Phần II
- Bài 2
Tám
phần Thánh đạo
(Bát-Chánh
Ðạo)
Thích
Tâm Khanh
A- Dẫn nhập
Thánh
đạo (Noble path) hay chánh đạo (Right path) đều biểu thị
con đường chân chánh, đưa đến thánh thiện, thánh quả,
giải thoát. Ðạo (Pàli: magga) là con đường chuyển hóa, là
phương thức, pháp môn tu tập đưa đến hạnh phúc, an lạc.
Trong Phật giáo, chữ «Thánh« không mang ý nghĩa siêu hình
hay siêu thế. Nó diễn tả tất cả giáo lý đạo Phật đều
do chính Ðức Thế Tôn tuyên thuyết và vì mục đích thoát
ly mọi ràng buộc của vô minh, tham ái, nguyên nhân của khổ
đau. Vì thế, cũng như các phương pháp tu tập khác thuộc
37 phẩm trợ đạo, như 4 đề mục quán niệm (tứ niệm xứ),
4 phạm trù về tinh cần và như ý (Iddhi; Tứ chánh cần - Tứ
như ý túc), 7 con đường đưa đến giác ngộ (Thất bồ đề
phần)..., tám phần thánh đạo (Bát chánh đạo) là tám con
đường hành trì của một người quyết tâm đi tìm sự thật
và hạnh phúc chân thiện ở đời. Người tu tập Bát thánh
đạo là người hạnh phúc. Gia đình được xây dựng theo
Bát Thánh đạo là gia đình hạnh phúc và tương tự, một
xã hội quốc gia sống theo bát chánh đạo hẳn nhiên sẽ là
một xã hội an lạc. Có thể khẳng định tám phần thánh
đạo là tám điều kiện cần và đủ để được hạnh phúc,
an lạc ngay tại cõi đời này gồm: Chánh kiến, Chánh tư duy,
Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh
niệm và Chánh định.
B- Nội dung
I- Nội dung
Bát thánh đạo:
1)- Chánh
tri kiến (Sammà ditthi): Trong Pàli ngữ, ditthi là biến
từ của dittha. Dittha, nếu là động từ sẽ mang nghĩa «thấy,
trông thấy«; khi là danh từ lại có nghĩa: «người được
giác ngộ đến mục tiêu cuối cùng«. Trong khi Sammà mang ý
nghĩa: «chánh trực, chơn chánh«. Sammà ditthi do vậy có nguyên
nghĩa là: sự thấy, hiểu biết chân chánh, chánh trực hay
nhận thức đúng, rõ ràng như thật. Các kinh Thánh Ðạo (Trung
A Hàm 189), kinh Maha Cattarisanka (Trung Bộ III - số 114),
kinh Chánh tri kiến (Trung Bộ I - số 9) đã đề cập
đến Chánh tri kiến như sau:
- Hiểu
rõ về 4 sự thật (tứ đế), duyên khởi - vô ngã, mối liên
hệ nhân quả trong sự vận hành, từ nguồn gốc sanh tạo
đến đoạn diệt và phương thức tu tập để đoạn diệt
các thức ăn nuôi dưỡng ái dục là chánh tri kiến.
- Biết được
thiện và bất thiện, các tính chất căn bản của chúng là
chánh tri kiến.
- Sự am tường
về 5 uẩn của tự thân và thế giới là chánh tri kiến.
2)- Chánh tư
duy (Sammà samkappa): Chánh tư duy là chi phần thứ hai
trong bát chánh đạo sau chánh tri kiến. Do sự hiểu biết,
cái nhìn chân chánh mà sự suy niệm hay ý nghĩ đúng đắn
phát sinh. Quá trình suy niệm liên tục sẽ hình thành các tư
tưởng (thoughts). Chánh tư duy vì vậy là kết quả của quá
trình trầm tư lâu dài, định hình các tư tưởng hay hệ tư
tưởng chánh trực. Tương tự như chánh tri kiến, các tư duy
được gọi là chân chánh khi chúng được tạo ra từ sự
chuyên chú khảo sát về tứ đế, duyên khởi - vô ngã, 5 uẩn...
