19.
VỌNG PHU
Khi
ngưòi đang hái hoa lòng say mê lạc thú, niềm vui kia
chưa
thỏa tử thần đã lôi xa
(Pháp
cú 48)
Một
buổi sáng ở thiên đường, vua trời Ðế thích đi vào Lạc
viên ở cung trời 33 cùng với một ngàn thiên nữ hầu hạ.
Năm trăm nàng leo lên cây hái hoa tung xuống. Năm trăm nàng
lượm hoa kết thành tràng để trang sức cho vua trời, chồng
của họ. Một nàng đang hái hoa chẳng may trúng gió nặng,
hồn lìa khỏi xác ngay khi ngồi trên cây. Thân thể nàng tan
biến mau lẹ theo hơi sương (vì là tiên nên thể xác có phần
nhẹ hơn người trần) và thần thức nàng nhập vào thai cung
của một phụ nữ thuộc gia đình trưởng giả thành Xá vệ.
Khi xuất thai và dần dần lớn thành một thiếu nữ, nàng
vẫn nhớ kiếp vừa qua của mình và mong mỏi được trở
về cõi trời hầu hạ Ðế thích như trước. Nàng thường
đến Kỳ viên tinh xá Cấp Cô Ðộc để cúng dường Phật
và chúng tăng với một ước nguyện bất di dịch: "Mong rằng
với phước đức này con được trở lại với chồng con".
Các tỳ kheo đều lấy làm lạ về lời nói của thiếu nữ,
và đặt cho nàng một biệt hiệu là "Vọng phu". Vọng phu tiếp
tục bố thí cúng dường như vậy cho đến khi mười sáu tuổi,
cha mẹ gả chồng cho nàng và lần hồi sinh hạ được bốn
con.
Một
ngày kia, sau khi đến tinh xá cúng dường Phật và chúng tăng
trở về, Vọng phu cảm thấy nhức đầu chóng mặt, lên giường
nằm một lát rồi trút hơi thở cuối cùng. Thần thức nàng
trở về cõi trời 33 trong khi các thiên nữ đang bận rộn
kết hoa để trang hoàng cho Ðế thích. Khi vua Trời thấy nàng
liền hỏi: - Sáng nay sao ta không thấy nàng. Nàng đi đâu?
- Thưa thần thiếp chết giấc một hồi, rời khỏi thiên cung.
-Nàng nói cái gì thế? Ðế thích ngạc nhiên - Quả thế, muôn
tâu thánh thể, thần thiếp đã chết đi một lát. - Rồi nàng
tái sinh ở đâu? - Tâu, ở một gia đình trong thành Xá vệ.
- Nàng ở đấy bao lâu? - Sau mười tháng ở trong thai, thần
thiếp ra khỏi thai mẹ. Khi 16 tuổi, thần thiếp được gả
chồng, có bốn con. Thần thiếp đã bố thí tu phước liên
miên, ước nguyện được trở về thiên cung sum họp với
thánh thể. - Ðời sống của con người dài bao lâu? - Tâu
thánh thể, chỉ có một trăm năm thôi ạ! - Ôi, ngắn thế
kia ư? - Dạ, tâu thánh thể. - Nếu đời sống con người ngắn
ngủi như thế thì chúng phỏng làm được cái gì? Chắc là
chúng phải tạo phước lành gấp rút lắm? - Dạ không, trái
lại, tâu thánh thể, con người dưới ấy vẫn mê ngủ, buông
lung, bê tha, làm như chúng sẽ được sống mãi hoài, làm như
chúng sẽ không bao giờ già chết. Vua trời nghe xong, buồn
rầu bảo: - Nếu như lời nàng nói, con người chỉ sống được
có trăm năm, mà lại mê ngủ, buông lung, bê tha thì biết bao
giờ chúng mới thoát khỏi khổ?
Ngày
hôm sau ở Xá vệ khi chúng tỳ kheo vào làng đến chỗ thường
lệ vẫn được nàng Vọng phu tiếp đón, thì thấy lạnh ngắt
như tờ. Không có chỗ ngồi, nước uống được xếp đặt
như mọi khi. Họ hỏi: - Vọng phu đâu rồi? Dân chúng thưa:
- Bạch chư Ðại đức, nàng ấy đã chết chiều qua, sau khi
cúng dường trở về. Khi ấy những vị tỳ kheo chưa chứng
quả bỗng thấy lòng buồn man mác, nhớ đến những săn sóc
chu đáo của người tín nữ hôm qua mới đó, mà nay đã ra
người thiên cổ. Trở về họ hỏi Phật: - Bạch Thế tôn,
Vọng phu tạo phước cúng dường nhiều chỉ cốt để được
gặp chồng. Tại sao nàng vừa mới ở với chồng chưa bao
lâu, hương lửa đang nồng mà phải chết như vậy? Bây giờ
nàng tái sanh ở đâu? - Này các tỳ kheo, không phải Vọng
phu ước được sống với người chồng hiện tại của nàng
đâu. Nàng vọng là vọng cái người chồng cũ của nàng trên
cõi trời thứ 33 ấy, và bây giờ đã được toại nguyện.
Hiện giờ, nàng đang trở lại hầu hạ Ðế thích trong Lạc
viên. Một đời nàng trải qua dưới thế gian này không dài
bằng nửa buổi sáng trên cung trời Ðế thích. - Ồ, bạch
Thế Tôn, đời con người sao mà ngắn ngủi! Mới buổi sáng
nàng ấy cúng dường thực phẩm cho chúng con, mà chiều nay
đã nghe nàng chết rồi . - Quả thế, các tỳ kheo, đời con
người ngắn ngủi lắm. Trong khi chúng khát khao những lạc
thú cõi trần mà chưa được thỏa, chúng đã bị thần chết
mang đi.
(thuật
theo Truyện tích Pháp cú)
-ooOoo-
20.
GIỮ Ý NHƯ GIỮ THÀNH
Khi
Phật ở nước Xá vệ, trong chúng tỳ kheo tại tinh xá Cấp
cô độc có một vị tôn giả tên Soreyya, đã chứng quả A
La Hán. Câu chuyện sau đây được truyền tụng về cuộc đời
của vị tôn giả trước khi đắc quả.
Trong
lúc tôn giả Soreyya còn ở trại gia, ngài là con của một
vị phú hộ ở thị trấn Soreyya. Một hôm Soreyya cùng ngồi
trên xe đi tắm với một người bạn thân của chàng, có gia
nhân đông đảo đi theo. Khi ra khỏi thành bỗng chàng thấy
tôn giả Ca Chiên Diên, đệ tử của Phật đang ôm bát đi
vào thành khất thực. Tôn giả Ca chiên Diên có một màu da
sáng đẹp như vàng ròng, sắc diện uy nghiêm khả kính đến
nỗi đoàn người đi tắm biển chú mục nhìn ngài không biết
chán. Thanh niên Soreyya là người hiếu sắc, thấy tôn giả
bèn nghĩ thầm trong bụng: "Ồ, ước gì vị tôn giả ấy là
vợ ta! Ước gì màu da của vợ ta cũng đẹp đẽ như da vị
tôn giả ấy". Ngay khi tư tưởng ấy vừa khởi, thanh niên
Soreyya tức khắc biến thành phụ nữ. Chàng vô cùng bối rối,
vội nhảy ra khỏi xe lẫn vào đám đông trốn bi?t. Phụ nữ
Soreyya không dám về nhà, đi mãi đi mãi, theo đoàn người
tiến ra thành phố cho đến khi gặp một đoàn xe đi về phía
đô thị Tắc ca. Nàng bạo dạn đến gần một xe xin quá giang
đến thành Tắc ca. Những người trên xe là gia nhân của một
vị phú hộ ở thành Tắc ca, trông thấy thiếu nữ xinh đẹp
liền bằng lòng ngay. Họ bảo nhau: - Con trai của chủ chúng
ta chưa có vợ, chúng ta hãy đưa nàng này về, thế nào cũng
được trọng thưởng. Quả nhiên khi xe về đến thành Tắc
ca, phú ông rất vui mừng được cô dâu xinh đẹp, làm lễ
cưới ngay cho con trai mình. Thế là thanh niên Soreyya trở thành
vợ của thanh niên Tắc ca, con trai của phú ông ở đô thị
Tắc ca.
