Phần II
- Bài 6
Tam
vô lậu học (Giới-Ðịnh-Tuệ)
Thích Từ Hòa
và Thích Phước Lượng
A- Dẫn nhập
Tam
vô lậu học là môn học thù thắng gồm có Giới-Ðịnh-Tuệ.
Ba môn học này chỉ có trong giáo pháp của Ðức Phật.
Trong ý nghĩa chiết
tự: lậu có nghĩa là phiền não. Do vậy, Tam vô lậu học
có ý nghĩa là ba môn học giúp hành giả vượt khỏi sự trói
buộc của mọi phiền não, hoàn toàn tự tại. Lậu cũng có
nghĩa là rơi rớt, nên Tam vô lậu học là phương tiện giúp
hành giả không còn rơi rớt trong ba cõi, tâm không còn bị
ràng buộc bởi mọi lậu hoặc.
Như vậy, Tam vô
lậu học là ba môn học đoạn trừ phiền não, chứng nhập
quả vị giải thoát hoàn toàn, không còn nằm trong sự kiềm
tỏa của tam giới và không dừng lại ở phước báo sanh thiên.
B- Nội dung
I- Giới vô
lậu học
1)- Ðịnh
nghĩa: Giới
có những ý nghĩa như sau:
- Giới
(Sila) tức là «phòng phi chỉ ác«, nghĩa là đề phòng điều
trái quấy, dừng chỉ mọi điều ác, cũng có nghĩa là «chỉ
ác tác thiện« tức là ngưng làm điều ác, làm mọi điều
thiện, trên đây là chỉ về ý nghĩa tổng quát của giới.
- Giới có nghĩa
là điều phục, chế ngự, tức Tỳ nại da (Vinaya). Chế ngự
ở đây với những ý nghĩa chế ngự bằng sự tỉnh giác,
chế ngự bằng tri kiến, chế ngự bằng kham nhẫn, chế ngự
bằng tinh tấn... mục đích để đạt sự thanh tịnh ba nghiệp.
- Giới luật cũng
có nghĩa là Biệt giải thoát (Pratimoksa-s), cũng gọi là xứ
xứ giải thoát hay tùy thuận giải thoát. Biệt giải thoát
tức là giữ giới phần nào thì được giải thoát phần đó.
Giữ giới nhiều thì giải thoát nhiều, giữ giới ít thì
giải thoát ít. Còn tùy thuận giải thoát là tùy hành giả
trì giới cách nào thì hiệu quả theo đó mà thành tựu thuộc
về hữu vi hay vô vi. Pratimoksa-(s) cũng có nghĩa là trói buộc,
giữ gìn, thúc liễm những hành động của thân và khẩu không
để tạo ác nghiệp.
Giới luật cũng
đồng ý nghĩa luân lý đạo đức, cách cư xử, nếp sống
hướng thượng...
2)- Mục đích
hình thành giới bổn (Pratimoksa; Patimokkha): Trong Tăng
Chi Bộ kinh, 3B - trang 73, Ðức Phật dạy 10 mục đích hình
thành giới bổn như sau:
1. Ðể
Tăng chúng được cực thịnh
2. Ðể Tăng chúng
được an ổn
3. Ðể chặn
đứng các người khó điều phục
4. Ðể các vị
Tỳ kheo tốt được sống an ổn
5. Ðể chế ngự
các lậu hoặc ngay trong hiện tại
6. Ðể chặn
đứng các lậu hoặc trong tương lai
7. Ðể đem lại
niềm tin thanh tịnh chính đáng cho những người chưa tin
8. Ðể làm tăng
trưởng niềm tin thanh tịnh chính đáng cho những ai đã có
lòng tin
9. Ðể cho chánh
pháp được tồn tại
10. Ðể cho giới
luật được chấp nhận
Với những điều
kiện trên, chúng ta thấy mục đích hình thành giới bổn cũng
là để ngăn ngừa điều ác, làm và tăng trưởng điều thiện.
