Tiết
Mục
Chương
1. Niệm Phật Phải Vì Thoát Sanh Tử
Mục
A. Môn Tịnh Độ, Một Pháp Hợp Thời Cơ 3
Tiết
1 Bắc Phương Phật Giáo Với Nhân Duyên Tịnh Độ 3
Tiết
2 Những Huyền Ký Về Tịnh Độ 4
Tiết
3 Sự Chuyển Hướng Từ Thiền Sang Tịnh 6
Mục
B. Môn Tịnh Độ Với Vấn Đề Sanh Tử 10
Tiết
4 Niệm Phật Thế Nào Mới Hợp Với Bản Ý Của Phật? 10
Tiết
5 Tám Mối Khổ Lớn 14
Mục
C. Biết Khổ Phải Ý Thức Đến Sự Giải Thoát 20
Tiết
6 Quán Về Sự Khổ Luân Hồi 20
Tiết
7 Muốn Sớm Thoát Khổ, Nên Tu Tịnh Độ 23
Chương
2. Niệm Phật Phải Phát Lòng Bồ Đề
Mục
A. Luận Về Bồ Đề Tâm 33
Tiết
8 Ý Nghĩa Của Bồ Đề Tâm 33
Tiết
9 Bồ Đề Tâm Với Môn Tịnh Độ 36
Mục
B. Những Công Hạnh Của Bồ Đề Tâm 39
Tiết
10 Làm Thế Nào Để Phát Lòng Bồ Đề 39
Tiết
11 Những Huấn Thị Về Bồ Đề Tâm 48
Mục
C. Ba Sự Kiện Thiết Yếu Đối Với Bồ Đề Tâm 55
Tiết
12 Đường Sanh Tử Nhiều Nguy Hiểm 55
Tiết
13 Cần Giải Thoát Ngay Trong Hiện Kiếp 58
Tiết
14 Làm Thế Nào Để Thành Mãn Bồ Đề Tâm 64
Chương
3. Niệm Phật Phải Dứt Trừ Lòng Nghi
Mục
A. Lòng Tin, Cửa Vào Tịnh Độ 71
Tiết
15 Sự Trọng Yếu Của Lòng Tin 71
Tiết
16 Những Điều Làm Giảm Phá Niềm Tin 76
Mục
B. Giải Thích Các Điều Nghi 82
Tiết
17 Những Mối Nghi Thông Thường Về Tịnh Độ 82
Tiết
18 Những Mối Nghi Thiệp Lý 87
Tiết
19 Những Mối Nghi Căn Cứ Theo Kinh Điển 102
Tiết
20 Cần Phá Lối Chấp Nhị Biên 109
Chương
4. Niệm Phật Phải Quyết Định Nguyện Vãng Sanh
Mục
A. Nguyện Thiết, Động Lực Chánh của Sự Vãng Sanh 117
Tiết
21 Tánh Cách Trọng Yếu Của Sự Phát Nguyện 117
Tiết
22 Kinh Văn Khuyên Phát Nguyện 120
Tiết
23 Thử Xét Qua Những Tâm Nguyện Cầu Vãng Sanh 122
Mục
B. Giới Thiệu Lời Văn Phát Nguyện Của Tiền Nhơn 129
Tiết
24 Văn Phát Nguyện Của Ngài Liên Trì Và Từ Vân 129
Tiết
25 Phát Nguyện Cần Phải Khẩn Thiết 134
Chương
5. Niệm Phật Phải Hành Trì Cho Thiết Thật
Mục
A. Môn Niệm Phật Với Tứ Đoạt Và Tứ Hạnh 141
Tiết
26 Hạnh Tinh Chuyên Cũng Là Điểm Không Thể Thiếu 141
Tiết
27 Niệm Phật Với Tứ Đoạt 143
Tiết
28 Niệm Phật Với Tứ Hạnh 146
Mục
B. Khái Luận Về Các Phương Pháp Niệm Phật 149
Tiết
29 Bốn Môn Niệm Phật 149
Tiết
30 Mười Phương Thức Trì Danh 153
Mục
C. Đi Vào Đường Lối Thật Hành 163
Tiết
31 Bốn Môn Tam Muội 163
