Phần I
- Bài 1
Mười
hai nhân duyên
(Thập nhị nhân duyên)
Thích
Tâm Hải
A- Dẫn nhập
Mười
hai nhân duyên (Thập nhị nhân duyên) là cách trình bày đặc
biệt của giáo lý Duyên khởi (Paticcasamuppada) (1). Giáo lý
này do chính Bồ tát Tất Ðạt Ða (Siddhartha) thể chứng dưới
cội bồ đề sau 49 ngày tư duy thiền định, từ đó Ngài
trở thành một bậc giác ngộ hoàn toàn.
Mười hai nhân
duyên, hay Duyên khởi, là một giáo lý rất đặc thù, là điểm
xác định sự khác biệt giữa Phật giáo với các tôn giáo
khác. Nó là cốt lõi của nhân sinh quan Phật giáo, được
đề cập nhất quán trong tất cả các kinh điển. Nhận thức
rõ về giáo lý Mười hai nhân duyên sẽ giúp người học Phật
hiểu cặn kẽ hơn về các vấn đề khác như nghiệp, luân
hồi, tái sinh, nhân quả... đồng thời gợi mở một hướng
sống tích cực cho mỗi cá nhân trong hiện tại.
B- Nội dung
I- Ðịnh nghĩa:
1)- Thế nào
là nhân duyên?
Nhân là yếu tố
quyết định, điều kiện chính làm sinh khởi, có mặt của
một hiện hữu. Duyên là điều kiện hỗ trợ, tác động
làm cho nhân sinh khởi. Ví dụ: hạt lúa là nhân của cây lúa;
các yếu tố như đất, độ ẩm, ánh sáng mặt trời, người
gieo... là duyên để hạt lúa (nhân) nảy mầm phát triển thành
cây lúa. Mối quan hệ nhân - duyên thực ra phức tạp và vi
tế hơn nhiều, đặc biệt là trong thế giới tâm thức; và,
nhân duyên nói cho đủ là nhân - duyên - quả.
«Nhân duyên«
trong «Mười hai nhân duyên« hàm ý nghĩa «nhân duyên khởi«:
sự nương tựa vào nhau mà sinh khởi, sự tùy thuộc phát sinh,
nói chính xác là «do cái này có mặt, cái kia có mặt; do cái
này không có mặt, cái kia không có mặt; do cái này sinh, cái
kia sinh; do cái này diệt, cái kia diệt«.
2)- Mười
hai nhân duyên là gì?
Trong kinh Tương
Ưng Bộ II (Samyutta Nikàya), Ðức Phật đã thuyết minh về
Mười hai nhân duyên (Duyên khởi) như sau: «Do vô minh, có hành
sinh; do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc sinh; do danh
sắc, có lục nhập sinh; do lục nhập, có xúc sinh; do xúc,
có ái sinh; do ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu sinh; do hữu,
có sinh sinh; do sinh sinh, có lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não
sinh, hay toàn bộ khổ uẩn sinh. Ðây gọi là Duyên khởi«.
«Do đoạn diệt
(2) tham ái, vô minh một cách hoàn toàn, hành diệt; do hành
diệt nên thức diệt; do thức diệt nên danh sắc diệt; ...;
do sinh diệt nên lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như
vậy là toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt. Này các Tỷ kheo, như
vậy gọi là đoạn diệt« (tr.1-2).
Mười hai nhân
duyên dược Ðức Phật định nghĩa gồm hai chiều hướng:
chiều hướng sinh khởi (còn gọi là lưu chuyển: do vô minh,
hành sinh...) và chiều hướng đoạn diệt (còn gọi là hoàn
diệt: do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn nên
hành diệt...). Khi Mười hai nhân duyên được thành lập (tập
khởi), nghĩa là năm uẩn (3) tập khởi, và đây là chiều
hướng của khổ đau, luân hồi. Khi mười hai mắc xích này
bị phá vỡ (đoạn diệt) thì cấu trúc năm uẩn cũng tan rã,
và đây là con đường của an lạc, giải thoát. Năm uẩn chính
là cấu trúc của con người và cuộc đời. Sự hiện hữu
của con người tự nó nói lên mười hai nhân duyên đang vận
hành theo chiều tập khởi.