Ðám
cưới không bao lâu, nàng mang thai, sau mười tháng sanh ra một
thằng con bụ bẫm. Ðứa con này vừa biết đi tập tễnh,
nàng lại cho ra đời một thằng con khác. Soreyya trước làm
nam nhi ở thành Soreyya đã có vợ hai con, bây giờ biến thành
phụ nữ lại sinh ra hai đứa con là bốn. Thế là Soreyya làm
cha hai trẻ, làm mẹ hai trẻ. Một hôm thành Tắc ca có hội
chợ, tình cờ bà Soreyya trông thấy một thanh niên trong đám
đông và nhận ra ngay đó là người bạn rất thân đã cùng
ngồi xe đi tắm biển với mình dạo trước, khi chưa biến
thành phụ nữ. Bà Soreyya bảo gia nhân đến mời thanh niên
ấy về nhà mình.
Thanh
niên ngạc nhiên nhưng được người đẹp mời cũng khoái,
thấy không có gì hại, liền theo gót gia nhân về nhà bà Soreyya.
Ngồi vào "xa lông" thanh niên mới đánh bạo lên tiếng: - Thưa
bà, có lẽ bà lầm chăng? Tôi chưa hề được trông thấy
bà từ trước đến nay, vì đây là lần đầu tiên tôi đến
thành phố này. - Thưa ông tôi không lầm đâu, có phải ông
là người của thành Soreyya? - Thưa bà chính vậy. Thế ra bà
biết. Soreyya bèn hỏi chàng thanh niên về sức khỏe của ông
bà phú hộ cha mẹ mình và hỏi thăm tin tức vợ và hai con
đang ở Soreyya. Thanh niên hỏi: - Thưa bà, họ đều khỏe mạnh.
Tại sao bà biết họ? - Thưa ông tôi biết lắm chứ. Thế
còn người con trai của họ, thanh niên Soreyya ở đâu? - Ồ
thưa bà, xin bà đừng nhắc đến chuyện thương tâm ấy nữa.
Bao nhiêu năm nay, việc ấy đã trở thành một vết thương
lòng cho những người thân. Số là chúng tôi cùng ngồi xe
đi tắm biển, nhưng khi ra khỏi thành, không biết chàng biến
mất tự bao giờ, người thì đoán chàng xuống tắm bị nước
cuốn trôi, người thì cho có lẽ chàng bị cá nuốt. Tìm khắp
nơi không thấy nên gia đình đã làm chay cho chàng. - Thưa ông
chàng không chết đi đâu cả, chính tôi đây là Soreyya ngày
trước. - Thưa bà... bà nói cái gì thế? Soreyya là bạn rất
thân của tôi, tôi biết rõ y là đàn ông. - Thưa ông, vậy
mà tôi là Soreyya. - Sao lại có chuyện kỳ quái như thế? -
Ông có nhớ lúc chúng ta đi xe ra khỏi thành đã gặp một
vị tôn giả ôm bát vào thành hay không? - Vâng, tôi nhớ có
gặp tôn giả Ca Chiên Diên ngày hôm ấy. - Ðấy, khi tôi trông
thấy tôn giả, tôi nghĩ mong tôn giả là vợ mình, hay ít nhất
vợ mình có được làn da mơn đẹp như tôn giả. Ngay khi tôi
vừa có ý nghĩ ấy, tôi liền hóa thành phụ nữ. Ồ, thưa
ông tôi bối rối quá, không thể nói cùng ai, tôi nhảy đại
ra khỏi xe chạy trốn, và đến thành phố này. - Ồ, bạn
ơi, bạn đã làm một việc quá điên rồ. Sao bạn không bảo
tôi? Thế bạn có sám hối cùng vị tôn giả ấy không? - Không
bạn ạ, tôi chưa từng sám hối Ngài. Nhưng bạn có biết
hiện giờ Ngài ở đâu không? - Ngài ở quanh quẩn gần thành
phố này. - Ước chi Ngài đến đây, tôi sẽ cúng dường thực
phẩm cho Ngài. - Tốt lắm, vậy bạn hãy sửa soạn đi, ngày
mai tôi sẽ thỉnh Ngài tới đây để bạn sám hối cùng Ngài.
Rồi
người bạn cũ của Soreyya, vốn là một Phật tử thuần thành,
đi đến chỗ tôn giả Ca Chiên Diên ở để thỉnh Ngài về
nhà cư sĩ thọ trai. Tôn giả hỏi: - Này thanh niên, nhưng con
đâu có nhà ở đây? Không phải con là du khách của thành
phố này sao? - Bạch tôn giả việc ấy không quan hệ, xin tôn
giả nhận lời cho con ngày mai được cúng dường tôn giả
tại nhà. Tôn giả im lặng nhận lời. Ðến giờ ngọ thực
hôm sau Ngài cùng thanh niên đến nhà Soreyya. Sau khi bà Soreyya
bày biện các món thức ăn thượng vị lên cúng dường, thanh
niên bảo bà Soreyya quỳ xuống dưới chân tôn giả và thay
lời nàng tác bạch: - Bạch tôn giả, xin tôn giả tha thứ
cho bạn con. Tôn giả chẳng hiểu ất giáp gì trước sự tình
ấy, bèn hỏi: - Có chuyện gì thế? - Bạch tôn giả, người
đàn bà này trước kia là đàn ông, và là bạn rất thân của
con. Một hôm y nhìn tôn giả và có ý nghĩ quấy, nên bị biến
thành đàn bà tức khắc. Xin tôn giả hãy tha thứ cho y. - Ðược,
ta tha thứ cho ngươi. Hãy đứng dậy.
Vừa
khi tôn giả thốt ra những lời ấy, Soreyya đứng lên và trở
lại thân hình nam nhi như trước. Con trai Tắc ca, chồng của
Soreyya, thấy vợ mình mới đó bây giờ đã hóa thành đàn
ông liền bảo: - Này bạn ơi, vì bạn đã là mẹ của hai
đứa con, tôi là cha của chúng, thì quả thật chúng là con
chung của chúng ta. Bạn hãy ở lại đây với tôi, đừng có
đi đâu, chúng ta sẽ "đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ"
(vợ chồng đổi thành bè bạn ). Soreyya nói: - Hỡi bạn, tôi
đã hai lần hóa thân trong một đời người. Ban đầu làm
đàn ông, sau biến thành đàn bà và bây giờ biến thành đàn
ông trở lại. Ban đầu tôi làm cha hai đứa trẻ, sau lại
làm mẹ hai đứa trẻ khác. Tôi còn sống ở đời làm gì
nữa! Tôi muốn xuất gia. Bây giờ bạn hãy săn sóc hai đứa
bé này.
Nói
xong, Soreyya hôn hai đứa bé, từ giã chúng rồi xin đi theo
tôn giả Ca Chiên Diên. Tôn giả nhận chàng về trong Tăng đoàn.
Sau khi truyền giới cụ túc cho Soreyya, Ngài đưa tỳ kheo Soreyya
về tinh xá Cấp cô độc nước Xá vệ. Câu truyện ly kỳ
về đời tư Soreyya truyền đi rất nhanh khắp thành Xá vệ.
