16.
CẢI HÓA NANDA
Ðôi
khi vì mục đích giáo hóa, đức Thế tôn cũng sử dụng thần
thông, như trường hợp cải hóa Nanda, người em cùng cha khác
mẹ với ngàì.
Lúc
còn tại gia, Nanda có người vợ mới cưới rất xinh đẹp
thuộc dòng Sakya. Một hôm Phật về thăm và khi ngài từ giã,
do mãnh lực từ tâm nơi ngài, Nanda đã đỡ lấy cái bát của
ngài và định theo tiễn chân một đoạn. Nào ngờ, họ tới
cổng tinh xá lúc nào không hay. Lúc ấy chư tăng đang tọa
thiền trong vườn cây khả ái, bầu khí thanh tịnh trang nghiêm
gây chấn động sâu xa trong tâm Nanda. Ông cao hứng xin Phật
cạo tóc tu luôn. Phật hứa khả.
Sau
một thời gian, ông đâm ra thẫn thờ, buồn bã, không thích
tọa thiền, khất thực nữa. Người ông càng ngày càng bơ
phờ hốc hác, râu tóc mọc dài, ông sống như một kẻ xa
lạ giữa chúng tăng. Bằng hữu hỏi thăm, ông thú thực: "Ðời
sống phạm hạnh không làm cho tôi hoan hỉ. Tôi muốn hoàn
tục." Các tỳ kheo đến bạch Phật, ngài bèn cho gọi Nanda
đến hỏi:
- Nanda,
có phải ngươi không thích sống đời phạm hạnh nữa?
- Dạ
phải, bạch Thế tôn.
- Tại
sao thế, Nanda?
- Bạch
Thế tôn, con có người vợ xinh đẹp mới cưới. Khi con ôm
y bát theo hầu Thế tôn, nàng đang đứng tựa cửa, tóc mới
chải nửa đầu, âu yếm nhìn con mà bảo: "Quý tử hãy mau
về." Bạch Thế tôn, con không thể nào quên được hình đáng
và giọng nói của nàng lúc ấy.
Ðức
Phật cầm lấy tay Nanda. Bỗng nhiên, tôn giả thấy mình đi
theo Phật, từ từ thăng hư không, càng lúc càng nhanh hơn cả
phi cơ phản lực. Ngang một khu rừng bốc cháy, Nanda trông
thấy những con khỉ bị cháy đuôi, mặt mày nhăn nhó trông
rất buồn cười. Nanda cùng Phật đến cung trời Ðế thích.
Tại đấy, trong những khu vườn khoái lạc, có vô số thiên
nữ tuyệt đẹp đang hái hoa kết thành chuỗi mà đeo cho vị
vua trời, trông thật là một cảnh dập dìu tài tử. Nanda
đang ngây ngất trước vẻ mỹ miều của các nàng tiên, thì
đức Thế tôn đã dắt tay ông trở về trần thế, đến vườn
Cấp cô độc. Thế tôn hỏi:
- Nanda,
ngươi thấy sao? Các thiên nữ trên cung trời so với người
con gái ngươi tưởng nhớ, ai đẹp hơn ai?
- Bạch
Thế tôn, so với những thiên nữ kia, thì nàng con gái dòng
Sakya trong nước này chỉ như con khỉ cháy đuôi mà con đã
thấy.
- Vậy,
Nanda, hãy hoan hỉ ở lại tu tập, ta sẽ đền bù cho ngươi
năm trăm thiên nữ.
Nanda
phấn khởi thưa:
- Bạch
Thế tôn, nếu Thế tôn hứa cho con năm trăm thiên nữ, thì
con rất hoan hỉ ở lại.
Các
tỳ kheo khi biết Nanda vì muốn thọ hưởng khoái lạc cõi
trời mà tu tập, bèn chế riễu tôn giả là kẻ làm mướn,
kẻ buôn bán. Họ dần dần lánh xa tôn giả. Nanda cảm thấy
tủi nhục, bèn xin Phật rút vào rừng sâu độc cư thiền
tịnh. Trải qua một mùa an cư, tôn giả chứng quả A La Hán.
Sau khi chứng quả, tôn giả trở về bạch Phật:
- Bạch
Thế tôn, con xin giải tỏa cho Thế tôn lời hứa đền bù
năm trăm thiên nữ.
- Lành
thay Nanda, nay ngươi đã chứng quả, nhờ vậy ta được giải
thoát khỏi lời hứa đền bù thiên nữ cho ngươi. Chư thiên
cũng đã báo trước cho ta việc này.
(Thuật
theo Kinh Phật tự thuyết - Bản dịch của Hòa thượng Minh
Châu)
-ooOoo-
17.
VUA ĂN THỊT NGƯỜI
Thuở
ấy Bồ tát ra đời tại kinh đô xứ Kuru, làm thái tử với
tên Sutasoma. Khi thái tử đã đến tuổi trưởng thành, vua
cha cho đi du học. Cùng du học với thái tử, có hàng trăm
đông cung thái tử của các tiểu quốc khác thuộc xứ Ấn
độ, trong đó có bạn thân nhất là thái tử con vua xứ Ba
la nại. Chẳng bao lâu thái tử Sutasoma đã tỏ ra bậc xuất
chúng, thầy bạn đều kính nể. Các vị hoàng tử khác bỏ
thầy, xin thọ giáo cùng thái tử Sutasoma. Khi tất cả thái
tử đã thành tài trở về nối ngôi vua, họ đều suy tôn
Sutasoma là bậc quốc sư của họ và hứa sẽ vâng theo tất
cả những lời giáo huấn của thái tử ấy. Sutasoma tổ chức
một tiệc chia tay trước khi mọi người trở về bổn quốc
lãnh đạo quốc dân. Trong tiệc ấy, thái tử khuyên các vì
vua tương lai hãy giữ ngũ giới, tuân hành lễ bố tát mỗi
nửa tháng, và cai trị với đức công bình bác ái, đặt quyền
lợi toàn thể lên trên quyền lợi và sở thích bản thân.
Sau khi mọi người làm lễ long trọng tuyên hứa, thái tử
cùng họ chia tay để về bổn quốc. Từ đấy, khi các vua
có vấn đề khó giải đều gởi thư đến hỏi ý kiến của
thái tử. Thỉnh thoảng kèm theo thư là những gói quà biểu
hiện lòng thương mến của họ đối với Sutasoma.
Nhưng
có một vị vua, người bạn đầu tiên của thái tử tại
khóa huấn luyện ngày trước, bây giờ đâm ra lêu lổng. Không
bữa ăn nào của ông mà không có thịt, và mặc dù ông cũng
tuân theo lời dạy của thái tử Sutasoma giữ kỳ bố tát mỗi
nửa tháng và ăn chay vào ngày rằm mồng một, vua này không
thể quên thịt đến nỗi người nấu bếp của ông phải
làm sẵn con gà con nai gì đó để khi 12 giờ đêm điểm qua
ngày mồng hai hoặc mười sáu mỗi tháng, là phải dọn ra
cho vua ăn ngay. Một hôm phần thịt để dành bị chó trong
cung tha mất, tên đầu bếp gần đến giờ phát giác đã mất
thịt, hoằng hốt bối rối y bèn nẩy ra một ý kiến, và
vội chạy ra chỗ giam tử tù sắp hành quyết, y xẻo một
miếng thịt đùi của một tử tội đem vào, cắt thái, bỏ
gia vị nấu đem dâng vua. Khi 12 giờ đã điểm, Vua ngồi vào
bàn tiệc, xung quanh có nhiều cận thần túc trực. Vua cầm
miếng thịt đùi người lên ăn. Vừa bỏ vào miệng, vua bỗng
nghe một chấn động rung chuyển tất cả thớ thần kinh trong
người, đảo lộn cả cơ thể nhà vua. Tại sao vậy? Tại
vì trước đây trong tiền kiếp vừa qua, vua là một quỷ Dạ
xoa đã ăn bộn thịt người, cho nên bây giờ vua thấy khoái
cảm tận tủy sống.
Nhưng
vua nghĩ nếu im lặng ăn thì có lẽ tên đầu bếp sẽ không
chịu nói đây là thịt con gì, như vậy làm sao vua biết được?
Bởi vậy vua giả vờ nôn ọe ra một miếng. Tên đầu bếp
đứng bên biến sắc, nhưng vội trấn tỉnh lại và tâu: "Tâu
bệ hạ, bệ hạ cứ ăn đi, không sao đâu ạ ". Vua cho mọi
cận thần lui về nghỉ, rồi bảo tên đầu bếp: "Ta biết
là không sao đâu. Nhưng thịt con gì vậy?" - Tâu bệ hạ cũng
như thịt mọi ngày. - Nhưng, ta nghe có mùi khác. - Tâu bệ
hạ, có lẽ hôm nay thần nấu ngon hơn. - Nhà ngươi bỏ cùng
một thứ gia vị như mọi ngày chứ? Tên đầu bếp yên lặng
lúng túng. Vua giặc: - Nói thật đi, không thì nhà ngươi sẽ
chết. Tên đầu bếp đành nói thật, sau khi khẩn khoản xin
vua tha mạng sống. Nhưng lạ thay , khi nghe xong nhà vua bảo:
- Ðừng nói cho ai biết. Từ nay, cho ngươi ăn phần thịt của
ta, và hãy nấu thịt người cho ta ăn. - Tâu bệ hạ... việc
ấy ... kẻ hạ thần thấy thật là khó khăn. - Ðừng sợ,không
khó chi cả. - Làm sao kẻ hạ thần có thể kiếm ra thịt người
mãi được? - Há chẳng phải trong ngục thất luôn luôn có
tù nhân hay sao? Tên đầu bếp làm theo lệnh ấy.