Theo cách trình
bày trên, vô minh được xem như là căn nguyên, nguồn cội,
cốt lõi của mười hai nhân duyên. Tuy nhiên, không nên hiểu
nhầm vô minh là nguyên nhân đầu tiên của chuỗi liên kết
đó. Bởi Ðức Phật dạy, vô minh cũng do nhân duyên sinh, là
duyên khởi. Khi có nhân duyên (tích cực) thì vô minh cũng sẽ
chuyển hóa thành trí, tuệ; đây là ý nghĩa «vô minh diệt,
minh sinh«.
Cũng cần lưu
ý một chút về số mục (12 chi phần) của dạng thức Duyên
khởi này. Ðịnh nghĩa được nêu trên, trích từ kinh Trung
Bộ II, là một cách trình bày tiêu biểu nhất, gồm đầy
đủ cả 12 chi phần. Trong một số bản kinh khác, như kinh
Ðại Duyên (Trường Bộ kinh III), kinh Ðại Bổn Duyên (Trường
A Hàm I)..., Ðức Phật trình bày chỉ gồm 5, 8, 10, 11 và đầy
đủ nhất là 12 chi phần. Vấn đề này được các nhà nghiên
cứu Phật học có thẩm quyền phân tích rất tỉ mỉ, và
tất cả đều thống nhất số mục 12 chi phần được xác
định qua nội dung thiền quán của Ðức Phật dưới cội
bồ đề. Ðây là dạng thức chính xác, đầy đủ và phù
hợp nhất với tư duy của con người. Sự sai khác về số
mục các chi phần chỉ là thể hiện phương pháp giáo hóa
linh động của Ðức Phật. Ngài tùy thuộc vào trình độ
của người nghe mà nói vắn tắt hoặc đầy đủ. Ðiều này
sẽ được làm sáng tỏ ở phần nói về sự vận hành của
mười hai nhân duyên.
Ðối tượng nghe
giáo lý Mười hai nhân duyên là con người, vì nặng về tâm
luyến ái và chấp thủ, nên Ðức Phật luôn nhấn mạnh đến
các chi phần này, đặc biệt là trong chiều hướng, con đường
đoạn diệt - giải thoát. Khi ái (hay bất luận là chi phần
nào) sinh khởi, lập tức cấu trúc 12 nhân duyên hình thành;
và ngược lại; khi chi phần ái hay thủ (hoặc một chi phần
bất kỳ) đoạn diệt, lập tức chuỗi mắc xích 12 nhân duyên
tan rã. Ðây cũng là ý nghĩa, mà trong luận Ðại Tỳ Bà Sa
ghi rằng, nói Duyên khởi có một chi phần cũng được, hai,
ba... cho đến 12 chiphần cũng được.
II- Ý nghĩa
của mười hai chi phần nhân duyên:
1)- Vô minh (Avijjà):
sự mê mờ, cuồng si của tâm thức; hay nói cách khác là sự
không hiểu biết như thật về hiện hữu là duyên sinh, vô
thường và không có một tự thể độc lập, bất biến.
2)- Hành (Sankhàra):
động lực, ý chí hành động tạo tác (ý hành) của thân,
miệng và ý.
3)- Thức (Vinnana):
tri giác của con người về thế giới thông qua các cơ quan
chức năng như mắt (nhãn thức), tai (nhĩ thức), mũi (tỷ thức),
lưỡi (thiệt thức), thân (thân thức) và ý (ý thức).
4)- Danh sắc
(Nàma-rùpa): sắc là phần vật lý và sinh lý, danh là phần
tâm lý. Với con người, sắc là cơ thể vật chất, các giác
quan và chức năng của chúng; danh là các tâm phụ thuộc (tâm
sở), như xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư.
5)- Lục nhập
(Chabbithàna): có nơi gọi là sáu xứ, là sự tương tác
giữa sáu căn (= 6 nội xứ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và
ý) và đối tượng của chúng là sáu trần (= 6 ngoại xứ:
hình thể, âm thanh, hương vị, mùi vị, xúc chạm và ý tưởng
- pháp).
6)- Xúc (Phassa):
sự gặp gỡ, tiếp xúc, giao thoa giữa các căn (chủ thể)
và trần (đối tượng). Nói rõ hơn, xúc chính là sự tiếp
xúc giữa con người và thế giới thông qua 6 cơ quan tri giác.