Dân chúng tò mò đến nơi để biết rõ thực hư. Suốt ngày
tỳ kheo Soreyya phải bận rộn về những người này. Câu hỏi
bất di dịch của họ là: - Bạch đại đức, có phải tin
đồn Ngài hóa thân hai lần là đúng không? - Ðúng. - Bạch
Ðại Ðức, Ngài đã từng làm cha hai đứa trẻ và làm mẹ
hai đứa trẻ khác, Ngài thương cặp con nào hơn? - Tôi thương
cặp con do tôi làm mẹ nhiều hơn.
Cuộc
phỏng vấn cứ tái diễn như vậy không biết lúc nào ngưng,
làm cho tỳ kheo Soreyya không rảnh phút nào để tham thiền
nhập định. Do đó, Ðại Ðức quyết định rút vào rừng
sâu, độc cư thiền định. Sau một thời gian ngắn, nhờ nỗ
lực tu tập, Ðại Ðức chứng quả A La Hánvà trở lại nếp
sống bình thường trong tăng đoàn ở tu viện. Những người
đến thăm lại được dịp phỏng vấn tôn giả trở lại:
- Bạch tôn giả, tin đồn rằng Ngài đã làm cha hai đứa trẻ
và làm mẹ hai đứa khác, có đúng không? - Ðúng. - Ngài thương
cặp con nào hơn? - Không thương cặp nào cả.
Các
tỳ kheo nghe tôn giả trả lời như vậy, liền đến bạch
Phật:
- Bạch
Thế tôn, tỳ kheo Soreyya phạm tội nói dối. Trước kia vị
ấy thường bảo: "Tôi thương hai đứa con do tôi làm mẹ hơn
là hai đứa mà tôi làm cha". Thế mà bây giờ khi người ta
hỏi, vị ấy lại đáp là không thương đứa nào. Bạch Thế
tôn, như vậy là nói dối.
- Này
các tỳ kheo, tỳ kheo Soreyya không nói dối đâu. Trước kia
ông ấy chưa chứng quả, bây giờ ông ấy đã chứng quả
và biết rõ rằng CHẲNG PHẢI CHA HAY MẸ, MÀ CHÍNH LÀ CÁI
TÂM KHÉO ÐIỀU PHỤC MỚI ÐEM LẠI LỢI ÍCH CHO CHÚNG SINH".
Câu
ấy trở thành Pháp cú thứ 46 được lưu truyền.
-ooOoo-
21.
BÀ LÃO DỊ KỲ
"Tâm
phàm phu xoay vần theo ngũ dục, xao động không thể nắm bắt.
Chỉ những người nào điều phục được tâm mìmh mới được
yên vui". Câu thứ 35 ấy trong kinh Pháp cú có duyên khởi
như sau:
Thuở
Phật còn tại thế, trong xứ Kiều tất la có một khu làng
nằm dưới chân núi gọi là Mã đề thôn. Tại đấy có một
bà lão sống một mình với một gia tài phong phú. Bà được
mệnh danh là Mã Lão Mẫu. Vào một ngày an cư, sau khi đức
Phật chỉ dạy cho chúng tỳ kheo pháp quán 32 uế vật trong
thân, có 60 vị đi đến Mã Ðề thôn để thực hành thiền
quán. Bà lão cho xây cất một tu viện cho 60 vị ấy cư trú
và cúng dường đầy đủ về y phục, thực phẩm dược phẩm,
mền chiếu trong suốt mùa an cư. Những tỳ kheo ấy muốn tinh
tiến tu hành nên cùng đặt ra một quy luật như sau: không
được hai vị tỳ kheo cùng đứng hay ngồi tại một chỗ
đồng thời với nhau. Ðại chúng chỉ nhóm họp hai lần trong
ngày là sáng sớm trước khi vào rừng tọa thiền và chiều
tối sau khi ở rừng về, để bái yết vị thượng tọa chúng
trưởng. Tuy nhiên, nếu có tỳ kheo nào bị bệnh, thì hãy
đánh lên một hồi kiểng. Khi nghe tiếng kiểng tất cả sẽ
nhóm lại để cùng lo cho bệnh nhân. Sau khi thỏa thuận quy
luật trên chúng tỳ kheo đi vào rừng mỗi ngày.
Một
hôm bà lão đem thực phẩm tới chùa cúng dường, không thấy
ai cả, bà bèn hỏi những người ở chung quanh, làm cách nào
để gặp chúng tỳ kheo. Có người biết quy luật nói trên,
bày cho bà lão đánh kiểng. Tức thì từ trong rừng các vị
tỳ kheo lần lượt trở về. Bà lão lấy làm quái lạ thấy
mỗi người đi từ một hướng, không ai đi chung với ai, nên
nghĩ thầm: "Có lẽ các Ðại Ðức có chuyện cãi vã nhau chăng?"
Khi họ đến gần bà hỏi ngay câu ấy, và được trả lời:
"Không đâu lão mẫu ". Bà lão hỏi: - Nếu quý vị không xích
mích thì tại sao khi tới đây quý vị đi chung, mà bây giờ
mỗi người đi mỗi ngã như vậy? - Lão mẫu, chúng tôi mỗi
người ngồi một gốc cây để thực hành phép thiền quán
của Thế tôn chỉ dạy. - Thưa Ðại Ðức, phép quán gì thế?
- Lão mẫu, chúng tôi quán 32 uế vật trong thân. - Thưa, phép
quán ấy chỉ dành cho các vị tỳ kheo mà thôi, hay cư sĩ như
lão cũng tập được?
- Ồ,
lão mẫu, phép quán ấy ai muốn học cũng được cả, không
ai cấm. - Vậy thì xin chư Ðại Ðức dạy cho lão với. - Ðược,
lão mẫu hãy nghe cho kỹ. Rồi một vị tỳ kheo đằm trách
dạy cho bà lão phép quán 32 uế vật trong thân, để đi đến
nhận thức rõ ràng về hoại diệt, chết chóc luôn ẩn tàng
trong thân mình. Bà lão thuộc lòng ngay phép quán và tinh cần
tu tập đến nỗi bà đắc quả vị thứ ba (Bất lai) trong
bốn Thánh quả, trước cả các vị tỳ kheo.
Với
thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, bà quán thấy tất cả những
vị tỳ kheo chưa ai đắc gì cả, và sau khi quán sát kỹ, bà
thấy họ đều có khả năng chứng quả A La Hán. Khi nhận
thấy điều này, bà lão quyết định hỗ trịï cho chúng tỳ
kheo đầy đủ về mọi mặt, để họ có thể mau chứng quả.
Vị nào thích hợp với món ăn nào, thức uống nào, bà cung
cấp đúng như nhu cầu của họ. Bà thận trọng không cúng
dường những thực phẩm có vị chua cho những người nào
yếu bao tử. Vị nào ưa ngủ gục trong lúc tọa thiền, bà
lão cúng cà phê. Vị nào yếu phổi, bà cúng thêm mền và
áo lạnh. Trong tâm vị nào tưởng đến món ăn gì, bà lão
biết ngay và đáp ứng.
Nhờ
sự chăm sóc chu đáo ấy, sau khi giải hạ, 60 vị tỳ kheo
trở về bên Phật với sắc diện hồng hào tươi nhuấn, và
tiến bộ khá hơn trên đường tu. Phật âu yếm nhìn đàn
con trở về và bảo: - Này các tỳ kheo, chắc hẳn các con
được an vui, sức khỏe, thực phẩm đầy đủ trong mùa an
cư? - Dạ thưa vâng, Bạch Thế Tôn. Chúng con được an vui,
sức khỏe, và khỏi lo gì đến chuyện ăn uống. Bởi vì có
một bà lão ở Mã Ðề thôn biết được ý nghĩ chúng con,
đến nỗi chúng con vừa ước món gì, là có ngay món ấy.