Khi
hết cả tù nhân để lấy thịt, y lại tâu vua. Vua bảo: -
Ngươi hãy ném một bao tiền vàng ra ngoài đường, rồi chực
ai lượm thì bắt khép tội trộm, phải tử hình. Tên đầu
bếp làm theo. Dần dần dân chúng không còn ai dám nhìn đến
bạc vàng hay bất cứ gì rơi giữa đường nữa. Tên đầu
bếp không kiếm được kẻ trộm để giết, y tâu vua. Vua
bảo: - Nửa đêm, vào giờ giới nghiêm, người ta tấp nập
đi về nhà. Ngươi hãy núp ở một xó nào đó, đánh gục
một người mà lấy thịt. Từ hôm ấy, ngày nào cũng có thây
người chết nằm sóng soài khi chỗ này, lúc chỗ khác. Dân
chúng kêu than, kẻ mất cha người mất mẹ, anh em, chị em.
Toàn dân sống trong hãi hùng khiếp sợ, bảo nhau: "Chắc hẳn
có con sư tử hay con cọp gì đó đã ăn thịt những nạn nhân".
Nhưng
khi khám xét những tử thi, họ nhận ra rằng trên mỗi tử
thi đều có vết dao xẻo thịt để lại vết thương mở rộng.
Họ kinh ngạc kêu lên: "Quái lạ! Chắc chắn phải có người
ăn thịt người!" Mọi người đổ xô đến cung vua khiếu
nại: - Tâu bệ hạ, trong thành có một kẻ cướp ăn thịt
người. Xin bệ hạ hãy cho bắt tên giặïc ấy. - Làm sao ta
biết nó là ai được? Chẳng lẽ ta phải đích thân tuần
hành quanh phố thị hay sao?"
Dân
chúng bảo nhau: - "Nhà vua không lưu ý gì đến việc nước
việc dân. Ta hãy tới quan tể tướng". Họ đi tới quan tể
tướng yêu cầu ngài phải bắt cho được tên cướp. Quan
trả lời: "Hãy chờ bảy ngày, ta sẽ giao thủ phạm cho các
ngươi". Quan cho dân chúng giải tán, rồi triệu tập các sĩ
quan dưới quyền lại bảo: - Hỡi các sĩ quan, trong thành phố
có một tên cướp ăn thịt người. Các ông phải phục kích
nhiều chỗ để bắt tên ấy.
Các
sĩ quan tuân lệnh, và từ đấy họ bao vây toàn thành phố.
Khi ấy tên đầu bếp đang núp trong một lỗ tường của một
ngôi nhà. Y giết một phụ nữ và bắt đầu bỏ những miếng
thịt tươi của bà ta vào đầy giỏ. Các sĩ quan túm bắt
y, trói tay y lại và la lên " Ðây rồi, đã bắt được tên
cướp ăn thịt người rồi". Ðám đông vây quanh họ. Tên
đầu bếp bị đánh đập túi bụi, bị cột giỏ thịt người
lủng lẳng vào cổ và mang đến trước vị tể tướng. Khi
thấy y, vị tể tướng nghĩ: "Có thể nào tên nầy lại ăn
thịt nguời, hay y chỉ trộn chung thịt khác để bán? Hay y
giết người dưới một mệnh lệnh của một người khác?"
Ông cho mở trói và hỏi cung tên đầu bếp. Y khai thật. Do
đó, quan tể tướng sai trói y thật chặt lại như cũ và cùng
mọi người đi thẳng tới cung vua.
Suốt
ngày hôm dó nhà vua nhịn đói chờ đợi tên đầu bếp. Càng
về chiều vua càng sốt ruột. Bỗng nghe huyên náo ngoài cổng
thành, nhìn ra vua thấy tên đầu bếp yêu quí đang bị trói
lôi xềnh xệch, trên cổ đeo lủng lẳng giỏ thịt người.
Biết mọi việc đã bại lộ, nhưng vua thu hết can đảm leo
lên ngai vàng như thường lệ để thiết triều, quan tể tướng
đến gần và khởi sự chất vấn nhà vua:- Tâu bệ hạ, phải
chăng tên đầu bếp này được lệnh bệ hạ sai ra đường
rình giết người để lấy thịt về cho bệ hạ? - Phải đấy,
ta ra lệnh cho nó đấy. Thế thì tại sao ngươi phạt nó, khi
nó chỉ làm theo lệnh của ta? Nghe vậy vị tể tướng nghĩ
thầm: "Thì ra chính miệng nhà vua đã thú tội rồi đấy.
Ồ, thật kinh khủng. Không ngờ lâu nay vua vẫn ăn thịt người!
Ta phải làm cho vua chấm dứt việc ấy!" Rồi quan bảo vua:
- Tâu bệ hạ, đừng làm thế nữa, bệ hạ không nên ăn thịt
người. -Này tể tướng, ông nói gì đấy? Ta không thể bỏ
việc ấy được nữa. - Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ không bỏ
việc ấy thì bệ hạ sẽ tiêu ma cả vương nghiệp, cả bản
thân bệ hạ. - Dù vương nghiệp ta có tiêu tan, ta cũng đành.
Ta không bỏ được." Khi ấy quan tể tướng muốn cho vua sáng
mắt, bèn kể một câu chuyện:
Ngày
xưa, trong biển lớn có một con cá khổng lồ sinh sống, tên
nó là Kình ngư. Tất cả cá trong biển đều thần phục Kình
ngư, tôn Kình ngư làm ngư vương, vua các loài cá. Mỗi sáng
chiều đều có từng bầy cá đông đúc đến vấn an Ngư vương.
Ngư vương lâu nay vẫn ăn rong biển để mà sống, một thứ
rong khổng lồ mọc dưới đáy biển từng khối lớn bằng
cả cụm rừng. Một hôm Ngư vương ăn nhằm một con cá mắc
trong cây rong. Nghe mùi vị ngon đặc biệt, Ngư vương lấy
ra khỏi miệng xem là cái gì, thì ra là một miếng cá. Ngư
vương nghĩ, "Thế mà lâu nay ta thật ngu ngốc quá đi thôi.
Ta chưa từng ăn thứ này bao giờ. Từ nay, mỗi sáng chiều
khi bầy cá tới thăm ta, ta sẽ ăn bớt một vài chú cá, ăn
một cách thầm lặng kín đáo nhu mì, vì nếu ta ăn chúng một
cách lộ liễu, ồn ào, thì không còn chú nào dám bén mảng
tới đây mà thăm viếng nữa". Bởi thế Ngư vương nằm dài
coi bộ rất hiền lành vô hại mỗi khi bầy cá tới thăm,
nhưng chờ lúc chúng kéo nhau ra về, có con nào bơi chấm lẽo
đẽo sau cùng thì Ngư vương thộp ngay để ăn thịt. Khi bầy
cá phát giác quân số bị giảm thiểu lần lần, thì bắt
đầu một cuộc điều tra xem mối nguy từ đâu tới. Một
hiền sĩ trong bọn cá bỗng lưu ý đến Ngư vương: "Ta phải
dò chừng tên quỷ quyệt ấy . Khả nghi lắm". Thế rồi khi
bầy cá đến vấn an Ngư vương, hiền sĩ núp sau mang tai Ngư
vương để quan sát. Quả nhiên y bắt gặp Ngư vương thộp
những chú cá chấm sau cùng. Vị hiền sĩ bèn thông báo cho
bầy cá khiến ai nấy đều kinh hoằng bỏ chạy. Từ đấy
không ai tới gần Ngư vương nữa. Nhưng Ngư vương thì vì
ăn quen bén mùi nên không thiết gì đến rong rêu nữa. Ðêm
ngày y chỉ mơ tưởng đến những chú cá béo ngấy ngon lành.
Y gầy hẳn người vì đói bụng.