Tiết
32 Ba Phần Hành Trì 167
Tiết
33 Cách Đối Trị Hôn Trầm Tán Loạn 175
Chương
6. Niệm Phật Phải Đoạn Tuyệt Phiền Não
Mục
A. Lược Đàm Về Tham Phiền Não 183
Tiết
34 Phương Diện Khai Tâm 183
Tiết
35 Đối Trị Dục Nhiễm 186
Tiết
36 Đối Trị Tham Vi Tế 190
Mục
B. Lược Đàm Về Sân Phiền Não 194
Tiết
37 Phương Pháp Đối Trị Sân 194
Tiết
38 Cách Đoạn Tuyệt Thị Phi 196
Tiết
39 Những Lời Khuyên Răn Về Việc Thị Phi 199
Mục
C. Lược Đàm Về Si Phiền Não 207
Tiết
40 Nói Chung Về Nghiệp Si 207
Tiết
41 Phải Diệt Niệm Buồn Chán 210
Tiết
42 Cách Đối Trị Tổng Quát 215
Chương
7. Niệm Phật Phải Khắc Kỳ Cầu Chứng Nghiệm
Mục
A. Nên Định Kỳ Kiết Thất 221
Tiết
43 Sự Sống Chết Lớn Lao 221
Tiết
44 Ý Nghĩa Kiết Thất 223
Tiết
45 Cách Đả Thất 226
Mục
B. Quyết Định Cầu Nghiệm 230
Tiết
46 Sự Và Lý 230
Tiết
47 Sự Trì, Lý Trì 233
Tiết
48 Sự Nhứt Tâm, Lý Nhứt Tâm 243
Mục
C. Cảnh Giới Phát Hiện 247
Tiết
49 Nội Cảnh Giới 247
Tiết
50 Ngoại Cảnh Giới 253
Tiết
51 Biện Ma Cảnh 257
Tiết
52 Các Loại Ma 263
Chương
8. Niệm Phật Phải Bền Lâu Không Gián Đoạn
Mục
A. Yếu Điểm Của Môn Tịnh Độ 281
Tiết
53 Phải Nhớ Chí Nguyện Để Tinh Tấn 281
Tiết
54 Pháp Môn Thoát Sanh Tử Trong Một Đời 283
Tiết
55 Niệm Phật Chớ Sợ Cười, Đừng Chờ Hẹn 287
Mục
B. Làm Thế Nào Niệm Được Bền Lâu? 292
Tiết
56 Phải Tuần Tự Tiến Tu 292
Tiết
57 Nên Cầu Tinh Thuần, Đừng Tham Nhiều 295
Tiết
58 Chớ Để Mất Phần Nhập Phẩm 298
Mục
C. Tịnh Độ, Môn Giải Thoát Đăc Biệt 302
Tiết
59 Niệm Phật, Phương Pháp Dễ Tu 302
Tiết
60 Từ Tán Tâm Sẽ Đi Đến Định Tâm 304
Tiết
61 Mười Phương Tịnh Độ Và Đâu Suất Tịnh Độ 309
Chương
9. Niệm Phật Phải An Nhẫn Các Chướng Duyên
Mục
A. Nói Lược Về Các Duyên Khảo 317
Tiết
62 Vài Nguyên Nhân Của Các Chướng Duyên 317
Tiết
63 Các Duyên Ma Khảo 321
Mục
B. Phương Thức Hóa Giải Chướng Duyên 333
Tiết
64 Lời Khuyên Dạy Của Cổ Đức 333
Tiết
65 Cách Giữ Vững Tâm Không Thối Chuyển 341
Mục
C. Những Gương Về Sự An Nhẫn 349
Tiết
66 Sự An Nhẫn Của Cư Sĩ Tiền Vạn Dật 349
Chương
10. Niệm Phật Phải Dự Bị Lúc Lâm Chung
Mục
A. Những Dự Bị Cần Thiết Cho Lúc Lâm Chung 359
Tiết
67 Dự Bị Về Ngoại Duyên 359
Tiết
68 Dự Bị Về Tinh Thần 361
Mục