Những tư tưởng nào không phản ánh được nội dung của
4 sự thật, duyên khởi - vô ngã là tư tưởng sai lầm hay
còn gọi là tà tư duy như đức Phật đã tuyên bố: «Ai thấy
duyên khởi là thấy pháp. Ai thấy pháp là thấy Như Lai« (Tương
Ưng III, tr.144).
3)- Chánh
ngữ (Sammà vàcà): Do có hiểu biết và tư tưởng đúng
đắn, lời nói và ngôn hạnh của hành giả cũng nhu hòa, chánh
trực. Luận Thanh Tịnh Ðạo (Visudhi Magga) viết: «Khi hành
giả thấy và tư duy như vậy (tức trên cơ sở 4 sự thật
và duyên khởi - vô ngã), sự từ bỏ tà ngữ của vị ấy,
một sự từ bỏ tương ưng với chánh kiến, từ bỏ ác ngữ
nghiệp gọi là chánh ngữ« (trang 40 - tập III).
Tà ngữ là những
lời nói - ngôn hạnh sai lạc gồm 4 biểu hiện: nói dối (vọng
ngữ), nói lời ác (ác khẩu), nói hai lưỡi (lưỡng thiệt)
và ỷ ngữ. Trong kinh ví dụ cái cưa (Trung Bộ kinh I
- số 21), đức Phật dạy về 5 loại ngữ hành mà một người
tu tập chánh ngữ cần thực hành:
- Nói đúng
thời, không nói phi thời;
- Nói lời chân
thật, không nói lời hư ngụy;
- Nói lời nhu
hòa, không nói lời thô bạo;
- Nói điều lợi
ích, không nói điều vô ích;
- Nói lời xuất
phát từ lòng từ, không nói lời xuất phát từ lòng sân.
4)- Chánh nghiệp
(Samma kammanta): Nghiệp (Kamma) là hành vi có tác ý. Một
hành động hay hành vi xuất phát từ nhận thức và tư duy
chân chánh được gọi là chánh nghiệp. Ngược với chánh
nghiệp là tà nghiệp. Sự từ bỏ các hành vi bất thiện thuộc
tà nghiệp - như giết hại, chiếm đoạt tài sảãn của người
khác (bao gồm cả hối lộ, nhận hối lộ, thâm lạm công
quỹ...), tà hạnh trong các dục (như nam nữ quan hệ bất chính,
tự thủ dục...) - là những hành vi chân chánh hay chánh nghiệp.
Nguồn gốc của
mọi hành vi thuộc tà nghiệp đều dẫn khởi từ ba yếu tố:
lòng tham lam, sự sân hận và sự ái luyến si mê. Với nhận
thức và tư duy thanh tịnh không uế nhiễm, người tu tập
nỗ lực loại trừ tất cả mọi tư tưởng luyến ái, lòng
thù hận. Tâm thức trở nên thanh tịnh. Tâm thanh tịnh thì
đời sống cũng trong sạch. Chánh nghiệp do vậy cũng là đời
sống trong sạch, gương mẫu, chánh trực.
5)- Chánh
mạng (Sammà àjìva): Yếu
tố hay chi phần thứ năm trong Bát thánh đạo là Chánh mạng.
Trong tự điển Pàli, Ajìva có nghĩa là sự nuôi sống, sự
sanh sống, hàm nghĩa các hoạt động lao động chân tay hay
trí não để nuôi sống sinh mạng. Mọi hoạt động nghề nghiệp
sinh nhai được hiểu là chân chánh khi chúng không được thực
hiện bằng sự xảo trá, lừa lọc, làm hại đến bản thân,
gia đình, xã hội và quốc gia (dù của người hay của mình)
như buôn bán độc dược, heroin, vũ khí,... Luận Thanh Tịnh
Ðạo giải thích: «Chánh mạng có đặc tính là làm sạch.
Nhiệm vụ của nó là đem lại sự phát sinh một nghề sinh
nhai thích đáng. Nó được biểu hiện bằng sự từ bỏ tà
mạng« (sđd, tr.41).
6)- Chánh
tinh tấn (Sammà vàyàma): Tinh tấn (Vàyàma) là sự nỗ
lực, siêng năng chuyên cần, cố gắng hết sức bằng tất
cả nghị lực bản thân. Chánh tinh tấn là năng lực thúc
đẩy tiến trình tu tập của một hành giả khi vị này quyết
tâm cắt đứt mọi bất thiện pháp trong cuộc sống tự thân.