Lưu ý là, khi có thức phát sinh do mắt tiếp xúc với hình
thể (sắc trần), thì sự nhận biết đó mới gọi là nhãn
thức... Vậy, xúc là sự gặp gỡ, giao thoa giữa căn, trần
và thức.
7)- Thọ (Vedanà):
sự cảm thọ. Nói khác đi là các phản ứng tâm lý phát sinh
khi mắt tiếp xúc với hình thể, tai tiếp xúc với âm thanh...
ý tiếp xúc với ý tưởng (pháp).
Cảm thọ có ba
loại: cảm thọ dễ chịu (lạc thọ), cảm thọ khó chịu
(khổ thọ) và cảm thọ trung tính (phi khổ phi lạc). Ðây
là chất liệu mà con người thường lấy để xây dựng những
giá trị gọi tên là hạnh phúc và khổ đau, bất hạnh. Thực
ra, chúng là do duyên sinh, luôn thay đổi, không hề có một
tự tính cố định.
8)- Ái (Tanhà):
gọi đủ là ái dục hay khát ái: sự vướng mắc, yêu thích,
tham luyến; gồm có dục ái, sắc ái và vô sắc ái.
9)- Thủ (Upadàna):
gọi đủ là chấp thủ: sự kẹt vào, bám víu, đeo chặt của
tâm thức vào một đối tượng.
10)- Hữu (Bhava):
tiến trình tương duyên để hình thành, gồm dục hữu, sắc
hữu và vô sắc hữu.
11)- Sinh (Jati):
sự ra đời, tạo nên, xuất hiện. Sinh ở đây không phải
là sự sinh ra em bé, mà là sự thành tựu các bộ phận cấu
thành (năm uẩn), thành tựu các xứ (các cơ quan tri giác và
chức năng của chúng).
12)- Lão-tử
(Jaramrana): sự suy nhược, tàn lụi, tuổi thọ lớn, tan
rã, tiêu mất, tử vong. Với sinh mạng con người, lão tử
được biểu hiện dưới các hiện tượng: răng long, tóc bạc,
da nhăn, các cơ quan tri giác suy yếu và chết.
III- Sự vận
hành của mười hai nhân duyên:
Thông qua ý nghĩa
của các chi phần mười hai nhân duyên, đặc biệt là chi phần
lục nhập, một lần nữa khẳng định rằng, dạng thức duyên
khởi này là giáo lý nói về con người, bởi vì chỉ ở con
người mới có đầy đủ 6 cơ quan tri giác. Do vậy, khi nói
về sự vận hành của mười hai nhân duyên cũng chính là nói
về sự vận hành của con người.
Vì không nhận
biết hiện hữu (con người và thế giới) là do nhân duyên
hòa hợp mà sinh khởi, luôn biến dịch và không có một tự
thể thường hằng, nên con người ảo tưởng về một tự
ngã: đây là cái tôi và đây là cái của tôi (Vô minh). Chính
ảo tưởng và sự bất giác này quấy động tâm thức, làm
sinh khởi lòng tham ái, chấp thủ... Và đó là động cơ cho
các hành động của thân, lời và ý (Hành). Mỗi khi ý niệm
về một tự ngã sinh khởi thì Thức có mặt. Sự hiện hữu
của Thức tất yếu đòi hỏi sự có mặt của chủ thể nhận
thức và đối tượng nhận thức (Danh sắc, Lục nhập). Khi
căn, trần và thức gặp gỡ nhau (Lục nhập), thì Xúc sinh
khởi. Cảm thọ (Thọ) có mặt ngay khi căn, trần và thức
giao thoa nhau; cảm thọ sẽ tuôn chảy như một dòng thác mà
không một năng lượng nào có thể ngăn cản được, vì bản
chất của cảm thọ là thế. Thọ bao gồm những phản ứng
tâm lý trước đối tượng như là buồn, vui, yêu, ghét, trung
tính... Cảm thọ dễ chịu sẽ làm phát sinh luyến ái (Ái).