B. Sự Khẩn Yếu Lúc Lâm Chung 369
Tiết
69 Thỉnh Bậc Tri Thức Khai Thị 369
Tiết
70 Cách Thức Trợ Niệm 372
Mục
C. Điều Khẩn Yếu Sau Khi Mãn Phần 378
Tiết
71 Khi Tắt Hơi Cho Đến Lúc Truy Tiến 378
Tiết
72 Những Gương Đắc Thất Về Sự Trợ Niệm 382
Lời
Sau Cùng
Lời
Phi Lộ
Bản thảo quyển này vừa viết
xong, có vài ba đại đức hỏi mượn luân phiên nhau xem, rồi
cật vấn:
- Chúng tôi thấy chư vị hoằng
dương về Thiền Tông, dường như có ý bài xích Tịnh Độ.
Chẳng hạn như trong quyển Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất
có câu: ỏNiệm Phật tụng kinh đều là vọng tưởngõ. Còn
trong đây lại bảo: ỏMôn Tịnh Độ hợp thời cơ, gồm nhiếp
ba căn, kiêm thông cả Thiền, Giáo, Luật, Mậtõ. Xem ra cũng
dường như có ý cho Tịnh Độ là độc thắng, sự việc ấy
như thế nào?
Đáp: Không phải thế đâu?
Mỗi môn đều có tông chỉ riêng. Các bậc hoằng dương tùy
theo chỗ lập pháp của mình, bao nhiêu phương tiện thuyết
giáo đều đi về những tông chỉ ấy. Như bên Thiền lấy:
ỏChỉ thẳng lòng người, thấy tánh thành Phậtõ làm tông
chỉ. Tịnh Độ môn lấy: ỏMột đời vãng sanh, được bất
thối chuyểnõ làm tông. Bên Hoa Nghiêm lấy: ỏLìa thế gian
nhập pháp giớiõ làm tông. Thiên Thai giáo lấy: ỏMở, bày,
ngộ vào tri kiến Phậtõ làm tông. Bên Tam Luận lấy: ỏLìa
hai bên, vào trung đạoõ làm tông. Pháp Tướng môn lấy: ỏNhiếp
muôn pháp về Chân Duy Thứcõ làm tông. Mật giáo lấy: ỏTam
mật tương ưng, tức thân thành Phậtõ làm tông. Và Luật
môn lấy: ỏNhiếp thân ngữ ý vào Thi La Tánhõ làm tông.
Cho nên, lời nói bên Thiền
ở trên, không phải bác Tịnh Độ, hay bác niệm Phật tụng
kinh, mà chính là phá sự chấp kiến về Phật và Pháp của
người tu. Nếu niệm Phật và tụng kinh là thấp kém sai lầm,
tại sao từ Đức Thích Tôn cho đến chư Bồ Tát, Tổ Sư đều
ngợi khen khuyên dạy tụng kinh niệm Phật? Nên biết, Vĩnh
Minh thiền sư, tương truyền là hóa thân của Phật A Di Đà,
mỗi ngày đều tụng một bộ Pháp Hoa. Lại, Phổ Am đại
sư cũng nhân tụng kinh Hoa Nghiêm mà được ngộ đạo. Sự
thuyết giáo bên Tịnh Độ cũng thế, không phải bác phá Thiền
Tông, chỉ nói lên chỗ đặc sắc thiết yếu của bản môn,
để cho học giả suy xét tìm hiểu sâu rộng thêm, mà tùy
thích tùy cơ, chọn đường thú nhập.
