42.
CHUYỆN VUA A-DỤC (ÐẦU GÌ QUÝ?)
(tặng
thiếu nhi Tuệ uyển)
Hôm
nay cô sẽ kể cho các em nghe câu chuyện vua A dục cảm hóa
hoàng đệ và đình thần. Vua A dục là vị vua Ấn độ sống
sau Phật Thích ca khoảng chừng ba trăm năm. Trước khi theo
đạo Phật, vua rất hung ác, nhưng từ khi biết đạo, ông
trở thành một vị vua nhân từ, tích cực hoằng dương chánh
pháp. Vua cho dựng khắp xứ những trụ đá khắc lời Phật
dạy để dân chúng noi theo tu học, từ bỏ sát sinh, trộm
cắp, nói dối. Những trụ đá ấy đến nay các nhà khảo
cổ vẫn còn tiếp tục khai quật được, bị chôn vùi dưới
những lớp đất thật sâu tại Ấn độ: đó là chứng tích
lịch sử hùng hồn nhất chứng minh sự thịnh hành của Phật
giáo tại Ấn độ cách đây hơn hai ngàn năm.
Vua
A dục thường lễ kính các vị tỳ kheo. Bất luận gặp các
ngài ở đâu, vua cũng quỳ lạy sát đất. Mỗi khi vua cùng
đi với triều thần, mà gặp một vị tỳ kheo, ngài liền
xuống xe đảnh lễ. Triều thần thấy vua lạy buộc lòng phải
lạy theo, nhưng thâm tâm thì không muốn. Có lần, họ đánh
bạo tâu vua:
- Tâu
bệ hạ, bệ hạ là chủ cả nước, sao bệ hạ lại cúi đầu
trước mấy thầy tu chỉ là thần dân của mình?
Ðể
cho các quan một bài học, một hôm vua ra lệnh họ đi tìm
tất cả những cái đầu của đủ các loài, từ nhỏ đến
lớn, đem về chất đầy một nhà kho. Nào đầu heo, đầu
bò, đầu ngựa, đầu khỉ, cho đến đầu cá đầu tôm...
Cuối cùng vua bảo đem về một cái đầu người, chặt từ
những thây chết ngoài rừng thây. Sau khi sưu tập đủ loại
đầu, vua bảo họ đem bán. Ðầu con gì cũng có ít nhiều
giá trị, nhưng khi đem bán cái đầu người, thì thiên hạ
đều ghê sợ, không ai mua, đành phải đem về tâu vua. Vua
bảo: "Vậy, các khanh hãy đem cho không." Họ nói: "Tâu bệ
hạ, dù cho không, cũng chẳng ai lấy làm gì cả."
Nhân
đấy vua triệu tập các quan, dạy:
- Các
ngươi cho đầu người ta quý, không nên dùng để lễ bái,
nhưng qua kinh nghiệm vừa rồi, ngươi thấy nó có quý bằng
đầu tôm, đầu cá chăng? Tại sao đầu con gì dù nhỏ nhất
cũng có chút ít giá trị, chỉ có đầu người cho không cũng
không ai thèm? Như vậy đủ biết, cái đầu người ta không
quý gì cả, còn thua cái đầu thú vật, nhưng sở dĩ nó quý
là nhờ những tư tưởng chỉ đạo cho hành vi tốt phát xuất
từ cái đầu ấy. Nay ta kính lễ các bậc chân tu là để
thực hành hạnh cung kính Tam bảo, hành vi ấy xuất phát từ
tư tưởng tốt đẹp, các ngươi không nên kích bác ta.
Các
quan từ đấy không còn chê vua là hạ mình một các vô lý.
Ðối với hoàng đệ, vua cũng cho một bài học thâm trầm.
Ngài có người em trai kế cận thường chê vua mê tín, cứ
đem lễ vật cống hiến cho bọn thầy tu ăn không ngồi rồi.
Hoàng đệ nói:
- Thưa
vương huynh, theo em thấy, những lão thầy tu kia cũng như mình,
biết ăn ngon mặc đẹp, hưởng thụ các giác quan như mình,
có gì hơn chúng ta mà vương huynh quá kính trọng như thế?
Ðể
trả lời em, một lần nọ vua tổ chức một cuộc du ngoạn
tắm biển, mời hoàng đệ và hai ái phi cùng đi. Ra tới bãi
biển, vua cởi bỏ long bào vương miện giao cho một cung phi
giữ, cô kia cùng bơi với vua và hoàng đệ ra xa. Vua bơi trước,
cung phi nửa chừng giả bộ đuối sức, kéo hoàng đệ cùng
quay vào bờ. Hoàng đệ bơi theo, cả hai cùng lên đến chỗ
cung phi đang giữ áo mão. Cô này nói:
- Thưa
hoàng đệ, sẵn có áo mão nhà vua đây, hoàng đệ mặc vào
cho chúng em ngắm thử, chắc đẹp lắm.
- Ta
đâu dám.
- Không
sao đâu, nhà vua đã bơi ra xa, hoàng đệ thử mặc một lát
chơi thôi mà. Hãy cho chúng em ngắm trước vị vua tương lai
trẻ đẹp. Phần áo mão này có ngày hoàng đệ cũng sẽ mặc
thôi, bây giờ ướm thử thì đã sao!