Trong Ái đã bao hàm chấp thủ và nó được biểu hiện dưới
nhiều hình thức tương ứng với các cảnh giới của tâm
thức (Hữu). Hữu tạo ra Sinh, và mỗi khi đã có Sinh, thì
tiến trình suy yếu, tan rã, mất đi sẽ vận hành như một
hệ quả đương nhiên: nghĩa là lão-tử, sầu, bi, khổ, ưu,
não; hay khổ đau có mặt. Ðó là sự vận hành của mười
hai nhân duyên theo chiều sinh khởi (lưu chuyển) - chiều vận
hành này có động lực là vô minh, tham ái và chấp thủ. Nói
khác đi, đây là con đường của khổ đau, luân hồi được
dẫn dắt và chi phối bởi vô minh.
Trong phần thuyết
minh về mười hai nhân duyên, Ðức Phật không chỉ nêu lên
con đường tập khởi, như đã phân tích ở trên, mà Ngài
đã chỉ ra nguyên nhân tập khởi và con đường đoạn tận
(hoàn diệt). Mỗi khi đoạn diệt bất kỳ một chi phần nào
trong chuỗi 12 mắc xích (nhân duyên), thì lập tức nó tự
tan rã. Tuy nhiên, với con người, tham ái và chấp thủ là
nặng nề nhất; nên đoạn tận tham ái hoặc chấp thủ thì
vòng xích mười hai nhân duyên không còn lý do để hiện hữu.
Ðó là ý nghĩa của lời Phật dạy: «Ái diệt tức Niết
bàn«.
Sự vận hành
của mười hai nhân duyên không chỉ đơn giản là tiến trình
hình thành một sinh mạng (từ ý niệm tối sơ về hiện hữu
đến hơi thở cuối cùng), mà sự vận hành của nó (chiều
thành lập - lưu chuyển) nói lên căn nguyên có mặt của con
người (và cuộc đời); nó không bị giới hạn bởi thời
gian và không gian. Bao giờ tham ái, chấp thủ hoặc vô minh
chưa được đoạn tận thì con người vẫn bị chi phối bởi
sự vận hành của mười hai nhân duyên - nghĩa là vẫn luẩn
quẩn trong luân hồi, khổ đau bất tận - khi mười hai nhân
duyên đoạn diệt, đồng nghĩa với toàn bộ khổ uẩn đoạn
diệt.
IV- Một số
cách giải thích về mười hai nhân duyên:
Mười hai nhân
duyên, hay Duyên khởi, là nguyên lý của mọi hiện hữu. Nó
là sự thật nên không bị giới hạn trong không gian và thời
gian. Ðức Phật khẳng định rằng: «Duyên sinh là thực tính
của mọi hiện hữu, sự thật này không thay đổi dù Như
Lai có xuất hiện hay không xuất hiện«. Một hiện hữu dù
nhỏ như hạt nhân của nguyên tử đến to lớn như vũ trụ
cũng không nằm ngoài nguyên lý này. Với đặc tính đó, giáo
lý Mười hai nhân duyên có thể dùng để soi sáng nhiều vấn
đề khác trong cuộc đời như luân hồi, nhân quả... tùy thuộc
theo góc độ quan sát của người giải thích. Ở đây chỉ
giới thiệu 4 cách giải thích phổ biến.
1)- Dạng
thức tổng quát:
«Do cái này có
mặt, cái kia có mặt; do cái này không có mặt, cái kia không
có mặt; do cái này sinh, cái kia sinh; do cái này diệt, cái
kia diệt« (Tiểu Bộ kinh, tr.291). Dạng thức này là cách trình
bày khái quát, tóm tắt và đơn giản nhất do chính Ðức Phật
nói. Nó được xem như là một nguyên lý cho mọi hiện hữu
trong thế giới hiện tượng. Nói chính xác hơn, nếu mười
hai nhân duyên là dạng thức duyên khởi riêng về con người,
thì dạng thức tổng quát nói về bản chất của thế giới
hiện tượng, đặc biệt là thế giới không có tình thức
(khí thế giới).