"Quái!
chúng đã chết tiệc cả rồi hay sao? Ði đâu mất, những
con cá ngon ấy?" Ngư vương đói quá thờ thẩn như kẻ mất
hồn. Y không thấy bóng đáng một chú cá nhỏ nào suốt mấy
hôm liền. Y lội đi tìm, và gặp một ngọn núi lớn. Y thầm
nghĩ : "có lẽ bọn cá sợ ta nên núp sau cái núi này. Ta phải
bao vây để bắt chúng ". Thế rồi y quấn tròn người bao
quanh chân núi. (Thân hình y rất lớn, dài cả mấy cây số
ngàn). Trong cơn giận giữ y bắt gặp cái đuôi của y, mà
y ngỡ là một con cá, và dản giọng: "Gan lì nhỉ! Ngươi ở
đây mấy hôm rày, mà cố tránh mặt ta!" Và lấy hết sức
bình sinh, y cắn nó một cái cho đứt đôi. Rắc! Xương sống
Ngư vương đứt đoạn, máu tuôn đỏ cả một vùng biển,
Ngư vương cảm thấy đau đớn tấn tủy sống. Ðánh hơi được
mùi tanh của máu, đàn cá tụ lại mỗi lúc một đông, và
bắt đầu rỉa thịt Ngư vương cho đến khi Ngư vương chỉ
còn là một đống xương lớn như núi.
Kể
xong chuyện, quan tể tướng khuyên vua bỏ tập quán ăn thịt
người để khỏi chịu số phận như Ngư vương nọ. Nhưng
vua vẫn không nghe, lại dẫn chứng một câu chuyện khác để
chứng minh sự thèm khát nếu không được thỏa mãn sẽ làm
cho con người chết đi được. Ðó là câu chuyện cậu con
ông trưởng giả Sujàta ở Ba la nại ngày xưa, vì thèm ăn
một quả táo hồng mà không được, nên cậu tuyệt thực
bảy ngày rồi chết.
Quan
tể tướng tâu: - Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ không bỏ ăn thịt
người, dần dần bệ hạ sẽ bị gia đình bỏ rơi và mất
luôn cả sự quang vinh của vương vị. Tâu bệ hạ, ngày xưa
cũng xứ Ba la nại này, có một gia đình Bà la môn tuân giữ
năm giới cấm rất chặt chẽ. Gia đình có một cậu con trai
độc nhất, thông minh ngoan ngoãn, được cha mẹ yêu thương
như ngọc quí. Cậu thường đi chơi với một toán bạn đồng
lứa, bọn này ăn thịt uống rượu đ? không kiêng cữ gì.
Một ngày kia chúng lập mưu làm cho cậu phải nếm qua mùi
rượu thịt. Chúng làm một bữa tiệc, mời cậu nhưng cậu
từ chối, bảo rằng cậu không uống rượu. Chúng bảo không
sao, sẽ có sữa tươi dành riêng cho cậu. Cậu bằng lòng.
Bọn kia bỏ rượu mạnh vào trong lá sen để trong hồ, và
khi tiệc bắt đầu, chúng đem sữa tới cho cậu.
Rồi
một đứa la lên: Bồi, đem cho ta nước mật ngâm hoa sen. Thứ
rượu cất trong lá sen được đem tới, chúng chia nhau nhấm
nháp. Cậu con ông trưởng giả tưởng là mật hoa, cũng uống
một ít. Khi cậu vừa nếm thì đã chếnh choáng, bọn kia đem
thịt mời cậu ăn luôn. Rượu được rót thêm cho cậu, cậu
vừa nhậu thịt vừa nói: "Thế mà lâu nay tôi không biết.
Dè đâu rượu có mùi vị ngọt ngào như vậy! Ðem thêm cho
tôi". Sau khi ăn uống no say trở về nhà, cậu nằm mê man run
rẩy. Cha cậu khám phá cậu đã uống rượu, chờ khi cậu
tỉnh, ông nói: - Con đi, con đã hành động rất sai quấy.
Là con cháu của một gia đình Bà la môn giáo, con không khi
nào được uống rượu cả. Hãy từ bỏ việc ấy đi. Cha
bảo sao, thưa cha? - Con không được uống rượu nữa. - Ồ
thưa cha, suốt đời con chưa được nếm mùi vị ngọt nào
như thế. Người cha lập lại lời cấm đoán. Cậu con bảo:
-Con không thể bỏ rượu được. -Vậy thì đây là lời cuối
cùng của cha: Một là con chừa rượu, hai là cha phải từ
con và đuổi con ra khỏi lãnh thỗ của cha. - Dù có phải bị
cha từ bỏ, con cũng không thể nào bỏ rượu. - Thế thì,
vì con đã bỏ cha, cha cũng phải bỏ con.
Người
Bà la môn đưa con ra tòa truất quyền thừa kế và đuổi cậu
đi khỏi khu làng dưới quyền cai quản của ông. Cậu trai
ấy về sau đi lang thang xin ăn dọc đường, và cuối cùng,
tựa lưng vào một bức tường hoang phế mà chết."
Quan
tể tướng kể chuyện trên, cốt dể thức tỉnh nhà vua, và
nói: - Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ không chịu nghe lời hạ thần
bỏ ăn thịt người, thì dân chúng sẽ xua đuổi bệ hạ ra
khỏi vương quốc. Nhà vua một mực không nghe lời vị tể
tướng. Vua lại kể một tỉ dụ chứng minh rằng người ta
có thể chết vì dục vọng không được thỏa mãn. Trưởng
giả Sujàta đã nói trên kia, một hôm đi vào rừng tìm 500
vị tu khổ hạnh để nghe pháp, bỗng thấy vào giữa đêm
có trời Ðế thích xuống rừng cùng với đông đảo tùy tùng
ở cõi trời. Ánh sáng từ thân thể họ thoát ra một luồng
êm dịu rực rỡ. Sujàta từ trong chiếc lều cỏ nhìn ra thấy
có nhiều thiên nữ đi theo Ðế thích, và vừa thấy các thiên
nữ ông ta say đắm ngẩn ngơ.
Sau
khi Ðế thích nghe thuyết pháp xong lại trở về trời, thì
trưởng giả Sujàta đi đến hỏi dò các vị sa môn: "Hồi
hôm, có người nào đến nghe pháp với các ngài thế?" Ðó
là trời Ðế thích! - " Và những người nào vây quanh ông
ta vậy?" - " Ðó là những thiên nữ." Trưởng giả Sujàta chào
các Sa môn để ra về, và từ đó ở nhà ông ta không ngớt
kêu la như kẻ điên: "Cho tôi một thiên nữ". Người xung quanh
tưởng ông loạn trí, đi xin xăm bói quẻ. Nhưng ông vẫn không
ngớt la: "Cho tôi một thiên nữ". Người ta đưa tới ông một
bà vợ và các nàng hầu, ông đều xua đuổi: "Không phải,
đấy là quỷ cái. Ta bảo thiên nữ kia mà". Rồi ông nhịn
ăn mà chết.
Vị
tể tướng nghe vậy nhủ thầm: "Nhà vua này thật là si độn
đam mê. Ta phải làm cho ông mở mắt". Và tể tướng nói:
- Có một bầy ngỗng trời cũng vì ăn thịt đồng loại mà
phải bị tiêu diệt. Ngày xưa, trong một hang động giữa núi,
có chín mươi ngàn con ngỗng trời trú ẩn. Trong bốn tháng
mùa mưa chúng không bay đi đâu được, vì nước sẽ thấm
vào cánh, ướt cả mình mẩy làm thân thể chúng nặng nề
không thể bay xa và sẽ rơi xuống biển. Do đó chúng ở lại
trong động, nhưng khi sắp đến mùa mưa, chúng lo bay đi lượm
lúa từ một cánh đồng lân cận để tích trữ ăn qua mùa.
Vừa khi chúng trở về động thì có một con nhện khổng lồ,
lớn bằng cả một chiếc phản lực cơ tối tân nhất, đến
án ngữ ngay cửa động và bác nhện khởi sự giăng tơ, mỗi
tháng bác giăng ra một mạng lưới to bự choán cả lối ra
vào. Mỗi sợi tơ bác nhả ra to bằng cả sợi dây neo tàu
ngoài biển. Ðàn ngỗng trời ở trong động bắt đầu lo lắng
khi lương thực vơi dần. Chúng chọn ra những thanh niên khỏe
mạnh, cho ăn gấp đôi khẩu phần đồng bạn, để xông pha
họa may phá được vài nuột tơ nhện để cả bọn chui ra
ngoài tìm lương thực.
Khi
thực phẩm sắp cạn, một con ngỗng trời đề nghị: "Muốn
sống sót ta phải ăn trứng ngỗng". Ban đầu chúng ăn trứng,
dần dần ăn luôn cả ngỗng con và cuối cùng ngỗng già. Khi
mùa mưa chấm dứt, bác nhện đã giăng ra bốn mạng lưới
dày chắc chắn. Ðàn ngỗng vì ăn thịt đồng loại nên yếu
sức dần, không phá được mạng nhện. Hết con này tới con
khác húc đầu vào mạng lưới rồi mắc cạn ở đấy, bị
nhện chúa hút máu tất cả. Bởi thế, tâu bệ hạ, không
nên ăn thịt đồng loại.