Các vị tỳ kheo thi nhau kể chuyện về bà lão dị kỳ cho
Phật và chúng Tăng ở Xá vệ nghe.
Một
vị tỳ kheo nghe xong, quyết đi đến Mã Ðề thôn để thiền
định, và xin Phật: - Bạch Thế tôn, cho con tới đó. Phật
bằng lòng, sau khi ra đề tài cho vị ấy thiền quán. Vị tỳ
kheo lên đường đi dến Mã Ðề thôn. Khi đến ngôi chùa của
bà lão bỏ vắng, vị ấy nghĩ: "Mình nghe bà lão dường như
biết được tâm kẻ khác. Vậy nay mình vừa mới tới, quá
mệt vì đường xa không thể quét dọn chùa. Mong sao bà lão
cho người tới quét dùm". Bà lão đang ở nhà riêng, biết
được ý ấy, bèn cho người tới quét chùa. Vị tỳ kheo lại
ao ước trong lòng "ước chi mình có được một ly cô ca mát
lạnh mà giải khát". Bà lão cho người đem ly cô ca lạnh cho
vị tỳ kheo. Hôm sau, vừa thức dậy, vị t? kheo ước: "Mong
sao bà lão dọn cho mình một bữa điểm tâm nhiều bị và
thức ăn ngon lành". Bà lão cho người đem bữa điểm tâm đúng
như vị ấy muốn. Vị tỳ kheo suy nghĩ: "Bà lão đã cho ta
mọi thứ ta ao ước. Bấy giờ ta muốn gặp mặt bà. Mong sao
bà hãy đích thân đến, mang
cho ta thật nhiều thức ăn loại
cứng loại mềm. Bà lão liền đi đến chùa cùng với thức
ăn cúng dường đúng sở thích của vị tỳ kheo. Vị tỳ kheo
nói: - Lão mẫu, có phải bà là Mã lão mẫu không? - Thưa vâng.
- Bà có tha tâm thông à? - Tại sao Ðại Ðức hỏi vậy? -
Vì bà đã cho tôi mọi thứ tôi nghĩ đến. - Nhiều vị tỳ
kheo cũng có tha tâm thông. -Tôi không nói các tỳ kheo, tôi
muốn hỏi bà. Bà lão tránh né trả lời bằng cách nói: -
Thưa Ðại Ðức đâu cần phải có tha tâm thông mới có thể
cúng dường các thứ ấy?
Khi
ấy vị tỳ kheo bắt đầu hoằng sợ, nghĩ: " Khốn thay, kẻ
chưa chứng đắc như ta thì có khi nghĩ tốt nhưng cũng lắm
khi nghĩ bấy. Nếu lỡ có một ý nghĩ bậy bạkhởi lên, bà
lão sẽ tóm cổ ta như tóm bắt một kẻ trộm, và liếng hành
lý ta ra khỏi chùa. Ta sẽ bị khốn đốn với bà lão. Chi
bằng ta hãy thoát khỏi chốn này. Nghị vậy xong, vị tỳ
kheo nói với bà lão: - Này lão bà, tôi muốn rời khỏi nơi
đây. - Ðại Ðức đi đâu? - Trở về Thế tôn. - Ðại Ðức
ở lại ít lâu đã. - Không tôi không thể ở lại. Tôi phải
đi ngay.
Thế
là vị đại đức của chúng ta thu xếp hành lý thoát ra khỏi
ngôi chùa bà lão, vừa đi vừa thở phào nhẹ nhõm cả người,
như vừa thoát khỏi tử nạn. Khi trở về vườn Cấp cô độc,
đến đãnh lễ Phật, Phật hỏi: - Sao, sao con không ở Mã
Ðề thôn nữa à? - Bạch Thế tôn, bà lão biết hết mọi
ý nghĩ trong tâm con. Và con nghĩ rằng, kẻ chưa chứng đạo
như con thì có khi nghĩ tốt, nhưng cũng nhiều khi nghĩ bấy.
Lỡ mà con có ý nghĩ xấu, bà lão ấy sẽ túm lấy đầu con,
và sẽ làm con khốn đốn. - Con đi, chính nơi ấy con cần
nên cư trú. - Bạch Thế tôn, con không thể nào ở chỗ ấy
được nữa. - Này tỳ kheo, con có thể giữ một điều này
thôi không? - Ðiều gì, Bạch Thế tôn, con chưa hiểu.
- Chỉ
giữ cái tâm của con, không làm việc gì khác.
Sau
khi nghe lời Phật dạy, vị tỳ kheo trở lại làng bà lão.
Với thiên nhãn bà lão biết được vị tỳ kheo sắp đắc
quả nên càng chu đáo cúng dường để hỗ trịï cho ông mau
chóng đạt mục đích. Do đó, chỉ trong vài ngày vị ấy đắc
quả A La Hán. Sau khi đắc quả, vị ấy suy nghĩ: "Bà ấy quả
thực đã giúp đỡ ta rất nhiều. Nhờ bà lão ấy mà ta thoát
ly được vòng sống chết. Không biết chỉ trong kiếp này
bà ấy giúp ta, hay nhiều kiếp trước cũng vậy?" Vị La hán
nhập định quán sát các tiền kiếp thì biết rằng trong 99
kiếp trước, bà lão đã làm vợ mình và đã ngoại tình với
những người đàn ông khác, và làm cho mình phải thật điên
bát đảo. Bà lão lại còn âm mưu giết mạng sống của mình.
Khi biết được điều ấy, vị La hán nghĩ: "Ồ tín nữ này
đã phạm biết bao tội ác!" Bà lão ngồi trong ngôi nhà riêng,
biết được tâm niệm của vị A La Hán, và nghĩ: "Vị ấy
đang nghĩ về tội lỗi 99 kiếp trước của ta. Nhưng trong
vòng luân hồi đã qua, có lần nào ta giúp vị ấy không? Bà
lão nhập định thấy ở kiếp thứ 100 về trước, bà đã
cứu mạng sống của vị A La Hán khi vị ấy là chồng bà.
Do đó, bà dùng thần giao cách cảm bảo vị La hán: - Hãy quán
sát tiếp, đi sâu hơn nữa vào quá khứ. Bằng thiên nhị thông,
vị La hán nghe được hiệu lệnh trên, và tiếp tục quán
sát đến kiếp thứ 100 về trước của mình, thì thấy quả
nhiên bà lão cứu mạng mình. Vị La hán nghĩ: "Tín nữ này
quả đã giúp ta rất nhiều". Sau khi nghĩ như vậy, ngay tại
chỗ vị ấy nhập Niết bàn vô dư y.
-ooOoo-
22.
ÔNG TRƯỞNG GIẢ KEO KIỆT
Cách
thành Vương Xá không xa có một gia đình ông trưởng giả
mệnh danh là Keo Kiệt. Bởi vì, mặc dù ông sở hữu tài sản
kho đụn chất đống, gia súc ruộng vườn chất đống, ông
không bao giờ sử dụng những của cải ấy cho vợ con hay
cho chính mình, nói gì đến người thiên hạ. Một buổi sáng,
sau khi có việc đến cung vua trở về, ông Keo Kiệt trông thấy
một người ăn xin đang gặm một miếng bánh tiu giữa đường
(thứ bánh làm bằng bột mì trộn đường bỏ vào dầu sôi
phồng lên thành một cái bánh rỗng ruột). Ông thèm quá, định
bụng về bảo vợ làm như vậy. Nhưng về đến nhà, ông suy
nghĩ: "Nếu ta nói cho bà ấy biết ta thèm bánh tiu, bà ấy
sẽ làm cho cả nhà cùng ăn thì sẽ tốn quá nhiều bột, đường,
mè, dầu mỡ và các thứ khác. Chi bằng lặng thinh tốt hơn
".