2)- Ba đời
hai tầng nhân quả (Tam thế lưỡng trùng nhân quả):
Ba đời là quá
khứ, hiện tại và tương lai (vị lai). Theo cách giải thích
này, vô minh và hành thuộc về quá khứ; hiện tại gồm có
các chi phần (từ thức đến hữu); sinh và lão-tử thuộc
về vị lai. Mặt khác, thức, danh, sắc, lục nhập được
xem là quả hiện tại của nhân quá khứ là vô minh và hành,
đây là tầng nhân quả thứ nhất. Các chi phần thọ, ái,
thủ và hữu là nhân hiện tại cho quả vị lai là sinh và
lão-tử; đây là lớp nhân quả thứ hai. Sự phối hợp giữa
hai lớp nhân quả này với các duyên tạo nên một mối quan
hệ có vẻ chặt chẽ, tương tục của dòng chảy thời gian:
quá khứ - hiện tại - vị lai. Qua cách giải thích này, ý
đồ dùng giáo lý Mười hai nhân duyên để giải thích luân
hồi đã thể hiện rõ. Tuy nhiên, cách phân chia như trên sẽ
dễ đưa đến một ngộ nhận, như là vô minh và hành chỉ
có ở quá khứ, 8 chi phần tiếp theo chỉ có ở hiện tại,
sinh và lão tử thì thuộc về tương lai (!). Thực ra, trong
hiện tại (và ngay trong mỗi chi phần) đã có mặt vô minh.
Khi một chi phần hiện hữu thì lập tức có sự hiện hữu
của 11 chi phần còn lại. Nếu một chi phần bất kỳ vắng
mặt thì mối liên kết 12 chi phần nhân duyên tự sụp đổ.
Như đã phân tích, mười hai nhân duyên là một dòng tương
tục, chằng chịt, không hề lệ thuộc vào thời gian (quá
khứ, hiện tại hay tương lai). Cách giải thích này vô tình
làm thô thiển và đơn giản hóa giáo lý Mười hai nhân duyên
- một giáo lý vốn được xem là rất thâm áo và tinh tế.
3)- Nhân quả
đồng thời:
Khi nói «Do vô
minh, hành sinh...«, không nên hiểu là hành do vô minh sinh ra.
Giữa vô minh và hành... là mối quan hệ nhân quả tuyến tính,
đơn phương; nghĩa là các chi phần trong mười hai nhân duyên
hiện hữu tùy thuộc vào yếu tố thời gian (trước - sau).
Cách giải thích này nói rằng, ngay trong một sát na (4) đã
có sự hiện hữu đầy đủ của cả 12 chi phần. Khi ý niệm
lệch lạc về một cái tôi và cái của tôi (tự ngã) có mặt,
lập tức có mặt chuỗi nhân quả tương tục: ý chí tạo
tác (hành), tri giác phân biệt và chấp thủ (thức)... đến
lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não. Mỗi một chi phần vừa là
quả vừa là nhân cho các chi phần khác, chúng nuôi dưỡng
lẫn nhau.
4)- Sự hiện
hữu của một đời sống con người (mạng căn):
Một trong 3 yếu
tố quyết định để hình thành một thai nhi là có sự hiện
hữu nghiệp thức đi đầu thai. Nghiệp thức này là kết quả
của vô minh và hành trong quá khứ. Giai đoạn tượng thai chính
là thời điểm danh sắc có mặt. Lục nhập là giai đoạn
thai nhi hình thành đầy đủ các căn. Giai đoạn trẻ bú mớm
là giai đoạn của xúc. Trẻ từ 3 - 5 tuổi là lúc thọ hình
thành. Từ đây trở về trước, theo lối giải thích này,
là biểu hiện của nghiệp quá khứ, trẻ chưa tác ý thiện
ác để tạo nên nghiệp hiện tại. Khi trẻ biết vui, buồn,
ưa, ghét... là lúc ái, thủ, hữu hình thành và chính đây
mới là giai đoạn mà trẻ tạo nghiệp để đưa đến hình
thành một thân mạng mới ở tương lai (sinh, lão, tử).
V- Một số
hệ luận từ giáo lý Mười hai nhân duyên:
1)- Con người
(và cuộc đời) là hiện hữu của cấu trúc mười hai nhân
duyên, nên không hề có một tự ngã độc lập và thường
hằng. Con người chính là chủ nhân của cuộc đời mình,
bởi giáo lý Mười hai nhân duyên cho thấy sự thật: «Không
thể tìm ra một đấng sáng tạo, một Brahman, hay một vị
nào khác, làm chủ vòng luân chuyển của đời sống; chỉ
có những hiện tượng diễn tiến, tùy thuộc vào những điều
kiện« (5).
2)- Con người
và cuộc đời là vô ngã, không có một tự tính thường hằng
(vô thường), nên bên trong mỗi người luôn tiềm ẩn một
khả năng giác ngộ, và cuộc đời luôn có cơ hội để xây
dựng trở nên tốt đẹp.
