươi vạn lời (9.600.000),
giải thích đầy đủ ba tạng giáo điển. Trong đó, không
có chi tiết nào là không bàn bạc tận cùng, không có chỗ
sâu xa nào là không cứu xét rốt ráo. Những nghĩa lý thâm
u được làm cho sáng tỏ, những lời nói còn mù mờ được
làm cho rõ ràng. Thành quả này nhằm truyền lại muôn đời
cho hậu thế dùng làm cương lĩnh.
Kế đến, vua
Ca Nị Sắc Ca bèn sai thợ đúc đồng dùng đồng đỏ dát
thành lá mỏng, để chép luận văn, rồi đem cất vào trong
hang đá, xây thép lên trên để cúng dường. Vua lại sai thần
Dược Xoa phòng vệ khắp nước, không để cho ngoại đạo
mang bộ luận ấy ra khỏi lãnh thổ. Những ai muốn học tập
nó thì phải đến đó mà học .
Sau khi xong việc,
vua bèn thiết lễ trai tăng cúng dường rất trọng hậu để
chúc mừng đại hội kết tập vừa thành công viên mãn (Ðại
Ðường Tây Vức, quyển ba, Sa môn Biện Cơ soạn tại chùa
Từ Ân, ÐTK 51, ký hiệu 2087, tr 886b).
Tóm tắt:
1/ Lý do
kết tập: vì chư Tăng của các bộ phái có những kiến giải
bất đồng về kinh điển,nên mới mở đại hội kết tập.
2/ Thời gian kết
tập: Khoảng 400 năm sau Phật Niết Bàn.
3/ Ðịa điểm
kết tập: tại thành Ca Thấp Di La (Kasmira), tên cũ gọi là
Kế Tân, nước Kiền Ðà La (Gandhàra) thuộc miền Tây Bắc
Ấn Ðộ.
4/ Vị chủ tọa
cuộc kết tập: Tôn giả Thế Hữu (Vasumitra) với sự trợ
thủ của Hiếp Tôn Giả.
5/ Số người
tham dự kết tập: 500 vị Hiền thánh (kể cả vị chủ tọa)
đã đạt địa vị vô lậu, tức quả A la hán.
6/ Người khởi
xướng cuộc kết tập: vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishka), vị hộ
pháp được xem là có công tương đương với hoàng đế A
Dục.
7/ Thành quả cuộc
kết tập: Soạn ra ba bộ luận: kinh sớ, luật sớ, và luận
sớ, gồm ba mươi vạn bài tụng, 9.600.000 lời.
8/ Phương thức
bảo quản: Vua ra sắc lệnh sai thần Dược Xoa bảo vệ không
cho ngoại đạo hay người nào mang bộ luận này ra khỏi nước.
II- Thuyết thứ
hai
1. Thời
gian kết tập: Sau Phật Niết bàn 500 năm, và thời gian biên
tập xong các bộ luận kéo dài đến 12 năm.
2. Ðịa điểm
kết tập: Tại Kế Tân, tức Ca Thấp Di La (Kasmira)
3. Vị chủ tọa
cuộc kết tập: Tôn giả Ca Chiên Diên Tử, và Bồ tát Mã
Minh chấp bút.
4. Số người
tham dự: 500 vị La hán và 500 vị Bồ tát.
5. Thành quả:
Soạn một bộ luận gồm 8 kiền độ (tức 8 phần), đặt
tên là Phát Tuệ luận (hay Phát Trí luận) gồm 5 vạn bài
kệ. Sau 12 năm mới hoàn thành, giả thích rộng rãi, gồm thành
100 vạn bài kệ.
6. Phương thức
bảo quản: Các thánh giả dùng thần lực khiến các thần
linh bảo vệ không cho bất cứ một ai mang bộ luận này ra
khỏi nước (Bà Tẩu Bàn Ðậu - Vasubandhu) pháp sư truyện,
Chân Ðế đời Trần dịch, ÐTK 50, ký hiệu 2049, tr 189a).
III- Thuyết thứ
ba
1.Thời
gian kết tập: Vào thời vua Bà Tha Già Mã Ni (Vattagàmani) cai
trị Tích Lan (ước chừng 400 năm sau Phật nhập diệt (?).
2. Ðịa điểm
kết tập: tại thôn Mã Ðặc Lê, phía Ðông A Lư Ca, nước
Tích Lan.
3. Vị chủ tọa
cuộc kết tập: Thượng tọa La Hi Da Ðại.
4. Số người
tham dự: 500 vị Tỳ kheo.
5. Người khởi
xướng và bảo trợ: Vua Ba Tha Già Mã Ni (Vattagàmani).
6. Thành quả kết
tập: Kỳ kết tập này đọc lại giáo điển 3 tạng của
Thượng tọa bộ, hiệu đính lại những chú thích của ba
tạng, sắp xếp lại thứ tự của kinh điển, viết một bộ
Tam tạng bằng tiếng Pàli, và làm bản chú thích bằng văn
Tăng Già La (Tích Lan) (đảo sử Tích Lan, theo sự dẫn lại
của Phật Quang Ðại từ điển, tr 5189a).
* Vài điều ghi
nhận
- Thuyết thứ
nhất, tư liệu lấy từ Tây Vức ký, một tác phẩm
viết khá súc tích, khúc chiết và chặt chẽ, khá nổi tiếng,
nhất là về phương diện sử liệu. Do đó, gần như hầu
hết các học giả đều công nhận học thuyết này.
- Thuyết thứ
hai lấy từ Bà Tẩu Bàn Ðậu pháp sư truyện. Văn của
tập truyện này viết chuệch choạc rời rạc, các dữ kiện
phần lớn không giống với Tây Vức ký. Tuy cũng được
xem là lần kết tập pháp tạng thứ tư, nhưng rất ít học
giả công nhận giá trị của nó.
- Thuyết thứ
ba, tư liệu còn ghi lại đầy đủ trong Ðảo sử. Ðịa điểm
và thành phần tham dự hoàn toàn khác hẳn với cuộc kết
tập tại Ca Thấp Di La. Tuy vậy, các học giả đều công nhận
đây là lần kết tập thứ tư của Phật giáo Thượng tọa
bộ tại Tích Lan.
- Nếu như nước
Kiền Ðà La hay miền Tây-Bắc Ấn Ðộ được xem là cái nôi,
là căn cứ địa mà Phật giáo đại thừa thai nghén và phát
triển, rồi từ đó truyền sang các nước thì trái lại, Tích
Lan chính là trung tâm của Phật giáo của các nước khác trong
vùng.
- Thời điểm
vua Ca Nị Sắc Ca ra đời có tới 5 mảng tư liệu đề cập
đến, xê dịch từ 300 đến 700 năm, nhưng chỉ có thuyết
cho rằng ông ra đời vào khoảng 400 năm sau Phật nhập diệt,
là được các học giả đồng tình hơn hết (Xem thêm Phật
Quang đại từ điển, tr.3976b)./.