Nó được biểu hiện qua 4 phạm vi:
- Nỗ lực
làm tiêu trừ các bất thiện pháp đã phát sanh như các tật
xấu, khiếm khuyết của bản thân.
- Nỗ lực ngăn
ngừa, dập tắt các ác pháp đang hoặc chưa phát sanh.
- Nỗ lực làm
phát sanh các thiện pháp như các tư tưởng, hành vi, ngôn ngữ
có chất liệu từ bi, vô ngã, hy sinh, phụng sự...
- Nỗ lực trau
dồi và làm tăng trưởng các thiện pháp đã phát sanh.
Các phạm trù thiện,
ác thuộc đạo đức, luân lý được thể hiện qua hành vi
của thân, lời nói của miệng và tư tưởng của ý. Do đó,
chánh tinh tấn còn là năng lực kiểm soát chuyên chú các hoạt
động của thân, khẩu và ý.
7)- Chánh
niệm (Sammà sati): Sati theo Pàli ngữ mang nghĩa: sự ghi
nhớ, sự chú tâm, thường được dịch là Niệm. Chánh niệm
là sự chú tâm quán tưởng 4 đề mục: thân thể, cảm thọ,
tâm thức và các pháp. Sự chú tâm và ghi nhớ, suy nghĩ thường
trực về 4 đề mục trên đưa đến sự loại trừ 4 tà niệm:
- Thân
thể là một hợp thể bất tịnh mà cho là đẹp đẽ, thanh
tịnh, đáng ưa thích.
- Các cảm thọ
(bao gồm tất cả các trạng thái, thái độ tâm lý của các
quan năng 6 căn khi tiếp xúc 6 trần) dù là đau khổ, vui sướng
hay vô kí (1) đều do nhân duyên sanh, có khuynh hướng đưa
đến khổ (dukkha) mà cố chấp là hạnh phúc, an lạc.
- Tâm lý, tâm
thức con người luôn thay đổi, vô thường mà bảo thủ cho
là trường tồn.
- Mọi sự vật,
hiện tượng trên đời luôn chuyển biến theo vô ngã mà chấp
là có ngã, không phải do nhân duyên sanh.
Luận Thanh Tịnh
Ðạo viết: «Khi hành giả nỗ lực như thế (tức luôn chú
tâm trên 4 đề mục) sự không quên lãng trong tâm tương ưng
chánh kiến, rũ bỏ tà niệm, thì gọi là chánh niệm. Nó có
đặc tính là an lập. Nhiệm vụ của nó là không quên« (sđd,
tr.41).
8)- Chánh
định (Sammà samàdhi): Ðịnh (Samàdhi) là trạng thái
tâm tập trung thuần nhất, an tịnh, không dao động. Kinh Ðại
Tứ Thập (Trung Bộ III, số 117) định nghĩa về chánh
định: «Thế nào là chánh định với các cận duyên và tư
trợ ? Chính là Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh
nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm. Này các Tỷ
kheo, phàm có sự nhất tâm nào được tư trợ với bảy chi
phần này, như vậy, gọi là chánh định cùng với các cận
duyên và tư trợ« (tr.205).
Theo lời dạy
trên, Chánh định là sự nhất tâm có mặt của 7 chi phần
trước mà đặc biệt là Chánh kiến. Như vậy, định hay sự
nhất tâm, an định nào không có mặt của chánh kiến được
gọi là tà định.
II- Liên hệ
giữa Bát thánh đạo và Giới, Ðịnh, Tuệ
Con đường đưa
đến giác ngộ theo 8 chi phần thánh đạo tuy không mô tả
đầy đủ về 3 nhóm Giới luật, Thiền định và Trí tuệ
nhưng về đặc tính thực nghiệm, chúng luôn được bao gồm
trong ba môn học vô lậu: Giới, Ðịnh, Tuệ. Ðức Phật đã
giảng rõ: «Hiền giả Visakha, tám thánh đạo không bao gồm
trong ba uẩn, nhưng ba uẩn bao gồm được cả tám thánh đạo.