3)- Khi một chi
phần trong mười hai nhân duyên vận hành, nghĩa là 11 chi phần
còn lại cũng vận hành. Ðiều này nói lên sự dung thông giữa
cái «một« và cái «tất cả«, vượt ra ngoài khái niệm
không gian, thời gian, từ đó có thể khẳng định có sự
hiện hữu của các loại thần thông.
C- Kết luận
1)- Mười hai nhân
duyên là giáo lý về con người và nói cho đối tượng nghe
là con người. Vì con người bị vướng nặng vào vô minh,
ái và chấp thủ nên Ðức Phật đặc biệt nhấn mạnh đến
các chi phần này khi hướng dẫn con người tu tập vì mục
đích giải thoát, giác ngộ.
2)- Mười hai nhân
duyên, hay Duyên khởi, không phải là một giáo lý dùng để
đối trị chấp ngã hay nhằm giải thích thế giới; mà đây
là sự thật và là một pháp tu tập vì giải thoát thiết
thực cho con người. Do vậy, giáo lý này là căn bản của
chánh kiến (thứ nhất trong Bát chánh đạo). Nói khác đi,
chánh kiến là cái nhìn toàn diện, như thật về các pháp
là do duyên sinh.
3)- Vô ngã hay
giải thoát, Niết bàn không phải là một trạng thái trống
trơn, mà là sự trống rỗng ý niệm về một tự ngã thường
hằng. Nói cách khác, đó là trạng thái không có mặt vô minh,
tham ái và chấp thủ.
4)- Mọi giá trị
trong cuộc đời đều mang tính tương đối, bởi cuộc sống
là duyên sinh, luôn trôi chảy và không thể nắm bắt.
5)- Hiện hữu
hay cuộc sống là hiện hữu của các mối tương quan đa phương
giữa con người với con người, giữa con người với môi
trường xã hội, môi trường tự nhiên... Khi một cá nhân
sống tốt là đang góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp,
và ngược lại. Mỗi người phải có trách nhiệm với cộng
đồng, bởi xây dựng cộng đồng chính là đang bảo vệ cá
nhân mình.
6)- Mười hai nhân
duyên, hay giáo lý Duyên khởi nói chung, là một giáo lý vô
cùng tinh tế và khó hiểu, bởi con người vốn đã quen với
nếp tư duy hữu ngã từ vô thỉ. Muốn có một nhận thức
đúng về giáo lý này, đòi hỏi phải có sự quán sát và
tư duy thường xuyên về nó. Suy tư và thực tập giáo lý Mười
hai nhân duyên (theo chiều đoạn diệt), chắc chắn rằng sẽ
từng bước mang đến cho hành giả một cuộc sống độ lượng,
vị tha, giải thoát và an lạc trong hiện tại. Bởi như lời
Phật dạy: «Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp, ai thấy Pháp
là thấy Phật (Ta)«. Thấy Phật là thấy được thực tại
tối hậu, vượt ra ngoài mọi ràng buộc của thế giới ngã
tính - bị giới hạn bởi vô minh, tham ái và chấp thủ này./.
-oOo-
* Chú thích:
(1) Còn gọi là
Duyên sinh, Y tha khởi: sự nương tựa vào các yếu tố khác
mà sinh khởi, hình thành, hiện hữu; tùy thuộc phát sinh.
(2) Diệt trừ,
xả bỏ, chuyển hóa (Pàli: uccheda).
(3) Hình thể (sắc),
cảm thọ (thọ), ấn tượng của tri giác (tưởng), ý chí
tạo tác (hành) và tri giác hiện hữu (thức).
(4) Khoảng thời
gian rất ngắn giữa hai biến cố, nhỏ hơn rất nhiều so với
đơn vị thời gian là giây (Pàli: khana).
(5) Thanh tịnh
đạo luận (Visuddhimagga).
Câu hỏi hướng
dẫn ôn tập
1- Ðịnh nghĩa
về các chi phần trong mười hai nhân duyên.
2- Trình bày
mối liên hệ và sự vận hành của các chi phần nhân duyên
đối với đời sống của con người.
3- Từ giáo
lý Mười hai nhân duyên, bạn có suy tư gì về đời sống
tu tập của cá nhân?