Lại, mỗi môn tuy tông chỉ
không đồng, nhưng đều là phương tiện dẫn chung về Phật
Tánh. Như một đô thành lớn có tám ngõ đi vào, mà nẻo nào
cũng tập trung về đô thị ấy. Các tông đại khái chia ra
làm hai, là Không môn và Hữu môn. Không môn từ phương tiện
lý tánh đi vào. Hữu môn từ phương tiện sự tướng đi vào.
Nhưng đi đến chỗ tận cùng thì dung hội tất cả, sự tức
lý, lý tức sự, tánh tức tướng, tướng tức tánh, nói cách
khác: ỏsắc tức là không, không tức là sắc, không và sắc
chẳng khác nhau. Cho nên khi xưa có một vị đại sư tham thiền
ngộ đạo, nhưng lại mật tu về Tịnh Độ. Lúc lâm chung
ngài lưu kệ phó chúc cho đại chúng, rồi niệm Phật sắp
vãng sanh. Một vị thiền giả bỗng lên tiếng hỏi: ỏCực
Lạc là cõi hữu vi, sao tôn đức lại cầu về làm chi?õ Đại
sư quát bảo: ỏNgươi nói vô vi ngoài hữu vi mà có hay sao?õ
Thiền giả nghe xong chợt tỉnh ngộ. Thế nên Thiền và Tịnh
đồng về một mục tiêu. Hữu môn cùng Không môn tuy dường
tương hoại mà thật ra tương thành cho nhau vậy.
Đến như nói: ỏTịnh Độ
hợp thời cơ, gồm nhiếp ba căn, kiêm thông cả Thiền, Giáo,
Luật, Mậtõ, chính là lời khai thị của chư cổ đức như:
ỏLiên Trì, Triệt Ngộ, Ngẫu Ích, Kiên Mật. Các đại sư
này là những bậc long tượng trong một thời, sau khi tham thiền
ngộ đạo, lại xương minh về lý mầu của Tịnh Độ pháp
môn. Như Triệt Ngộ đại sư, trong tập Ngữ Lục, đã bảo:
ỏMột câu A Di Đà, tâm yếu của Phật ta. dọc quán suốt
năm thời, ngang gồm thâu tám giáoõ. Và Kiên Mật đại sư
sau khi quán sát thời cơ, trong Tam Đại Yếu, cũng bảo: ỏĐời
nay tham thiền chẳng nên không kiêm Tịnh Độ, phòng khi chưa
chứng đạo bị thối chuyển, há chẳng kinh sợ lạnh lòng?õ
Một câu A Di Đà, nếu không phải là bậc thượng căn, đại
triệt, đại ngộ, tất không thể hoàn toàn đề khởi. Nhưng
với câu này, kẻ hạ căn tối ngu vẫn chẳng chút chi kém
thiếu!õ Thế nên, thuốc không quí tiện, lành bệnh là thuốc
hay; pháp chẳng thấp cao, hợp cơ là pháp diệu. Tịnh Độ
với Thiền Tông thật ra chẳng thấp cao hơn kém. Nhưng luận
về căn cơ, thì Thiền Tông duy bậc thượng căn mới có thể
được
lợi ích; còn môn Tịnh Độ thì gồm nhiếp cả ba căn, hạng
nào nếu tu cũng đều dễ thành kết quả. Luận về thời
tiết thì thời mạt pháp này, người trung, hạ căn nhiều,
bậc thượng căn rất ít nếu muốn đi đến thành quả giải
thoát một cách chắc chắn, tất phải chú tâm về Tịnh Độ
pháp môn. Đây do bởi lòng đại bi của Phật, Tổ, vì quán
thấy rõ thời cơ, muốn cho chúng sanh sớm thoát nỗi khổ
luân hồi, nên trong các kinh luận đã nhiều phen nhắc nhở.