Bất cứ chánh ngữ nào, chánh hành nghiệp nào, chánh mạng
nào, đều thuộc Giới uẩn. Bất cứ chánh tinh tấn nào, chánh
niệm nào, chánh định nào, đều thuộc về Ðịnh uẩn. Bất
cứ chánh kiến nào, chánh tư duy nào đều thuộc về Tuệ
uẩn« (Tiểu kinh Phương Quảng - Trung Bộ I, số 44).
Sự liên hệ giữa
các chi phần trong bát chánh đạo với ba nhóm giới luật,
thiền định và trí tuệ không phải là mối liên hệ khách
quan, máy móc, chúng biểu thị tính nhất quán trong học tập
giáo lý và thực nghiệm. Có thể giải thích theo hai hướng:
Sự liên hệ giữa các chi phần trong nhóm và sự liên hệ
giữa ba nhóm Giới, Ðịnh và Tuệ.
1)- Liên hệ
về tính chất thực nghiệm giữa các chi phần trong nhóm:
- Các chi phần
chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng được xếp chung vì có
tính chất chung loại. Lời nói, hành vi cuộc sống và nghề
nghiệp đều biểu hiện ở thân và khẩu. Vì vậy chúng được
xếp vào nhóm Giới.
- Niệm, nhất
tâm và tinh tấn là ba yếu tố hỗ tương đưa đến Ðịnh.
Luận Thanh Tịnh Ðạo giải thích: «Ðịnh không thể tự bản
chất làm phát sinh an chỉ, nhưng với tinh tấn hoàn tất nhiệm
vụ nỗ lực, niệm làm nhiệm vụ ngăn ngừa dao động, thì
Ðịnh có thể đạt đến an chỉ« (sđd, tr.42).
- Tuệ gồm chánh
kiến và chánh tư duy. Ngoài sự nhận thức, hiểu biết là
biểu hiện cụ thể của trí tuệ, tư duy hay tư tưởng cũng
được xếp vào Tuệ uẩn. Vì sao ? Ngài Buddha Ghosa Thera (Phật
Âm) giải thích: «Tuệ (tức chánh kiến) tự nó không thể
định rõ một vật là vô thường, khổ, vô ngã. Nhưng với
tầm - tư duy trợ lực, bằng cách liên tục đánh vào đối
tượng, thì có thể... Bởi thế, trong Tuệ uẩn chỉ có chánh
kiến là đồng loại, nhưng chánh tư duy cũng được hàm trong
đó, vì chánh tư duy trợ lực cho chánh kiến« (sđd, tr.43).
2)- Sự liên
hệ giữa các nhóm Giới, Ðịnh, Tuệ: Thông thường,
con đường giải thoát được giới thiệu theo thứ tự tiệm
tiến Giới, Ðịnh, Tuệ như Luật tạng viết: «Do Giới sanh
Ðịnh, do Ðịnh sanh Tuệ«. Tuy nhiên, do quan hệ duyên khởi
và thực tiễn tu tập theo căn tánh, tam vô lậu học được
trình bày khởi từ nhóm Tuệ. Các kinh Chánh Tri Kiến, kinh
Ðại Tứ Thập xác định chánh kiến là chi phần chủ yếu
của Bát thánh đạo. Tất cả các chi phần còn lại đều
phải có mặt của chánh kiến hay quá trình tu tập Giới và
Ðịnh luôn phải song hành với Tuệ.
III- Hai con đường
Như đã nêu, đạo
là con đường tu tập chuyển hóa đưa đến thánh quả. Trong
kinh Ðại Tứ Thập, Ðức Phật đã dạy về hai con đường
của các bậc hữu học và vô học (2): «Do có chánh kiến,
chánh tư duy khởi lên; do có chánh tư duy, chánh ngữ khởi
lên; do có chánh ngữ, chánh nghiệp khởi lên;..., do có chánh
định, chánh trí khởi lên; do có chánh trí, chánh giải thoát
khởi lên. Như vậy, này các Tỳ kheo, con đường của vị
hữu học gồm có tám chi phần và con đường của vị A La
Hán gồm có mười chi phần« (tr.191).
Do đó, Bát chánh
đạo cũng có hai loại: hữu lậu và vô lậu. Dù được trình
bày dưới hình thức 8 chi phần hay 10 chi phần, trọng điểm
của việc tu tập Bát thánh đạo vẫn là đoạn trừ lậu
hoặc, tham ái, chấp thủ. Sự phân loại trên chỉ nhằm mục
đích nhấn mạnh đến vai trò của trí tuệ (Chánh trí) trong
việc giải thoát (Chánh giải thoát) mọi lậu hoặc khỏi tâm
thức. Ðiều này khẳng định tầm quan trọng của trí tuệ.
