Phần II
- Bài 2
Ðại
cương lịch sử Phật giáo Trung quốc
Thích Tâm Khanh
A- Dẫn nhập
Nếu xem Phật
giáo (PG) như một thực thể văn hóa - tôn giáo sống động
góp phần tạo ra văn hiến - văn minh nhân loại thì chính vì
lý do này đã khiến PG có nhiều khuôn mẫu, hình thái rất
khác nhau trong mỗi thời đại lịch sử và ở mỗi quốc gia
khác nhau. Từ nguồn cội Ấn Ðộ, PG đã theo dòng thời gian
truyền đi khắp nơi. Cách đây hơn 2000 năm, PG đã có mặt
tại Trung Quốc. Trên phương diện tổng quát, quá trình du
nhập - phát triển của Phật giáo Trung Quốc (PGTQ) có liên
hệ mật thiết với lịch sử phát triển PG của các nước
trong khu vực, mà đặc biệt là PG Việt Nam. Do vậy, tìm hiểu
về lịch sử PGTQ giúp chúng ta rất nhiều trong việc nghiên
cứu lịch sử PG Việt Nam.
B- Nội dung
I- Phật giáo
du nhập vào Trung Quốc
1)- Con đường
du nhập của PG vào Trung Quốc:
Về mặt địa
lý, PG đã theo chân các nhà sư truyền giáo Phạm Tăng được
truyền đến Trung Quốc theo hai ngả đường là đường bộ
và đường thủy. Về đường bộ, chủ yếu là hai con đường
giao thông lớn: phía Bắc và phía Nam của các nước Tây vực.
Về sau, giữa hai con đường trên, còn có con đường «Nhập
Trúc cầu pháp« của ngài Pháp Hiển. Về đường thủy thì
chủ yếu là từ các hải cảng ở tỉnh Quảng Ðông (1).
2)- Niên đại
du nhập:
Hiện nay, có rất
nhiều thuyết khác nhau đề cập đến niên đại du nhập của
PG vào Trung Quốc. Có hai thuyết đáng tin tưởng hơn cả là
thuyết Khẩu truyền PG của Y Tồn được chép trong sách Ngụy
thư Thích Lão Chí và thuyết Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ
10 (67 TL) chép trong sách Hậu Hán Kỷ và sách Phật
Tổ Thống Kỷ.
- Theo thuyết
thứ nhất thì PG được biết đến ở Trung Quốc sớm nhất
cũng từ năm thứ 2 trước Tây lịch (niên hiệu Nguyên Thọ
năm đầu - đời vua Ai Ðế nhà Tiền Hán).
- Theo thuyết thứ
hai thì PG có mặt ở Trung Quốc từ năm 67 Tây lịch (niên
hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10 - đời vua Minh Ðế nhà Hậu Hán).
Từ hai thuyết trên,
có thể nói PG được truyền vào Trung Quốc rất sớm, chủ
yếu là theo hai con đường thủy - bộ từ phía Bắc và phía
Nam của các nước Tây vực vào thế kỷ đầu Tây lịch.
II- Ðại cương
lịch sử phát triển của PGTQ
1)- Năm thời
đại phát triển của PGTQ:
Trên đại cương,
một số nhà nghiên cứu sử học PG hiện nay (2) đã theo những
nét đặc trưng của quá trình hoạt động PG mà phân lịch
sử phát triển của PGTQ thành 5 thời đại là:
a/- Thời
đại phiên dịch: từ khi PG bắt đầu truyền tới cho đến
đầu đời Ðông Tấn.
b/- Thời đại
nghiên cứu: từ đầu đời Ðông Tấn cho đến thời đại
Nam - Bắc triều.
c/- Thời đại
kiến thiết: từ đời Tùy đến đời Ðường.
d/- Thời đại
kế thừa: kể từ đời Ngũ đại đến đời nhà Minh.
e/- Thời đại
suy vi: từ đời Thanh trở về sau.
Ðến thời đại
Trung Hoa Dân quốc thì nhiều phong trào chấn hưng PG nổi lên
tạo cho PG Trung Hoa cận đại có nhiều bước phát triển.