Nghe
bùi tai, hoàng đệ đỡ lấy long bào trên tay cung nữ. Vừa
khoác áo đội mão lên, đang cùng với hai cung phi ngắm nghía,
bỗng đức vua đã vào tới bờ. Ngài giận dữ tiến lại:
- A,
hoàng đệ có âm mưu gì mà dám mục long bào của trẫm? Lại
dám đùa giỡn với hai ái phi ta? Tội khi quân đáng chém đầu.
Hãy đưa về triều xử trảm.
Vua
thét thị vệ trói cả ba dẫn về, thiết triều để nghị
án. Các quan đều đồng ý rằng theo luật phải tử hình,
nhưng vì em vua nên xin giảm nhẹ. Vua phán:
- Thôi
thì vì tình ruột thịt, ta tạm hoãn cho bảy ngày. Và vì ngươi
muốn làm vua, cho nên ta sẽ cho mặc áo long bào, vươn miện
và ngồi trên ngai vàng bảy ngày liên tiếp trước khi ra pháp
trường chịu tội. Ta sẽ cho ngươi hưởng thụ tất cả dục
lạc của đế vương trong thời gian đó, cho ngươi thỏa nguyện.
Rồi
vua sai những quan thị vệ, đầu bếp, hầu tắm, bồi bàn,
cung phi mỹ nữ...hầu hạ hoàng đệ y như hầu hạ nhà vua
thường ngày. Lại cho ngồi trên ngai, nằm long sàng, xử dụng
chén vàng đĩa b?c của vua. Mỗi ngày khi mặt trời lặn, một
quan thị vệ lại quỳ tâu: "Tâu bệ hạ, một ngày đã qua,
chỉ còn không mấy ngày nữa là nhà vua sẽ ra pháp trường
chịu tội."
Cứ
thế cho đến hết ngày thứ sáu, quan thị vệ lễ phép quỳ
tâu:
- Tâu
bệ hạ, chỉ còn một ngày nữa thôi, bệ hạ sẽ từ bỏ
ngai vàng để lãnh án tử hình.
Ðêm
ấy vua A Dục vào thăm hoàng đệ.
- Sao?
Em thấy thế nào trong sáu ngày vừa qua, khi hưởng dục lạc
của vương vị?
Hoàng
đệ khóc òa:
- Ôi
vương huynh ơi! Chẳng thà vương huynh đưa em ra pháp trường
mà chém quách đi, còn đỡ khổ hơn giết lần giết mòn em
với cái trò làm vua quái ác này! Nó làm cho em bạc cả đầu,
sâu cả mắt, ăn không ngon ngủ không yên, khi thấy mình tiến
từ từ đến cái chết!
- Như
vậy em không sung sướng gì khi hưởng thụ dục lạc vì nghĩ
đến cái chết phải không? Các vị tỳ kheo đệ tử Phật
cũng thế đó, các ngài luôn sống trong pháp quán tưởng vô
thường, thì làm sao có thể sung sướng khi được chúng ta
tôn trọng, cung kính cúng dường lễ bái? Càng được cung
kính cúng dường, những vị chân tu càng sợ hãi như bị đeo
thêm đá vào người, cảm thấy trách nhiệm mình càng lớn,
mà cái chết gần kề, làm sao yên ổn được? Em vừa mới
sống sáu ngày qua trong tâm trạng căng thẳng tột độ, chắc
em đã hiểu tại sao ta đảnh lễ, cúng dường các vị tỳ
kheo?
Hoàng
đệ ôm chầm chân vua nức nở:
- Thì
ra đây là bài học vương huynh muốn dạy em!
- Chính
thế.
- Và
Vương huynh tha chết cho em?
- Dĩ
nhiên.
- Ða
tạ ơn vương huynh! Em xin ghi nhớ suốt đời bài học này!
Hoàng
đệ rối rít cảm ơn vua, và từ đấy theo vua học đạo,
tập tành cái hạnh cung kính những bậc đạo đức hơn mình.
-ooOoo-
43.
HOA SEN GIỮA BỤI ÐỜI
(Một
mẫu truyện Liêu Trai do Hòa thượng Già Lam kể)
Mặc
dù có một bà mẹ rất thuần thục trong niềm tin Phật, Nhạc
Trọng, đứa con một của người mẹ góa, vẫn chơi bời lêu
lổng từ tấm bé. Mẹ chàng trường trai, thờ Quan Âm Bồ
Tát; nhưng chàng thì chỉ "thờ" một món rượu thịt, luôn
luôn chè chén say sưa. Bà mẹ vì quá yêu con, không bao giờ
cấm đoán ngăn cản chàng, hay ép buộc chàng theo đức tin
của mình. Nhạc Trọng được tự do, nhưng cũng rất thương
mẹ mặc dù đường ai nấy đi - có lẽ nhờ được tự do,
mà chàng cành thương mẹ. Năm ấy, chàng được 30 tuổi, bà
mẹ thấy mình không còn sống lâu, muốn cưới vợ cho chàng
để khi yên bề gia thất, họa may chàng có bớt lêu lổng
rượu chè. Bà hỏi ý, chàng cũng bằng lòng cho vừa ý mẹ.
Nhưng vừa cưới vợ về được một hôm, chàng đâm chán
ngấy một cách lạ lùng, và xin mẹ để cho nàng dâu về nhà,
vì chàng chỉ muốn tiếp tục sự nghiệp rượu thịt mà thôi.
