24.
ÐỊNH NGHIỆP KHÓ TRÁNH
Thuở
Phật tại thế, có một vị tỳ kheo số phần xui xẻo. Mặc
dù thầy tu hành rất tinh tấn, giới hạnh trang nghiêm mà không
bao giờ được no đủ. Số "con rệp" ấy theo đuổi thầy
mãi cho tới khi mãn phần, sau khi đã đắc quả A La Hán. Ðến
ngày lâm chung, nhờ thần lực của Tôn giả Xá Lợi Phất,
vị Tôn sư của thầy, thầy mới ăn một bữa no lòng trước
khi lìa đời.
Thầy
xui xẻo từ khi còn trong bụng mẹ. Chẳng những riêng thầy
xui xẻo, mà thầy còn mang sự bất hạnh đến cho tập thể
trong đó có hiện diện của mình. Thầy là con của một gia
đình đánh cá ở một làng ven biển có 1000 hộ khẩu. Từ
khi thầy nhập thai, cả làng đi biển không đánh được con
cá nào suốt cả tháng, mọi người phải ăn rong biển cho
đỡ đói lòng. Họ bắt đầu nghi ngờ có một gia đình hắc
ám trong làng đã đem tai vạ cho tất cả. Do đó họ cố tìm
cho kỳ được cái gia đình xui xẻo ấy để loại ra khỏi
tập thể. Phương pháp họ làm là chia số hộ khẩu trong làng
thành hai nhóm, mỗi nhóm 500 gia đình để làm ăn riêng, sinh
hoạt riêng. Kết quả là một nhóm bắt đầu khá giả trở
lại, một nhóm tiếp tục số phận xui xẻo. Nhóm này lại
chia hai để biết cái gia đình xui xẻo ấy nằm ở đâu. Khi
chia thành hai nhóm nhỏ cũng như trước, 250 gia đình bắt đầu
khá còn 250 gia đình vẫn còn xui. Lại chia hai lần lượt như
vậy để biết gia đình xui xẻo nằm nhóm nào, cuối cùng
họ khám phá ra gia đình của thầy tỳ kheo nọ. Cả gia đình
thầy bị loại ra khỏi làng, đi lang thang như những người
Do thái.
Bà
mẹ khám phá rằng chính từ ngày mang thai thầy, tai họa mới
đến cho cả làng và cho gia đình, nên muốn cho thầy chết
đi. Tuy nhiên, một người chỉ còn một đời cuối cùng này
là giải thoát (chứng quả A La Hán, không còn trở lui cõi
đời) thì không ai có thể giết chết được trừ phi chính
nghiệp lực của vị ấy. Do vậy cuối cùng mẹ thầy vẫn
phải sinh ra thầy, và nuôi cho đến khi thầy biết đi xin ăn.
Trong thời gian có đứa con mang sự xui xẻo ấy, bà rất vật
vả khốn đốn trong việc kiếm ăn. Cho đến một ngày không
chịu đựng được nữa, sau khi đẩy thầy vào xin ăn tại
một nhà nọ, bà mẹ tẩu thoát.
Ðứa
trẻ - vị A La Hán tương lai - ngơ ngác khi bước ra không thấy
mẹ, cũng không có cái gì ăn, bèn đi lang thang đầu đường
xó chợ lượm những mẩu bánh người ta vứt bên đường
để ăn cho đỡ đói. Trong "cuộc lữ" đó, đứa trẻ tình
cờ gặp Tôn giả Xá Lợi Phất. Ðộng lòng thương, Ngài hỏi:
- Con
cái nhà ai? Sao gầy sọp thế?
- Bạch
Tôn giả, con là một đứa mang lại sự xui xẻo cho mọi người,
nên không ai chịu nuôi con, con phải ốm đói.
- Con
có muốn xuất gia trở thành một tu sĩ không?
- Bạch
Tôn giả con muốn lắm chớ, nhưng ai mà chịu chứa chấp con?
- Lại
đây, ta sẽ độ cho con.
Ðứa
trẻ vui mừng đi theo Tôn giả. Tôn giả Xá Lợi Phất dắt
về vườn Cấp Cô Ðộc, tắm rửa sạch sẽ, cho ăn cơm và
Thế phát quy y cho cậu bé làm một sa di đuổi quắ [Chú
thích: "Khu ô sa di" là chú tiểu còn quá nhỏ chưa đến tuổi
thụ giới - 16 tuổi - chưa làm được việc gì ngoài việc
đuổi quắ cho chúng khỏi làm ồn náo trong giờ chư Tăng tọa
thiền.] Lớn lên, đến tuổi thành niên, Tôn giả cho thầy
thọ giới cụ túc thành một vị tỳ kheo.
Số
phần xui xẻo vẫn theo mãi chân vị tỳ kheo suốt cả đời.
Mỗi khi đi khất thực, người ta vừa để vào bát của thầy
một muỗng cơm thì thấy bát đã đầy tràn, làm cho không
ai có thể bỏ gì thêm được nữa. Khi thầy về tới chùa,
thì trong bát chỉ có độc một muỗng cơm để cầm hơi cho
thầy khỏi chết đói. Cứ như vậy cho đến ngày mệnh chung
đã chứng quả A La Hán, thầy cũng chưa bao giờ được một
bữa ăn no lòng.
Biết
thầy sắp mãn phần ở dương gian, Tôn giả Xá Lợi Phất
động lòng thương xót nghĩ: "Losaka (tên của thầy tỳ kheo
xui xẻo) hôm nay sẽ mệnh chung. Ta sẽ làm đủ mọi cách giúp
vị ấy ăn m?t bữa cho no trước khi chết."
Với
ý định ấy, Tôn giả dẫn vị tỳ kheo đi vào thành Xá vệ
khất thực. Nhưng vì có Losaka, Tôn giả không xin được món
gì, Ngài đành phải bảo vị ấy trở về, và đi một mình
để xin ăn. Sau khi khất thực đầy bát, Tôn giả đem về
cho v? tỳ kheo. Ngài đứng ôm bát trước mặt đệ tử bảo:
- Con
hãy ăn đi.
Vị
tỳ kheo ngần ngại không dám ăn trước mặt tôn sư, và nhất
là để Ngài cầm bát, mặc dù thầy rất đói. Tôn giả giục:
- Con
đừng ngại, ta phải cầm bát để chờ cho con dùng bữa cho
xong mới được. Vì nếu không có ta ôm bát, tất cả thức
ăn này sẽ biến mất, và con sẽ tiếp tục đói.
Vị
tỳ kheo vâng lời thọ thực. Nhờ thần lực của Tôn giả
Xá Lợi Phất, vị ấy ăn được một bữa no lòng trước
khi xả báo thân chót của một vị A La Hán.
Sau
khi thầy tỳ kheo xui xẻo quá vãng, các tỳ kheo khác nhóm họp
tại Diệu pháp đường trong vườn Cấp Cô Ðộc hỏi đức
Thế tôn nguyên nhân vì sao, với một đời giới hạnh thanh
tịnh, tu hành tinh tấn, vị tỳ kheo bạc phước vẫn phải
gánh chịu sự rủi ro suốt đời như vậy. Phật dạy:
- Này
các tỳ kheo, những hành động của chính vị ấy trong tiền
kiếp là nguyên nhân sự xui xẻo hiện tại của y. Trong tiền
kiếp y cũng là một tỳ kheo, do lòng ganh tị, y đã cản trở
cư sĩ cúng dường một vị tỳ kheo khác, trong khi vị này
đã chứng quả A La Hán. Vì ác nghiệp ấy cho nên dù có tu
hành thanh tịnh, y vẫn thọ quả báo thiếu thốn, xui xẻo
trong nhiều đời kiếp, cho đến khi chứng quả.