Như Luật tạng nói: «Giới là để chế ngự, chế ngự là
để khỏi hối hận, không hối hận là để được hân hoan,
hân hoan là để được hỷ, hỷ là để được khinh an, khinh
an là để được lạc, lạc để được định, định để
được chánh kiến, chánh kiến để được vô dục, vô dục
để được ly tham, ly tham để được giải thoát, giải thoát
để có giải thoát tri kiến, giải thoát tri kiến để đi
đến vô thủ trước Niết bàn«.
3)- Phân loại
giới:
a)- Giới theo
quan điểm Ðại thừa (Mahayana) gồm ba loại:
* Nhiếp
luật nghi giới: Là giới có những giới điều cụ thể để
thực hành theo các thứ bậc tu hành, gồm có các giới của
tại gia và xuất gia. Ðó là Ngũ giới, Bát quan trai giới,
Thập thiện giới cho hàng Phật tử tại gia. Sa di và Sa di
ni có 10 giới, Thức xoa ma na ni thêm 6 học giới, Tỳ kheo 250
giới, Tỳ kheo ni 348 giới, Bồ Tát (tại gia và xuất gia) có
10 giới trọng và 48 giới khinh.
* Nhiếp thiện
pháp giới: Có nghĩa là người thực hành chuyên tâm thực
hành những hành vi toàn thiện, coi đó cũng là một hình thức
thực hành giới.
* Nhiêu ích hữu
tình giới: Nghĩa là lấy tiêu chí hành động vì mục đích
lợi lạc tha nhân và quần sanh làm giới hạnh.
b)- Giới thế
gian và xuất thế gian:
* Giới
thế gian: Là giới luật đưa đến quả báo hữu lậu, tức
chưa ra khỏi tam giới. Nghĩa là người thực hành giới này
chỉ hưởng phước nhân thiên, vẫn còn luân hồi trong ba cõi:
Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới. Ví dụ: 5 giới thuộc
về nhân thừa, hay các dạng giới cấm thủ của ngoại đạo.
* Giới xuất thế
gian: Là giới đưa hành giả đến quả vị vô lậu, tức được
tự tại giải thoát khỏi tam giới, không còn bị rơi rớt
trong sanh tử. Ví dụ người thực hành giới Tỳ kheo tinh chuyên
và viên mãn, đó là nhân. Sẽ được hưởng quả vị A La
Hán (vô sanh), đó là quả. Thực hành giới vô lậu sẽ được
hưởng quả vô lậu. Ðây mới chính là Giới vô lậu học.
c)- Giới theo ba
bậc: Hạ, Trung và Thượng:
* Giới
bậc Hạ: Là giới thọ trì do mưu cầu danh lợi, vì động
lực tham ái, do vậy còn tái sinh.
* Giới bậc Trung:
Giới thọ trì vì còn ham quả báo được công đức, tức
còn chấp tướng, chấp phước, hay giữ giới để có lợi
lạc giải thoát riêng mình, gọi là giới bậc Trung.
* Giới bậc Thượng:
Là thực hành giới vì kỉnh giới, tin giới, vì mục đích
lợi tha, không chấp ngã nhân vì cầu với ý nghĩa Ba la mật,
là giới bậc Thượng.
4)- Tính chất
- nền tảng của giới - lợi ích của sự giữ giới:
a)- Tính chất:
Giới bổn được đặt trên căn bản để giữ thân tâm được
thanh tịnh, dần dần triệt tiêu những phiền não, tham, sân,
si. Giới trong Phật pháp mang đậm tính nhân văn, nhân bản,
đó là tinh thần linh động trong sự phân biệt từng loại:
khinh, trọng, tánh tướng, hay trong mỗi trường hợp mà có
cách ứng xử trì giới phù hợp: khai, giá, trì, phạm. Vậy
nên giới học trong Phật pháp không mang tính giáo điều (dognia)
cứng nhắc và cực đoan bế tắc như một số tôn giáo khác.