Nghĩ
vậy ông Keo Kiệt lặng lẽ vào phòng, leo lên giường nản
thở dài sườn sượt, chiến đấu với cơn thèm, nhưng sợ
hao tốn ông không dám thố lộ cùng ai nỗi thèm khát ấy.
Thấy chồng buồn bã, bà vợ đến bên hỏi han: - Sao ông buồn
rầu như vậy? Có chuyện gì không? - Không có gì đâu, bà
ạ . - Vua có quở trách ông chăng? - Không có. - Các con trai,
con gái, dâu rễ, cháu chắc, người ăn kẻ làm, tôi tớ trong
nhà, có đứa nào làm ông phất lòng hay không? - Tuyệt đối
không có chuyện ấy. - Vậy thì, hay là ông đang ao ước một
chuyện gì? Ông keo kiệt nghe vợ nói vậy, càng sợ tốn hao
của cải, nên nhất quyết không hở môi, vẫn nằm bất động
mà thở dài. Bà vợ năn nỉ:- Này, ông hãy nói đi, ông muốn
cái gì thì bảo? Ông trưởng giả nuốt nước bọt đánh ực
một cái, rồi mới thở dài não nuột bảo: - Phải, tôi đang
thèm một chuyện. - Thèm chi, ông hãy nói ra thử tôi nghe. -
Tôi thèm ăn một cái bánh tiu. Trời đất quỷ thần đi! Bộ
mình nghèo lắm sao? Tại sao ông không bảo tôi ngay? Thứ bánh
đó làm dễ ợt. Tôi có thể làm ngay một mớ bánh tiu cho
dân chúng cả thành phố này ăn. - Này, nhưng tại sao bà nghĩ
điên rồ như vậy? Dân chúng ai làm nấy ăn mắc gì tới bà?
- Vậy thì, tôi có thể làm bánh cho hết thầy người ở con
đường này ăn. - Cái đầu của bà làm sao vậy, hả? Tại
sao lại cứ nghĩ chuyện ngoài đường? - Vậy, tôi có thể
làm bánh cho cả nhà ăn. - Bà điên mất rồi. Bà có biết
nhà ta đông đến mấy trăm mấy ngàn miệng ăn không? - Vậy,
tôi sẽ làm bánh cho ông, tôi và các con chúng ta ăn. - Tại
sao bà phải bận tâm tới chúng nó? - Vậy, tôi sẽ làm bánh
cho ông và tôi ăn thôi. - Nhưng còn bà , bà ăn bánh tiu làm
gì đã chứ? -Vậy, thì tôi chỉ làm bánh cho một mình ông
ăn thôi. - Bà nói vậy nghe mới được. Nhưng ở trong cái
nhà này, chúng ta làm gì cũng có nhiều người trông thấy.
Vậy bà hãy đem bột đường dầu mè và các thứ soong chảo
lò bệ đi với tôi lên tuốt trên tầng lầu thứ bẩy, ở
chót vót trên cao ấy, chúng ta mới làm bánh được, khỏi
bị ai dòm ngó. - Ðược rồi. Bà vợ soạn tất cả dụng
cụ và vật dụng làm bánh, lễ mễ bưng lên tầng lầu chót.
Ông trưởng giả xách xâu chìa khóa đi theo khóa hết các lối
đi lên. Sau khi đến tầng lầu cuối, khóa cửa xong, ông mới
bảo vợ bắt đầu khuấy bột chiên bánh.
Lúc
ấy, tại Kỳ viên tịnh xá, Ðức đạo sư bảo tôn giả Mục
Liên: - Này Mục Liên, trong thành phố kia, có ông trưởng giả
keo kiệt đang ngồi trên tầng lầu chót mà chiên bánh vì sợ
người thấy. Vậy, ông hãy vận thần thông đến đó, đem
tất cả người và bánh lại đây cho ta. Trưa nay, ta và chúng
tỳ kheo sẽ độ ngọ bằng rỗ bánh ấy và cải hóa trưởng
giả keo kiệt. - Thưa vâng , bạch Thế tôn. Tôn giả Mục Liên
vâng lời, vận thần thông đi đến chỗ trưởng giả. Ngài
hiện hình đắp y chỉnh tề đứng giữa hư không, ngay trước
cửa sổ. Ông Keo Kiệt nhìn ra giật mình tự nhủ: "Chính vì
sợ gặp những người như vậy mà ta mới leo tấn đây, Thế
mà sa môn này cũng lò dò tới được, lại đứng ngay trước
cửa sổ!" Rồi ông tức giận nói lớn: Này, tỳ kheo kia, muốn
gì mà đứng như trời trồng ở đó? Dù ngươi có đi tới
đi lui cho mỏi cả chân, cho thành một con đường mòn giữa
hư không, ngươi cũng không được gì đâu." Tức thì, vị
tôn giả khởi sự đi tới đi lui. Ông Keo Kiệt tức mình bảo:
"Ngươi đi lui đi tới làm chi cho mất công! Dù ngươi có ngồi
kiết già giữa trời, ngươi cũng không được gì đâu!" Tôn
giả liền ngồi giữa hư không. Ông Keo Kiệt bảo: - Ngồi
kiết già làm chi đó? Vô ích mà thôi. Cho dù ngươi có phun
ra khói đi nữa, ngươi cũng không được gì đâu. Tôn giả
liền phun khói vào cửa sổ, khói lên đầy đặc cả gian phòng.
Sợ tôn giả sẽ làm gian phòng phát hỏa nên ông keo kiệt
không dám nói thêm "dù ngươi có phun lửa, ngươi cũng không
được cái bánh nào!" Ông tự nhủ: "Sa môn lì lợm này có
lẽ nhất quyết ăn cho được cái bánh của mình mới chịu
đi". Rồi ông bảo vợ: - Này bà, thôi hãy chiên một cái bánh
nhỏ xíu đưa ông ta đi cho xong. Bà vợ lấy một ít bột bỏ
vào chảo dầu. Nhưng cái bánh phồng lên đầy cả chảo. Ông
bảo bà: - Bà lấy nhiều bột quá. Ðể tôi lấy cho. Ông lấy
một chút bột dính đầu muỗng bỏ vào chảo. Do thần lực
của tôn giả, cái bánh này còn lớn hơn cái bánh trước.
Ông Keo Kiệt cứ tưởng mình lấy quá nhiều bột, nên tiếp
tục chiên cái khác nhỏ hơn mới đem cho. Nhưng càng ngày bánh
cứ càng lớn thêm, không thấy cái nào nhỏ cả, ông bèn bảo
bà - Thôi, bà hãy lấy đưa cho ông ấy bất cứ cái nào, một
cái một mà thôi.
Bà
vợ lấy một cái bánh đã chiên từ nơi rỗ. Nhưng bà không
rứt ra được cái nào, nên bảo: - Ông đi, bánh mắc dính
vào nhau. Tôi không thể nào gỡ ra được một cái. - Ðể
tôi gỡ cho. Rồi ông cầm một cái bánh, bà cầm rỗ bánh,
cả hai cố kéo cho rứt ra một cái mà biếu vị sa môn. Nhưng
ông không tài nào rứt ra được, mồ hôi đổ ra nhễ nhại,
ướt cả mặt mày y phục. Mắt hai vợ chồng đỏ ngầu vì
khói do tôn giả phun ra. Cuối cùng ông trưởng giả mệt nhoài,
không thiết gì nữa, bảo vợ: - Này bà, tôi không ăn uống
gì nữa hết. Bà hãy đem hết rỗ bánh cúng dường vị sa
môn đi.
Mục
Liên tôn giả thu hồi thần lực làm cho hết khói, rồi thuyết
pháp cho ông keo kiệt nghe. Nghe xong, ông phát sinh lòng tin thanh
tịnh đối với Tam bảo, cung kính mời: - Bạch Tôn giả, xin
ngài hãy tới đây, ngồi trên chỗ này mà dùng bánh của con.