LỜI
BÀN: Mặc dù huyễn hóa, mà nhân quả vẫn không mất, hành
động và hậu quả theo nhau như bóng với hình. Cho nên người
trí chỉ sợ nhân, không sợ quả, trong khi người ngu rất
sợ quả xấu mà lại không gieo nhân tốt. Vị tỳ kheo đệ
tử Tôn giả Xá Lợi Phất, mặc dù bị một số phận hẩm
hiu đeo đẳng cho tới chết, vẫn luôn luôn nhất tâm thanh
tịnh tu hành, không sanh tâm ghen ghét phiền muộn, nhờ vậy
cuối cùng chứng quả Vô sanh (A La Hán). Ấy là vui lòng trả
nợ cũ mà không gây thêm nợ mới, là cái nghiệp đưa đến
sự đoạn tấn các nghiệp vậy.
-ooOoo-
25.
LẠI TRA HÒA LA
Khi
đức Phật du hóa tại xứ Kuru đến thị trấn Thu la, dân
chúng đồn đãi kéo đến bái yết Ngài để nghe thuyết pháp.
Bấy giờ trong hội chúng có thanh niên tên là Lại Tra Hoà
La, con trai của một gia đình thượng tộc giàu có nhất vùng,
sau khi nghe pháp, suy nghĩ:
-"Như
ta hiểu lời Thế tôn dạy, thì ở nhà thật khó thực hành
đời sống phạm hạnh m?t cách viên mãn, hoàn toàn trong sạch
như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đạp áo cà sa,
xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình ".
Nghĩ
vậy xong, sau thời thuyết pháp của Phật, sau khi hội chúng
đảnh lễ Phật mà lui về, thanh niên ấy đến bên đức Thế
tôn, xin Ngài xuất gia tu học.
-Bạch
Thế tôn như con được hiểu lời Thế tôn dạy, thì tại
gia thất không dễ gì sống đời sống phạm hạnh một cách
viên mãn, hoàn toàn trắng sạch như vỏ ốc. Con muốn cạo
bỏ râu tóc, đạp áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không
gia đình. Bạch Thế tôn mong Thế tôn hãy cho con xuất gia dưới
sự hướng dẫn của Thế tôn.
- Nhưng
này thanh niên, con có được cha mẹ bằng lòng cho xuất gia
chưa?
- Bạch
Thế tôn, con chưa được cha mẹ bằng lòng.
- Này
thanh niên, Như Lai không cho xuất gia nếu cha mẹ không bằng
lòng.
- Bạch
Thế tôn, vậy con sẽ làm những gì cần thiết để cha mẹ
bằng lòng cho con xuất gia.
Lại
Tra Hòa La đảnh lễ Phật ra về, xin cha mẹ:
- Thưa
ba má, con muốn cạo bỏ râu tóc, đạp áo cà sa, xuất gia
từ bỏ gia đình. Xin ba má hãy bằng lòng cho con xuất gia.
Khi
nghe nói vậy ông bà phú hộ bảo:
- Này
con đừng ăn nói dại dột. Con là đứa con duy nhất của ba
má, được nâng niu như vàng ngọc từ tấm bé, lẽ nào ba
má để cho con xuất gia? Huống chi, nhà ta vàng nén, hột xoàn
kim cương chất đống, bao nhiêu của chìm của nổi, tài sản
mấy đời tổ tiên để lại, tất cả đều dành cho con. Con
hãy ăn chơi thỏa thích rồi muốn tu thì bố thí, làm phước
là được rồi. Con chưa biết gì đến sự gian khổ, làm sao
ba má để cho con sống đời khổ hạnh được? Ba má không
bao gi? cho con xuất gia.
Sau
ba lần năn nỉ không được chấp thuận, Lại Tra bèn nằm
lăn ra giữa nhà, tuyệt thực với ý định: "Ta sẽ chết ở
đây, nếu không được xuất gia".
Hai
ông bà đưa cơm cháo gì đến, Lại Tra vẫn nằm bất động.
Một ngày, hai ngày, ba ngày, rồi bảy ngày trôi qua, chàng nhất
định không ăn uống, không cục cựa, mục cho cha mẹ năn
nỉ khuyên lơn. Thân thể chàng đã yếu lả, mắt lờ đờ
như người hôn mê sắp chết. Ông bà phú hộ đâm hoảng,
đến cầu cứu những người bạn trẻ của con:
- Này
các cháu, Lại Tra Hòa La đòi đi tu, hai bác không cho nên nó
tuyệt thực nằm vạ cả một tuần lễ nay chẳng chịu nhúc
nhích nói năng chi cả. Các cháu hãy đến năn nỉ nó ăn uống
trở lại dùm. Hãy khuyên nó bỏ ý định xuất gia.
Các
thanh niên làm theo lời, đến bên Lại Tra Hòa La để khuyên
nhủ. Nhưng sau năm bảy lần thuyết phục, chàng vẫn nằm
bất động. Thấy Thế nguy, họ đề nghị với ông bà phú
hộ:
- Thưa
hai bác, chúng cháu thấy rõ Lại Tra đã nhất quyết theo ý
định của mình, không thì chết. Vậy hai bác nên bằng lòng
cho anh ta xuất gia, họa may thỉnh thoảng hai bác còn gặp lại
được. Nếu không, hai bác đành vĩnh viễn mất người con.
Hai
ông bà đành phải chấp thuận, đến nói với Lại Tra:
- Thôi,
con đã nhất quyết thì ba má cũng chìu lòng. Nhưng đi tu xong,
thỉnh thoảng phải về nhà thăm ba má và mấy người vợ
mới cưới của con, kẻo chúng nhớ, tội nghiệp.
Lại
Tra mở bừng mắt ngồi nhỏm dậy, trở lại ăn uống. Sau
khi lấy lại sức chàng từ giã cha mẹ ra đi, đến chỗ Phật
trú :
- Bạch
Thế tôn con đã được cha mẹ cho phép xuất gia. Xin Thế tôn
hãy cho con xuất gia tu phạm hạnh.
Ðức
Phật nhận lời cho thanh niên cạo tóc, đạp áo cà sa, thọ
đại giới, theo Ngài về ở tinh xá Kỳ viên nước Xá vệ.
Tôn giả Lại Tra tinh tiến tu học, ưa thích đời sống độc
cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chẳng bao lâu đã
đạt đến cứu cánh cao tột của đời phạm hạnh, vì cứu
cánh này mà những thiện gia nam tử từ bỏ gia đình, ấy
là quả vị A La Hán. Vị ấy biết sanh đã tận, phạm hạnh
đã thành, những việc nên làm đã làm xong, không còn phải
trở lui cuộc đời này nữa.
Một
hôm, Tôn giả đến đảnh lễ Phật:
- Bạch
Thế tôn, nếu ngài cho phép, con sẽ xin trở về ngôi làng
cũ.