Tinh thần này phù hợp với quan điểm «tự tại vô ngại«
và «tùy duyên bất biến« hay «Phật pháp bất định pháp«
của Phật giáo.
b)- Nền tảng:
Giới được đặt trên nền tảng tự lợi và lợi tha, tự
thanh tịnh bản thân, cũng là để thanh tịnh quần thể sống,
thanh tịnh quốc độ. Nếu bạn trì giới đúng nghĩa thì cũng
có nghĩa góp phần thánh hóa nếp sống của mọi người.
c)- Lợi ích
của sự giữ giới: «Giới luật chính là bậc thang đầu
của đạo quả giác ngộ, là nền tảng của thiền định,
trí tuệ, là ngọc anh lạc để trang nghiêm pháp thân, là thuyền
bè để đưa người qua bể khổ sanh tử, là kho tàng vô lượng
công đức« (HT Thích Thiện Siêu).
Giới
như đèn sáng lớn
Soi sáng đêm
tối tăm
Giới như gương
báu sáng
Chiếu rõ tất
cả pháp -- (Kinh Phạm Võng - Bồ Tát giới)
Người có giới
đức sẽ hưởng được 5 sự lợi ích như sau:
1. Người
trì giới sẽ thừa hưởng gia tài pháp bảo nhờ có tinh cần
2. Ðược tiếng
tốt đồn xa
3. Không sợ hãi
rụt rè khi đến trước hội chúng đông đảo
4. Khi chết, tâm
không rối loạn
5. Sau khi mệnh
chung được sanh vào thiện thú, thiên giới -- (Trung Bộ II)
Tuy nhiên, trong kinh
Hạt muối (Tăng Chi Bộ kinh I) và kinh Ðại nghiệp phân biệt
(Trung Bộ III), Ðức Phật đã nêu rõ sự trì giới và phạm
giới với những hậu quả còn tùy thuộc vào tâm ý hay những
tác nghiệp (ác hay thiện) đã gây tạo ra trước đó.
II- Ðịnh vô
lậu học
1)- Ðịnh
nghĩa: Ðịnh (Samàdhi-p) cũng dịch là Tam ma đề, hay
chỉ, là chỉ cho trạng thái tâm ý chuyên chú tập trung vào
một đề mục, một đối tượng, một biểu thức nhất định
ngõ hầu để tâm không bị xao động, nhiễu loạn, phân tán
do những tác động chủ quan và khách quan.
2)- Phân loại:
a)- Ðịnh cận
hành và định an chỉ
- Ðịnh
cận hành: Là định có được do hành giả sử dụng các pháp
quán sát và tưởng tư những đề mục: sáu tưởng niệm,
quán xác chết, quán sự an ổn, quán Tứ niệm xứ, quán sự
hình thành và phân tán của tứ đại.
- Ðịnh an chỉ:
Là sự nhất tâm đạt được liền sau định cận hành, do
quán tưởng mà tâm ý được lắng đọng, dừng nghỉ mọi
vọng thức.
b)- Ðịnh thế
gian và định xuất thế gian
- Ðịnh
thế gian: Là sự nhất tâm có chiều hướng thiện nhưng không
có được tác dụng liễu thoát sanh tử, xuất ly tam giới,
nghĩa là hành giả còn bế tắc trong lục đạo. Ví dụ sự
chuyên chú của những nhà khoa họạc vào một mục tiêu thí
nghiệm, đưa đến sự nhất tâm, tâm ý không bị chi phối
bởi những ngoại duyên, nhưng đó là định phát sinh có giới
hạn, tự phát và không có chí hướng. Người ta còn gọi
đó là một thứ «phàm phu thiền«.
Hay như hình thức
tu định của một số ngoại đạo hạn chế ở mức độ
cầu phước báo sanh thiên, vì theo quan niệm của họ, Phạm
Thiên (Brahma) hay Thượng đế là đấng chí thượng. Người
ta còn gọi đây là «ngoại đạo thiền«.
- Ðịnh xuất
thế gian: Là định thuộc về Thánh đạo, người đạt được
định này tức đã thoát khỏi sự kiềm tỏa của tam giới
(Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới), được giải thoát
khỏi dòng bộc lưu sanh tử. Ðịnh xuất thế gian câu hữu
đi những quả vị vô sanh (A La Hán), Duyên Giác (Bích Chi Phật)...