Thấy chàng nhất quyết, bà mẹ đành chìu lòng, trả nàng
dâu về với một lời xin lỗi, và rất nhiều tặng phẩm.
Từ
đó Nhạc Trọng được tự do trở lại với nghiệp ăn chơi
lêu lổng cố hữu của chàng.
Một
hôm, bà mẹ ngã bệnh nặng, hấp hối vào lúc nửa khuya. Do
một tiền oan nghiệp chướng gì không biết, bà bỗng dưng
khao khát được nếm mùi thịt nướng trước khi nhắm mắt,
mặc dù đã trường trai mấy chục năm. Trước cảnh mẹ lăn
lộn trên tử sàng, đòi thịt nướng, Nhạc Trọng bèn đi
ra, xẻo ngay một miếng thịt trên bắp vệ của mình, bỏ
thêm tiêu hành nước mắm nướng lên đem dâng mẹ. Bà mẹ
vừa được miếng thịt thấm môi thì tắt thở.
Nhạc
Trọng chôn cất mẹ xong, thì gặp lúc trong nước có lễ hội
Vu Lan. Thiện nam tín nữ họp thành đoàn thể đi dự hội,
cùng để chiêm bái một pho tượng Quan Âm lộ thiên mới khánh
thành ở một ngôi chùa trên núi xa. Nhớ đến mẹ sinh tiền
thờ Quan Âm Bồ Tát, Nhạc Trọng cũng thu xếp lên đường
dự hội.
Nhưng
vì suốt đời chàng chưa từng tham gia những đám rước, cũng
không hề lui tới chùa chiền, nên Phật tử không ai biết
tới chàng, nghĩ chàng có lẽ là một kẻ phá đám nên không
ai cho gia nhập. Nhạc Trọng phải đi lùi ra sau xa, ngoài lề
đám diễn hành. Những kẻ ngoài lề ấy gồm đủ hạng: dân
bán cà rem, bán hàng rong, dân ghiền xì ke ma túy, gái điệm,
con mồ côi, trẻ móc túi, bụi đời... Chàng phải đi trong
bọn người này theo đuôi đoàn lữ hành. Chẳng bao lâu, chàng
kết nạp được một cô gái làm bạn đường, đó là một
gái điếm đã chán đường ong bướm, muốn tìm đến một
nơi thiêng liêng để an nghỉ tâm hồn. Cả hai kẻ bụi đời
kết bạn rất tương đắc. Họ kéo nhau vào quán rượu trước
sự mỉa mai khinh bỉ của mọi người trong đoàn hành hương.
Nhưng hai người không để ý, cứ tự nhiên gọi rượu thịt
cùng nhậu nhẹt. Trong khi họ đàm đạo, thì một đứa bé
mặt mũi sáng sủa trong đám trẻ bụi đời đến chìa tay
xin tiền. Thấy thằng bé kháu khỉnh, chàng hỏi con cái nhà
ai thì nó bảo không biết, mẹ chết, nó đang đi tìm bà con
thân thích để gởi tấm thân. Vì hy vọng trong đám hội toàn
quốc này thế nào cũng gặp được bà con, nên nó có mang
theo bức thư tuyệt mệnh của mẹ nó. Nói xong nó liền móc
trong túi găm kỹ một bao thư đã nhàu, màu mực đã phai. Ðọc
xong bức thư, Nhạc Trọng mới té ngữa người ra: thằng bé
chính là con của chàng! Chàng kể sơ cho cô bạn biết câu
chuyện. Nghe xong cô tình nguyện đem đứa bé về ở với hai
người. Cô sẽ nuôi nó cho đến khi khôn lớn. Nhạc Trọng
bằng lòng, nhưng giao hẹn trước:
- Chúng
ta có thể sống với đứa bé dưới một mái nhà, nhưng tôi
yêu cầu nàng một điều là giữa chúng ta chỉ có tình bạn.
Và một khi tôi uống rượu say thì xin nàng hãy lánh mặt đi
chỗ khác.
- Ðược
rồi. Ðó cũng là ý nguyện của tôi. Tôi chỉ muốn nuôi đứa
bé này làm phước, và ở với anh cho có bạn mà thôi.
Sau
khi thỏa thuận, họ tiếp tục cùng nhau lên đường, dắt
theo đứa bé bây giờ là con của họ. Gần đến chùa chỉ
có đoàn hành hương mới được vào cổng, những kẻ ngoài
đoàn phải dừng bước ở bên ngoài, ăn nhờ ngủ đậu trong
các quán xá ven đường. Nhưng tượng Quan Âm lộ thiên rất
lớn, hai người có thể trông thấy từ đàng xa. Khi đến
gần, hai người bất giác sụp lạy. Chàng đảnh lễ tượng,
trong lòng thiết tha nhớ đến mẹ ngày xưa. Nàng chiêm ngưỡng
nét bình an trong sáng của pho tượng với cành dương như quét
sạch bao ô nhiễm sóng gió trong cuộc đời. Nàng tìm thấy
một niềm bình an tuyệt đối, và bất giác rơi lệ. Khi ngẩng
lên thì với chàng, trên ngàn cánh sen có ngàn hình ảnh mẹ,
với nàng, ngàn ánh mắt Từ bi đang nhìn suốt tâm can: kể
từ đây, đời họ được an nghỉ.