Ðức
Phật quán xét biết tôn giả bây giờ đã có thể trở về,
không có gì nguy hiểm cho phạm hạnh, nên Ngài dạy:
- Lại
Tra, ngươi có thể làm những gì ngươi nghĩ là là phải thời.
Sau
khi đảnh lễ Ðấng Ðạo sư, tôn giả Lại Tra thu xếp lên
đường. Ðến thị trấn Thu La, tôn giả tuần tự khất thực.
Khi đến nhà cha mẹ, Tôn giả ôm bát đứng ngoài cổng. Thoáng
thấy bóng chiếc cà sa, ông phú hộ chưa kịp nhìn kỹ, đã
nổi trận lôi đình, nghĩ: "Kia là một sa môn trọc đầu tới
xin ăn. Vì những người đó mà đứa con độc nhất của ta
đã bỏ nhà ra đi biền biết. Nay còn tới tới đây báo hại
cái gì?" Rồi không thèm nhìn ra, ông quát tháo:
- Này
sa môn trọc đầu kia, hãy đi đi! Ta không muốn nhìn cái mặt
mo ấy. Ði cho mau, đi cho khuất con mắt của ta!
Tôn
giả lặng lẽ ôm bát tiếp tục đi. Chợt, từ ngõ sau nhà,
người tỳ nữ bưng nồi cháo đi đổ. Tôn giả hỏi:
- Này
chị, chị bưng cái gì thế?
- Tôi
đem nồi cháo ăn còn thừa từ bữa qua đi đổ vào thùng rác
ngoài lộ.
- Xin
chị hãy đổ vào bát của bần tăng cũng được, khỏi phải
đi xa cho nhọc.
- Càng
tốt .
Khi
người nữ tỳ đến gần để trút cháo vào bát tôn giả,
Cô ta nhận ra đôi chân quen thuộc. Ðánh bạo nhìn lên tay,
mặt, thì rõ ràng là vị tiểu chủ ngày xưa, không còn lầm
gì nữa. Nữ tỳ chạy vào nhà:
-Thưa
ông bà chủ, tiểu chủ đã về tới ngoài kia!
Bà
phú hộ mừng rỡ:
- Ðâu,
đâu? Nếu thật như mày nói, thì mày sẽ được phần thưởng
xứng đáng, con ạ.
Ông
phú hộ cũng chạy ra:
-Con
ta đâu nào?
- Thưa,
tiểu chủ đang ngồi ăn bát cháo thừa đàng kia.
Lúc
ấy tôn giả đang ngồi tựa lưng vào một bức tường mà
dùng cháo vừa xin được. Bà phú hộ nhìn kỹ đúng là con
mình, liền chạy đến khóc:
- Con
đi là con! Sao con về nhà mà không vào trong nhà của con, lại
ngồi dọc đường dọc sá thế này! Lại đi ăn cháo vữa
cháo thiu! Hãy vào nhà đi con!
- Thưa
gia chủ, bần tăng không có nhà. Bần tăng có đến nhà của
gia chủ, nhưng không nhận được bố thí, chỉ nhận được
lời sỉ nhục và xua đuổi.
Ông
phú hộ cũng đã nhận ra, bèn tới năn nỉ :
- Này
con, con hãy vào nhà. Ba má sẽ dọn đồ ăn ngon lành cho con.
đừng ăn cháo thiu mà đau bụng.
- Thưa
gia chủ, hôm nay việc ăn uống đã xong.
- Vậy
thì trưa mai, con hãy nhận lời của ba má.
Tôn
giả im lặng chấp thuận. Ông bà phú hộ trở vào nhà bàn
mưu tính kế. Ông nói:
- Con
ta đã về tới đây, phải làm sao để giữ chân nó ở lại,
đừng cho nó ra đi. Ngày mai, bà với tôi phải hợp sức mà
thuyết phục nó. Trước hết, bà hãy dọn cho nó một bữa
ăn ngon lành, có gà rô ti, có rượu ngon hảo hạng, đừng
thiếu món gì. Rồi còn gì nữa? À, hãy đem tất cả vàng
bạc, kim cương, ngọc ngà châu báu trong kho ra, chất một đống
giữa nhà cho thật cao, ngập mặt ngập mày, mà chỉ cho nó
nhìn, cho nó biết tài sản của mình là nhiều như vậy. Kế
đó là phần việc của mấy con dâu. Chúng nó đâu rồi bà
hãy gọi chúng ra đây, để chúng ta cắt công cắt việc.
Khi
các con dâu đến, ông phú hộ bảo: - Này các con dâu! Ngày
mai chồng của các con về ăn cơm tại nhà đấy. Các con phải
tận lực hợp sức cùng ba má để kéo nó ở lại, đừng
cho nó đi. Các con hãy trang điểm cho thật lộng lẫy huy hoàng.
Hãy đeo vào đầu, vào cổ, vào tay, vào chân những đồ trang
sức mà ngày xưa chồng các con nó ưa nhìn thấy các con đeo.
Hãy xức nước hoa, tưới dầu thơm cho thật nhiều vào, trét
phấn, thoa son, bôi mi mắt, kẻ lông mày, uốn tóc cho nó dợn
sóng lên, chống lỗ mũi, lỗ tai lên.
Những
cô dâu khúc khích che miệng cười:
- Thưa
ba, không có chống lỗ tai đâu ạ! - Vậy thì, các con hãy
cứ làm cái gì các con nghĩ là hợp thời, để quyến rũ chồng
các con cho bằng được.
Rồi
ông bà phú hộ cắt đặt cho gia nhân chưng dọn, trang hoàng
nhà cửa, ngọc ngà châu báu được đem ra chất giữa nhà
một đống, lấy màn che lại. Các cô vợ trẻ trang sức lộng
lẫy như đào hát đứng thành một đống, cũng lấy màn che
lại. Phú ông ngắm nghía toàn thể nhà cửa, vàng ngọc và
người, tỏ vẻ đắc chí, hài lòng:
- Thế
là được. Ngày mai, cứ như vậy mà thi hành.
Hôm
sau, đến giờ thọ trai, tôn giả ôm bát từ từ tiến vào
cổng. Ông bà đon đả ra mời. Khi tôn giả vào nhà, ông chỉ:
- Này
con, hãy nhìn đây, (ông kéo màn) vàng bạc châu báu cả đống
đó, tất cả đều là của con. Con hãy ở lại mà thụ hưởng,
muốn chi cũng được.
- Thưa
gia chủ, nếu gia chủ dành cái đống đó cho tôi, thì xin gia
chủ một ít cái bao bố may sẵn, tộng nó vào, rồi mướn
một hay hai, ba chiếc xe vận tải chở ra ngoài sông lớn mà
đổ ngay giữa dòng, cho nó chìm sâu xuống đáy nước. Vì
sao? Vì nó là nguồn gốc của tất cả khổ não đến với
gia chủ.
Ông
phú hộ lại kéo cái màn che mấy bà vợ cũ ra. Các nàng chạy
đến ôm chầm lấy tôn giả, khóc ròng kể lể:
- Ối
chàng đi! Bộ chàng muốn mấy cô tiên nào trên trời nên đi
tu để được lên trên đó phải không? Chàng đã bỏ bê chúng
thiếp để mơ tưởng lên trời ở với tiên. Hu hu, hu hu.
