Phần I
- Bài đọc thêm
Mười
hai nhân duyên và đời sống đạo
Nhựt Chiếu
Phương
pháp tu tập trong đạo Phật nói chung có hai phần: một là
tu chỉ; hai là tu quán. Tu chỉ là đình chỉ vọng niệm, phiền
não, không làm các việc ác, biết vọng không theo, cho đến
đình chỉ sanh tử mà đắc Niết bàn. Tu quán là để tâm
quán sát trên một đối tượng, dùng trí chiếu phá phiền
não vô minh mà thành Bồ đề. Nay nói tu quán Mười hai nhân
duyên là dùng trí tuệ quán chiếu để thấy rõ sự sanh khởi,
lưu chuyển và hoàn diệt của Mười hai nhân duyên. Trong quá
trình quán chiếu, hành giả sẽ nhận thức rõ ràng thực tướng
của vạn pháp là duyên sanh vô ngã thì thoát ra vòng sai sử
của hoàn cảnh.
Giáo lý duyên
khởi giải thích nguồn gốc của vòng sanh tử luân hồi là
do vô minh tạo nghiệp mê lầm rồi cảm ra quả báo khổ đau.
Ðể cắt đứt con đường luân hồi, hành giả phải đoạn
diệt được một trong Mười hai chi phần nhân duyên. Khi một
chi phần đã diệt thì 11 chi còn lại cũng không còn. Cách
cắt đứt vòng xích 12 nhân duyên có nhiều phương pháp, như
quán lưu chuyển, quán hoàn diệt, quán vô sanh v.v... Khi quán
một trong các pháp trên thành công thì trí tuệ khai mở, phá
được vô minh phiền não, thoát vòng sanh tử luân hồi.
Khi một vật được
soi rọi dưới ánh sáng trí tuệ hay trải qua một cuộc quán
sát nghiêm mật thì sự vật ấy sẽ hiện rõ chân tướng
của chúng, bấy giờ không còn đánh lừa được tâm trí của
mình.
Sau đây chúng
ta tìm hiểu về các phương pháp quán chiếu để thấy rõ
và phá vỡ vòng xích 12 nhân duyên.
*- Quán
lưu chuyển: là quán sát, suy xét quá trình sanh khởi; trạng
thái luân lưu của 12 nhân duyên. Có 3 cách:
- Quán
sự sanh khởi của 12 nhân duyên từ vô thỉ: Tâm tánh của
con người vốn tự thanh tịnh, vốn tự quang minh. Nhưng chúng
sanh chúng ta từ vô thỉ đã khởi niệm bất giác, khiến vô
minh che lấp. Vì một niệm vọng động mà bị sinh diệt lưu
chuyển nên chuyển sáng thành tối, chuyển tĩnh thành động,
tự tâm vốn linh minh chiếu suốt trở thành tối tăm che lấp,
đó là vô minh. Từ đây các vọng động sanh khởi biến diệt
là hành. Do hành mà có thức, đồng thời có cả thế giới
và chúng sanh, đó là danh sắc. Ðã có chúng sanh thì sáu căn
là chỗ của sáu trần đi vào, gọi là lục nhập. Căn trần
giao tiếp là xúc. Nhân sự tiếp xúc mà phát sanh ra các cảm
giác đó là thọ. Do thọ sanh ưa thích là ái. Vì ưa nên tìm
cách nắm giữ là thủ. Rồi có hữu, sanh và lão tử.
Ðây là Mười
hai nhân duyên đã được hình thành từ vô thỉ. Rồi vô minh
vọng động cứ tiếp tục khởi diệt, làm cho Mười hai nhân
duyên sanh khởi triển chuyển cho đến ngày nay và mãi về
sau.
- Quán trạng thái
lưu chuyển của Mười hai nhân duyên trong ba đời: Tức là
khảo sát trạng thái sanh khởi và lưu chuyển của Mười hai
nhân duyên từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Nếu
trải vòng xích Mười hai nhân duyên lên ba thời, thì vô minh
và hành thuộc nhân quá khứ. Nhân này sanh ra thức, danh sắc,
lục nhập, xúc, thọ là quả hiện thực. Quả này lại tạo
nhân hiện tại là ái, thủ, hữu. Rồi thành ra quả vị lai
là sanh và lão tử. Như thế do vô minh mà tạo nghiệp, do tạo
nghiệp mà chịu khổ, do chịu khổ lại mê hoặc tạo nghiệp...
Cứ luân lưu như thế, từ nhân đến quả, quả lại sanh nhân
nối tiếp nhau trong ba đời.
- Quán sự sanh
khởi của Mười hai nhân duyên trong một niệm hiện tại:
Trong ba cách quán lưu chuyển, pháp này đối với phàm phu chúng
ta khó mà thấy sự hiện hữu của Mười hai nhân duyên trong
một niệm. Nhưng chúng ta tạm hình dung như sau: Khi nhìn một
người mà không thấy sự thay đổi biến diệt trong người
ấy là vô minh, rồi khởi ra các vọng niệm phân biệt đẹp
xấu, cao, thấp v.v... đó là hành, thức, danh sắc. Các trần
cảnh phản ảnh vào sáu căn là lục nhập. Căn tiếp xúc với
trần là xúc. Do sự xúc chạm sanh ra cảm giác là thọ. Nhân
thọ sanh ra ưa thích là ái. vì ái nên mong muốn chiếm đoạt
là thủ. Từ đó tạo nghiệp là hữu, rồi theo nghiệp thọ
báo là sanh và lão tử.