Ðây mới chính là Ðịnh vô lậu học.
Theo quan điểm Ðại
thừa, định xuất thế gian còn được phân loại như sau:
- Tiểu
thừa thiền: Chỉ cho phương tiện tu định đưa đến kết
quả Thanh Văn (A La Hán) do tu 16 pháp quán, và Duyên Giác do
tu pháp quán nhân duyên. Ðây là pháp tu cho người có chí cầu
giải thoát, tâm thích trầm lặng yên tĩnh, tránh cảnh duyên...
thường thực hành các pháp Ngũ đình tâm quán, Tứ niệm xứ,
Thập nhị nhân duyên... để phá trừ kiến chấp, ngã chấp,
cũng gọi là thiền đối trị. Quả vị pháp tu này là các
bậc Thánh: Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Bích
Chi Phật an trú trong cảnh Niết bàn tịch tịnh.
- Ðại thừa thiền:
Thiền định câu hữu với 51 bậc của Bồ Tát do tu quán nhị
không (ngã không và pháp không). Trong Bát Nhã Tâm kinh có đoạn:
«Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời
chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách...
Tam thế chư Phật y Bát nhã Ba la mật đa cố đắc A nậu đa
la tam miệu tam Bồ đề«.
Pháp tu này để
cho những người có căn cơ cao, thích hoạt động, có lòng
từ bi thương xót chúng sanh, thường lăn lộn trong cảnh đời,
chung sống trong xã hội mà tâm hồn luôn luôn an định: «cư
trần bất nhiễm trần«, có hạnh nguyện của Bồ Tát.
Pháp tu thiền
định Ðại thừa là dùng trí Bát nhã quán chiếu các pháp
ngũ uẩn giai không (ngã, nhân, chúng sanh, thọ mệnh), dứt
được vô minh hoặc chướng và trần sa hoặc chướng, phổ
độ chúng sanh đồng thành Phật đạo.
Phương pháp tu
thiền định này là y cứ vào kinh Kim Cương, Lăng Nghiêm, Viên
Giác, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa... mà quán Tứ cú kệ, Nhất tâm tam
quán, Lục độ, Thập độ..., không chấp nhị biên, không
thiên vô hữu.
Hành thiền pháp
Ðại thừa là định trong cảnh động, lấy cảnh trần lao
để làm môi trường tu hành và hóa độ chúng sanh. Chỗ giải
thoát của hàng Ðại thừa thiền là Vô trụ xứ Niết bàn,
lên đến Thập địa Bồ Tát thì phá được một phần vô
minh, chứng được một phần pháp thân, cho đến khi viên mãn
thành bậc Diệu giác tức là Phật.
- Tối thượng
thừa thiền: Là pháp thiền định dành cho các bậc thượng
căn, thượng trí, khỏi dùng phương tiện, giáo ngoại biệt
truyền, không dùng văn tự dài dòng mà là «trực chỉ chơn
tâm, kiến tánh thành Phật« (chỉ thẳng nơi tâm người, kiến
tánh thành Phật).
Người đại trí
không cần giảng dạy nhiều, chỉ cần nói qua một câu, một
bài kệ hay một cử chỉ, hành động là khai thị được tánh
giác của họ, làm tỏ ngộ tức khắc bao nhiêu nghiệp hoặc,
phiền não chấp trước lâu đời. Nay chỉ trong một sát na
là tiêu tan hết, tâm quang sáng suốt, định tánh hiển bày,
cũng như khi mây tan gió tạnh thì mặt trời chiếu sáng giữa
hư không.
III.- Tuệ vô lậu
học
1)- Ðịnh
nghĩa: Tuệ
vô lậu học là môn học làm phát sinh trí tuệ vô lậu. Tuệ
là nói gọn của hai từ trí và tuệ.