Tể
tướng còn muốn khuyên can vua thêm nữa, nhưng quần chúng
đứng lên la ó: - Thưa tể tướng, ngài định làm gì bây
giờ? Nếu vua không bỏ ăn thịt người, hãy trục xuất nhà
vua ra khỏi đô thành chúng ta. Nhà vua nghe thế bắt đầu hoằng
sợ. Tể tướng tâu: - Tâu bệ hạ, bệ hạ có bằng lòng
từ bỏ thịt người chăng? - Không thể được. Quan tể tướng
ra lệnh cho tất cả hoàng gia ăn mặc trang sức lộng lẫy
đứng đông đủ trước mặt nhà vua rồi nói: - Tâu bệ hạ,
bệ hạ hãy nhìn toàn thể hoàng thân quốc thích của bệ
hạ, những vị cố vấn và đình thần đông đủ đang ở
trước bệ hạ đây. Có thể nào bệ hạ bỏ họ được sao?
Bệ hạ chỉ cần từ bỏ ăn thịt người, thì tất cả chúng
tôi đây đều theo về với bệ hạ. Nhà vua nói: - Tất cả
đây đối với ta đều không quí bằng thịt người. Không
có gì quý hơn thịt người. - Vậy thì, tâu bệ hạ, xin bệ
hạ hãy rời khỏi nơi đây, ra khỏi cung điện, khỏi vưong
quốc này. - Tể tướng ta không cần cung điện, vương quốc.
Ta sẵn sàng ra đi, nhưng tể tướng hãy cho ta một đặc ân
cuối cùng: ấy là cho ta đem theo cây bửu kiếm và tên đầu
bếp.
Ðình
thần đồng ý cho nhà vua đem theo gươm báu, một cái chảo
để nấu thịt ngư?i, một cái giỏ và một tên đầu bếp.
Và họ trục xuất nhà vua ra khỏi cung thành ngay hôm ấy. Nhà
vua đi vào một khu rừng và tạm trú dưới một gốc cây.
Ngày ngày vua ra chực giữa đường rừng, giết người đem
xác về cho tên đầu bếp nấu và cả hai thầy trò cùng ăn.
Mỗi khi thấy bóng người vua la lên: "Ta đây tên cướp ăn
thịt người!" Thế là họ hoằng sợ té xỉu , vua đến giết
rồi xách về bất cứ người nào trong bọn, nếu đi đông.
Một hôm vua không gặp được người nào trong rừng, và khi
vua xách kiếm về tay không, tên bếp hỏi: - Sao rồi đấy,
tâu bệ hạ! Thịt đâu? - Ồ, ta sẽ kiếm ra thịt. Tên đầu
bếp hoằng sợ, nghĩ: "Thôi, chết rồi. Ta tới số rồi".
Rồi y bắt nồi nước lên lửa. Kẻ ăn thịt người chém
y một lát đứt đôi và bắt đầu tự nấu lấy thức ăn
từ đó.
Tin
đồn lan khắp Ấn độ về một tên cướp ăn thịt người
đi rừng. Một người bà la môn giàu có đưa 500 cỗ xe sắp
đi qua rừng nghe thế bèn thuê một đoàn hộ tống đông đảo
để bảo vệ đoàn xe. Riêng ông ngồi trên cỗ xe đi sau cùng.
Kẻ
ăn thịt người ngồi trên cây cao quan sát. Khi thấy toàn là
hàng hoá y lấy làm tức giận. Rồi đoàn người tiến đến.
Y bỗng chú ý tới người bà la môn ngồi trên xe sau cùng,
miệng y bắt đầu rỏ nước bọt vì thèm thịt ông ta. Rồi
y nhẩy xổ tới , la lên: "Ta đây, tên cướp ăn thịt người".
Cả đoàn bỏ chạy, và y xách người bà la môn đi vào rừng.
Trong đám người được người bà la môn mướn bảo vệ,
có một người la lên "Các bạn! Chúng ta đã nhận tiền, hãy
làm bổn phận đi". Y bắt đầu hò la đuổi theo tên ăn thịt
người. Một thanh niên khỏe mạnh đuổi kịp, nhà vua ngoái
lui bắt gặp bèn nhẩy qua một tảng đá để đến ẩn dưới
một cây cau rừng. Vua vấp ngã, chân chảy máu đầm đìa.
Ðoàn người đuổi kịp, vua thả người bà la môn để lo
thoát thân. Khi người bà la môn thoát nạn, cả bọn không
buồn chú ý tới kẻ ăn thịt người nữa, tiếp tục ra đi.
Nhà
vua lết đến dưới cây cau rừng, khẩn nguyện: Hỡi vị thần
cây, nếu bà làm cho vết thương nơi chân tôi lành lại trong
bảy ngày, thì tôi sẽ tắm cho thân cây của bà bằng máu
cắt từ cổ họng của 101 ông hoàng của xứ Ấn độ, và
sẽ treo lòng ruột của họ khắp trên cây của bà và cúng
cho bà bữa tiệc thịt người bảy món". Nhà vua nằm liệt
dưới cây bảy ngày không ăn uống gì cả. Thân thể nhà vua
gầy da bọc xương, nhưng vết thương đã khô ráo lành lặn.
Nhà vua nghĩ rằng đây là nhờ thần cây cứu chữa, nên sau
khi đi đứng được và ăn thịt người trở lại cho lại
sức, vua nghĩ: "Vị thần cây này đã giúp ta. Ta phải thực
hiện lời hứa". Vua bèn xách kiếm ra đi để tìm 101 ông vua
của Ấn độ đem về tế thần. Trên đường, vua gặp một
con quỷ Dạ xoa nhận ra nhà vua vì đời trước vua cũng là
một quỷ Dạ xoa đã làm bạn với nó, cùng đi bắt người
để ăn thịt. Khi tên quỷ nhắc lại, nhà vua nhớ ngay và
tay bắt mặt mừng ra chiều tương đắc. Khi tên quỷ hỏi
nhà vua kiếp này làm gì, vua kể cho y nghe đầu đuôi câu chuyện,
từ khi vua nếm được thịt người cho đến khi vua bị trục
xuất và bây giờ đang đi kiếm 101 ông vua để tế thần cây.
Vua nhờ Dạ xoa giúp một tay trên đường đi bắt những ông
vua ấy. Dạ xoa từ chối: - Tôi bận quá. Nhưng tôi có thể
giúp anh một câu phù chú để sử dụng. Hãy học thuộc lòng
phù chú của tôi, nó sẽ đem lại cho anh sức mạnh, đi rất
nhanh và thêm uy lực. Nhà vua nhận lời và học câu phù chú,
nhờ đó vua đi nhanh như gió và thêm sức mạnh như thần.
Trong vòng bảy ngày vua bắt xong được cả 100 ông vua khắp
lãnh thổ Ấn, trên đường họ đi săn và đi du ngoạn. Vua
xách ngược đầu tất cả vua kia về rừng. Chỉ có Sutasoma
khỏi bị bắt còn bao nhiêu đều bị treo lên cây để tế
thần.
Vua
nghĩ: "Sutasoma là bạn và thầy cũ của ta. Hãy chừa y lại.
Không nên để xứ Ấn độ mất hết người lãnh đạo". Nghĩ
vậy rồi, nhà vua bắt đầu nhúm lửa và ngồi xuống mài
một cái chỉa ba, chuẩn bị làm thịt 100 ông vua đang bị
treo ngược trên cây để tế thần cây. Vị nữ thần của
cây ấy thấy thế nghĩ thầm, "hắn định tế lễ cho ta, nhưng
đâu phải nhờ ta mà hắn lành vết thương? Bây giờ, hắn
sắp gây cuộc lưu huyết lớn. Phải làm sao bây giờ? Ta không
thể ngăn hắn được". Bởi thế thần cây đi đến Tứ thiên
vương để nhờ can thiệp làm sao cho vua ngừng việc giết
chóc mê tín kia. Tứ thiên vương cũng đành chịu. Thần cây
lại đi đến trời Ðế thích. Ðế thích nói: - Tôi cũng không
ngăn y được. Nhưng tôi sẽ cho bà biết ai có thể làm việc
ấy. - Ai? - Từ cõi trời thứ 33 trở xuống, không ai làm được,
nhưng có một người ở vương quốc Kuru là vương tử Sutasoma
có thể làm cho y thuần lại và cứu mạng tất cả vua kia.
Người ấy sẽ cứu y khỏi tội ăn thịt người và đem hạnh
phúc cho toàn xứ Ấn. Nếu bà muốn cứu 100 vị vua kia, thì
hãy bảo kẻ ăn thịt người rằng, bà muốn đem Sutasoma đến
cho bà trước đã, rồi hãy dâng lễ tế.