2)- Các danh
tăng và các sự kiện Phật giáo nổi bật của PGTQ qua 5 thời
đại:
a/- Thời
đại phiên dịch:
PGTQ thời kỳ này
bao gồm PG ở các đời Hậu Hán (25-220 TL); Tam quốc (220-280
TL) gồm hai nhà Ngụy (220-265 TL), Ngô (222-280 TL) và Tây Tấn
(265-317 TL).
PGTQ giai đoạn
này chủ yếu lấy việc phiên dịch làm công tác Phật sự
chính. Tuy ở mỗi triều đại, mức độ phát triển của PG
có khác nhau, nhưng nhìn chung sự thành tựu của các công trình
phiên dịch đã dần định hình, tạo tiền đề cho các công
trình nghiên cứu ở thời đại sau. Trong thời đại này có
các danh tăng kiệt xuất xuất hiện với các công trình phiên
dịch giá trị như sau:
* Ðời Hậu Hán
(25-220 TL): Ca Diếp Ma Ðằng (Kàsyapamátanga) và Trúc Pháp Lan
(Dharmaraksa) là hai vị Tăng Ấn Ðộ đầu tiên đến Trung Quốc
vào niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10 (67 TL) thời vua Minh Ðế
Hậu Hán. Trong khi truyền đạo tại miền Bắc Ấn, hai Ngài
đã sang Trung Quốc theo lời thỉnh cầu của phái đoàn 18 người
do vua cử đến Tây Trúc tìm đạo. Khi hai Ngài tới Trung Quốc,
vua Minh Ðế rất tôn kính, vua cho dựng chùa Bạch Mã, là ngôi
chùa đầu tiên ở Trung Quốc, để hai Ngài phiên dịch kinh
điển. Tứ Thập Nhị Chương là bộ kinh đầu tiên được
hai Ngài dịch tại chùa Bạch Mã.
Sau hai ngài Ca
Diếp Ma Ðằng và Trúc Pháp Lan, được sự ủng hộ của Sở
Vương Anh - người em khác mẹ của Hán Minh Ðế, nhiều vị
Tăng và cư sĩ người Ấn khác cũng tới Trung Quốc và tiếp
tục các công trình phiên dịch kinh điển từ tiếng Phạn
(chủ yếu là Bắc Phạn, Sanskrit) sang Hán ngữ như ngài Trúc
Phật Sóc (Sangha Buddha), cư sĩ An Huyền - người nước An Tức
(Parthia), ngài Ðàm Quả (Dharmaphàla) - người Tây vực... Nổi
bật trong số đó là các ngài An Thế Cao (Arsakes) và Chi Lâu
Ca Sấm (Lokaraksa), đến Trung Quốc vào đời vua Hoàn Ðế cuối
đời Hậu Hán. Ðặc biệt, có ngài Nghiêm Phật Ðiều là
vị tu sĩ người Trung Quốc đầu tiên tham gia vào công trình
phiên dịch kinh điển. PG đã dần dần được phổ cập trong
dân gian.
* Ðời Tam quốc
(220-280 TL): Sau đời Hậu Hán, Trung Quốc chia thành ba nước
là Ngụy, Thục, Ngô. PG trong thời kỳ này phổ cập chủ yếu
ở hai nước Ngụy và Ngô. Cũng như thời kỳ mới du nhập,
các hoạt động PG ở thời kỳ này chủ yếu vẫn là các
công trình phiên dịch kinh điển.
Ở nước Ngụy,
có các bậc cao tăng có công phiên dịch và quảng bá giới
luật đầu tiên là các ngài Ðàm Ma Ca La (Dharmakàla) và ngài
Ðàm Ðế. Bộ Tăng kỳ giới bản của ngài Ðàm Ma Ca
La và bộ Ðàm vô đức Yết ma là hai bản giới pháp
căn bản đầu tiên của người xuất gia. Tuy vào thời Hậu
Hán đã có tu sĩ người Hán, nhưng người Trung Quốc được
thọ giới luật theo các pháp Yết ma đầu tiên lại là ngài
Chu Sĩ Hành, người nước Ngụy. Cũng chính Ngài là Tăng sĩ
Trung Quốc đầu tiên sang Tây vực để cầu pháp, là người
mở đường cho các chuyến «nhập Trúc cầu pháp« của các
thời đại sau này.