Sau
khi chiêm bái trở về, họ sống chung dưới một mái nhà.
Ngày ngày cô gái, Quỳnh Hoa, dọn dẹp nhà cửa chăm sóc, dạy
dỗ đứa bé, Nhạc Trọng thì vẫn tiếp tục những cuộc
rượu chè, nhưng dần dần thưa thớt, và chàng trở nên trầm
ngâm, ưa cô tịch. Trải qua ba mươi năm như vậy, một hôm
chàng gọi Quỳnh Hoa vào phòng riêng, một cử chỉ chàng chưa
từng làm, khiến nàng rất đỗi ngạc nhiên. Khi nàng vào,
Nhạc Trọng lại còn vén đầu gối cho nàng xem mà nói:
- Mẹ
tôi sắp gọi tôi về. Tôi muốn cùng nàng từ biệt.
Ở
cái chỗ chàng xẻo thịt cho mẹ, mọc lên một cục thịt
hình hoa sen nở. Quỳnh Hoa lấy tay bóp những cánh sen lại
mà bảo:
- Chúng
ta làm bạn với nhau đã 30 năm, anh không chờ tôi được sao?
Nói
xong, nàng thu xếp trở về quê cũ, bán vườn tược nhà cửa,
tậu một số vốn để lại cho đứa con của chàng cưới
vợ, rồi trở lại bảo chàng:
- Bây
giờ, tôi đã làm xong công việc. Cám ơn anh đã có lòng chờ
tôi. Chúng ta sẽ cùng về với Phật.
Mỗi
người vào phòng riêng, ngồi xếp bằng chắp tay niệm Phật
vãng sinh cùng một lúc.
-ooOoo-
44.
CHÚ VƯỢN TINH KHÔN
Vào
một trong những tiền kiếp xa xăm, Ðức Thế tôn làm một
con vượn chúa có sức mạnh phi thường và trí khôn vô địch.
Vượn sống cạnh bờ sông đối diện một hòn đảo. Trên
đảo có một rừng cây sai quả ngon ngọt. Giữa hòn đảo
và bờ sông không một chiếc cầu, nhưng có một mỏm đá
nhô lên giữa sông. Vượn nhờ hai chân dài nhanh nhẹn, nên
chỉ cần một phóc nhảy từ bờ sông qua mỏm đá, và một
nhảy nữa từ mỏm đá lên đảo là đã có thể tha hồ tung
tăng trong rặng cây. Vượn ngày ngày qua hòn đảo ăn trái
và dong chơi trong rừng bằng lối ấy, đến chiều mới nhảy
trở về.
Khúc
sông ấy có một đôi vợ chồng cá sấu cư ngụ. Cá sấu
vợ mang thai gần đến ngày sinh nở. Trông thấy vượn chúa
ngày ngày qua lại mỏm đá, cá sấu bỗng đâm ra thèm thuồng
ăn tươi trái tim của vượn. Bà bảo chồng:
- Ông
đi, tôi thèm ăn cái tim con vượn kia. Ông hãy tìm cách giết
nó mau moi tim cho tôi ăn.
Cá
sấu chồng bảo:
- Bà
đã bảo thì tôi sẽ kiếm cách làm cho bà toại ý. Nhưng phải
kiên nhẫn chờ tôi nghĩ kế mới được. Vượn khôn lanh lắm.
Bà
vợ giận dỗi nói:
- Nghị,
nghĩ cái gì? Ông phải leo lên nằm ngay bây giờ trên mỏm
đá, đợi nó ở rừng nhảy ra là thộp ngay cho tôi ăn tim.
- Bộ
bà tưởng công việc dễ dàng lắm sao? Trước hết, vượn
rất khôn lanh, mà nó những bốn tay chân, còn tôi chỉ có
một cái đuôi thì làm sao địch nó nổi.
Bà
sấu quát lên:
- Vậy
thì cái bộ răng nhọn hoắc của ông để làm gì? Thôi tôi
biết rồi, ông không thương tôi, ông muốn để cho tôi chết
đói cả mẹ lẫn con.
Nói
rồi bà khóc rưng rức bằng nước mắt của cá sấu. Ông
sấu vốn sợ vợ nên chiều lòng bà ngay:
- Ðược
bà hãy chờ tôi.
Ông
sấu leo lên nằm trên mỏm đá chờ. Khi ra khỏi rừng, vượn
toan nhảy lên mỏm đá trở về như mọi khi thì bỗng nó chú
ý cái chiều cao khác thường của mỏm đá. Nó không biết
đó là vật gì, bèn nghĩ ra một kế, gọi lớn:
- Ðá
đi, đá!
Không
nghe trả lời, vượn lại gọi:
- Ðá
đi, đá!
Lần
thứ ba, vượn giả bộ ngạc nhiên hỏi:
- Ô
hay, tại sao hôm nay tôi gọi mãi anh vẫn làm thinh như vậy,
anh Ðá?
Cá
sấu giật mình nghĩ: "thì ra ngày thường mỏm đá này có
nói chuyện với nó. Vậy mình cũng phải lên tiếng cho nó
khỏi sanh nghi." Bèn nói lớn:
- Này
vượn, có tôi đây. Cái gì thế?