Vị
thần nghe lời, nhanh như chớp, cải trang thành một nhà tu
khổ hạnh đi đến kẻ ăn thịt người. Ðang mài chỉa ba,
nghe tiếng động nhà vua ngẩng lên, nghĩ thầm: "Lẽ nào có
kẻ lại thoát được?" Nhưng trên cây, một trăm ông vua vẫn
chúc ngược đầu, bất động. Kẻ ăn thịt người ngoái lại
thấy nhà khổ hạnh thì mừng rỡ nghĩ: "A, tên này chắc cũng
là tay hiệp sĩ dòng Sát đế lợi, cũng ngang vua. Ta có thể
bắt y cho đủ số 101 ông vua để tế thần." Nghĩ xong nhà
vua đứng lên cầm kiếm đuổi theo nhà khổ hạnh. Nhưng chạy
cả mấy cây số mà vẫn đuổi chưa kịp, mồ hôi bắt đầu
lấm tấm trên người vua, chảy xuống hai chân. Vua nghĩ: "Ta
đã từng đuổi bắt dễ dàng cả voi, ngựa, xe chạy hết
tốc lực, mà sao hôm nay mặc dù ta đã chạy kiệt sức vẫn
không kịp cái nhà tu hành này vẫn đi một cách khoai thai.
Thế là nghĩa lý gì?" Vua lại nhớ ra rằng, những nhà khổ
hạnh thường làm theo ý muốn kẻ khác, vậy hãy bảo ông
ta đứng lại, rồi mình sẽ bắt ổng. Nghĩ thế nhà vua la
lên: - Dừng lại, thưa ngài - Ta đang dừng đây. Ngươi cũng
hãy dừng đi thôi. - Ơ kìa, nhà tu dù chết cũng không nói
dối, mà sao ngài nói dối vậy? Vị thần dưới dạng nhà
tu khổ hạnh đáp: - Ta đã đứng vững trong chánh đạo. Còn
ngươi do ác nghiệp nên sẽ mãi mãi di chuyển trong các nẻo
luân hồi. Hỡi nhà vua hãy đem lại Sutasoma,vị thái tử nổi
danh ấy cho ta. Bằng lễ hiện cúng ấy ngươi sẽ được hạnh
phúc ở cõi trời. Nói xong, nhà khổ hạnh hiện nguyên hình
là vị thần cây trong hào quang chói lọi. Kẻ ăn thịt người
thấy thế hỏi, ngài là ai. Khi biết rồi vua vui mừng vô hạn,
bảo: -Tấu lạy thần linh, xin ngài đừng bận tâm, hãy vào
lại trong cây của ngài đi. Nữ thần vào lại trong cây trước
mắt nhà vua.
Mặt
trời vừa lặn và trăng cũng vừa lên trong rừng. Vốn thông
thiên văn, vua ngẩng nhìn sao và biết rằng ngày mai là ngày
lễ, thế nào Sutasoma cũng đi tắm ở sông Hằng, ta sẽ nhân
dịp ấy mà bắt y. Theo dự tính, ngày hôm sau kẻ ăn thịt
người đi đến sông Hằng. Vương tử Sutasoma cũng vừa đến
đấy với đoàn hộ tống đầy nghi vệ. Vương tử sắp sửa
thay đồ tắm để xuống sông thì gặp ngay một người Bà
la môn đi tới, tay cầm một túi da thếp vàng. Người Bà la
môn muốn gặp vương tử: Thưa vương tử nghe đồn ngài là
một bậc đức hạnh, tôi tìm đến để bán cho ngài một
báu bất mà có lẽ ngài sẽ vô cùng trân trọng. - Cái gì
đấy, thưa ngài? - Thưa vương tử, đây là một bài kệ vô
giá của Phật Ca Diếp. Mỗi đoạn đáng giá tượng trưng
một trăm đồng tiền vàng. - Thưa ngài, tốt lắm. Nhưng tôi
phải đi tắm đã. Ðây là ngày lễ thánh tẩy của tôi. Khi
trở về tôi sẽ nghe ngài đọc. Xin ngài vui lòng đợi tôi.
Rồi
vương tử ra lệnh cho một người tùy tùng đưa người Bà
la môn đến nhà một người đồng giai cấp để nghỉ ngơi
đợi vương tử. Xong xuôi vương tử xuống tắm. Suốt thời
gian ấy, kẻ ăn thịt người núp dưới một ao sen để đợi
dịp bắt vương tử. Khi vương tử vừa tắm xong, tùy tùng
mang đến bộ lễ phục cho vương tử mặc, và đủ thứ trang
sức quý giá nặng nề, thêm cả nước hoa dầu thơm rưới
đầu và thoa trên mình. Kẻ ăn thịt người nghĩ, chờ cho
vương tử mặc xong bộ lễ phục và đeo các trang sức vào
thì sẽ nặng nề thêm, chi bằng bắt ngay ông ta khi còn mặc
áo tắm. Thế là kẻ ăn thịt người xông ra, la lớn: "Ta đây,
kẻ cướp ăn thịt người!" Tất cả voi ngựa và đoàn tùy
tùng của thái tử nghe tiếng hét đều té xỉu. Kẻ ăn thịt
người tóm lấy vương tử, nhà vua ăn thịt người không xách
ngược đầu như các nhà vua kia mà lại vác vương tử lên
vai chạy. Nhờ quỷ lực của bùa chú quỷ cho, vua chạy như
bay, không ai đuổi kịp. Bỗng nghe những giọt nước mắt
luồng xuống vai và tay chân, nhà vua ăn thịt người cất tiếng
hỏi: - Hiền giả, một bậc tri thức lỗi lạc, mà cũng sợ
chết sao? Tại sao ngài khóc? Có phải nhớ vợ con nhớ cha
nhớ mẹ chăng Hay tiệc cung điện vườn hoa vàng bạc ngọc
ngà mà khóc? Vương tử đáp: - Không, tôi không khóc cho tôi,
cũng không phải vì vợ con cung điện, ngọc ngà. Chỉ vì tôi
đã hứa với một người Bà la môn sẽ nghe bốn câu kệ của
phất Ca Diếp từ nơi vị ấy. Tôi muốn giữ lòi hứa đối
với ông ta, trở về nghe bốn câu kệ rồi sẽ tới cho ngài
làm thịt.
- Làm
sao tôi tin ngài được? Mồi đã vào trong tay, ai dại gì thả
ra? - Thưa ngài chúng ta biết nhau từ nhỏ. Tôi là bạn và
là thầy của ngài, với danh dự của giai cấp hiệp sĩ, tôi
không bao giờ nói dối dù phải hi sinh tánh mạng. Nhà vua tin
lời vương tử, và căn dặn: - Vị thần cây chỉ muốn hiện
cúng ngài trước nhất cho bà ta. Bởi vậy, xin ngài đừng
làm hỏng mất lễ tế thần của tôi bằng cách sai hẹn -
Xin ngài yên tâm. Ngài mai tôi sẽ trở lại để ngài làm thịt
tôi mà tế lễ. Khi vương tử trở lại nơi hẹn gặp người
Bà la môn, ông ta đang chờ đợi. Thái tử xin lỗi xong bắt
một chiếc ghế thấp hơn, ngồi xuống, và thưa: - Thưa ngài,bây
giờ tôi sẵn sàng nghe bài kệ Phật Ca Diếp do ngài thừa
kế. - Tốt. Vậy xin ngài hãy lắng nghe bốn đoạn của bài
kệ. Mỗi đoạn đáng giá tượng trưng một trăm quan tiền
vàng. Nó có năng lực hủy diệt mọi dục vọng, kiêu căng
và các thói xấu khác, giúp người đạt đến sự tịch tịnh
của các giác quan, chấm dứt vòng luân hồi sinh tử, đạt
đến Niết bàn. Ðấy là công năng của bài kệ mà đức phất
Ca Diếp đã truyền cho tôi. Ngài hãy lắng nghe đây:
- Hỡi
Sutasoma, hãy tiếp xúc dù chỉ một lần với những bậc thánh.
Và đừng bao giờ gần kẻ xấu ác, như thế ngươi sẽ được
bình an. Chỉ làm bạn với bậc thánh, giao dịch với bậc
thánh. Vì chỉ từ bậc thánh ta mới học được chánh đạo
và thăng tiến bản thân. Xác thân ta sẽ suy mòn mục nát.
Như những chiếc xe bóng láng sẽ dần hư. Nhưng đức tin của
bậc thánh thì không bao giờ tàn tạ. Ðược truyền qua muôn
đời kiếp cho những thánh giả về sau. Ðất thật bao la,
trời rất cao sâu Biển thẳm mênh mông không đâu bờ bến.
Nhưng lớn lao và có tầm xa rộng hơn cả biển, đất, trời
là những lý thuyết tốt hay xấu mà bậc thánh hay kẻ tội
lỗi nói ra.