- Các
chị, không phải vì mục đích được sanh lên cõi trời mà
bần tăng xuất gia tu phạm hạnh.
Khi
ấy các bà vợ cũ của tôn giả tự đấm ngực, khóc lóc
thảm thiết:
- Ối,
cha mẹ làng nước đi, chồng chúng ta bây giờ lại gọi chúng
ta bằng chị! Ối, trời đất quỷ thần ôi!
Rồi
họ ngã lăn ra giữa nhà, bất tỉnh nhân sự. Tôn giả nói
với ông bà phú hộ:
- Thưa
gia chủ, gia chủ muốn thí đồ ăn thì bố thí đi, chớ có
phiền nhiễu bần tăng.
- Hãy
ăn đi, con yêu dấu. Ðồ ăn đã dọn sẵn.
Thọ
thực xong, tôn giả đứng lên nói bài kệ:
Mày
ngài mắt phượng mà chi?
Tốt
tươi rồi cũng một bì xương khô.
Tâm:
rừng tham ái sầu lo
Thân:
nhà chứa bệnh, nấm mồ chờ ai
Nào
đâu mắt phượng mày ngài
Khi
thây quăng bỏ ra ngoài đồng hoang?
Mưa
sa gió cuốn phũ phàng,
Ðống
xương vô chủ võ vàng trăng soi
Ðãy
da chứa đủ tanh hôi
Lại
toan sơn phết ra mòi bảnh bao!
Kẻ
ngu mê hoặc, lăn vào
Như
nai sa bẫy, người nào khác chi!
Ai
đà giải thoát sầu bi
Tránh
xa lưới ái, tình si đâu còn!
Bẫy
nào bắt được nai khôn
Ăn
xong vừa đủ, tẩu bôn vô rừng
Thợ
săn ngơ ngác hết mừng
Thì
đành đấm ngực vẫy vùng khóc la.
Ðọc
xong bài kệ, tôn giả cáo từ đi đến rừng Lộc uyển ngồi
nghỉ trưa dưới một gốc cây.
Khi
ấy, vua xứ Kuru bảo người hầu cận sửa soạn cho vua dạo
rừng. Ngưòi hầu thấy tôn giả liền trở về tâu:
- Tâu
Ðại vương, ngoài rừng Lộc uyển, có vị sa môn đang ngồi,
chính là con trai của gia đình thượng tộc ở thị trấn này,
tên Lại Tra Hòa La.
- Vậy
thay vì đi dạo rừng, ta hãy đến thăm vị tôn giả ấy.
Vua
cùng người hầu đi đến rừng Lộc uyển, chỗ tôn giả đang
ngồi. Vua cung kính đưa tấm nệm gấm ra mời.
- Xin
tôn giả hãy ngồi trên tấm này cho êm.
- Ðại
vương, tôi đã có tọa cụ. Ðại vương hãy ngồi trên chỗ
của Ðại vương.
- Bạch
tôn giả người đời thuờng xuất gia vì bốn sự suy vong:
Một là lão suy, hai là bệnh suy, ba là tài suy, bốn là thân
suy. Như những người khác lúc trẻ thụ hưởng dục lạc
đã đầy đủ chán chê, đến khi già không còn ham muốn gì
nữa, và cũng đã hết sức lực mới vô chùa nghỉ. Ðó là
lão suy. Lại như người mắc bệnh kinh niên không thể lao
động sản xuất được, ở ngoài đời không lợi chi cho ai,
lại thêm gánh nặng cho gia quyến, nên xin vô ở chùa. Ðó
là bệnh suy. Rồi có những người làm ăn thất bại, hoặc
đánh số đề bị phá sản, đổ nợ đổ nần, không thể
gầy dựng lại được, bèn chán nản vô chùa xin gởi tấm
thân tàn sống nốt quãng đời còn lại. Ðó là tài suy. Cũng
có những người xuất gia vì lẽ không còn ai thân thích để
nương tựa. Ðó là thân suy. Thông thường đều vì bốn sự
suy vong này mà xuất gia. Nhưng xét tôn giả, tuổi còn thanh
xuân, tóc đen nhánh, thì không phải là lão suy. Da dẻ hồng
hào tươi nhuấn chứng tỏ sức khỏe không đến nỗi nào,
thì đâu phải bệnh suy. Tôn giả xuất thân từ một gia đình
thượng tộc giàu nhất vùng này thì đâu phải tài suy. Song
thân còn đủ, các bà vợ đang mong chờ, thì cũng không thể
gọi là thân suy. Vậy tôn giả xuất gia vì nguyên nhân gì?
- Ðại
vương, tôi xuất gia vì bốn điểm thuyết giáo của Ðấng
Ðạo sư mà tôi thấy đúng như thật. Thứ nhất là, ngài
dạy mọi sự ở thế gian đều là vô thường.
- Nghĩa
là sao, xin Tôn giả giải thích.
- Ðại
vương, như thân thể đại vương đó, lúc nào cũng như lúc
nào hay mỗi lúc mỗi khác?
- Như
vậy trẫm đã hiểu. Quả vậy, thân thể là vô thường, đổi
khác luôn luôn, nhất là ở tuổi già như trẫm. Năm nay đã
khác năm ngoái, nói gì tuổi trẻ với lúc già, thật khác
nhau trời vực. Còn điểm thứ hai là gì, thưa tôn giả?
- Thứ
hai là vô hộ, vô chủ: không ai giúp đỡ mình được, không
có chủ tể.
- Sao
lại không? Như trẫm đây, biết bao nhiêu người phò tá, trẫm
là chủ cả nước, muốn chi được nấy, làm sao tôn giả
lại nói vậy?
- Ðại
vương, Ðại vương có thể đem cả tài sản ngai vàng để
thuê mướn kẻ khác đau thay, già thay, chết thay cho đại vương
không?
- Cái
đó thì không được.
- Ví
như đại vương tạo nghiệp ác, phải đọa địa ngục, đ?i
vương có thể nào đem tài sản đút lót cho Diêm vương để
khỏi đọa, hay chính mình làm mình phải chịu?
- Ðúng
như vậy, mình làm mình chịu, không thay được. Thế trẫm
đã hiểu vô hộ. Còn vô chủ thì sao?
- Ðại
vương có thể làm chủ cái thân xác Ðại vương được chăng?
Bảo nó không được bệnh không được già, không được
chết, nó chịu nghe chăng? Bảo cái tay đừng run, cái chân
đừng quị, mắt đừng lờ, tai đừng lãng, được không?
Ðại vương có thể bảo cái thân của Ðại vương khi nó
đang đau: "Hãy khoẻ mạnh trở lại" không? Và Ðại vương
có biết khi nào thì nó đau, khi nào nó chết không?
- Ðúng
thế, quả thật trẫm không thể làm chủ được thân này,
dù trẫm đang làm chủ cả quốc gia. Còn điểm thứ ba là
gì, thưa tôn giả?
- Thứ
ba, là trên thế gian không có cái gì là của mình.
- Ủa
sao tôn giả nói vậy? Trẫm có biết bao nhiêu là kho tàng,
châu báu, giang sơn gấm vóc này đều thuộc về trẫm. Nói
gì đến vật, ngay cả đến người, trẫm cũng sở hữu từ
quan đại thần lớn nhất trở xuống, trẫm sai đâu chạy
đó, sao lại không sở hữu?