- Này trưởng giả, đức Ðạo sư đang chờ dùng bánh này.
Ta hãy đem tới cúng dường Ngài. - Bạch tôn giả, nhưng hiện
Ngài ở đâu? - Ngài đang ở Kỳ viên tinh xá, cách đây chừng
45 dặm. - Quỷ thần ơi, xa như vậy làm sao chúng con tới kịp
giờ Ngài dùng ngọ? - Trưởng giả, nếu ngươi muốn, ta sẽ
đưa ngươi vợ ngươi và bánh đến nơi Ngài trong chớp mắt.
Ðỉnh cầu thang sẽ ở nguyên chỗ, nhưng cái chân cầu thang
này sẽ ở ngay cổng vào tinh xá. Các ngươi sẽ đến đó
trong khoảng thời gian ngắn hơn đi bộ xuống bảy tầng lầu.
- Bạch tôn giả, như vậy rất tốt.
Tôn
giả hóa phép cho cái chân cầu thang ở ngay cổng tinh xá .
Vợ chồng ông keo kiệt xuất hiện trước Ðấng Ðạo sư,
đảnh lễ và thỉnh Phật dùng bánh. Khi Phật và chúng tỳ
kheo ngồi vào phòng ăn, ông trưởng giả đặt một cái bánh
vào bát của Ngài. Tăng chúng thì dùng bánh nơi rỗ do bà vợ
dâng lên. Vợ chồng trưởng giả cũng được dùng bánh cho
đến khi thỏa thích. Sau khi đức Phật, Tăng chúng và hai cư
sĩ dùng xong bữa, rỗ bánh vẫn còn nguyên vẹn như cũ. Ðức
Phật bảo đem bánh ấy để ngoài cổng tinh xá cho chim ăn.
Ðến nay nơi ấy vẫn còn được gọi là động Bánh.
Ðức
Phật thuyết tùy hỷ pháp cho hai cư sĩ. Khi nghe xong thời pháp,
của Phật, ông bà trưởng giả đều đắc quả Dự lưu (Nhập
dòng thánh). Họ đảnh lễ Phật, bước lên cầu thang, và
do thần lực của tôn giả Mục Liên, đến ngay tầng bảy
của tòa lâu đài mình. Ðức Thế tôn nhân đấy đã khen tôn
giả Mục Liên một lời về sau được ghi vào kinh Pháp Cú
như sau:
"NÀY
CÁC TỲ KHEO, MỘT VỊ TỲ KHEO MUỐN CẢI HÓA MỘT GIA ÐIÌNH
MÀ KHÔNG LÀM MẤT TÍN TÂM CỦA HỌ, KHÔNG LÀM HAO TỔN TÀI
SẢN CỦA HỌ, KHÔNG PHIỀN NHIỄU HỌ, THÌ PHẢI NHƯ ONG HÚT
MẤT HOA, CHỈ GIỮ LẤY MÙI VỊ, KHÔNG LÀM TỔN THƯƠNG HƯƠNG
SẮC VÀ NHƯ VẬY CHÍNH LÀ HẠNH CỦA PHÁP TỬ MỤC LIÊN."
-ooOoo-
23.
TÔN GIẢ TÍ HON
Thuở
Phật còn tại thế, một hôm vị đệ tử Ðại trí của Ngài,
Tôn giả Xá Lợi Phất, đi khất thực trong thành Vương xá,
Ngài bỗng nhớ tới một người bạn nghèo của thân phụ,
và muốn đến gieo phước cho ông. Tôn giả đi đến nhà ộng
lão. Khi thấy Tôn giả từ xa đi lại, ông lão nghĩ thầm "
Kìa là cháu Upatissa (tên của Tôn giả lúc ở đời) yêu dấu
của ta ngày xưa đến khất thực. Y không biết rằng ta chẳng
còn gì để cho y ". Nghị thế, ông lão lánh mặt, tự nhủ
xin được chút gì mới cúng dường tôn giả. Ít hôm sau, ông
lão kiếm được một ít cháo và một mảnh y phục nhờ sự
tụng đọc kinh điển Bà la môn. Ông định bụng sẽ cúng
dường tôn giả. Lúc ấy tôn giả đang nhập định, quán sát
ông lão muốn bố thí, nên ngài xuất định, ôm bát đến
nhà ông lão. Khi tôn giả đến trước cửa như thường lệ,
ông lão ra đãnh lễ tôn giả, mời vào nhà để cúng dường.
Tôn giả chỉ nhận phân nửa bát cháo, rồi đấy nạp bát.
Nhưng ông lão năn nỉ: "Bạch tôn giả, đây chỉ có một phần
ăn. Xin tôn giả nhận tất cả, cho con được phước báu đời
sau. Con muốn cúng tất cả cho Ngài. Nói rồi ông đổ trọn
bát cháo vào bát tôn giả. Tôn giả Xá Lợi Phất dùng cháo
ngay tại chỗ. Khi Ngài dùng xong ông lại cúng nốt mảnh y
phục cho Ngài: - Bạch Tôn giả, nguyện cho con đời sau có
trí tuệ siêu việt như Ngài. - Này Bà la môn, ngươi sẽ được
toại nguyện. Tôn giả đáp, và sau khi nói lời tùy hỷ công
đức, Ngài đứng lên tiếp tục du hành đến Kỳ viên tinh
xá.
Ông
lão sau khi cúng dường Tôn giả thì vui mừng vô hạn, và càng
tăng lòng ái mộ đối với Tôn giả. Do sự kính ái này, ông
lão thác sinh vào gia đình một thí chủ thường xuyên của
Tôn giả Xá Lợi Phất. Khi bà tín nữ mang thai, bà đâm ra
khát khao hơn bao giờ hết, được cúng dường cháo hàng ngày
cho chúng tỳ kheo của Tôn giả Xá Lợi Phất gồm tất cả
500 vị. Bà khao khát được mặc y vàng, đến ngồi ngoài cổng
tinh xá mà chực ăn phần cháo thừa của chúng Tăng, để thừa
hưởng phước trí trang nghiêm. Thân quyến và chồng bà giúp
bà thực hiện ước nguyện ấy, cúng dường cháo hàng ngày
cho chúng tỳ kheo. Có người cho rằng sự thích mặc áo vàng
của bà là điềm báo trước người con trong bụng sẽ là
một vị tỳ kheo đệ tử Phật, và họ lấy làm sung sướng.
Ðúng kỳ sinh nở, một hài nhi xinh đẹp ra đời, cả gia đình
hân hoan đón tiếp. Họ tắm em bé bằng nước thơm, mục cho
em bé những y phục vô cùng quý giá đã may sẵn từ trước,
và đặt em bé n?n trong một chiếc nôi lộng lẫy như một
hoàng cung, đạp cho em bé một cái mền gấm sang trọng. Rồi
thỉnh tôn giả Xá Lợi Phất và chúng tỳ kheo đến quy y cho
em bé. Khi tôn giả đến em bé đang nằm ngửa nhìn chăm chăm
vào Tôn giả với một cặp mắt tinh anh lạ kỳ, một cách
nhìn trìu mến như đối với người đồng hàng quyến thuộc.