Nghe
xong bài kệ vương tử vô cùng hân hoan. "Ðây không phải chỉ
là lời nói của thi nhân hay bậc thánh hay môn đệ bậc thánh,
mà chính là lời dạy của của Ðấng Chánh Biến Tri. Ta không
thể lượng được giá trị của những lời này. Dù có hiến
tất cả cõi Ta bà Thế giới từ cõi Phạm thiên trở xuống,
chất đầy bảy món báu vật, để đổi bài kệ này vẫn
còn chưa xứng. Ta có thể hiến cả ngôi báu, cung điện của
ta vì bài kệ này". Vương tử muốn nhường ngôi lại cho người
Bà la môn, nhưng nhìn lại người kia, do khả năng dự đoán
được tương lai của con người, vương tử không thấy dấu
hiệu gì chứng tỏ ông ta có mạng làm vua. Vương tử lại
nghĩ đến các chức quan mà ngài muốn phong cho y, song cũng
không thấy y xứng hợp với địa vị nào. Vương tử cũng
bấm độn đến cung tài lợi thì thấy người Bà la môn kia
có thể đạt tới lợi tức tối đa là bốn ngàn quan tiền
vàng, do đó định biếu y một ngàn quan cho mỗi đoạn kệ.
Vương tử hỏi: - Thưa ngài, khi ngài dạy bài kệ cho các vì
vua chúa khác, ngài nhận được bao nhiêu tiền? - Một trăm
quan mỗi đoạn. - Thưa ngài. ngài không biết tới giá trị
vô biên của món hàng ngài rao bán. Hãy định cho nó mỗi đoạn
một ngàn quan. Vương tử trả bốn ngàn quan cho người Bà
la môn xong, bảo gia nhân tiễn y về nhà.
Thân
sinh vương tử nghe vương tử thoát nạn trở về thì vô cùng
mừng rỡ, nhưng vốn tính keo lẫn, ông rất tiệc khi nghe tin
vương tử vừa trả một món tiền lớn cho người Bà la môn.
- Con ơi, cha rất vui vì con vừa thoát khỏi một tên cướp
dữ dằn. Nhưng nghe lời đồn con vừa trả tới bốn ngàn
quan tiền để nghe bốn đoạn thơ phải không? Khi được vương
tử xác nhận, ông bức đầu bức tai: - Trời đất quỷ thần
đi, thơ gì mà đắt quá thần quá đỗi vậy? Năm chục quan
mỗi câu là đã quá lắm rồi. Nếu là câu dài thì tám chục
quan cũng đã là đắt. Mà hết sức cùng cực thì trả cho
tới một trăm quan là tột bực đạt. Từ thuở cha sanh mẹ
đẻ tới giờ, tôi chưa từng nghe ai mua một bài thơ mà tới
bốn ngàn quan? Vương tử ôn tồn: - Thưa cha, điều con yêu
chuộng không phải là tiền của, mà là sự tăng trưởng trí
tuệ. Xin cha đừng rầy con vì tiền. Con trở về đây sau khi
hứa với kẻ ăn thịt người rằng con sẽ trở lại cho y
làm thịt. Con về chỉ để nghe bài kệ ấy. Vậy xin cha nhận
lại ngai vàng cung điện, con xin từ biệt. Người cha kinh hoàng
kêu lên - Sutasoma, con nói gì? Ta sẽ đem theo tất cả voi ngựa
xe cô binh sĩ để bắt kẻ cướp ấy. Con đừng ra đi nữa.
Cả thân quyến vương tử, tam cung lục viện đều kéo tới
khóc lóc khi nghe tin vương tử sắp ra đi bỏ mạng.
Vương
tử vẫn cương quyết giữ lời hứa với kẻ ăn thịt người,
nên sau khi ủy dụ cha mẹ và đình thần, vương tử ra đi.
Khi thấy vương tử đi đến, kẻ ăn thịt người mừng rỡ
hỏi chào: - Bạn ơi, bạn đã làm xong việc bạn muốn làm
chưa? - Vâng, thưa ngài, tôi đã nghe được bài kệ của Phật
Ca Diếp, và bởi Thế tôi trở lại cho ngài làm thịt đây.
Nhà vua ăn thịt người thấy vương tử không tỏ vẻ gì sợ
hãi trước cái chết thì lấy làm ngạc nhiên, nghĩ thầm:
"Chắc phải nhờ một năng lực nào đây, khiến vương tử
không sợ chết. Ta nghe vương tử vừa nói, "tôi đã nghe được
bài kệ của ngài Ca Diếp". Vậy chắc chắn năng lực ấy
phải do bài kệ kia. Ta phải bắt ông ấy đọc lại cho ta
nghe, và như vậy ta cũng sẽ có được năng lực vô úy như
ông ấy". Nghĩ xong nhà vua lên tiếng: - Hãy thong thả, chờ
lửa cháy đượm nướng thịt càng ngon. Nào, bạn hãy đọc
lại ta nghe bài kệ đi đã. - Hỡi vua ăn thịt người , ngươi
là một kẻ cùng hung cực ác vì tính háu ăn mà phải mất
cả ngai vàng. Bài kệ chỉ để dành cho người nào muốn nghe
theo chánh đạo, đâu cho kẻ tà ác nghe được? Lời dạy của
thánh nhân đâu có ăn nhằm gì tới nhà ngươi? Ngay cả những
lời lẽ gay gắt ấy cũng không làm cho nhà vua ăn thịt người
tức giận. Vì sao? Chính vì nó phát xuất từ năng lực từ
tâm của vương tử muốn cải hóa kẻ ác, không phải từ
sân tâm, hận tâm, si tâm. Ðể chữa thẹn, nhà vua đánh trống
lấp bảo: - Này vương tử, hồi nhỏ chúng ta đều học qua
các môn thiên văn lý số. Ngài bấm độn không biết hôm nay
tới số hay sao mà trở lại đây để nạp mạng? - Dĩ nhiên
những nhà vua dòng Sát đế lợi tinh thông mọi khoa học thần
bí và kiến thức sâu rộng. Nhưng tất cả kiến thức khoa
học ấy tôi không sử dụng nữa. Nó không phải là chánh
đạo, nó có thể đưa người xuống địa ngục. Vì giữ vững
chánh đạo mà tôi giữ lời hứa với ngài, tới đây cho ngài
làm thịt. Hỡi vua ăn thịt người, ngài cứ ăn tôi quách
đi cho xong. - Vương tử, cung vàng điện ngọc, vợ yêu con
quý, quyền tước danh vọng, tất cả những thứ đó vương
tử không thèm hay sao? Chánh đạo là cái gì vậy? Ngài thấy
gì trong đó mà chấp nhận bỏ tất cả?- Trong mọi thứ tốt
đẹp nhất của thế gian này, không có gì đem lại cho tôi
một niềm vui tuyệt vời như chân lý. Người kiên trì trong
chân lý, trong chánh pháp, thì không còn sống ở trong vòng
sống chết, vượt qua bờ bên kia.
Nhà
vua nhìn mặt vương tử, thấy người rạng rỡ như ánh trăng
rằm, lấy làm quái dị: "Anh chàng Sutasoma này, nhìn thấy ta
mài chỉa và nhóm củi để làm thịt đem nướng mà tuyệt
không lộ vẻ sợ hãi. Phải chăng đó là thần lực của bài
kệ mà y đã học? Ta phải hỏi y". Rồi vua hỏi: - Tại sao
ngài không sợ chết? - Tôi sống đầy đủ giới hạnh, chuyên
làm việc lành, tâm hồn tôi không phải ray rức vì tội lỗi,
thì còn sợ nỗi gì? Ðời ai cũng một lần chết. - Ngài không
nhớ cha mẹ, vợ con, thân thuộc, thần dân sao? - Những người
ấy, sớm muộn tôi cũng phải xa họ. Không ai ở với nhau
suốt đời được. Bởi thế khi gần họ nhờ nghĩ đến luật
vô thường trong cuộc sống tôi hết lòng yêu mến họ. Khi
đã ở với nhau hết lòng thì không còn gì phải ân hận lúc
xa nhau.
Khi
nghe vương tử nói thế, nhà vua thầm nghĩ đây là một con
người thánh thiện nhân từ, nếu ăn thịt ông ấy, đầu
ta sẽ vỡ thành bảy mảnh, đất sẽ nứt ra chôn sống ta
mất". Và nói: Bạn ơi, ngài không phải hạng người mà tôi
ăn thịt được. Ngài giống như một món độc chết người.
Ai dám ăn thịt ngài? Và nghĩ đến đức vô úy của vương
tử mà nhà vua cho là do thần lực của bài kệ, vua hăm hở
mong được nghe, và bảo: -Thưa vương tử, hãy cho tôi nghe
bài kệ ngài vừa học: có lẽ nghe xong, tôi có thể tìm nguồn
vui trong chánh pháp.