Các bậc cao tăng
thạc học của PG nhà Ngô nổi bật là ngài Khương Tăng Hội
và cư sĩ Chi Khiêm. Trước khi sang Ngô, ngài Khương Tăng Hội
(Kang Seng-Hui) là một trong những vị Tăng sĩ Ấn Ðộ đã
có công đưa PG vào Việt Nam (thời đó gọi là Giao Chỉ).
Tác phẩm kinh điển của Ngài phiên dịch nổi bật còn lại
đến ngày nay là Lục độ tập kinh, cũng là nguồn sử
liệu giá trị cho việc xác định niên đại du nhập của
PG Việt Nam (3).
* Ðời Tây Tấn
(265-317 TL): Theo bộ sách Khai nguyên Thích giáo lục, PG
đời Tây Tấn có nhiều vị Tăng sĩ rất có công trong việc
phiên dịch Tam tạng, nhưng nổi bật hơn cả là ngài Ðàm
Ma La Sát (Dharmaraksa - Hán dịch âm là Trúc Pháp Hộ).
Sau hơn 3 thế
kỷ, PG đã phổ cập trong nhân dân. Các cơ sở vật chất
của PG như chùa, tháp được xây dựng, số lượng Tăng Ni
và tín đồ Phật tử tuy chưa nhiều nhưng đã đặt nền móng
vững chắc cho các thời đại PG sau này. Nét đặc trưng chủ
yếu của PGTQ thời đại này là các công trình phiên dịch
kinh điển của các vị Tăng sĩ Ấn Ðộ cũng như Trung Quốc.
b/- Thời
đại nghiên cứu:
Về phương diện
lịch sử, thời đại PG này bao gồm trong hai thời đại lịch
sử Ðông Tấn và Nam - Bắc triều. Trong cả hai thời đại
lịch sử này, PGTQ ngoài công tác phiên dịch, đã dần bước
vào nghiên cứu những giáo nghĩa trong kho tàng kinh luận PG.
Xu hướng nghiên cứu này được bắt đầu từ thời Ðông
Tấn. HT Thích Thanh Kiểm đã nhận định: «Trong thời đại
Ðông Tấn, PG đều được phát triển trên cả hai phương
diện hình thức tín ngưỡng và tư tưởng giáo học. Vì trong
thời đại này có nhiều bậc Phạm tăng từ Tây phương tới,
lại có nhiều bậc cao tăng của Trung Quốc xuất hiện« (4).
Các bậc cao tăng
của thời Ðông Tấn có rất nhiều. Nổi bật là các ngài
Phật Ðồ Trừng (Buddhasimha), Ðạo An, Cưu Ma La Thập (Kumarajiva),
Ðạo Sinh, Tăng Triệu, Tăng Duệ, Ðạo Dong... của các nước
Ngũ hồ ở phía Bắc Trung Quốc. PG nhà Ðông Tấn ở phương
Nam có các ngài Tuệ Viễn, Giới Hiền, Phật Ðà Ba La (Buddhabhadra)...
Về tổng quan, PGTQ thời đại này có các sự kiện nổi bật
là:
* Phong trào «nhập
Trúc cầu pháp«: Theo bước chân của ngài Chu Sĩ Hành của
thời Tam quốc sang Tây vực học đạo, phong trào du học trong
thời đại này đã phát triển khá mạnh với các vị nổi
tiếng như ngài Pháp Hiển, ngài Trí Nghiêm, ngài Bảo Vân.
Nhưng đáng kể nhất vẫn là ngài Pháp Hiển. Ngoài những
kinh sách phiên dịch, tác phẩm Phật quốc ký (còn gọi
là Cao tăng Pháp Hiển truyện) là bộ sách tư liệu PG
sử đầu tiên của PGTQ.
* Giáo đoàn của
PGTQ hình thành: Kể từ ngài Chu Sĩ Hành, vị Tăng sĩ thọ
giới đầu tiên của PGTQ, đến thời Ðông Tấn, số lượng
Tăng sĩ đã phát triển rất nhanh và theo sau đó là sự gia
tăng số lượng chùa cảnh. Ðã có 1.768 ngôi chùa lớn với
23.000 Tăng Ni trong thời kỳ này. Các tổ chức Tăng đoàn do
vậy cũng nhanh chóng được thành lập. Giáo đoàn PGTQ được
hình thành đầu tiên là tổ chức giáo đoàn của ngài Phật
Ðồ Trừng và sau đó là của các ngài Thích Ðạo An, ngài
La Thập ở phía Bắc Trung Quốc. Về phương Nam có tổ chức
giáo đoàn «Bạch Liên xã« của ngài Tuệ Viễn. Các chức
vụ Tăng như Tăng chính, Tăng lục... cũng bắt đầu có trong
thời kỳ này.