- Ðại
vương, khi Ðại vương nằm xuống, ngài có thể đem theo tất
cả kho báu, giang sơn xuống âm phủ để tiếp tục sử dụng,
hay phải giao lại cho kẻ khác, còn mình chết tay không? Ðại
vương có thể bắt tất cả đình thần, quyến thuộc, dân
chúng cùng chết theo qua bên kia thế giới để Ðại vương
tiếp tục làm chủ, hay Ðại vương phải ra đi một mình,
để người khác thay Ðại vương trị vì thiên hạ?
- Thưa
hiền giả, đúng thế. trẫm không thể nào mang theo cái gì
khi chết mà phải chết một mình, trị trọi, để lại giang
sơn này cho người khác. Thảm
thương thay! Còn điểm thứ
tư là gì, xin tôn giả hãy giảng?
- Thứ
tư là, thế gian này thật thiếu thốn, thèm khát, nô lệ cho
dục vọng, tham lam không bao giờ vđi.
- Nói
vậy trẫm nghĩ e chỉ đúng với người thường, chứ trẫm
đây mà còn thiếu thốn thèm khát cái gì. Vì trẫm muốn gì
cũng có, đâu còn thèm gì nữa.
- Ðại
vương, giả sử bây giờ đại vương được tin phi báo của
các đội quân tuần tiễu rằng: phía đông có mỏ vàng, phương
nam có mỏ dầu hỏa, phương tây có mỏ kim cương, còn phương
bạc hiện có một xứ giàu có, đất đai phì nhiêu mà gặp
ông vua trụy lạc bê tha, cai trị mất lòng dân, nên sự phòng
vệ rất lỏng lẻo, thì Ðại vương nghĩ thế nào?
- Thưa
tôn giả, trẫm sẽ hội họp đình thần, cắt công tác cho
vị này phụ trách khai thác mỏ vàng, vị kia đào mỏ kim cương,
vị nọ tìm cách khoan mỏ dầu. Còn với cái xứ giàu có phì
nhiêu dễ chiếm ấy, thì trẫm sẽ sai võ quan cử binh tới
chiếm để mở mang bờ cõi.
- Ðại
vương, đó chính là sự thèm khát, túi tham không đáy nơi
Ðại vương. Người đã có một nước thì thèm chiếm thêm
nước khác, cho đến kẻ vô sản thì thèm bắt con vịt, con
gà của hàng xóm về làm của mình. Ðại vương kết tội
kẻ trộm vụt, bỏ tù nó, mà quên rằng chính mình là kẻ
trộm lớn nhất khi mưu tính như vậy. Do đó mà Phật dạy:
thế gian luôn luôn thiếu thốn, thèm khát, nô lệ cho lòng
tham và dục vọng.
- Hay
thay, bạch Tôn giả, quả như lời Tôn giả, bốn điểm thuyết
giáo của đức Ðạo sư thật vi diệu. Lành thay đức Thế
tôn! Trẫm xin quy y bậc A La Hán, Chánh đẳng giác, và xin cáo
từ Tôn giả.
- Ðại
vương, xin từ biệt.
(thuật
theo kinh Ratthapala, Trung Bộ kinh tập II, Hòa thượng Minh Châu
dịch)
-ooOoo-
26.
NGƯỜI CHĂN BÒ NANDA
Khi
còn tại gia tôn giả Nanda là một thanh niên chăn bò mướn.
Ngày ngày, Nanda dẫn bò đến ăn cỏ bên bờ sông Hằng thuộc
địa phận xứ Kosambi. Lúc ấy gặp dịp đức Thế tôn trú
tại đấy, cùng với chúng tỳ kheo 1250 vị.
Một
hôm Thế tôn cùng các tỳ kheo du hành dọc bờ sông. Ngài thấy
một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước, và chỉ cho các tỳ
kheo:
- Này
các Tỳ kheo, các con có thấy khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước
kia không?
- Thưa
vâng, bạch Thế tôn.
- Các
tỳ kheo, nếu khúc gỗ ấy không đâm vào bờ này, không đâm
vào bờ kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên đất
nổi, không bị người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt
lấy, không bị lọt vào xoáy nước, không bị mục nát bên
trong,... thì nó sẽ hướng về biển, xuôi theo biển, nhập
vào biển, Vì cớ sao, này các tỳ kheo, vì dòng sông này hướng
về biển, xuôi theo biển, nhập vào biển. Cũng vậy, hỡi
các tỳ kheo, nếu các con không đâm vào bờ này, bờ kia, không
chìm giữa dòng, không mắc cạn, không bị người hay phi nhân
nhặt lấy, không lọt vào xoáy nước, không mục nát bên trong,...
thì các con sẽ hướng về, sẽ xuôi theo Niết bàn, sẽ nhập
vào dòng Niết bàn. Vì sao? Này các tỳ kheo, chính bởi vì
pháp của Như Lai giảng nói xu hướng Niết bàn, xuôi theo Niết
bàn, nhập vào Niết bàn.
Khi
được nghe nói vậy, một vị tỳ kheo bạch:
- Bạch
Thế tôn, bờ này là gì? Bờ kia là gì? Thế nào là chìm giữa
dòng? Thế nào là mắc cạn trên đất nổi? Thế nào là bị
người nhặt, phi nhân nhặt? Thế nào là lọt vào xoáy nước?
Thế nào là mục nát bên trong?
- Các
tỳ kheo, bờ này ám chỉ sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý. Bờ kia chỉ cho sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp. "Bị chìm giữa dòng" dụ cho hỷ và tham (khoái thích,
ham muốn). Mắc cạn trên đất nổi đồng nghĩa với ngã mạn.
"Bị người nhặt" là dụ cho vị tỳ kheo sống quá liên hệ
với cư sĩ, chung vui chung buồn, an lạc khi chúng an lạc, đau
khổ khi chúng đau khổ, trói buộc mình trong các công việc
chúng xướng xuất. Ðó là vị tỳ kheo bị loài người nhặt
lấy. Và này các tỳ kheo, "Bị phi nhân nhặt lấy" có nghĩa
là vị tỳ kheo tu phạm hạnh với mơ ước được sanh lên
cõi trời, hưởng phước báo chư thiên. "Bị lọt vào xoáy
nước" là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng: tài lợi,
sắc đẹp, danh tiếng, ăn và ngủ. "Bị mục nát bên trong"
ám chỉ vị tỳ kheo theo các ác pháp, có những hành động
khả nghi, không giữ giới mà hiện tướng thanh tịnh, nội
tâm hủ bại, đầy dục vọng, đó gọi là mục nát bên trong.
Khi
ấy người chăn bò Nanda đứng cách Thế tôn không xa. Chàng
tiến lại bạch:
- Bạch
Thế tôn, con không đâm vào bờ này, con không đâm vào bờ
kia, con không chìm giữa dòng, con không bị mắc cạn trên đất
nổi, con không bị loài người nhặt lấy, con không bị phi
nhân nhặt lấy, con không lọt vào xoáy nước, con không mục
nát bên trong. Bạch Thế tôn, mong Thế tôn cho con được xuất
gia với Thế tôn, được thọ đại giới.