Ðạo Phật là đạo của trí tuệ như kinh Bát Ðại Nhân Giác
đã viết: «Duy tuệ thị nghiệp«.
IV- Tu tập Bát
thánh đạo
Cũng như tất
cả giáo lý khác, Bát thánh đạo là giáo lý hướng đến
và phục vụ cho cuộc sống. Vì vậy, học tập Bát thánh đạo
không thể dừng lại ở mức độ khảo sát, tìm hiểu. Chúng
cần được thể nghiệm trong cuộc sống.
Con người là
một tập hợp hai thành phần thân thể vật lý và đời sống
tinh thần. Tu tập Bát thánh đạo vì vậy được đặt trên
nền tảng của hai phương diện: tu tập thân và tu tập tâm.
1)- Tu tập
thân: Thân
thể vật lý (tức nội sắc uẩn) luôn có liên hệ với thế
giới môi sinh (ngoại sắc uẩn). Một cơn gió thoảng qua đem
lại cho cơ thể cảm giác mát mẻ nhưng cũng có thể đem lại
những chứng bệnh cảm mạo, phong hàn. Sống trong hoàn cảnh
bất như ý, điều kiện cư trú ẩm thấp hay khô hạn, không
vệ sinh hay thiếu môi cảnh cây xanh... đều đem lại những
biến chứng bệnh tật. Tu tập chánh kiến, chánh tư duy là
thấy và tự nhận thức mối liên hệ duyên khởi của các
nội phần cơ thể và ngoại phần cơ thể hay tương quan của
thân thể và môi sinh. Tu tập chánh nghiệp - chánh mạng - chánh
ngữ là tự điều chỉnh khả năng đề kháng của cơ thể
phù hợp với môi trường học tập, lao động, làm việc;
góp ý và thực hiện công tác cải tạo môi trường sinh thái
và tăng cường rèn luyện cơ thể qua tập thể thao, sinh hoạt
điều độ. Tu tập chánh niệm - chánh định về thân là biết
rõ và làm chủ các hoạt động của cơ thể, giữ trạng thái
quân bình không để các dục làm kích động hay ức chế.
Trong kinh Thân Hành Niệm (Trung Bộ kinh - số 119), Ðức Phật
dạy: «Này các thầy, khi bước tới, bước lui biết rõ việc
mình làm; khi ngó tới ngó lui biết rõ việc mình làm; khi ăn,
uống, nhai, nếm...; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói,
im lặng biết rõ việc mình làm. Trong khi vị ấy sống không
phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thế tục
được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm
được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh«.
Tu tập Bát thánh
đạo dù bất cứ chi phần nào cũng đều phải có mặt của
chánh kiến. Do vậy, tự nhận thức và theo dõi, làm chủ bản
thân luôn là hai yếu tố không thể thiếu trong quá trình tu
tập thân.
2)- Tu tập
tâm: Tâm thức luôn trôi nổi, biến động theo các điều
kiện bên trong hay bên ngoài cơ thể. Tu tập thân không thể
đặt ngoài phạm vi tu tập tâm và ngược lại. Khi tâm bị
dao động hay ức chế bởi phiền não (kilesa), hoạt động
thân thể sẽ rối loạn ngay cả cái nhìn về cuộc đời cũng
trở nên buồn thảm. Thơ ca vẫn để lại bao lời than oán,
ngậm ngùi:
«Cảnh
nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn
cảnh có vui đâu bao giờ« -- (Kiều, câu 1243-1244)
Do vậy, tu tập tâm
có tầm quan trọng đặc biệt trong việc ổn định cuộc sống.