* Phiên dịch bốn
bộ kinh điển trọng yếu và sự phát huy của giáo lý Ðại
thừa - nền tảng cho sự thành lập các tông phái: Có thể
nói PGTQ là nơi triển khai mạnh mẽ tư tưởng Ðại thừa
PG. Các kinh luận thuộc hệ thống Ðại thừa PG được phiên
dịch và trở thành những bộ sách căn bản cho giới học
Phật nghiên cứu. Trong thời PG Ðông Tấn (kể cả 16 nước
thuộc Ngũ hồ ở phương Bắc Trung Quốc), có 4 bộ kinh quan
trọng được phiên dịch là kinh Bát Nhã (bao gồm đại phẩm
Bát Nhã và tiểu phẩm Bát Nhã) và kinh Pháp Hoa do ngài La Thập
dịch, kinh Ðại Bát Niết Bàn do ngài Ðàm Vô Sấm dịch, kinh
Hoa Nghiêm do ngài Giác Hiền dịch. Các bộ luận liên quan đến
Bát Nhã được dịch trong thời kỳ này là Ðại Trí Ðộ
luận, Trung luận, Thập Nhị Môn luận đều do ngài La Thập
dịch. Các kinh luận nêu trên cùng với một số kinh luận
Ðại thừa khác, sau khi phiên dịch đã là các tác phẩm y
cứ cho tư tưởng Ðại thừa và ảnh hưởng mạnh mẽ đến
giáo nghĩa của các tông phái PGTQ các thời kỳ sau.
PGTQ trong thời
kỳ Nam - Bắc triều (420-588 TL) (5) tuy chịu nhiều thăng trầm
do hai lần bị «phế Phật« vào đời vua Võ Ðế - Bắc Ngụy
và vua Võ Ðế - Bắc Chu, cũng như các nghịch duyên về chiến
tranh, nhưng nhìn chung PG vẫn phát triển về mọi phương diện
từ tư tưởng - tín ngưỡng, tổ chức giáo đoàn và các mặt
văn hóa vật chất như kiến trúc, điêu khắc, hội họa...
Các bậc danh tăng
của Nam triều có các ngài Phật Ðà Thập (Buddhajìva), Cương
Lương Da Xá (Kàlayàsas), Câu Na Bạt Ma (Gunavarman), Cầu Na Bạt
Ðà La (Gunabhadra)... của nhà Tống. Ở nước Tề có các ngài
Tăng Tuệ, Huyền Xướng, Tăng Già Bạt Ða La (Sanghabhadra)...
Ðến đời Lương, vua Lương Võ Ðế rất thâm tín PG. Do vậy,
PG ở Nam triều thịnh phát nhất trong giai đoạn này. Các bậc
danh tăng trong và ngoài nước có rất nhiều như Trí Tạng,
Pháp Vân và Tăng Mân đều là những bậc cao tăng người Trung
Quốc .; Bồ Ðề Ðạt Ma (Bodhidharma), Tăng Già Bà La (Sanghapàla),
Ba La Mật Ða (Paramàntha) tức ngài Chân Ðế. Ðiểm đặc biệt
là trong thời nhà Lương, nhiều bộ luận PG quan trọng cũng
được dịch, giảng, và không khí nghiên cứu học thuật ấy
còn được kéo dài cho đến PG đời Trần.
PG ở Bắc triều
khá phát triển trong quảng đại quần chúng. Do ảnh hưởng
của hai pháp nạn dưới thời vua Thái Võ Ðế nước Bắc
Ngụy (466 TL) và sau đó hơn 100 năm là của vua Võ Ðế nước
Bắc Chu (560 TL), nên sự phát triển của PG không có tính ổn
định như PG Nam triều. Tuy vậy, không khí sinh hoạt của PG
không vì thế mà bị tắc trệ. Hàng ngàn bậc danh tăng từ
Tây vực và Ấn Ðộ vẫn đến Trung Quốc. Nhiều bộ kinh,
luận được phiên dịch từ thời Ðông Tấn hoặc trong đương
đại đã trở thành kim chỉ nam lập tông cho các tông phái
PG như Niết Bàn tông lấy giáo nghĩa kinh Niết Bàn làm chỗ
y cứ, Thành Thật tông theo bộ luận Thành Thật để lập
tông. Các tông phái PG khác cũng theo khuynh hướng trên mà thành
lập như Tỳ Ðàm tông, Tam Luận tông, Tịnh Ðộ tông, Ðịa
Luận tông, Thiền tông...