- Tôi
là ai?
- Tôi
là cá sấu! (vừa thốt ra, sấu biết mình hớ)
- Anh
ngồi làm chi đó?
Ðã
hớ, sấu nói luôn:
- Ðể
thộp ngươi và moi tim ngươi cho vợ ta ăn.
Thấy
thế nguy, nhưng vượn vẫn điềm nhiên bảo sấu:
- Như
vậy thì tôi không còn cách nào thoát được. Thôi để tôi
nhảy đại vào mồm anh cho xong. Nào, há mồm cho thật lớn
đi.
Cá
sấu tưởng thật, bèn há mồm tới mức tối đa, làm cho hai
mắt nhắm tít lại không trông thấy gì nữa. Vượn nhân lúc
ấy, nhảy lên đầu sấu, và nhảy một phóc khác trở về
bờ sông yên ổn.
Sau
khi kể lại chuyện tiền thân, Phật cho biết con cá sấu đực
chính là Ðề Bà Ðạt Ða ngày nay, vợ cá sấu là nàng Cinca
do ngoại đạo thuê để vu khống Phật, còn vượn là tiền
thân của Ngài. Và Ngài kết luận, không những ở trong thời
hiện tại Ðề Bà Ðạt Ða mới tìm cách hại Phật, mà từ
vô số kiếp ông ấy đã luôn luôn âm mưu như vậy, và thường
thất bại.
-ooOoo-
45.
LÒNG CHA
(phỏng
dịch theo R..Tagore)
Mini,
bé gái năm tuổi của tôi, có lẽ không sống được nếu
không nói ba hoa suốt ngày. Tôi nghĩ suốt đời cô bé đã
không phí một phút giây nào im lặng. Mẹ nó thường bất
bình về điều ấy, và thường tốp cô lại, nhưng tôi thì
không. Với Mini, im lặng là chuyện bất thường, và tôi không
thể chịu đựng lâu. Bởi thế, câu chuyện giữa tôi và cô
bé luôn luôn linh động. Chẳng hạn một buổi sáng, khi tôi
đang viết dở một chương tiểu thuyết thì cô bé lẻn vào,
cầm lấy tay tôi mà nói:
- Cha!
Lão bộc gọi con chó là con muông. Lão không biết gì cả,
phải không cha?
Tôi
chưa kịp giảng giải, thì cô bé đã bắt sang một vấn đề
khác:
- Cha
nghĩ sao, Cha? Bộc nói có con voi trong những đám mây, vòi nó
phun nước, và thế là trời mưa. Có phải vậy không, Cha?
Trong
khi tôi đang tìm cách trả lời câu này, bé đã hỏi một câu
khác:
- Cha,
mẹ và cha bà con ra sao nhỉ?
Tôi
cố lập nghiêm bảo:
- Ra
chơi với Bộc đi, Mini. Cha đang bận.
Cửa
sổ phòng tôi trông ra đường. Cô bé đã ngồi xuống dưới
chân tôi cạnh bàn viết, và đang chơi một mình. Tôi đang
suy nghĩ rất lung để viết. Bỗng cô bé Mini vùng chạy lại
cửa và reo lên:
- Ông
Cabul, ông Cabul!
Và
quả thế, ngoài đường dưới kia, một người đàn ông miền
Cabul đang tiến bước. Y mục bộ y phục lỏng lẻo dơ dáy,
buộc một thắt lưng dài, lưng mang chiếc bị, tay cầm những
hộp nho khô. Không biết cô bé nghĩ gì khi thấy người này,
nhưng cô bắt đầu gọi ông thật lớn. Ngay lúc ấy lão ta
quay lại nhìn lên cô bé. Cô bé thấy vậy thật kinh hồn vía,
chạy bay đến núp bên mẹ. Cô tin chắc thế nào trong chiếc
bị mà lão đang mang cũng có hai ba đứa trẻ con như cô. Người
hàng rong ấy đã vào đến cửa và mỉm cười chào tôi. Phản
ứng đầu tiên của tôi là mua một món gì đó, vì Mini đã
gọi y vào nhà. Tôi mua ít vật dụng, và chúng tôi khởi sự
nói chút đỉnh chuyện chính trị. Khi sắp từ giã, bỗng hắn
hỏi:
- Còn
cô bé đâu rồi, thưa ông?
Nghĩ
rằng nên làm cho Mini hết sợ hão huyền, tôi cho đem cô bé
ra. Cô đứng bên ghế tôi, nhìn chòng chọc vào người Cabul
cùng chiếc bị. Y biếu cô ả đậu phụng và nho khô, nhưng
cô nhất định không để bị dụ dỗ. Cô càng bám riết lấy
tôi, và càng nghi ngờ lão thêm.
Ðấy
là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa lão Cabul và cô bé. Tuy nhiên,
vài hôm sau, khi đi ra có tí việc, tôi giật mình thấy Mini
ngồi trên chiếc ghế nhỏ cạnh cửa ra vào, đang cười nói
với lão Cabul ngồi dưới chân. Suốt đời, cô chưa bao giờ
được ai ngoài cha cô, đã nghe cô một cách chăm chú như vậy.
Cái túi cô đã đầy ắp đậu phụng và nho khô quà của người
khách lạ. "Sao ông cho nó làm gì thế?" Tôi nói, vừa rút tiền
trả cho lão. Ông thản nhiên nhận tiền cho vào túi.