Toàn bộ kinh điển, luật, luận Phật giáo không đi ra ngoài
định hướng ấy. Nhận thức hay có chánh kiến, suy nghĩ tìm
ra mối liên hệ nhân duyên trong liên hệ nội tại của các
trạng thái tâm lý và thái độ tâm lý ứng xử là bước
khởi đầu để điều chỉnh, sửa đổi các hành vi thân khẩu
(thuộc chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng) và cuối cùng
là gột rửa khỏi tâm những bất thiện pháp, phiền não,
ganh ghét, oán hận có nguồn cội từ tham, sân, si. Nỗ lực
tu tập thiền định (chánh định - chánh niệm) là con đường
đặc biệt quan trọng, giải quyết tất cả các rối loạn
tâm lý của nhân sinh. Ðồng thời nó xác định tính chất
đặc thù của Phật giáo, khác hẳn các tôn giáo khác.
«Chúng
ta có thể rút ra một kết luận rõ ràng về những gì phải
làm của một người tu tập giải thoát. Hành giả chỉ có
hai việc phải làm, như Thế tôn đã dạy, học hỏi Phật
pháp và tu tập thiền định. Ðây là ngõ đường chúng ta
đến với đạo Phật, đi vào đạo Phật« (Phật học khái
luận, tr.283).
C- Kết
luận
Thế giới hiện
nay đang từng bước phát triển, đi vào đa phương hóa toàn
diện. Nhiều học thuyết, lý thuyết triết học, đạo học
đang được tái thẩm định để tìm ra những giá trị ứng
dụng cho nền văn minh hiện đại. Các nguyên lý, quy tắc đạo
đức cổ lệ cũng được thay đổi. Tuy nhiên, nếu phải tìm
ra những phạm trù đạo đức chung để xây dựng và góp phần
ổn định mọi rối loạn trong cuộc sống nhân sinh thì Bát
thánh đạo chính là định hướng cho đời sống cá nhân,
gia đình và xã hội ở mọi quốc gia trên thế giới. Chừng
nào con người còn đau khổ, Bát thánh đạo vẫn còn là kim
chỉ nam hướng dẫn mọi hành vi, lời nói và tư tưởng thuộc
tam nghiệp; chừng nào xã hội còn có nhu cầu phát triển tốt
đẹp, bát thánh đạo vẫn còn là định hướng tu chính chính
sách, đường hướng tổ chức hoạt động xã hội; và chừng
nào mọi quốc gia trên thế giới còn mong muốn đem lại an
lạc cho nhân loại, chừng đó bát chánh đạo vẫn là đóng
góp của Phật giáo vào tiếng nói chung của nhân loại trong
tiến trình hòa bình thế giới. Có thể khẳng định giá trị
của tám phần thánh đạo như một bản đồ tu tập cho mọi
người ở mọi thời đại. Ðây cũng là ý kiến được rút
ra từâ kinh nghiệm tu tập của Giáo sư Rhys Davids, chủ tịch
hội Pàli Text Society:
«Dầu
là Phật tử hay không phải Phật tử, tôi nghiên cứu từng
hệ thống tôn giáo lớn trên thế giới, và trong tất cả,
tôi không tìm thấy trong tôn giáo nào có cái gì tốt, cao đẹp
và toàn vẹn hơn Bát thánh đạo của đức Phật. Tôi chỉ
còn có một việc làm là thu xếp nếp sống tôi cho phù hợp
với con đường ấy«. (Ðức Phật và Phật pháp, 1989,
tr.295,bd)./.
* Chú thích:
(1) Vô kí: các
cảm thọ không thuộc về thiện, ác cũng không thuộc về
bất thiện hay khổ.
(2) Hữu học,
vô học: ba quả đầu trong 4 thánh quả Thanh văn được gọi
là Hữu học (còn phải học) còn quả thứ tư (A La Hán) được
gọi là Vô học.
* Thư mục sách
tham khảo:
1. Ðức Phật
và Phật pháp (bd), HT. Nàrada, Thành hội Phật giáo TP. Hồ
Chí Minh, 1989, (dịch giả: Phạm Kim Khánh)
2. Phật học
khái luận, TT. Thích Chơn Thiện, Ban giáo dục Tăng Ni, 1993
3. Thanh tịnh
đạo luận (bd), Buddhaghosa, tập III, 1993 (dịch giả: Trí
Hải)
Câu hỏi hướng
dẫn ôn tập
1- Trình bày
nội dung Bát thánh đạo và liên hệ với Giới - Ðịnh - Tuệ.
2- Rút ra các
giá trị thực nghiệm qua ứng dụng giáo lý Bát thánh đạo
trong cuộc sống tự thân.