Như vậy, có thể
nói không khí nghiên cứu học thuật của PG dưới thời Nam
- Bắc triều đã được nâng lên ở mức độ cao hơn và cũng
phức tạp hơn. Ðặc biệt là sự xuất hiện của Thiền tông
do Sơ tổ Bồ Ðề Ðạt Ma với tuyên ngôn «bất lập văn
tự, giáo ngoại biệt truyền« (không dựa vào văn tự, chỉ
truyền riêng ngoài giáo) thành lập. Ðiều này dường như
phản ánh thái độ cách mạng tư tưởng của PG giai đoạn
này. Bởi lẽ, khi nghiên cứu học thuật trong PG một khi đã
trở thành lối mòn trí thức, gây nhiều tranh cãi luận lý,
thiếu hẳn hơi thở của sự chứng nghiệm thì sự ra đời
của tinh thần chú trọng vào thực nghiệm tâm linh của Thiền
tông hẳn là hết sức cần thiết.
PGTQ thời Ðông
Tấn và Nam - Bắc triều đã phát triển khá mạnh về mặt
nghiên cứu học thuật, thành lập tông phái và đặt nền
tảng cho sự thăng hoa của PG trong các thời đại sau. Ðến
thời Tùy - Ðường, sự ổn định trong cơ cấu kinh tế -
văn hóa xã hội đã tạo điều kiện cho PG thực hiện những
công trình Phật sự quan trọng.
c/- Thời
đại kiến thiết:
Cuối thời Nam -
Bắc triều, PG do ảnh hưởng của nạn «phế Phật« nên suy
yếu trầm trọng. Bước sang đời nhà Tùy, được sự ủng
hộ của các vị minh quân Tùy Văn Ðế và Tùy Dạng Ðế nên
được phục hưng nhanh chóng. Sách Lịch sử Phật giáo Trung
Quốc viết: «Ngay sau khi tức vị, vua (Văn Ðế) hạ chiếu
dựng chùa ở các danh sơn thuộc Ngũ Nhạc, và dựng một chùa
công cộng lớn ở mỗi châu, gồm có 45 châu, đều lấy tên
là «Ðại Hưng Quốc«, công hứa cho dân gian được tự do
đi xuất gia, nên số Tăng Ni đã có tới 100.000 người« (sđd,
tr.135-136). Sau khi Văn Ðế băng hà, tiếp nối truyền thống
của vua cha, Tùy Dạng Ðế cũng tận lực hưng long PG. Năm
Khai Hoàng thứ 11 (năm 591 TL), vua thọ giới Bồ tát với ngài
Trí Khải, tổ chức hội «Thiên Tăng trai« cúng dường cho
1.000 vị Tăng và sau đó đặt tên hiệu «Trí Giả Ðại sư«
cho ngài Trí Khải. Tông Thiên Thai (Pháp Hoa tông) do vậy cũng
được hoằng truyền mạnh mẽ kể từ đời vua Tùy Dạng
Ðế. Các học phái, tông phái có từ trước như Tam Luận
tông có từ thời Ðông Tấn giờ đây được cách tân thành
Tân Tam Luận tông do công của ngài Cát Tạng.
Các danh tăng của
các học phái nổi bật là các ngài Ðàm Thiên của Nhiếp
Luận tông, ngài Ðàm Diên, ngài Tuệ Viễn của Niết Bàn tông...
Các công trình phiên dịch kinh tạng vẫn tiếp tục với các
ngài Na Liên Ðề Xá (Nàrendrayasas), Xà La Quật Ða (Jnanagupta)
và Ðạt Ma Cấp Ða (Dharmagupta). Ðặc biệt PGTQ đời Tùy có
các công trình biên soạn để chỉnh lý những kinh điển đã
phiên dịch từ trước như Chúng kinh mục lục, Lịch đại
Tam bảo ký của các ngài Pháp Kinh, Phi Trưởng Phòng, Ngạn
Tôn đều là các tư liệu rất giá trị cho việc nghiên cứu
lịch sử PGTQ.