- Này
Nanda, hãy đem trả bò cho chủ của con đã.
- Bạch
Thế tôn, chúng sẽ tự trở về. Các bò mẹ đang mong gặp
lại chúng.
- Tuy
vậy này Nanda, con hãy trả lui các con bò ấy cho những người
chủ.
Nanda
vâng lời dắt bò về trả cho chủ rồi trở lại bên Phật:
- Bạch
Thế tôn, con đã trả lại những con bò. Hãy cho con được
xuất gia với Thế tôn. Hãy cho con thọ đại giới.
Rồi
Nanda, người chăn bò, được xuất gia với Thế tôn, được
thọ đại giới. Sau khi thọ giới không lâu, Tôn giả Nanda
sống một mình an tịnh, thân cảm được lạc thọ mà các
thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình đã
hướng đến. Vị ấy biết sanh đã tận, phạm hạnh đã thành,
các việc nên làm đã được làm xong, không còn bị trói buộc
vào đời này nữa. Tôn giả Nanda trở thành một vị A La Hán.
-ooOoo-
27.
CHÚ TIỂU HIỀN TRÍ
Thuở
Phật Ca Diếp còn tại thế, ngài có một tăng đoàn gồm hai
mươi ngàn tỳ kheo đã diệt tấn các lậu hoặc. Mỗi khi đi
du hóa một nơi nào, tất cả chúng tỳ kheo ấy đều theo sau
Phật Ca Diếp, cũng như 1250 tỳ kheo thường đi cùng với đức
bổn sư Thích Ca của chúng ta.
Một
hôm Phật Ca Diếp và Tăng chúng của Ngài đi đến thành Ba
La Nại. Dân chúng đua nhau đến đảnh lễ cúng dường và
nghe Ngài thuyết pháp. Sau khi thọ thực xong, Phật nói lời
tùy hỷ công đức như sau:
- "Này
các cư sĩ, trong thế gian có bốn hạng người. Hạng thứ
nhất là những người tự mình làm phước bố thí, nhưng
không khuyến khích kẻ khác làm. Hạng người này trong tương
lai được giàu có, nhưng không được nhiều người theo. Hai
là những người khuyên kẻ khác bố thí, nhưng tự mình không
bố thí. Hạng này đời sau có phước báo được đông người
theo, nhưng không có của cải. Ba Ba là những người tự mình
không bố thí cũng không khuyên người bố thí. Hạng này đời
sau không có của cải, cũng không có người theo, phải sống
cô độc, ăn cơm thừa của kẻ khác. Bốn là hạng người
vừa tự bố thí vừa khuyên người bố thí, hạng này trong
tương lai sẽ được cả hai phước báo: giàu có và đông
người hưởng ứng theo mình."
Khi
nghe thế, có một người khởi lên ý nghĩ: "Ta sẽ cố làm
sao để được cả hai phước báo ấy". Rồi vị ấy đến
đảnh lễ Phật, bạch rằng:
- Bạch
Thế tôn, xin Ngài đến thọ thực tại làng con vào ngày mai,
để chúng con được phước báo cúng dường.
Phật
Ca Diếp hỏi lại:
- Ngươi
muốn cúng dường bao nhiêu vị tỳ kheo?
- Bạch
Thế tôn, Tăng chúng của Ngài gồm bao nhiêu?
- Hai
mươi ngàn.
- Bạch
Thế tôn, ngày mai xin ngài đem theo tất cả đại chúng tỳ
kheo ấy.
Ðức
Phật nhận lời. Cầm một mảnh bối diệp (lá bối, thay giấy)
trở về làng, người kia đi từng nhà khuyên sửa soạn cúng
dường Phật và chúng Tăng tùy khả năng của mỗi gia đình.
Có nhà tình nguyện cúng dường 500 vị, nhà 200 vị, nhà 100
vị, nhà 50 vị v.v... Người kia đều ghi dấu vào lá bối
để hộm sau thỉnh đúng số tỳ kheo đến từng nhà. Trong
làng, có một gia đình rất nghèo, đến nỗi ông chủ được
mệnh danh "ông Chúa Nghèo". Người kia cũng không quên ghé vào
nhà ông Chúa Nghèo để tạo phước cho ông ta. Khi Chúa Nghèo
nghe người kia muốn mình cúng dường chúng tỳ kheo thì giật
bắn người lên:
- Ối
bạn ơi! Bạn coi nhà cửa tôi đây, đến một chỗ ngồi cũng
không có, làm sao tôi cúng dường gì được? Tôi có đồng
xu nào đâu? Hãy đi đến những nhà cao cửa lớn kia!
- Này
bạn, không phải chính vì vậy bạn mới nên nhân cơ hội
này mà gieo giống phước sao? Vì sao bạn phải nghèo? Phải
chăng vì bạn chưa từng giúp ai một chút gì cả?
Chúa
Nghèo ngẫm có lý bèn ưng thuận:
- Ðược.
Vậy thì xin bạn ghi cho tôi cúng dường một vị tỳ kheo.
Người
kia bằng lòng, nhưng không ghi vào lá vì y nghĩ rằng một vị
thì quá ít, chẳng cần ghi làm gì. Y từ giã để tiếp tục
đi phổ khuyến.
Chúa
Nghèo gọi vợ ra, cho hay ý định cúng dường một vị tỳ
kheo của mình, và đề nghị với vợ cùng đi làm mướn để
đủ tiền sắm sửa các thứ.
Người
vợ bằng lòng ngay, cả hai cùng đi đến một nhà phú hộ.
Nhà này sẵn lòng mướn hai vợ chồng làm việc một buổi
chiều hôm ấy để chhuẩn bị cho việc cúng dường hôm sau.
Họ mướn Chúa Nghèo giã gạo, còn bà vợ thì gánh nước.
Hai vợ chồng làm việc rất hăng hái, nét hân hoan lộ hẳn
trên gương mặt, đến nỗi chủ nhà hỏi nguyên do. Khi được
biết họ làm mướn để có tiền mua thực phẩm cúng dường
một vị tỳ kheo, phú ông cảm khái, trả công gấp bội. Với
số tiền nhận được họ mua một ít gạo thơm hảo hạng,
trái cây quý và một ít đồ vụt vãnh để nấu nướng.
Sáng
hôm sau, Chúa Nghèo dậy sớm đi hái rau bên bờ sông về cho
vợ làm thức ăn. Một người đánh cá hỏi:
- Chúa
Nghèo hái rau làm gì sớm Thế?
- Tôi
hái rau để cúng dường một vị tỳ kheo.
- Thế
à! Vị nào ăn rau của Chúa Nghèo cúng dường chắc hên lắm
đấy. Này, làm hộ tôi việc này được chăng?
- Làm
gì?
- Ðây
tôi có mấy xâu cá, Chúa Nghèo đi bán giùm. Tôi bận coi lưới.
Mỗi xâu hai đồng.
- Ðược.
Chúa
Nghèo xách cá đi bán một chốc đã hết, đem tiền về giao
cho chủ.
- Này
Chúa Nghèo, tặng Chúa Nghèo một ít tiền đây, về mà sắm
thức ăn cúng dường.
Chúa
Nghèo sung sướng đem rau và tiền về cho vợ.