Nhận
thấy đã đến lúc nên cho vua nghe, vương tử bảo: - Ðược,
xin ngài hãy thận trọng chú ý lắng nghe. Rồi vương tử đọc
lên bài kệ với giọng hùng hồn mà êm ái như tiếng hải
triều. Do thần lực của bài kệ được thốt ra từ miệng
một hóa thân Bồ tát, nhà vua cảm khái sâu xa và phát sinh
niềm hân hoan kính trọng bát ngát không bờ. Nhà vua phút chốc
mong mỏi giá mình còn ngai vàng điện ngọc thì sẽ đem hiến
tất cả cho vương tử để đền cái ơn khai ngộ. Vua bảo:
- Thưa vương tử, bài kệ của ngài làm cho tôi chấn động
tâm hồn, và vui mừng vô hạn. Xin ngài hãy phát lấy bốn
lời nguyện ước, tôi cho ngài chọn lựa. - Ngài cho tôi ước
cái gì? Một con người không phân biết được tốt xấu,
một tên nô lệ cho dục vọng xác thịt khốn nạn như ngài,
thì làm sao thực hiện ước mong của kẻ khác? Giả sử tôi
nguyện ước "ngài hãy cho tôi điều này, điều nọ" rồi
ngài nuốt lời thì tính sao? Tôi dại gì đi chuốc lấy việc
tranh chấp ấy? - Tôi nói thật mà, ngài hãy ước đi, tôi
sẽ làm ngài toại nguyện, dù tôi phải mất mạng cũng đành.
- Vậy
thì tôi xin ước nguyện. Ðiều thứ nhất là ước sao cho
ngài sống tới một trăm tuổi. Nghe thế nhà vua ăn thịt người
lấy làm cảm động, nghĩ: "Thì ra vương tử vẫn yêu mến
và chúc lành cho ta, mặc dù ta muốn ăn thịt ngư?i." Và vua
đáp: - Ðược. Còn điều thứ hai? - Ðiều thứ hai là xin
vua đừng ăn thịt một trăm ông vua đang bị treo trên cây
kia. - Tôi cũng chấp thuận. Còn điều thứ ba? - Ðiều thứ
ba là cho họ được trở về các tiểu quốc của họ để
coi sóc dân chúng. - Tôi cũng bằng lòng, còn điều nữa? -
Ðiều thứ tư là xin nhà vua bỏ thói ăn thịt người. Nhà
vua giật mình, cười lớn: - Này, bạn nói gì? Làm sao tôi
thỏa mãn được lời ấy? Bạn không biết là vì món ngon
ấy mà tôi đã phải bỏ tất cả cung điện ngôi báu vợ
con hay sao? Làm sao tôi nhịn được cái món duy nhất khoái
khẩu của tôi? Xin ngài hãy lựa chọn điều nguyện ước
khác vậy. - Ngài vừa nói là vì ngài khoái thịt người, ngài
không thể nhịn ăn thịt ấy. Một kẻ chỉ làm theo ý thích
của mình dù ý thích ấy là điều tội lỗi, thì chính là
một người ngu. - Bạn Sutasom, tôi yêu thịt người. Bạn phải
biết như vậy. Tôi không bao giờ có thể nhịn món ấy. Bạn
hãy chọn lại điều thứ tư đi. - Kẻ nào chỉ thích theo
ý mình, và hy sinh cả tính mạng cho thú vui xác thịt thì cả
đời này lẫn đời sau phải khổ sở. Nếu biết tránh thú
vui bất hảo, làm tròn bổn phận thì đời này lẫn đời
sau được an vui.
Nhà
vua sa nước mắt nói:
- Tôi
đã bỏ cả mọi thú vui ngũ dục ở cung vua, bỏ cha mẹ vợ
con, vì ưa một chút thịt người mà phải chịu sống cảnh
cô đơn chiếc bóng ở góc rừng này. Làm sao tôi bỏ luôn
cả thú vui này để thỏa mãn ngài được?
- Ngài
đã hứa cho tôi bốn điều mong ước. Bây giờ ngài không
thỏa mãn được. Như vậy đâu là tinh thần thượng võ.
Nhà
vua vẫn khóc lóc năn nỉ: - Tôi đã chịu bao nhiêu thiết thòi,
bỏ cả danh dự, cha mẹ, vợ con để được ăn thịt người.
Sao ngài bắt tôi thỏa mãn điều cầu xin ấy được. - Xin
ngài hãy nhớ lại lời hứa: Ngài sẽ thỏa mãn điều ước
mong của tôi dù có phải mất mạng. Lẽ nào bây giờ ngài
lại nuốt lời sao? Bậc trượng phu chẳng thà chết không
thà mất danh dự. Xin ngài hãy thi hành lời hứa của ngài.
Kẻ giàu có sẵn sàng bỏ hết của cải để cứu chữa một
cái chân, và sẵn sàng cưa một cái chân để bảo tồn sinh
mạng, kẻ trí sẵn sàng bỏ cả chân tay, mạng sống để
bảo tồn chân lý. Một người như thế sẽ được thánh hiền
yêu mến, nể vì. Nhà vua ăn thịt người trầm ngâm suy nghĩ.
Vương tử tiếp: - Hỡi người bạn cố tri, bạn không nên
vi phạm lời dạy của bậc thầy tuyệt luân như Ðức Phật,
và chính tôi hồi xưa cũng đã từng dạy kèm cho bạn. Hôm
nay với thần lực của Phật, tôi đã lập lại cho bạn bài
kệ đáng giá bốn ngàn vàng. Vậy bạn hãy nên nghe lời tôi,
và làm tròn lời hứa của bạn.
Nhà
vua nghĩ: "Sutasoma là thầy ta, và là một người uyên bác.
Ta đã cho người chọn điều ước. Bây giờ ta phải làm sao?
Chết là một chuyện Dĩ nhiên xẩy đến cho mọi người. Vậy
ta không nên sợ chết. Ta đành liều chết, nhịn ăn thịt
người để thỏa mãn điều vương tử yêu cầu ". Rồi nhà
vua ăn thịt người, mắt đầm đìa lệ, quỳ mọp dưới chân
vương tử Sutasom, và nói: - Mặc dù món ăn đó là món ăn
duy nhất làm tôi khoái khẩu, vì nó mà tôi phải trốn vào
rừng này, nhưng nếu ngài đã yêu cầu tôi, tôi cũng xin thỏa
mãn luôn. - Tốt lắm, bạn. Ðối với một người đã an lập
trong chân lý và điều thiện, thì cái chết là một sự giải
thoát. Từ ngày hôm nay, bạn đã an trú tong thánh đạo. Vậy
tôi sẽ truyền cho bạn năm giới cấm. - Xin bạn cho tôi nghe
năm giới cấm.
Vương
tử trao truyền ngũ giới cho nhà vua. Trong khi đó, chư thiên
trên các cõi trời vui mừng bảo nhau: "Thật là mầu nhiệm"
Sutasoma đã làm một phép mầu hy hữu! Từ 33 cõi trời trở
xuống không ai làm được việc làm của vương tử Sutasoma,
cảm hóa kẻ ăn thịt người. Tiếng hoan nghênh vang dội khắp
33 cõi trời thượng giới. Sau khi truyền năm giới cho nhà
vua, vương tử bảo: - Bây giờ bạn hãy đi thả các ông vua
bị treo trên cây kia. - Xin ngài cùng đi với tôi. Tôi sợ mấy
ông ấy trả thù, sẽ đánh tôi đến chết. Nhưng dù có chết,
tôi cũng không vi phạm các giới điều tôi vừa thọ lãnh
nơi ngài.
Vương
tử đến gần cây trên đó treo ngược một trăm ông vua và
bảo: - Các ngài đã bị trói tay chân và treo ngược nhiều
ngày khổ sở, nhưng tôi mong các ngài hứa cho một chuyện
là đừng trả thù, đừng động đến người đã gây đau
khổ cho các ngài. Họ trả lời: - Chúng tôi bị treo ngược
đau đớn lắm, và rất thù ghét thằng cha ăn thịt người
kia, nhung chúng tôi xin hứa với ngài là sẽ không hại hắn
trở lại. Miễn là chúng tôi được sống và được trả
tự do. Nhà vua ăn thịt người cầm kiếm tới cắt đứt nuột
dây trói một ông vua đang lủng lẳng. Vì sức đã đuối vua
rớt xuống cái bịch, không kịp vịn níu các cành cây.
Vương
tử động lòng, bảo: - Này ông bạn ăn thịt người chớ
nên cắt dây kiểu đó. Vương tử ôm một ông vua vào lòng,
bảo nhà vua ăn thịt người: - Rồi, cắt dây cho vị này đi.
Dây đứt, vương tử nhẹ nhàng đặt từng ông vua xuống đất.
Sau khi cả một trăm ông vua đều được cắt dây trói nằm
la liệt giữa rừng, vương tử cùng kẻ ăn thịt người đi
lấy nước suối rửa các vết thương, và kiếm thức ăn uống
cho họ. Sau một tuần điều trị, tất cả đều khỏe mạnh
trở lại, sẵn sàng trở về. Vương tử bảo nhà vua ăn thịt
người vừa được cảm hóa: - Bây giờ, này bạn, chúng ta
cùng trở về bổn xứ lo việc quốc dân. Nhưng nhà vua sặp
lạy dưới chân vương tử và khóc: - Thôi, vương tử hãy
đi về cùng các ông kia. Tôi ở lại đây ăn rễ cây, rau trái
sống qua ngày. - Bạn ở đây làm gì? Vương quốc Ba la nại
của bạn còn đó: hãy về ngự trị. - Bạn nói gì lạ vậy?