Em bé nghĩ: "Ðây là thầy của ta đời trước, nhờ Ngài mà
ta được sang quý ở đời này. Ta phải cúng dường Ngài một
cái gì." Khi người mẹ ẵm em bé lên để thụ tam quy, ngũ
giới với tôn giả, những ngón tay của em bé quấn vào trong
cái mền gấm. Gia nhân la lên: "Kìa, tay em bé bị kẹt trong
cái mền gấm", và chạy lại gỡ ra thì em bé òa khóc như
không muốn rời. Người mẹ nói: "Ðể vậy đừng làm em bé
khóc", và ẵm con đến cho Tôn giả. Khi đến trước Tôn giả,
em bé thả tay cho cái mền rớt phủ trên chân Ngài. Người
mẹ thông ngôn rằng: - Bạch Tôn giả, xin Ngài nhận cho con
của cúng dường này, và cho con được thụ tam quy ngũ giới
làm đệ tử ngài. Tôn giả hỏi tên đứa bé đó là gì? -
Bạch Tôn giả xin ngài cho hài nhi cái tên của ngài lúc tại
thế. - Vậy nó sẽ mang tên Tích Sa (Upasstisa là tên của tôn
giả ).
Khi
được bảy tuổi Tích sa nói với mẹ: - Thưa mẹ, con muốn
xuất gia theo Tôn giả Xá Lợi Phất. - Tốt lắm cho con xuất
gia. Rồi bà mời Tôn giả lại rồi bạch: - Bạch tôn giả,
đệ tử của Ngài xin được xuất gia với Ngài. Chiều nay
con sẽ đưa y đến tu viện. Sau khi đươc Tôn giả nhận lời,
bà mẹ sắm nhiều lễ vật cúng dường, và dẫn chú bé đến
Kỳ viên tinh xá. Tôn giả nói với Tích Sa:
- Tích
Sa này, đời sống của người xuất gia rất cam khổ. Khi muốn
ấm nhà ngươi phải gặp lạnh, muốn mát ngươi lại gặp
nóng. Những tỳ kheo phải sống ngược đời như thế đấy.
Liệu ngươi có sức chịu đựng không?
- Bạch
Tôn giả con sẽ làm tất cả những gì ngài dạy bảo.
- Tốt
lắm.
Rồi
Tôn giả dạy cho Tích Sa quán pháp bất tịnh bằng cách học
5 món đầu trong 32 món ô uế trong thân là tóc, lông, móng,
răng, da. Tôn giả lại truyền cho Tích Sa thấp giới và từ
đó Tích Sa khởi sự cuộc đời của một chú tiểu.
Ðể
mừng việc xuất gia của con, cha mẹ Tích Sa cúng dường cháo
thấp cẩm cho toàn thể chúng tăng ở Kỳ viên suốt một tuần
lễ. Những tỳ kheo chưa chứng quả không ngớt thì thầm với
nhau: "Ngon thật. Ðâu phải chúng ta luôn luôn được như thế
này".
Sau
bảy ngày thết đãi chúng tăng, cha mẹ tích Sa từ giã trở
về nhà. Qua ngày thứ tám, chú tiểu Tích sa bắt đầu ôm
bát đi bọc hậu đoàn tỳ kheo do tôn giả Xá Lợi Phất dẫn
đầu, để vào thành Xá vệ khất thực.
Những
người trong thành phố bảo nhau: "Nghe đồn hôm nay chú tiểu
Tích sa sẽ đi khất thực trong thành phố. Ta hãy sửa soạn
tặng phẩm cúng dường". Bởi thế, khi Tích Sa vào thành, những
người quen biết cha mẹ chú tiểu đều đem phẩm vật cúng
dường tới tập. Chú tiểu nhận được 500 bát đầy phẩm
vật và 500 bộ y phục đem về chùa. Hôm sau, những người
chưa được cúng lại thân hành đem phẩm vật t?i tinh xá.
Chú tiểu nhận thêm 500 bát, 500 y, rồi dâng tất cả một
ngàn y, một ngàn bát cho chúng tỳ kheo tại tinh xá Cấp cô
độc. Do đó chú được đại chúng mệnh danh là thí chủ
Tích Sa.
Một
hôm vào thời tiệt giá buốt, trong khi Tích Sa quét dọn chung
quanh tinh xá, chú tiểu thấy chư tăng tụm năm tụm ba đang
sưởi bên những đống lửa, bèn hỏi:
- Bạch
chư Ðại đức, tại sao chư Ðại đức phải hơ lửa vậy?
(Trẻ con thường không biết rét là gì).
- Chú
tiểu đi chúng tôi lạnh cóng cả người phải hơ cho ấm.
- Bạch
chư Ðại đức khi nào trời rét thì ta đắp mền cho ấm.
Mền sẽ ngăn cái lạnh không cho thấm vào cơ thể.
- Chú
tiểu có nhiều phước đức mới có mền mà đạp, chớ chúng
tôi làm sao có mền được?
- Bạch
chư Ðại đức, thế thì ngày mai, vị nào cần mền xin hãy
đi với con vào thành.
Rồi
chú xin chư tăng thông báo như vậy cho chúng tỳ kheo trong tinh
xá. Bởi vậy hôm sau có một ngàn vị tỳ kheo cùng đi theo
chú tiểu. Trước khi vào thành Xá vệ, chú ghé từng nhà ở
ngoài thành và đã được 500 cái mền. Khi vào thành mọi người
đổ xô đến cúng dường theo lời yêu cầu của chú tiểu.
Tại một cửa tiệm, ông chủ đang ngồi sau một đống mền
cao ngất. Một người đi đường đến rỉ tai:
- Này,
có một chú tiểu đang đi xin mền đấy, nên giấu hết đi.
Ông chủ nói:
- Nếu
tôi muốn cho, thì tôi cho. Không muốn thì tôi không cho. Giấu
làm gì?
Nhưng
khi người kia đi khỏi ông chủ ngẩm nghĩ, và giấu bớt hai
cái mền thượng hạng trong số mền bày bán. Ngay lúc ấy
Tích Sa cũng vừa đến. Mới thấy mặt chú tiểu ông đã đem
lòng thương mến vô cùng. Cả người ông tràn ngập một niềm
kính yêu chan chứa. Ông nghĩ: "Coi đáng yêu chưa tề! Trông
mặt mũi một bé trai kháu khỉnh như thế kia, thì dù có đem
cho cả thịt da tim ruột của ta, ta cũng không tiệc, nói chi
tới vài ba cái mền". Và lập tức, ông rút ngay cái mền quí
giá nhất đặt dưới chân Tích Sa, đảnh lễ mà bạch:
- Bạch
Ðại đức, mong sao con được thấm nhuần ánh sáng đạo mà
ngài đã thấy.
- Cư
sĩ sẽ toại nguyện.
Chú
tiểu chúc tụng, rồi nói lời tùy hỷ công đức. Ngày hôm
ấy chú tiểu nhận đúng một ngàn cái mền cho chúng tỳ kheo.
Do đó, chú lại được mệnh danh là người cho mền. đó là
nhờ công đức lúc mới sinh Tích sa đã cúng dường mền cho
Tôn giả Xá Lợi Phất.
Tại
tinh xá Kỳ viên, chú tiểu Tích Sa phải tiếp đón những cậu
bé bạn cũ đến thăm . Ngày nào chúng cũng tới, hỏi han mọi
chuyện, làm cho chú không có thì giờ mà tham thiền nhập định
gì hết. Nghĩ rằng sanh tử là việc lớn, chú đến xin Ðức
Phật một đề mục thiền định để rút vào rừng sâu tu
tập.
Khi
đến một khu làng, Tích sa gặp một ông lão. Chú hỏi:
- Thưa
cư sĩ, gần đây có một cánh rừng nào để tu sĩ ẩn cư
không?
- Bạch
Ðại đức, có.
- Vậy,
xin người hãy chỉ đường cho tôi đến đó.
Mới
nhìn chú, ông lão đã có cảm tình, nên bằng lòng dẫn chú
đi. Vừa đi chú vừa hỏi ông lão địa danh những nơi đi
qua. Khi tới rừng, ông lão nói:
- Bạch
Ðại đức, đây là chỗ tốt lành. Ngài hãy ở đây và xuống
làng chúng tôi mà khất thực.