Một
giờ sau trở về tôi mới thấy tai hại của đồng bạc tôi
đưa ra, vì Cabul đã đưa cho Mini, và khi mẹ nó thấy đồng
bạc bèn vồ lấy cô bé:
- Mày
lấy đồng bạc kia ở đâu, bé?
- Ông
Cabul cho con! Mini hớn hở đáp.
- Ông
Cabul cho mày! Mẹ nó thét lên. - Mini, sao dám lấy bạc hở?
Vừa
lúc ấy tôi đi vào cứu cô bé thoát nạn bị đòn. Tôi tiếp
tục điều tra về đôi bạn.
Tôi
khám phá đấy không phải lần đầu họ gặp nhau. Người
Cabul đã đánh tan sự hãi sợ của cô bé bằng cách đút lót
thật nhiều đậu phụng và nho khô. Ðến nay hai bên đã thành
đôi bạn thiết. Họ có nhiều trò đùa mà họ rất khoái.
Mini thường ngồi trước lão Cabul, nhìn xuống vóc dạng khổng
lồ ấy với vẻ đường bệ của một bà chủ tí hon, khuôn
mặt cười lên rạng rỡ, và cô hỏi:
- Ông
Cabul, ông Cabul, ông đựng cái gì trong bị ấy?
Và
ông lão sẽ trả lời bằng giọng mũi của người thượng
du:
- Một
con voi!
Không
có gì đáng tức cười lắm, vậy mà họ khoái làm sao. Và
riêng tôi, cuộc chuyện trò giữa một đứa trẻ với người
lớn luôn có vẻ gì rất quyến rũ.
Rồi
người Cabul, để khỏi thua bạn, bắt đầu hỏi lại cô bé:
- Còn
cô, này cô bé, bao giờ thì cô về nhà ông nhạc?
Hầu
hết các cô bé Ấn đều sớm nghe danh từ ấy, nhưng chúng
tôi thì không bao giờ nói những chuyện như thế với con gái.
Cho nên trước câu hỏi này, cô hơi chột dạ. Nhưng cô không
muốn để lộ sự lúng túng của mình, và đã hỏi lại:
- Còn
Ông có về đấy không?
Ðối
với giai cấp người Cabul này, thì từ ngữ "về nhà ông nhạc"
lại có nghĩa là nhà tù, nơi họ được ăn ở miễn phí.
Người ấy bèn trả lời:
- Ồ,
tôi sẽ đánh vỡ mặt ông nhạc ra!
Vừa
nói lão vừa nắm tay hăm dọa một viên cảnh sát vô hình.
Mini nhíu mày, rồi cười lên như nắc nẻ. Lão cũng cười
theo phụ họa.
Ðấy
là vào những buổi sáng đầu thu, mùa các vua chúa ngày xưa
lên đường viễn chinh dẹp giặc. Còn tôi không rời khỏi
góc nhà quê hương nhưng vẫn để tâm hồn phiêu du khắp chân
trời góc bể. Mỗi khi nghe địa danh một nơi nào, hồn tôi
đã vươn tới chỗ ấy, và bóng một người xứ khác đến
trên đường cũng khiến tôi dệt nên những giấc mơ xa xăm
về quê hương của anh ta ở cuối chân trời, nghĩ đến những
cuộc đời giang hồ phóng lãng. Những xứ lạ hiện lên trong
trí tôi càng sống động, có lẽ vì cuộc sống hiện tại
của tôi quá giống với cỏ cây. Tiếng gọi viễn du réo rắc
trong tôi như tiếng sóng triều gào thét. Bởi thế, trông thấy
người Cabul này, trí tôi liên tưởng ngay đến những vùng
núi non cản cỗi trên cao, chen chúc với mây trời. Tôi mường
tượng những đoàn lạc đà chở hàng đi trên sa mạc, những
thương gia lưng đeo vũ khí hộ thân đang tiến về hướng
bình nguyên. Tôi thấy và thấy trong trí tưởng...
Nhưng
giữa lúc ấy, luôn luôn mẹ Mini sẽ xen vào, tha thiết dặn
tôi phải "coi chừng lão ấy". Bà rất dè dặt mỗi khi nghe
tiếng huyên náo ngoài đường, hay thấy người vào nhà, và
luôn đi đến kết luận một là kẻ cướp, hai là kẻ say,
hoặc rắn hổ mang, bệnh sốt rét, phong cùi. Sau bao nhiêu năm
kinh nghiệm giữa đường đời, bà vẫn chưa thắng lướt
được nỗi sợ hãi kinh niên trong lòng bà. Bởi thế, bà luôn
luôn nghi ngờ về người Cabul, và thường van nài tôi phải
coi chừng lão ấy. Nếu tôi cố xua đuổi nỗi sợ hãi vô
căn cứ của nàng bằng cách cười lớn, thì nàng nghiêm mặt
hỏi với đáng điệu rất trịnh trọng:
- Thế
trẻ con không bao giờ bị bắt cóc ấy à? Thế không phải
ở Cabul còn có bán nô lệ à? Một người đàn ông to lớn
bắt một đứa trẻ bé xíu không được hay sao?