Khi
ấy, từ trong tinh xá của ngài, Phật Ca Diếp đã biết một
người nghèo đang thành tâm sửa soạn cúng dường một vị
tỳ kheo. Ngài cũng biết rằng tất cả chúng tỳ kheo đã được
phân phối đi vào các gia đình phát tâm cúng dường, mỗi
nhà cúng một số vị. Duy chỉ có nhà Chúa Nghèo bị bỏ quên,
vì Chúa Nghèo chỉ cúng có một vị, người phổ khuyến quên
ghi, nên không còn một vị nào cho Chúa Nghèo cúng cả. "Vậy
chỉ còn Ta để cho Chúa Nghèo gieo phước" đức Phật nghĩ
thế, và ngài lấy làm hoan hỉ, vì chư Phật vốn thương những
kẻ khốn cùng. Vừa khi Phật có ý định ấy, thì vua trời
Ðế thích cảm thấy chiếc ngai ông đang ngồi lay động. "Có
chuyện gì thế nhỉ?" Vua trời ngẫm nghĩ, và biết rằng chính
tấm lòng thành khẩn của Chúa Nghèo dưới trần Thế đã
làm chấn động đến thần tiên. "Ta phải giúp Chúa Nghèo
một tay để chuẩn bị thực phẩm cúng dường đức Phật."
Ðế thích bèn rủ bà vợ rời cung trời bay xuống nhân gian
hóa làm hai vợ chồng nghèo khó đi làm mướn. Ðến nhà Chúa
Nghèo, Ðế thích hỏi:
- Nhà
có gì làm không? Cho chúng tôi phụ giúp.
- Ông
bà ôi, chúng tôi có nhiều việc lắm, nhưng không có tiền
để trả công ông bà đâu.
- Bạn
làm gì thế?
- Chúng
tôi làm thức ăn cúng dường một vị tỳ kheo.
- Ồ,
việc phước ấy chúng tôi cũng muốn hùn. Chúng tôi không
cần trả công đâu.
- Vậy
thì tốt lắm, ông bà hãy giúp chúng tôi sắm sửa thức ăn.
Hai
ông bà Ðế thích bước vào nhà Chúa Nghèo, Ðế thích bảo:
- Bây
giờ, để chúng tôi làm thức ăn cho. Bạn hãy đi mời vị
tỳ kheo của bạn ơi.
Chúa
Nghèo ra đi, đến nơi người đã phổ khuyến hôm qua để
hỏi vị tỳ kheo nào sẽ nhận lời đến nhà mình, và đi
thỉnh vị ấy. Nhưng người ấy nói:
- Ồ
bạn ơi, tôi quên bẵng đi mất. Không còn một tỳ kheo nào
cho Chúa Nghèo cúng nữa, vì tất cả đều đã nhận đi các
nhà khác rồi.
Không
thể nào tả nỗi tuyệt vọng lớn lao của Chúa Nghèo lúc
ấy. Chúa đấm ngực, lăn ra mà khóc:
-Trời
đất ôi! Bạn hại tôi rồi! Suốt hai hôm qua, chúng tôi làm
việc tối mắt tắt đèn để chờ đợi bữa trưa nay cúng
dường một vị tỳ kheo! Vậy mà bây giờ bạn bảo không
còn vị nào! Bạn phải cho tôi một vị tỳ kheo! Không thì
tôi chết mất. Hu hu.
Quần
chúng bu lại xem đông. Người kia bối rối năn nỉ:
- Này
Chúa Nghèo, xin Chúa đừng làm tội tôi nữa. Tôi lỡ đi mà.
Chúa tha cho tôi đi.
- Không
biết! Phải cho tôi một vị tỳ kheo! Hù hu, hu hu.
Túng
quá, người kia đánh bạo đề nghị:
- Thôi
Chúa Nghèo hãy đứng dậy. Tôi bày cách này. Ðấng đạo sư
chưa nhận lời mời của ai, vì rất đông vua chúa đại thần
đều muốn thỉnh Ngài. Vậy bạn hãy tới thỉnh Ngài đi.
Ngài rất thương những kẻ nghèo, chắc Ngài sẽ nhận lời
bạn đấy. Ngài đang ngồi trong tinh xá nói pháp cho các bậc
thượng khách kia.
Chúa
Nghèo nghe lời, đứng lên đi đến tinh xá. Vua và đình thần
đang nghe pháp, thấy Chúa Nghèo tiến tới thì ngăn lại, vì
họ tưởng Chúa đến xin đồ ăn thừa:
- Chúa
Nghèo, chưa đến giờ ăn đâu.
- Tôi
biết. Tôi đi thỉnh Phật về nhà tôi thọ trai.
Ðức
Phật mỉm cười, chìa cái bình bát của Ngài ra, trao cho Chúa
Nghèo một cách thân mật. Chúa Nghèo đỡ lấy bảo vật trong
đôi tay run lên vì sung sướng. Chúa ôm lấy bình bát của
Phật vào lòng, mặt mày hớn hở như đứa trẻ vừa được
kẹo. Các ông hoàng chạy theo đề nghị:
- Chúa
Nghèo, hãy nhường cái bát ấy cho ta cúng thức ăn cho Phật.
Ta sẽ cho Chúa Nghèo một ngàn đồng.
- Không
bao giờ tôi nhường cho ai cái bát này, dù có đổi bạc triệu.
Chúa
Nghèo trân trọng ôm bình bát của Phật về nhà để bày thức
ăn. Vua đang ngồi gần Phật, ngẫm nghĩ: "Lão Chúa Nghèo chắc
chẳng có gì ngon lành mà cúng đức Thế tôn đâu. Chi bằng
ta sắm sẵn các thức ăn thượng vị đựng trong cái bình
bát khác, chờ khi Chúa Nghèo dâng lên Phật ta sẽ đổi thức
ăn của ta cho Phật dùng".
Ðến
giờ thọ thực, Phật Ca Diếp đến nhà Chúa Nghèo. Vua đi
theo với ý định như trên. Nhưng khi Phật vào nhà Chúa Nghèo,
Ðế thích hóa trang đã dâng Phật một bát đầy thức ăn
mùi thơm bay khắp không gian. Vua bẽn lẽn cáo từ Phật trở
về.
Do
phước báu cúng dường Phật Ca Diếp, Chúa Nghèo được sanh
lên cõi trời cho đến khi Phật Thích Ca ra đời mới trở
xuống trần thế, sanh vào một nhà thí chủ thân tín của
nhà Xá Lợi Phất. Khi mang thai Chúa Nghèo,người mẹ bỗng
thông minh khác thường. Người trong gia đình ai có bệnh tật
gì đều được khỏi, và trở nên thông tuệ. Do đó hài nhi
được tôn giả Xá Lợi Phất đặt tên là Hiền Trí. Khi lên
bảy, Hiền Trí xin mẹ xuất gia làm đệ tử tôn giả.
Tôn
giả dạy cho chú tiểu những uy nghi phép tắc phải theo trước
khi vào thành khất thực. Lần đầu tiên ôm bát theo hầu thầy
ra đường, chú tiểu hỏi Ngài khi thấy một con đê:
- Bạch
Tôn giả, kia là cái gì?
- Chú
tiểu, đấy là một con đê.
- Bạch
Tôn giả, con đê dùng để làm gì vậy?