Theo Từ điển
Phật học (Phân viện Nghiên cứu PH - Hà Nội) định nghĩa:
Trí là đối với đạo lý hết thảy sự vật có khả năng
đoán định phải trái, chánh tà... mà chọn lấy hay từ bỏ
mặt này hay mặt khác thì gọi là trí. Quán lý Tứ đế hay
Thập nhị nhân duyên đều là trí. Tuệ là cái tác dụng phân
biệt sự lý, quyết đoán nghi ngờ, thông đạt sự lý... Thông
đạt sự tướng hữu vi thì gọi là trí. Thông đạt không
tướng vô vi thì gọi là tuệ. Hay định nghĩa chung về trí
tuệ là: quyết đoán là trí, tuyển chọn là tuệ. Biết rõ
Tục đế là trí, biết rõ Chân đế là tuệ.
Theo Ðại cương
câu xá luận (HT Thích Thiện Siêu) xác định: «Ðặc sắc
của trí là tính quyết định, đặc sắc của tuệ là tính
phân biệt rõ ràng sự lý các pháp«. Như vậy, tuy có những
nhận định khác nhau về trí và tuệ, nhưng ta nhận thấy
rằng có một sự đồng nhất về mặt ý nghĩa. Trí có tác
dụng của tuệ, tuệ bao hàm tác dụng của trí. Do vậy, gộp
chung trí và tuệ lại mà gọi chung là trí tuệ. Nhưng có một
quan điểm chung nhất đó là: Thông đạt sự tướng hữu vi,
hay chỉ biết rõ Tục đế gọi là trí. Thông đạt không tướng
vô vi hay biết rõ Chân đế gọi là Tuệ. Và đây chính là
Tuệ vô lậu (Anàsravam).
Theo định nghĩa
của ngài Buddhaghosa thì: «Trí tuệ có đặc tính thấu nhập
vào các pháp. Trí tuệ có phận sự phá tan bóng tối của
ảo tưởng bao phủ tự tính của các pháp - biểu hiện của
nó là không bị mê mờ bởi vì thiền định là nguyên nhân
trực tiếp của nó« (Tinh hoa và sự phát triển của đạo
Phật, dịch giả Chơn Pháp - Nguyễn Hữu Hiệu - Tu thư ÐH
Vạn Hạnh, Saigon, 1970). Như vậy, dù nhìn góc độ nào đi
nữa thì trí tuệ (vô lậu) vẫn là chất liệu tinh anh cao
tột nhất để quyết đoán và chọn lựa đối với mọi sự,
mọi vật.
2)- Nội dung
của tuệ học: Nội dung của tuệ học chính là toàn
bộ giáo lý mà Ðức Phật đã thuyết giảng trong 45 năm, được
tập trung trong giáo lý Tứ đế và lý Duyên khởi. Nó bao gồm
đủ cả giới học và định học. Do vậy, đối tượng của
tuệ học là giới học và định học, hay giáo lý Tứ đế
và Nhân duyên sinh.
Trong phẩm Chuyển
pháp luân thứ 2 của kinh Tương Ưng V, nội dung của Tuệ học
là sự thấu rõ tường tận về 4 chân lý bao gồm:
- Thế
nào là khổ
- Nguồn gốc
của khổ
- Sự diệt tận
các khổ
- Các phương
pháp để diệt tận khổ
Cốt lõi thứ hai
nội dung của Tuệ học chính là sự hiểu rõ về giáo lý
Nhân duyên hay Duyên khởi. Trong kinh Phật Tự Thuyết thuộc
kinh Tiểu Bộ số 1, nội dung của giáo lý Duyên khởi là:
«Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này không có mặt,
cái kia không có mặt. Do cái này sinh, cái kia sinh. Do cái này
diệt, cái kia diệt«. Như vậy, hiểu rõ hay có trí tuệ về
lý Duyên khởi chính là trực nhận rằng các pháp hiện hữu
trên thế gian này đều do nhiều yếu tố, nhờ nhiều nhân
duyên mà có mặt và cũng do nhân duyên mà đoạn diệt. Hiểu
rằng vì bản chất của các pháp là như vậy, cho nên các
pháp là vô thường, là vô ngã, nằm ngoài sự sáng tạo của
đấng «tối cao«.