Tôi
nói, không phải là không được, nhưng không lẽ nào có chuyện
như thế xẩy ra. Tuy thế nàng vẫn lo sợ. Nhưng vì nỗi sợ
hãi ấy thật bâng quơ, nên không lý gì để cấm đoán lão
vào nhà. Sự thân thiện giữa đôi bạn một khổng lồ một
chim chích vì thế vẫn tiếp tục không bị ngăn cản.
Hàng
năm vào giữa tháng giêng, Rahman tên người Cabul ấy, thường
về xứ một lần, và khi sắp về, y thường rất bận rộn
đi các nhà để thâu tiền nợ. Năm nay tuy vậy ông vẫn còn
thì giờ đến thăm Mini. Một người khác rất có thể nghi
ngờ lão có mưu toan gì đấy, vì khi không tới được buổi
sáng lão cũng tới vào buổi chiều. Ngay cả tôi đôi khi cũng
phải chột dạ chút đỉnh lúc bắt gặp bóng người to lớn
ấy đứng trong góc phòng tôi. Nhưng khi Mini hớn hở reo "Ồ
ông Cabul, ông Cabul" và đôi bạn khởi sự những trò đùa
thường lệ, thì tôi lại yên tâm ngay.
Một
buổi sáng vài ngày trước khi lão về xứ, tôi đang chữa
lại bản thảo trong phòng viết. Trời rất lạnh. Qua song cửa,
ánh mặt trời chiếu vào sưởi ấm hai chân tôi. Lúc ấy vào
khoảng tám giờ, những khách bộ hành đi đường đang trùm
khăn lạnh. Bỗng chốc tôi nghe ngoài đường huyên náo. Nhìn
ra thì thấy Rahman đang bị còng tay dẫn đi giữa hai người
cảnh sát, sau lưng là một lũ trẻ tò mò. Áo quần Rahman dính
đầy máu, và một trong hai cảnh sát đang cầm một con dao.
Tôi vội bước ra h?i xem có chuyện gì. Từ mỗi người một
ít, tôi được biết rằng một người lối xóm đã nợ Rahman
tiền mua một cái khăn quàng, nhưng lại chối bảo không từng
mua nó. Trong lúc cãi vả, Rahman đã đánh người kia. Bây giờ,
trong cơn tức giận, phạm nhân chửi rủa đối phương đủ
điều.
Nhưng
bỗng chốc từ hiên nhà tôi, Mini đã xuất hiện với tiếng
reo thường lệ "Ông Cabul, ông Cabul". Gương mặt người Cabul
rạng rỡ lên khi nhìn thấy cô bé. Hôm nay lão không mang chiếc
bị, nên cô bé không thể nói về con voi với lão. Bởi thế
cô hỏi sang câu thứ hai:
- Ông
về nhà ông nhắc ấy à?
Rahman
cười lớn bảo: - Chính thế, bé đi! Rồi thấy câu trả lời
không làm cô bé thích thú, lão đưa hai bàn tay bị còng lên:
- A! Ðáng lẽ tôi đánh cho vỡ mặt ông nhạc, nhưng tay tôi
bị còng rồi.
Bị
kết tội cố ý giết người, Rahman ở tù nhiều năm. Thời
gian trôi nhanh, Rahman đã bị quên lãng. Công việc thường
ngày trong chỗ ở thường ngày vẫn tiếp diễn, nên chúng
tôi không bao giờ nghĩ đến một người thượng du nghèo khó
đang chịu tù tội trong ngục thất. Cả đến cô bé Mini cũng
đã quên mất người bạn cũ của nàng. Càng lớn nàng càng
chơi nhiều với bạn gái, và không còn vào phòng làm việc
của tôi như trước. Bởi thế tôi rất hiếm dịp nói chuyện
với con.
Nhiều
năm trôi qua, lại một mùa thu trở về. Chúng tôi đang sửa
soạn hôn lễ cho cô gái Mini của chúng tôi. Ðám cưới sẽ
cử hành trong một dịp lễ. Với Mini về nhà chồng, ánh sáng
của ngôi nhà cũng sẽ đi theo, để lại cha nàng trong bóng
tối. Buổi mai ấy thật tươi sáng. Sau những ngày mưa, không
trung như đã được rửa sạch và ánh sáng mặt trời trông
như ánh vàng ròng. Những tường gạch cũ kỹ ngoài đường
phố cũng sáng lên dưới ánh nắng trong vắt. Từ rạng đông,
những hồi còi đã vang lên báo hiệu hôn lễ. Mỗi hồi còi
làm cho tim tôi rộn ràng muôn mối, làm tăng nỗi đau buồn
của tôi trước cảnh chia ly. Mini sẽ về nhà chồng đêm ấy.
Trong sân, lọng che rợp đất. Những đèn lồng và lục lạc
được treo khắp các phòng và hiên nhà. Khắp nơi người ta
vội vàng hối hả.
Tôi
đang ngồi trong phòng một mình tư lự thì bỗng một người
đi vào lễ phép chào, và đứng trước mặt tôi. Ðấy là
Rahman, người Cabul dạo nọ. Ban đầu tôi không nhận ra lão,
vì lão không mang bị, mảng tóc dài đã được hớt cao, và
vẻ cường tráng năm xưa không còn nữa. Nhưng khi lão mỉm
cười, tôi lại nhận ra ngay. - Ông về lúc nào thế, Rahman?