- Ðể
dẫn nước đi khắp nơi nào mà người ta muốn.
- Nhưng
bạch tôn giả, nước có hiểu biết gì không?
- Không
đâu, chú tiểu. Nước là vật vô tri vô giác.
- Bạch
tôn giả, Thế thì người ta có thể hướng dẫn một vật
vô tri vô giác đến bất cứ chỗ nào người ta muốn hay sao?
- Chính
vậy, chú tiểu.
Hiền
trí nghĩ: "Nếu người ta có thể hướng dẫn một vật vô
tri tùy theo ý muuốn, thì tại sao ta không thể nhiếp phục
tâm ý của mình để chứng A La Hán quả?
Ði
thêm một quãng, chú thấy những người làm tên đang hơ những
cây tên trên lửa và nheo mắt nhắm để uốn chúng cho thẳng.
Chú tiểu hỏi:
- Bạch
tôn giả, họ làm chi vậy?
- Họ
đang uốn những cây tên cho thật thẳng.
- Cây
tên có lý trí không?
- Không,
nó là vật vô tri.
Chú
tiểu nghĩ: "Nếu người ta có thể uốn nắn một vật vô
tri cho thẳng theo ý muốn, thì ta cũng có thể nỗ lực điều
phục tâm ý để chứng A La Hán quả".
Một
lát sau, hai thầy trò gặp những người thợ mộc đang đẽo
bánh xe, chú lại hỏi:
- Bạch
Tôn giả, họ làm gì thế?
- Ðấy
là thợ mộc đang đẽo bánh xe.
- Bánh
xe có lý trí không?
- Không,
bánh xe chỉ chạy theo ý người muốn!
Chú
tiểu nghĩ: "Nếu người ta có thể lấy gỗ làm ra những bánh
xe để chạy theo ý muốn mình, thì tại sao ta không thể điều
phục tâm ý của chính mình?"
Khi
ấy chú tiểu trao y bát cho thầy và bạch:
- Bạch
Tôn giả, con muốn trở về.
Tôn
giả Xá Lợi Phất không nói một lời, đỡ lấy y bát trên
tay chú tiểu. Chú tiểu vái chào thầy xong còn quay đầu lại
dặn tôn giả:
- Bạch
Tôn giả, khi nào Ngài đem thức ăn về cho con, xin Ngài chỉ
cho con toàn một thứ đậu chiên vàng ngon nhất ấy.
- Ở
đâu ta có thể kiếm được những thứ ấy, chú tiểu?
- Bạch
Tôn giả, nếu Ngài không thể kiếm được nhờ phước đức
của Ngài, thì Ngài cũng sẽ kiếm được do phước đức của
con.
Tôn
giả Xá Lợi Phất vốn rất cẩn thận. Ngài sợ chú tiểu
ngủ ngoài trời có thể bị rắn cắn, hay sâu bọ đốt, bởi
Thế Ngài trao chìa khóa cho chú tiểu và bảo:
- Hãy
mở cửa tịnh thất của ta mà vào.
Chú
tiểu vâng lời. Vào phòng tôn giả, chú bắt đầu tịnh tọa
thiền quán. Khi ấy Ðế thích ở trên trời cảm thấy chiếc
ngai rung động, và nhận ra rằng chú tiểu Hiền Trí đang ngồi
thiền quyết chứng quả A La Hán trong ngày đó, nên Ngài muốn
giúp chú một tay. Ngài bảo thần mặt trời phải đi chấm
lại, kéo dài buổi sáng ra trọn ngày, và sắc cho tứ thiên
vương đứng gác bốn góc chùa, đuổi hết tất cả chim chóc
ra khỏi vườn để đừng gây tiếng động. Do đó, tinh xá
Cấp cô độc trở nên yên tịnh lạ thường. Thỉnh thoảng
mới có một âm thanh rất nhỏ gây nên bởi một chiếc lá
khô lìa cành rơi xuống.
Trong
khi ấy, Tôn giả Xá Lợi Phất vào nhà người thí chủ quen
biết để khất thực. Gia chủ vừa mua về nhiều bánh tàu
hủ chiên vàng, đem đặt vào bát Ngài. Tôn giả định đem
về cho chú tiểu như lời chú dặn, nhưng gia chủ xin thỉnh
tôn giả cứ dùng, sẽ còn phần khác để tôn giả đem về.
Tôn giả ngồi lại thọ thực.
Ðúng
lúc ấy, từ tư thất của Ngài, đức Ðạo sư quan sát bằng
Phật nhãn thanh tịnh thấy chú tiểu có thể chứng quả A
La Hán trong vòng vài giờ nữa. Nhưng nếu Tôn giả Xá Lợi
Phất trở về lúc này, đem thức ăn vào phòng cho chú tiểu
thì sẽ lỡ mất dịp đắc quả của chú. Do đó, đức Phật
quyết định đi đến tịnh thất của tôn giả để đón đường.
Vừa khi tôn giả trở về, Ngài gặp ngay đức Ðạo sư đứng
trước cửa. Tôn giả thi lễ, đức Ðạo sư hỏi vị đệ
tử thông tuệ của Ngài một số câu hỏi trong luật tạng,
chỉ cốt để câu giờ, chờ cho chú tiểu đắc quả. Khi biết
Hiền Trí đã chứng quả. Ngài bảo Tôn giả Xá Lợi Phất:
- Bây
giờ này Xá Lợi Phất, hãy đem thức ăn vào cho chú tiểu
Hiền Trí đi.
Tôn
giả gõ cửa. Chú tiểu bước ra đỡ lấy bát trên tay Ngài
đặt xuống một nơi, rồi bắt đầu quạt cho Ngài. Tôn giả
bảo:
- Này
chú, hãy ăn sáng đi.
- Bạch
tôn giả, còn tôn giả thì sao?
- Ta
đã ăn rồi.
Khi
ấy chú tiểu mới ngồi xuống quán tưởng năm điều rồi
thọ thực. Khi chú đã ăn xong, rửa bát và dọn dẹp xong,
thì mọi sự mới trở lại bình thường: mặt trời bắt đầu
lặn, trăng từ từ lên, Tứ Thiên Vương hết canh gác bốn
góc chùa. Ðế thích trở về thiên cung ngồi vào chiếc ngai
vàng thường lệ. Chúng tỳ kheo bảo nhau:
- Thật
kỳ lạ! Hôm nay buổi sáng hầu như dài suốt cả ngày, mà
buổi chiều ngắn có một khoảnh khắc. Tại sao thế nhỉ?
Ðức
Ðạo sư giải thích:
- Ðúng
thế, này các tỳ kheo, chính vì chú tiểu bảy tuổi kia phát
tâm chứng quả A La Hán, mà tất cả trời Ðế thích, Tứ
Thiên Vương, thần mặt trời, thần mặt trăng đều hỗ trợ
cho công việc của chú ấy. Và chính đức Như Lai cũng đã
bỏ cả giờ nghỉ ngơi để canh chừng cho chú bé, một người
nhân quan sát con đê dẫn nước, thợ làm tên, người làm
bánh xe, mà quyết tâm nỗ lực thiền định để chứng quả.
"Người
đào đê dẫn nước, người làm tên uốn tên, thợ mộc đẽo
gỗ, còn người trí thì lo điều phục tâm mình". (Pháp cú
80)