Từ hai nội dung
cốt lõi trên, chúng ta có thể kết luận: trí tuệ vô lậu
khác hẳn trí tuệ hay trí thức thế gian. Trí tuệ thế gian
là nhờ sự học tập hay kinh nghiệm cuộc sống mà có được.
Còn trí tuệ vô lậu là thành quả có được nhờ vào công
năng tu tập và thể nghiệm bản thân. Trí tuệ thế gian chỉ
là yếu tố trợ duyên để có thể làm tăng trưởng trí tuệ
vô lậu, chứ nó không thể giải thoát hoàn toàn được. Trí
tuệ vô lậu là con đường đưa đến cuộc sống an lạc hạnh
phúc, giải thoát ngay trong hiện tại và tương lai. Trí tuệ
vô lậu nhìn đúng sự thật nhân sinh và vũ trụ; nó không
bao giờ xem xét sự vật bằng cảm quan, bằng suy lường, bằng
cảm nhận; mà nó nhìn vào sự vật, hiện tượng nhờ vào
sự thể nghiệm thiền tập và đi vào chánh định, chánh kiến.
Do vậy, chỉ có hành thiền mới đưa đến trí tuệ vô lậu.
3)- Phân loại
trí tuệ:
a) Ðứng về mặt
phân biệt thì trí tuệ có hai loại: tuệ hữu lậu và tuệ
vô lậu, hay còn gọi là tuệ thế gian và xuất thế gian. Tuệ
hữu lậu là tuệ có quan hệ mật thiết với phiền não thế
gian và không có khả năng dứt trừ phiền não ấy. Ðó là
thứ trí tuệ phổ thông, còn gọi là thế tục trí (Jnànam-laukikam;
Knowledge of the world). Trí tuệ này chỉ có công năng hiểu biết
các pháp trên mặt hiện tượng. Trí tuệ này còn câu hữu
với tham, sân, si, mạn, phiền não... Do vậy chưa có công năng
đoạn trừ chấp thủ.
Trí vô lậu là
trí thanh tịnh, có công năng cắt đứt mối quan hệ với phiền
não. Sự hiểu biết các pháp nằm ngoài phạm trù đối đãi
và chấp thủ, đưa đến giải thoát và giải thoát tri kiến,
chứng vô lậu Niết bàn.
b) Ðứng về mặt
tính chất thì trí tuệ được chia làm hai loại là căn bản
trí và hậu đắc trí.
* Căn bản
trí hay còn gọi là chánh trí, vô phân biệt trí. Trí này là
căn bản sinh ra nhất thiết công đức, là giác tánh viên minh
mà mỗi chúng sanh vốn đã có sẵn. Ðó là bản thể của
tâm vốn là trong lặng, sáng suốt, nhưng vì bị vọng niệm,
phiền não che lấp, cho nên những đức tính sáng suốt trong
lặng ấy không hiển lộ ra được.
* Hậu đắc trí
hay còn gọi là tục trí, như lượng trí. Là trí tuệ có được
nhờ công phu tu tập Giới-Ðịnh-Tuệ mà có được. Có thể
hiểu hậu đắc trí là một quá trình thanh lọc tâm khỏi
các triền phược, phiền não... để trở về căn bản trí.
Trong hậu đắc trí đã có mầm mống của căn bản trí. Nơi
tâm thể của chúng ta đã có căn bản trí, sở dĩ chúng ta
chưa nhận diện được nó do vì mê chấp vọng cầu... dấy
khởi che lấp. Như gã cùng tử có viên minh châu trong tay áo
mà không nhận biết. Cho nên chúng ta cần phải tu tập để
có hậu đắc trí, và nhờ vào hậu đắc trí như là một
phương tiện để thể nhập căn bản trí vốn có của mình.
c) Trên phương diện
tu tập thì trí tuệ có ba loại: văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ.
Ðây là các cấp độ trí tuệ thứ tự từ thấp lên cao và
làm căn bản liên hệ cho nhau.