- Tôi được thả tối qua.
Những
lời ấy làm tai tôi hơi choáng. Tôi chưa bao giờ nói chuyện
với một người nào đã cố ý đả thương đồng loại. Lòng
tôi đau nhói khi nhớ ra điều này, vì tôi nghĩ ngày ấy sẽ
tốt đẹp hơn nếu hắn ta đừng xuất hiện.
- Hôm
nay nhà có việc, và tôi đang bận. Có lẽ ông có thể đến
vào một dịp khác chăng?
Lão
liền quay đi, nhưng khi ra đến cửa, lão ngập ngừng bảo:
- Thưa ông, tôi có thể thăm cô bé một lát? Lão tin tưởng
rằng Mini vẫn còn bé xíu như ngày xưa. Chắc lão mường tượng
cô bé sẽ chạy ra hớn hở gọi "ông Cabul, ông Cabul" như dạo
nào, và họ sẽ cười đùa với nhau như trước. Quả vậy,
cũng như những ngày xưa, hôm nay lão cũng mang đến ít đậu
phụng và nho khô gói kỹ trong bọc giấy. Những thứ ấy không
biết làm thế nào lão kiếm được trong lúc mới ở tù về.
Tôi
lặp lại: - Nhà có việc, ông không thể gặp ai hôm nay cả.
Lão sa sầm mặt, và nhìn tôi với vẻ thèm muốn số phận
của tôi, đoạn nói một lời chúc tụng rồi đi ra. Tôi hơi
thương hại, muốn gọi lão trở vào. Nhưng lão đã tự ý
quay trở lại, đến cạnh tôi mà bảo: - Thưa ông, tôi đã
đem lại chút quà này biếu cô bé. Ông có thể trao lại giùm
tôi? Tôi nhận gói quà, định trả tiền, nhưng ông ngăn lại:
- Ông
thật quý hóa. Xin ông hãy nhớ đến tôi là đủ. Ðừng cho
tôi tiền. Ông có một cô con gái. Tôi cũng có một bé gái
giống như thế ở quê nhà. Tôi nhớ con tôi, nên mang quà tới
cho cô bé, chứ không phải để hòng kiếm chác gì đâu.
Nói
xong lão sờ tay vào túi trong, lấy ra một mảnh giấy dơ dáy,
mở ra vuốt thật thẳng với cả hai tay trên mặt bàn. Mảnh
giấy in hình một bàn tay nhỏ xíu. Không phải một bức ảnh,
hay bức họa, mà chỉ là dấu mực in một bàn tay bé con trên
tờ giấy nhàu nát. Hình bàn tay của con gái lão, lão đã luôn
mang theo bên trái tim mình, từ khi lão đến xứ này bán hàng
rong năm này qua năm khác.
Mắt
tôi ướt đẫm. Tôi quên rằng lão là một người thượng
du nghèo khó, còn tôi...Ồ không, tôi có gì hơn lão? Lão cũng
là MỘT NGƯỜI CHA. Bàn tay in của cô bé con lão ở vùng thượng
du quê nhà xa xăm của lão, nhắc tôi nhớ đến con tôi. Tôi
cho gọi ngay Mini vào. Cô bé đang mục chiếc áo cưới bằng
lụa đỏ, trang sức kiểu cô dâu, rụt rè tiến đến bên
tôi. Người Cabul dường như kinh ngạc trước sự xuất hiện
này. Lão không thể làm sống lại tình bạn ngày trước. Cuối
cùng lão mỉm cười: - Cô bé, có phải cô sắp về nhà ông
nhạc đấy không?
Bây
giờ thì Mini đã hiểu nghĩa danh từ "ông nhạc" nên không
trả lời, đỏ mặt đứng trước lão với vẻ e lệ của
cô dâu mới. Tôi nhớ cái ngày họ gặp nhau lần đầu, và
lòng tôi se lại. Khi con tôi trở vào nhà trong, Rahman thở dài
buồn bã, ngồi phịch trên sàn nhà. Có lẽ lão bỗng nhớ
rằng con gái lão cũng phải lớn lên nhiều, trong thời gian
lão xa quê. Lão sẽ phải làm quen với cô bé trở lại. Chắc
chắn lão không còn gặp lại một cô bé như ngày lão từ
giã ra đi. Ngoài ra, biết đâu lại không có bao nhiêu chuyện
xẩy đến cho nàng sau mười mấy năm xa cách.
Tiếng
còi lại vang lên, ánh mặt trời dịu của mùa thu lan khắp
không trung. Rahman ngồi trên đất này mà tưởng như thấy
trước mắt miền núi khô cảm của quê hương. Tôi lấy ra
một xấp bạc và bảo: - Rahman, hãy về quê với con gái ông
đi. Cầu nguyện cho hạnh phúc tái ngộ của cha con ông sẽ
đem lại cho con gái tôi nhiều may mắn! Sau khi biếu lão món
tiền, tôi đã giảm bớt nhiều lễ lạc, như không thể bắt
điện, cũng không thể mướn ban nhạc giúp vui, và điều này
làm nhiều bà thất vọng. Nhưng với tôi, buổi hôn lễ thật
rực rỡ hơn lên, khi nghĩ rằng ở miền đất xa xăm kia, có
một người cha biệt tích tha phương đang được trở về
gặp lại đứa con yêu dấu.