Từ nền tảng
của PG nhà Tùy, PGTQ đời Ðường đã phát triển vượt bậc.
Có thể nói đây là thời kỳ PG phát triển mạnh mẽ nhất
trong lịch sử PGTQ. Gần 300 năm (618-907 TL), PG được các đế
vương bảo hộ nên nhiều bậc cao tăng thạc đức cũng xuất
hiện tổ chức các tông phái PG mang tính quy củ ảnh hưởng
không những trong đương đại mà còn đến tận các thời
kỳ sau; không những trong phạm vi Trung Quốc mà còn quảng
bá đến các nước khác như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt
Nam... Ðó là Tịnh Ðộ tông của ngài Ðạo Xước, Thiện
Ðạo; Nam Sơn Luật tông của ngài Ðạo Tuyên; Pháp Tướng
tông của ngài Huyền Trang và Từ Ân; Hoa Nghiêm tông của ngài
Pháp Tạng; Thiền tông của ngài Thần Tú và Huệ Năng; Mật
giáo của ngài Thiện Vô Úy, Kim Cương Trí và Bất Không. Sự
nghiệp phiên dịch kinh điển và các tác phẩm trước tác
của ngài Huyền Trang đã vượt quá khuôn khổ PG trở thành
một công trình văn hóa - lịch sử của toàn nhân loại. Tác
phẩm Ðại Ðường Tây vực ký (Tây du ký) của Ngài
là nguồn tư liệu vô giá cho khoa văn bản học, văn hiến
học... và các ngành khoa học lịch sử hiện nay. Có thể nói
PGTQ kể từ đời Ðường đã thoát ra khỏi các tư tưởng
PG từ thời đại Ðông Tấn và Nam - Bắc triều và phát triển
thành một hệ tư tưởng mới mà về sau các ngài Nghĩa Tịnh,
Bát Nhã, Thiện Vô Úy... kế thừa. Tuy nhiên, cuối đời Ðường,
do chịu pháp nạn Võ Tôn phế Phật (năm 842 TL) nên PG đã
kém phát triển, không còn rực rỡ như các giai đoạn lịch
sử PG sơ Ðường và thịnh Ðường trước đó.
d/- Thời
đại kế thừa:
Sau thời kỳ PG toàn
thịnh của đời Ðường, PG ở các thời Ngũ đại (gồm Hậu
Lương, Hậu Ðường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu), Tống,
Liêu - Kim, Nguyên, Minh vẫn phát triển nhưng không được rực
rỡ như trước. Chủ yếu tư tưởng của PG các thời đại
lịch sử nêu trên là kế thừa các thành tựu của PG đời
Ðường. Lần thứ tư trong lịch sử PGTQ, PG lại gặp pháp
nạn «phế Phật« vào đời Hậu Chu theo lệnh của vua Thế
Tôn Anh Mại (năm 955 TL). Ngoài ra, xu hướng thoái hóa trong
tổ chức giáo đoàn phần nào cũng tác động khiến PG thời
đại này hầu như không tạo ra các giai đoạn thăng hoa tư
tưởng nào như PG đời Ðường. Tuy nhiên, có thể nói PG từ
Ngũ đại đến đời Minh vẫn kế thừa được tư tưởng
cơ bản của PG thịnh Ðường. PG trong thời đại này có các
sự kiện nổi bật như sau:
- Sau suốt 200
năm gián đoạn, kể từ đời vua Ðức Tôn cuối nhà Ðường,
công tác phiên dịch kinh điển đến đời Tống lại được
phục hưng. Dưới các triều đại Bắc Tống và sau đó là
Nam Tống, PG đã tiến hành công trình khắc in Ðại tạng kinh
PG. Trong suốt đời Tống, tổng cộng có 5 lần khắc ván ấn
hành Ðại tạng kinh. Bản Ðại tạng kinh (thục bản) khắc
vào năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 8 (năm 983 TL) là bộ Ðại
tạng kinh lịch sử đầu tiên của PGTQ.