* Văn tuệ:
Là phương pháp tu tập trí tuệ nhờ vào sự nghe hoặc trực
tiếp nghiên cứu, tụng đọc giáo lý mà lãnh hội ý nghĩa,
phát sanh trí tuệ.
* Tư tuệ: Là
trí tuệ có được nhờ vào quá trình tư duy, xét đoán, trầm
tư về những lời dạy của Ðức Phật mà khai sáng thêm trí
tuệ. Ðây là giai đoạn tiếp theo văn tuệ, tư duy những gì
đã được nghe, được đọc... Ðó là tư duy về giáo lý
Tứ đế, Thập nhị nhân duyên... liên hệ đến con người
và sự vật.
* Tu tuệ: Khi đã
có văn tuệ, tư tuệ thì đem áp dụng trí tuệ đó vào cuộc
sống mà tu tập và hành trì thông qua thiền định, để thể
nghiệm và thể nhập sự thật của các pháp. Chính nhờ tu
tuệ mà có được chánh trí, chứng ngộ Niết bàn tối thượng.
Chính trí tuệ này là trí tuệ thâm nhập thực tại vô ngã
của các pháp mà Ðức Phật có được ngay đêm thành đạo.
4- Lợi ích của
trí tuệ:
Lợi ích của
trí tuệ không thể nghĩ bàn đối với cuộc sống hiện tại
và tương lai. Chính vì thế mà Phật giáo lấy trí tuệ làm
sự nghiệp (duy tuệ thị nghiệp). Muốn xây dựng một cuộc
sống hạnh phúc, an lạc trọn vẹn cho tự thân và cho tha nhân,
muốn hiểu được chính mình và hiểu được người thì phải
có trí tuệ để quán chiếu; muốn bước lên bờ giác ngộ
giải thoát, trí tuệ vô lậu là yếu tố quyết định. Tu
tập về trí tuệ vô lậu sẽ đạt được nhiều lợi ích.
Tuy thế, tóm tắt lại thì có những lợi ích thiết thực
thể hiện rõ qua các điểm sau:
* Trí tuệ tẩy
trừ phiền não
Phiền não là
ngọn lửa luôn luôn ngủ ngầm và bốc cháy trong con người
chúng ta bất cứ lúc nào. Nó có công năng thiêu đốt mọi
hạnh lành, mọi công đức mà chúng ta đã tạo. Tu tập là
nhằm từng bước đoạn trừ phiền não (tham, sân, si, mạn,
nghi, ác kiến...). Vậy thì lấy gì để đoạn trừ phiền
não? Ấy là trí tuệ. Trí tuệ ấy chất chứa lòng từ, bi,
hỷ, xả, chánh định và chánh kiến. Phật giáo chỉ sử dụng
một lưỡi gươm - gươm trí tuệ, và chỉ công nhận một
kẻ thù - vô minh (Avijjà). Ðây là một minh chứng hiện thực
và sống động, chứ không phải là lời nói suông. Và đạo
Phật đặt sự hiểu biết bằng thực nghiệm lên trên hiểu
qua sách vở và suy nghĩ. Phật giáo xây dựng cuộc sống an
lạc, hạnh phúc bằng trí tuệ chứ không phải bằng đức
tin. Ðức tin đối với Phật giáo chỉ là một phương tiện
bước đầu trong tiến trình đi đến giác ngộ. Cốt tủy
của đạo Phật là vậy.
Trong kinh Di Giáo,
Ðức Phật dạy: «Này các Tỳ kheo, nếu người có trí tuệ
thì không có tham trước, thường tự tỉnh giác, không để
sanh ra tội lỗi. Thế là trong pháp của ta có thể được
sự giải thoát... Người có trí tuệ chân thật, ấy là chiếc
thuyền chắc vượt qua biển già, bệnh, chết; cũng là ngọn
đèn chiếu sáng cảnh tối tăm mờ ám; là món thuốc hay trị
các thứ bệnh; là lưỡi búa bén chặt đứt cây phiền não.