*- Quán hoàn diệt:
Là dùng trí tuệ quán chiếu tiêu diệt vô minh, phá vỡ Mười
hai nhân duyên để trở về với bản thân thanh tịnh sáng
suốt. Phương pháp tận diệt vô minh này cũng có hai cách
- Diệt
căn bản vô minh: Ðây là cách quán sát dành cho hàng Bồ tát,
hay hành giả trải qua nhiều kiếp tu hành, đến địa vị
Ðẳng giác. Theo lý duyên khởi do vô minh mà có hành, do hành
mà có thức... cho đến lão-tử. Như thế khi vô minh diệt
tìh hành diệt, hành diệt thì thức diệt... cho đến lão-tử
diệt. Nói cách khác, do mê hoặc mà tạo nghiệp, do tạo nghiệp
mà chịu khổ. Vậy muốn hết khổ phải cắt đứt nghiệp,
muốn hết nghiệp thì trước tiên phải dứt trừ vô minh.
Bậc Bồ tát thấy
rất rõ do vô minh khởi vọng động, từ đó có thế giới
và chúng sanh, nên các Ngài dùng trí tuệ Bát nhã phá trừ
căn bản vô minh. Khi vô minh diệt, thì bản lai diện mục hiện
tiền, bản tâm thanh tịnh sáng suốt hiển lộ, vượt qua sự
sai sử của năm uẩn. Ðó là trường hợp ngài Quán Tự Tại
đi sâu vào trí tuệ Bát nhã, soi thấy năm uẩn đều không
mà vượt qua tất cả khổ ách.
- Diệt chi mạt
vô minh: Ðối với hàng căn cơ thấp kém, không thể trực
tiếp phá vô minh gốc rễ, mà chỉ diệt trừ vô minh ngành
ngọn, đó là ái, thủ, hữu. Phép quán này có hai cách.
*- Quán lý: Ðây
là cách dùng lý lẽ để hướng dẫn nhận thức của mình.
Tất cả các pháp do nhân duyên hòa hợp mà có, chứ không
có thật. Vì cái có không thật nên không thể gọi là hữu.
Khi đã có cái thấy duyên sinh vô ngã, tức sự vật không
có tự thể, không có chi là ta, là của ta, là tự ngã của
ta, thì không tham đắm tìm cầu, tức không thủ. Ðã không
chấp thủ thì không ái. Như vậy, theo pháp quán này thì quán
hữu trước rồi đến thủ và ái. Khi ba cái nhân ái, thủ,
hữu bị thiêu hủy dưới trí tuệ quán chiếu thì cái quả
sanh, lão-tử cũng không còn.
*- Quán sự:
Là
quán sự tướng đang hiện hành trôi chảy. Khi đối cảnh,
lòng ham muốn nổi lên, đó là ái. Ðã có lòng tham ái thì
tạo nghiệp là chấp thủ, rồi sau đó chịu khổ sanh tử
là hữu. Biết như thế thì đối duyên xúc cảnh cố giữ
tâm như như bất động, không khởi tham ái. Từ đó không
tìm cầu chấp thủ. Và khi không chấp thủ thì không tạo
nghiệp sanh tử luân hồi, tức không hữu. Như vậy theo pháp
quán này thì quán ái trước rồi đến thủ và hữu. Khi mê
hoặc (ái) hết thì nghiệp không sanh (thủ), nghiệp không thì
khổ cũng hết (hữu). Mê, nghiệp và khổ hết thì mười hai
nhân duyên cũng không còn.
*- Quán vô sanh:
Hành
giả quán sát các pháp thì thấy do sự đối đãi mà sinh ra,
kỳ thực chẳng có pháp nào được sanh ra cả. Hơn nữa, dù
có được gọi là sanh, cũng chỉ vì so sánh với cái bị diệt
mà nói. Như củi diệt thì than sanh, tức cái diệt của sự
vật này là cái sanh của một sự vật khác. Như thế, căn
cứ vào đâu mà nói có sanh diệt? Thấy được cái huyễn
sanh huyễn diệt thì lìa tham ái. Do ly tham, ly thủ mà trí tuệ
giải thoát phát sanh. Tuệ sanh, minh sanh thì vô minh diệt. Do
đó cắt đứt vòng luân chuyển Mười hai nhân duyên.
Những phép quán
nói trên đều đem Mười hai nhân duyên ra phân tích, quán sát,
khảo cứu dưới những góc độ khác nhau để thấy được
một cách tường tận trạng thái sanh khởi luân chuyển của
Mười hai nhân duyên. Thực tướng của nó là duyên sinh vô
ngã, là huyễn sinh huyễn diệt, thực chất là không, là vô
sanh. Khi đạt đến cái thấy này thì vô minh diệt, minh sanh.
Do đó vòng xích Mười hai nhân duyên bị phá vỡ và hành giả
giải thoát ra khỏi vòng sanh tử luân hồi. Ðiều này cho thấy
tu tập thiền quán là điều không thể thiếu được trên
lộ trình giải thoát. Ngoài những phép quán nói trên có khả
năng tận diệt vô minh, chúng ta cũng có thể đi đến tiêu
đích giải thoát bằng con đường khác. Nhưng dù đi bằng
con đường nào, cũng lấy trí tuệ làm ngọn đèn để chiếu
phá bóng tối vô minh. Như chúng ta có thể gần gũi với các
bậc chân nhân để được nghe diệu pháp và đi đến đoạn
tận năm triền cái, đó là thức ăn của vô minh. Khi năm triền
cái bị diệt thì vô minh cũng không có nhân duyên để tồn
tại. Ðó cũng là cách tu tập hợp với căn cơ của chúng
ta mà kết quả đem lại là diệt tham, sân, si. Nếu đối chiếu
với Mười hai nhân duyên thì đó là ái, thủ, hữu. Khi ái,
thủ, hữu diệt thì vòng luân chuyển Mười hai nhân duyên
bị cắt đứt và hành giả được giải thoát hoàn toàn./.