Về sinh hoạt
của các tông phái PG thì trong các tông phái PG có từ trước,
chỉ Thiền tông vẫn duy trì và phát triển qua các thời kỳ
lịch sử. Các tông phái còn lại vẫn hiện diện nhưng không
đạt đến tầm vóc quốc tế như Thiền tông. Ðến đời
Nguyên - Minh, Lạt Ma giáo của Mật tông Tây Tạng trở thành
tông phái chính và có ảnh hưởng khá mạnh trong xã hội.
Vào đời nhà Minh, Ðại tạng kinh Tây Tạng cũng truyền vào
và được chuyển ngữ sang chữ Hán. Tuy nhiên, chính do khuynh
hướng quá chú trọng các hình thức lễ nghi và biểu tượng
hư ảo cộng thêm sự thoái hóa trong tổ chức giáo đoàn đã
khiến PG thời đại Nguyên - Minh dần dần thu hẹp sự phát
triển và khởi đầu cho thời đại suy vi của PG trong các
giai đoạn sau.
e/- Thời
đại suy vi và công cuộc chấn hưng Phật giáo của Thái Hư
Ðại sư:
Trong 12 đời vua
nhà Thanh từ Thế Tổ Hoàng đến đời vua cuối cùng là vua
Tuyên Thống, suốt gần 250 năm (1622-1911 TL), PG vẫn được
xem như tôn giáo chính thống. Trong các đời vua Thế Tổ Thuận
Trị, Thánh Tổ Khang Hy, Thế Tôn Ung Chính và Cao Tôn Càn Long,
tông phái PG được chú trọng đặc biệt là Lạt Ma giáo (Mật
tông). Thiền tông và Tịnh Ðộ tông là hai tông phái còn có
ảnh hưởng trong quần chúng. PG dưới thời bốn vị vua trên
đã có một số công trình Phật sự quan trọng mà nổi bật
nhất là công tác ấn hành và xuất bản Ðại tạng kinh. Vào
đời Thanh có ba bản Ðại tạng kinh được khắc in là Tục
tạng kinh vào đời vua Khang Hy, Long tạng bản khắc in kéo
dài trong hai đời vua Thế Tôn Ung Chính và Cao Tôn Càn Long;
Mãn Châu văn Ðại tạng kinh là bản Ðại tạng kinh Hán được
chuyển ngữ sang chữ Mãn Châu, cũng hoàn thành trong thời vua
Càn Long. Trong ba bản Ðại tạng kinh trên, hai bộ đầu được
xem là có nhiều giá trị nghiên cứu.
Tình hình giáo
đoàn PG dưới thời nhà Thanh tuy đông đảo về số lượng
tự viện và Tăng Ni, nhưng về thực chất, tổ chức giáo
đoàn khá lỏng lẻo, việc độ người xuất gia tùy tiện
khiến
cho PG rơi vào tình hình «có lượng mà không chất«. Sách
Lịch sử Phật giáo Trung Quốc viết: «Riêng về giáo
học của PG thì không có gì phát triển mới lạ, chỉ là
duy trì các học thuyết của tiền nhân. Trong giới PG lại
không có nhân tài xuất hiện, Tăng Ni không có chí hoằng pháp.
Hơn nữa, PG lại bị tai nạn phá hủy của loạn «Thái Bình
thiên quốc« nên PG ở đời nhà Thanh đã bước xuống dốc
suy vi« (6).
Sau loạn Thái
Bình thiên quốc, ngày 25-12-1911, Cách mạng Tân Hợi thành công
đã mở ra một thời đại mới cho nhân dân Trung Quốc, PG
cũng theo đó mà có cơ hội phục hưng. Ngay từ năm 1912, Hiệp
hội Trung Quốc PG Tổng hội được thành lập tại Thượng
Hải; năm 1913, Trung ương PG Công hội cũng ra đời tại Bắc
Kinh. Tuy nhiên, mãi đến năm 1924, sự nghiệp vận động hộ
pháp mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ do công lao của các
ngài Thái Hư, Ấn Quang, Ðế Nhàn, Ðạo Giai, Viên Anh, Nhân
Sơn, Vương Nhất Ðình, Ðại Bi... Ðến tháng 8-1931, PG mới
chính thức được sự bảo hộ của Chính phủ. Kể từ đó,
PGTQ nhanh chóng được phục hưng về mọi phương diện, từ
tổ chức giáo đoàn, tông phái đến các công trình Phật sự
kiến thiết, trùng tu danh lam, văn hóa học thuật, xuất bản
Ðại tạng kinh... Công cuộc vận động phục hưng PGTQ không
những thành công trong nước mà còn ảnh hưởng sâu rộng
đến PG trên thế giới. PG Việt Nam cũng do đó mà thành lập
nhiều tổ chức hội đoàn PG - Phật học trên cả ba miền
Bắc, Trung, Nam.