Thế nên các ông phải dùng tuệ: văn, tư, tu mà tự làm cho
thêm phần lợi ích. Nếu người có trí tuệ chiếu soi, dù
cho nhục nhãn thì cũng là người thấy được rõ ràng«.
* Nếm được
vị ngọt Thánh quả và xứng đáng được cúng dường
Chúng ta biết
rằng tuệ được phát sanh là nhờ tu tập thiền định. Vị
ngọt của Thánh quả là vị ngọt trong trạng thái thành tựu
thiền định của các bậc Thánh. Trong lúc an trú tâm vào định
cũng như xuất định, thì bậc Thánh giả cảm nhận được
niềm hỷ lạc vô biên sâu lắng trong tâm thức, không thể
diễn tả được trọn vẹn bằng ngôn từ. Vị ngọt thiền
lạc ấy vượt ra ngoài nhận thức của phàm phu, vị ngọt
ấy đậm nhạt khác nhau tùy vào công hạnh thành tựu của
từng Thánh quả. Cũng như vị vua thưởng thức sự hoan lạc
của bậc đế vương, chư Thiên thưởng thức Thiên lạc, còn
các bậc Thánh thì thưởng thức Thánh lạc siêu thế. Thánh
lạc này đạt được nhờ vào tâm tác ý duy nhất vào Niết
bàn. Và chỉ có hành giả nào thực sự thành tựu trí tuệ
trong tu tập thì mới cảm nhận được trạng thái ấy mà
thôi. Người có được trí tuệ vô lậu như các bậc Thánh
quả và chư Phật thì xứng đáng được sự cúng dường của
chư Thiên và loài người. Vì đã thành tựu mọi công hạnh
xuất thế, là ruộng phước của thế gian, là nơi quy ngưỡng
của chúng sanh gieo trồng mọi công đức trong cuộc đời.
* Thẩm thấu
được sự vật và thể nhập chân lý
Lợi ích rốt
ráo của tuệ là giúp cho hành giả nhìn thấy rõ nhân sinh
và vũ trụ đúng như thật với bản chất của chúng; đó
là thấy được duyên sinh tính, vô thường tính và vô ngã
tính qua giáo lý Tứ đế và Duyên khởi. Do thấy được như
vậy nên hành giả tự tin nơi mình khả năng chuyển mê khai
ngộ. Trí tuệ mở cửa đi đến tự do (tự tại), xa lìa khổ
đau do chấp thủ, không thấy có «ta« và «tự ngã của ta«.
Từ đó mà thể nhập chân lý, đó là chân như, là tuệ giác
của tự tâm, của bản lai diện mục, là Phật tính hằng
chuyển.
C- Kết luận
Giới-Ðịnh-Tuệ
là ba môn học căn bản nhất trong hệ thống giáo dục Phật
giáo. Bởi vì toàn bộ giáo lý Phật giáo không nằm ngoài
phạm vi Giới-Ðịnh-Tuệ. Do vậy, nói học Phật là học Giới-Ðịnh-Tuệ,
tu Phật là tu Giới-Ðịnh-Tuệ./.
-oOo-
* Chú thích:
(1) Lậu hoặc:
Là một tên gọi khác của phiền não. Chỉ cho cái tâm mê
chấp, cái tâm bị phiền não chi phối.
(2) Thượng phần
kiết sử: Gồm có hữu ái, vô hữu ái, mạn, trạo cữ, vô
minh.
(3) Vô sở hữu
xứ định: Là thiền định sinh vào cõi Vô sở hữu xứ (Vô
sở hữu xứ là xứ thứ ba trong bốn xứ thuộc cảnh giới
Vô sắc).
(4) Phi phi tưởng
xứ định: Là thiền định sinh vào cõi Phi tưởng phi phi tưởng
xứ (Phi tưởng phi phi tưởng xứ là tầng trời thứ tư trong
cõi Vô sắc).
Câu hỏi
hướng dẫn ôn tập
1)- Ðịnh nghĩa
Tam vô lậu học.
2)- Những đặc
tính cơ bản của Giới-Ðịnh-Tuệ là gì?