Dân
chúng yêu kính chú khôn cùng và năn nỉ: "Ðại đức ở đây
thật lâu với chúng tôi để chúng tôi được thọ tam quy
ngũ giới với ngài".
Họ
cúng dường những vật dụng cần thiết cho Tích Sa. Mỗi khi
nhận Tích sa đều chúc lành cho thí chủ như sau:
- Mong
thí chủ được hạnh phúc an vui. Mong thí chủ thoát khỏi
khổ ách.
Sau
hai tháng ở rừng nỗ lực tu tập thiền định, Tích Sa chứng
quả A La Hán. Bấy giờ tôn giả Xá Lợi Phất có ý định
thăm chú, nên bạch Phật:
- Bạch
Thế tôn, con sẽ đi thăm chú tiểu Tích Sa.
- Ðược,
ngươi cứ đi.
Tôn
giả đến bên người bạn cố tri của ngài là tôn giả Mục
Kiền Liên:
- Hiền
huynh, Tôi sẽ đi thăm Tích sa.
- Tôi
cũng đi với.
Và
tất cả những vĩ đại đệ tử của Phật như ngài Ca Diếp,
A Nậu Lâu Ðà, Ưu Ðà Di, Phú Lâu Na,v.v... đều đi cùng tôn
giả Xá Lợi Phất để thăm chú tiểu ở trong rừng. Khi đoàn
Thánh chúng đến, dân cư tiếp đón nồng nhiệt. Họ vô cùng
hân hoan được trông thấy vị Thánh đệ tử Xá Lợi Phất
nổi danh thiên hạ, và xin ngài ban cho một thời Pháp. Nhưng
tôn giả từ chối:
- Ta
đến thăm chú tiểu Tích Sa của ta cái đã.
Khi
Tích Sa được tin, chú xuống làng thi lễ, và làm bổn phận
của một chú tiểu đối với những vị trưởng thượng đầy
uy đức của mình. Chỗ nghỉ ngơi đã được dân cư lo chu
đáo tại một ngôi chùa trong làng. Họ lập lại lời thỉnh
cầu nghe Pháp, mặc dù trời đã tối. Tôn giả Xá Lợi Phất
nói:
- Vậy,
hãy đốt đèn lên và loan tin cho Phật tử xa gần đến nghe.
Khi
dân làng tề tựu, tôn giả Xá Lợi Phất bảo Tích sa: - Này
Tích sa, các thí chủ của con ngỏ ý muốn nghe pháp. Con hãy
nói pháp cho họ đi.
Toàn
thể dân làng đều đồng thanh thưa:
- Bạch
Tôn giả, vị đại đức của chúng con không biết gì ráo,
ngoài ra hai câu: "Mong gia chủ được hạnh phúc an vui, mong
gia chủ thoát khỏi khổ ách." xin Ngài cho vị khác nói pháp
cho chúng con nghe.
Khi
ấy tôn giả hỏi chú tiểu:
- Tích
sa, nhưng làm sao để được hạnh phúc an vui? Người ta phải
làm thế nào để thoát khỏi khổ ách? Con hãy giải rộng
hai câu ấy.
- Thưa
vâng, bạch Tôn giả.
Tích
Sa thăng tòa, giảng như nước chảy về khổ đế, nguyên nhân
khổ, Niết bàn và con đường đưa đến tịch diệt. Và chú
kết luận:
- Bạch
chư Tôn giả, đó là đường đi của một vị A La Hán để
thoát khỏi khổ ách, để được an vui.
- Giỏi!
Con đã thông thuộc rành rẽ giáo pháp.
Những
cư dân nghe xong thời pháp đều rất ngạc nhiên. Một số
mừng vì lâu nay được cúng dường một vị thông tuệ, nhưng
một số tỏ ý bất mãn, bảo nhau:
- Không
dè vĩ đại đức thuyết pháp hay như vậy. Tại sao lâu nay
đại đức cứ câm miệng hến không chịu nói gì cả? Thật
gan lì.
Từ
tinh xá Cấp cô độc, đức Thế tôn biết được tâm niệm
bất kính của những cư dân này đối với Tích Sa. Ngài động
lòng từ bi, muốn cho họ khỏi tội báo xúc phạm một vị
A La Hán, nên đích thân đến làng thăm chú tiểu. Khi thấy
đức Phật thân hành đi đến làng để thăm Tích sa, dân làng
mới hoàn toàn công nhận tầm quan trọng của vĩ đại đức
tí hon ấy. Ngài bảo Tích Sa đưa ngài lên ngọn núi cao nhất
từ đó có thể nhìn xuống biển cả, và hỏi:
- Tích
Sa, khi đứng trên đỉnh núi này, nhìn quanh con thấy gì?
- Bạch
Thế tôn, con thấy nước biển mênh mông không bờ bến.
- Con
nghĩ gì khi thấy đại dương?
- Bạch
Thế tôn, con nghĩ: trong vô số kiếp luân hồi, ta đã đổ
bao nhiêu là nước mắt để khóc vì những nỗi đau khổ,
nước mắt ta có lẽ còn nhiều hơn nước mắt trong bốn biển
lớn kia.
- Ðúng
lắm, Tích Sa.
Rồi
ngài đi thăm động đá nơi Tích Sa cư trú.
- Con
nghĩ gì khi cư trú nơi đây?
- Bạch
Thế tôn, con nghĩ: Ta đã chết vô số lần, vô số lần thi
hài ta đã nằm trên đất này.
- Ðúng
lắm, Tích Sa! Không có một nơi nào trên mặt đất mà chúng
sinh không xả bỏ thân mạng vô số lần ở đó.
Và
Ngài hỏi tiếp:
- Tích
Sa, khi con nghe tiếng hổ báo gầm trong rừng sâu con có sợ
không?
- Bạch
Thế tôn, con không sợ. Trái lại một niềm yêu thích núi
rừng lại dâng lên trong tâm khảm con.
Và
Tích Sa đã đọc cho Phật nghe 60 bài thơ mình đã cảm hứng
từ rừng sâu.
Sau
khi thăm các nơi, đức Thế tôn từ giã:
- Tích
Sa, bây giờ ta trở về tinh xá. Con muốn đi theo ta, hay ở
lại rừng?
- Bạch
Thế tôn, nếu thầy con (chỉ Tôn giả Xá Lợi Phất) muốn
con trở về, con sẽ trở về. Ngài muốn con ở lại, con sẽ
ở lại.
Tôn
giả đoán biết Tích Sa không muốn trở về nên bảo:
- Tích
Sa, con hãy ở lại rừng, nếu con muốn vậy.
Tích
Sa đảnh lễ Phật và chư Tôn giả rồi quay trở về rừng,
sau khi đưa tiễn các Ngài một quãng xa.
Tại
Diệu pháp đường trong tinh xá Cấp cô độc, khi chúng tỳ
kheo ngồi bàn tán về hạnh xả ly của Tích Sa, họ không ngớt
lời tán thán:
- Khó
thay, những gì Tích Sa đã làm! Bỏ tất cả lợi dưỡng, cung
kính, để rút vào ẩn cư trong rừng sâu!
Ðức
Phật nhân đó thốt lên bài kệ thứ 75 trong kinh Pháp cú:
"MỘT
NẺO ÐƯỜNG DẪN ÐẾN THẾ LỢI, MỘT NẺO ÐƯỜNG KHÁC DẪN
ÐẾN NIẾT BÀN. HÀNG TỲ KHEO ÐỆ TỬ ÐẤNG GIÁC NGỘ KHI
HIỂU NHƯ VẬY, KHÔNG NÊN THAM ÐẮM LỢI DƯỠNG THẾ GIAN, MÀ
PHẢI CHUYÊN TÂM VÀO HẠNH ÐỘC CƯ THIỀN ÐỊNH."