C- Kết luận
Lịch sử PGTQ
trên phương diện lịch đại đã trải qua nhiều thăng trầm
biến đổi. Như lớp sóng sau phủ lên lớp sóng trước, các
giai đoạn PG đi sau luôn kế thừa, phát huy những thành tựu
của các giai đoạn PG trước đó tuy mức độ đậm nhạt
có khác nhau. Có thể nói PGTQ từ thời đại phiên dịch đến
thời đại kiến thiết đã từng bước đạt đến đỉnh
cao mà thời kỳ rực rỡ nhất là triều đại nhà Ðườâng.
Từ thời đại kế thừa trở về sau, PGTQ cũng đã duy trì
được các thành tựu PG trong các thời kỳ trước đó. Tuy
nhiên, đến đời Thanh, ngoài công trình Phật sự đáng chú
ý nhất là công tác in ấn xuất bản Ðại tạng kinh, sự
vắng mặt của các bậc cao tăng khiến cho công tác quản lý
và công tác tổ chức Tăng đoàn lỏng lẻo. PGTQ thời kỳ
này dường như đánh mất vị trí trong lòng người dân. Sự
suy vi của PG do vậy là điều không tránh khỏi. Các phong trào
chấn hưng trong những thập niên đầu thế kỷ XX của Thái
Hư Ðại sư đã đem lại cho PGTQ luồng sinh khí mới. Từ đó
đến nay, theo khuynh hướng ấy, PGTQ đã được phát triển
nhanh chóng và trở thành một tôn giáo có tầm ảnh hưởng
rất quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân Trung
Quốc./.
-oOo-
* Chú thích:
(1) Theo ý kiến
của các học giả nghiên cứu sử PGVN hiện nay, PG đã du nhập
vào trung tâm Luy Lâu - Giao Chỉ (Việt Nam hiện nay) rất lâu
trước khi truyền sang trung tâm Bành Thành và sau đó là trung
tâm Lạc Dương của nhà Hán.
(2) Thích Thanh
Kiểm, Lịch sử Phật giáo Trung Quốc, TP HCM, 1991, tr.6-7.
(3) Xem Lục
độ tập kinh và Lịch sử khởi nguyên dân tộc ta,
Lê Mạnh Thát, 1972.
(4) Lịch sử
Phật..., sđd, tr.47.
(5) Nam triều gồm
các nước Tống (420), Tề (479), Lương (502), Trần - Tùy (589).
Bắc triều có các nước Bắc Ngụy (439), sau chia thành Ðông
Ngụy (534) và Tây Ngụy (535). Kế tiếp triều Ðông Ngụy là
Bắc Tề (550), kế tiếp triều Tây Ngụy là Bắc chu (536).
Về sau, Bắc Chu thôn tính Bắc Tề nhưng cuối cùng bị nhà
Tùy diệt vong.
(6) Lịch sử
Phật..., sđd, tr.271.
* Giới thiệu
sách đọc thêm:
1- Lịch sử
Phật giáo Trung Quốc, tác giả Thích Thanh Kiểm, Thành hội
PG TP HCM xuất bản, 1991.
2- Lịch sử
Phật giáo thế giới, tập I (nguyên tác: Thế giới Phật
giáo thông sử, tác giả Thích Thánh Nghiêm, Việt dịch:
Trung tâm Tư liệu Phật học - Phân viện Nghiên cứu Phật
học Hà Nội), Nxb Hà Nội, 1995 (xem Chương VII, từ tr.450 đến
tr.461).
Câu hỏi hướng
dẫn ôn tập
1- Trình bày
khái quát các thời đại phát triển của PGTQ.
2- Trình bày
và nhận định ngắn gọn các nguyên nhân chính đưa Phật
giáo đời Ðường phát triển đến mức toàn thịnh (học
viên có thể tham khảo các sách, tư liệu khác để trả lời).