Tôi không thể nào trở về đấy: toàn dân xem tôi như kẻ
thù không đội trời chung,vì tôi đã ăn thịt cha mẹ anh em
vợ chồng con cái họ. Họ sẽ bắt tôi, đánh đập tôi, ném
đá vào người tôi. Nhưng tôi sẽ không động tới họ, vì
tôi đã tuân giữ ngũ giới. Dù chết tôi cũng không phạm
giới nữa. Thôi, tôi không về đâu. Vĩnh biệt các ngài. -
Bạn hãy tin tôi. Tôi sẽ đưa bạn trở về an ổn tại Ba
la nại, hoặc là tôi sẽ nhường cho bạn một nửa lãnh thổ
vương quốc tôi. - Trong xứ của bạn, tôi cũng có đầy kẻ
thù.
Vương
tử dùng lời dịu ngọt dụ dỗ cho nhà vua ăn thịt người
chịu trở về: nào là cung điện nguy nga, vợ con yêu quí,
giường nệm tốt, vườn cây xinh đẹp, các thứ nhắc cụ
và đoàn nhắc công vũ nữ. "Ði, bạn. Tôi sẽ đưa bạn đến
Ba la nại, làm cho bạn ở yên ổn xong mới trở về xứ tôi.
Hoặc nếu khó khăn gì xẩy đến, thì tôi sẽ đưa bạn về
vương quốc tôi để trị vì trên nửa lãnh thổ. Bạn hãy
nghe lời tôi". Nhà vua xiêu lòng, sửa soạn lên đường cùng
vương tử. Trên đường về,vua hân hoan nói: - Bạn Sutasoma,
không có gì quí hơn là làm bạn với một người đức hạnh,
không gì bất hạnh hơn làm bạn với kẻ vô loại bất lương.
Tôi vì làm bạn với tên đầu bếp mà ra nông nỗi.
Về
đến thành Ba la nại, vương tử yêu cầu triệu tập đình
thần dân chúng, và lấy tư cách một vị Quốc sư, vương
tử ngỏ lời trước mọi người về sự cải hối của nhà
vua, và yêu cầu quan tể tướng nhường ngôi lại cho vua như
cũ, trở về chức vị tể tướng. Tể tướng vui lòng chấp
thuận, sau khi biết nhà vua đã thuần thục trong chánh đ?o.
Nhà
vua ấy chính là tiền thân của Ương Quật Ma La, vị Tể tướng
là Xá Lợi Phất, người Bà la môn bán bài kệ là A Nan, vị
thần cây là Ca Diếp, Ðế thích là tôn giả A Nấu Ðắt và
vương tử Sutasoma chính là tiền thân của Ðức Phật Thích
Ca.
-ooOoo-
18.
TĂNG HỘ CHÁU
Khi
Phật ở nước Xá vệ, có một vị thiện gia nam tử sau khi
nghe Ngài thuyết pháp, đã xin xuất gia theo Phật. Vị ấy tinh
cần tu tập, chẳng bao lâu đã đắc quả A La Hán. Các vị
đồng phạm hạnh thường gọi ngài là trưởng lão Tăng Hộ.
Khi ngài xuất gia, em gái ngài vừa hạ sinh được một bé
trai, và lấy tên ngài đặt cho hài nhi, gọi tên là "Tăng Hộ
cháu". Lớn lên, Tăng Hộ cháu cũng theo cậu xuất gia và được
hầu cận ngài. Sau khi thụ đại giới, Tăng Hộ cháu đến
an cư tại một khu làng và được cúng dường hai bộ y tốt.
Với ý định cúng dường cậu sau mùa an cư, Tăng Hộ cháu
để dành lại một bộ y. Khi mãn hạ, Tăng Hộ cháu trở về
tinh xá Cấp cô độc đảnh lễ Phật và ra mắt cậu. Nhưng
ngài đi an cư chưa về. Tăng Hộ cháu quét dọn am thất của
cậu, múc sẵn nước rửa chân, sửa soạn nước uống và
các thứ cần dùng cho tôn giả. Khi tôn giả trở về, Tăng
Hộ cháu ra đãnh lễ cúng dường bộ y mới cho tôn giả, nhưng
tôn giả từ chối: "Ta đã có đủ ba y. Ngươi giữ lấy cho
ngươi." Sau khi múc nước tôn giả rửa chân, ngồi nghỉ, Tăng
Hộ cháu đứng hầu một bên lại thưa: "Bạch tôn giả, xin
tôn giả nhận lấy bộ y con cúng dường, để cho con được
chút phước mọn." "Hãy thôi đi, ngươi giữ lấy. Ta đã có
đủ y." Năn nỉ nhiều lần, tôn giả vẫn từ chối.
Ðứng
quạt sau lưng tôn giả, Tăng Hộ cháu trong lòng không vui, thầm
nghĩ: "Tôn giả ở ngoài đời là cậu ruột của ta, ta là
cháu ruột của ngài. Ta đối với tôn giả vừa có tình ruột
thịt vừa có tình thầy trò, Thế mà tôn giả vẫn lạnh nhạt
với ta, không thèm nhận đồ cúng dường của ta. Ngài đã
không thương ta, thì ta còn đi tu làm chi nữa cho thêm phiền
não. Chi bằng ta hoàn tục quách ... Nhưng ta xuất gia từ lúc
hãy còn thơ bé. Bây giờ hoàn tục, không biết nghề ngỗng
gì thì làm sao mà sống nhỉ? Thật khó khăn thay. Ồ, hay là
ta hãy bán bộ y đẹp này mà mua một con dê cái. Loài súc
sinh ấy sinh đẻ rất nhanh. Vừa khi dê đẻ bảy con thứ nhất,
ta sẽ đem bán mà kiếm một số vốn. Cứ tiếp tục như thế,
ta sẽ sẽ có một mớ tiền. Khi có tiền nhiều, ta sẽ cưới
một chị vợ. Chị ấy sẽ sinh ra một thằng con trai. Ta sẽ
lấy tên tôn giả -cậu ta- mà đặt tên cho thằng con ấy.
Rồi ta sẽ để nó ngồi trong một chiếc xe, cùng với chị
vợ đẩy xe đến tinh xá thăm ông cậu. Khi đi giữa đường,
trông thấy thằng bé kháu khỉnh, ta muốn bồng nó nên bảo
chị vợ: "Bây giờ bà đẩy xe đi, để tôi ẵm thằng bé".
Chị vợ là kẻ cứng đầu, cãi lại: "Anh mà ẵm con cái gì,
để tôi ẵm nó, anh đẩy xe đi", rồi nàng cúi xuống ẵm
thằng bé. Ði được mấy bước, nàng làm thằng bé rớt xuống
trúng ngay giữa đường bánh xe lăn. Chiếc xe cán lên thằng
bé. Ta giận quá bảo chị vợ: "Mày không chịu để con cho
tao bồng, không đủ sức ẵm mà cứ dành lấy nó, để cho
nó rớt như vậy. Thật mày đã hại tao ". Vừa nói ta vừa
lấy cái gậy đánh nàng một cú..." Vừa quạt cho tôn giả,
Tăng Hộ cháu vừa để cho tư tưởng phiêu lưu như trên, và
đến đoạn kết thúc, y gõ cán quạt vào đầu tôn giả cái
tróc.
Ðọc
được dòng tư tưởng của cháu nhờ đã chứng tha tâm thông,
vị tôn giả lên tiếng nói: - Này ngươi đánh không trúng
mụ đàn bà, mà trúng ngay đầu ta. Tăng Hộ cháu giật mình,
nghĩ: "Chết rồi! Tôn giả đã biết tâm niệm ta hết trọi.
Làm sao ta còn có thể sống đời xuất gia được nữa ". Nghĩ
xong, y liệng cái quạt, co giò chạy ra khỏi cổng tinh xá.
Những người bạn đồng lứa chạy theo bắt y lại, dẫn đến
trước Phật: Phật hỏi: - Tại sao các ngươi bắt Tăng Hộ
cháu? - Bạch Thế tôn, y chạy trốn nên chúng con bắt lại.
Phật hỏi đương sự: - Có phải vậy không? - Bạch Thế tôn,
Dạ phải. - Tại sao con trốn? - Tại vì con bất mãn? Tăng
Hộ cháu thuật lại đầu đuôi cho Phật, đến đoạn y gõ
cán quạt cái tróc vào đầu tôn giả, rồi kết luận: "Bạch
Thế tôn, chính vì sự việc xẩy ra như vậy, nên con phải
trốn." Phật an ủi: "Này thiện nam tử, con đừng sợ. Tâm
người ta thường phiêu lưu như vậy. Con phải luyện cho nó
thuần thục, định tịnh, mới thoát khỏi trói buộc."
"Tâm
phàm phu cứ lén lút đi một mình, đi rất xa, vô hình vô dạng,
như ẩn náu hang sâu. Người nào điều phục được tâm, thì
thoát vòng ma trói buộc".
Câu ấy trở thành Pháp cú số
37, được lưu truyền đến ngày nay trên khắp thế giới.