Điều này là một sự kiện rất quan yếu và hết sức xác
thật!
Tuy nhiên, như trong kinh nói:
chúng sanh sở thích và tánh dục có muôn ngàn sai biệt không
đồng, nên chư Phật phải mở vô lượng pháp môn mới có
thể thâu nhiếp hết được. Vì vậy Tịnh Độ tuy hợp thời
cơ, song chỉ thích ứng một phần, không thể hợp với sở
thích của tất cả mọi người, nên cần phải có Thiền Tông
và các môn khác, để cho chúng sanh đều nhờ lợi ích, và
Phật Pháp được đầy đủ sâu rộng. Cho nên dù đã tùy
căn cơ, sở thích của mình mà chọn môn Tịnh Độ, thâm ý
bút giả vẫn mong cho Thiền Tông và các môn khác được lan
truyền rộng trên đất nước này. Và các môn khác, nếu đem
lại cho chúng sanh dù một điểm lợi ích nhỏ nhen nào, bút
giả cũng xin hết lòng tùy hỷ. Tóm lại, Hữu môn và Không
môn nói chung, Thiền Tông và Tịnh Độ nói riêng, đồng cùng
đi về chân tánh, tuy hai mà một, đều nương tựa để hiển
tỏ thành tựu lẫn nhau, và cũng đều rất cần có mặt trên
xứ Việt Nam, cho đến cả thế giới.
Mấy vị đại đức sau khi
nghe xong đều tỏ ý tán đồng. Nhân tiện, bút giả lại trần
thuật bài kệ của Tây Trai lão nhơn để kết luận, và chứng
tỏ người xưa cũng đã từng đồng quan điểm ấy:
Tức tâm là độ lý không
ngoa
Tịnh khác Thiền đâu, vẫn
một nhà
Sắc hiển trang nghiêm miền
diệu hữu
Không kiêm vô ngại cõi hằng
sa
Trời Tây sáng đẹp màu
châu ngọc
Nguyện Phật bao la đức
hải hà
Ngoảnh lại đường tu, ai
sớm tỉnh?
Nỗi thương ác đạo mãi
vào ra!
Thích Thiền Tâm
cẩn chí
Thứ Đệ và
Chương Yếu
Thứ đệ trong quyển này, chia
thành Chương, Mục, Tiết, Đoạn khác nhau, mỗi Chương có
nhiều Mục, mỗi Mục có nhiều Tiết, và mỗi Tiết có nhiều
Đoạn.
Về Chương chỉ có mười,
ghi số thứ tự La Mã (I-II-III) từ Đệ Nhất Yếu đến Đệ
Thập Yếu.
Về Mục, ghi số thứ tự theo
A-B-C.
Về Tiết, ghi số thứ tự
1-2-3, nhưng lại tiếp tục quán thông từ đầu đến cuối
quyển, diễn thành từ số 1 cho đến số 72. Tuy sắp thành
Chương, Mục, Tiết, Đoạn, nhưng Tiết mới chính là đơn
vị, và thành phần cốt cán của toàn quyển. Và quyển này
là sự kết hợp hay thành phần của 72 Tiết chung góp lại.
Về Đoạn, không nêu chữ Đoạn,
bởi nó chỉ có tánh cách gây niệm chú ý hoặc sự phân biệt
trong mỗi Tiết, nên bút giả đánh dấu bằng ngôi sao ((),
đôi khi cũng ghi theo số thứ tự 1-2-3. Nhưng đây chỉ là
số ít, không có tánh cách quán xuyến thành số nhiều như
thứ tự của Tiết. Và đó là điểm khác biệt.
Niệm Phật Thập Yếu, theo
nhan đề là mười điều thiết yếu của môn Niệm Phật hay
của người tu pháp Niệm Phật. Mười điều này sẽ diễn
thành mười chương theo như trên đã nói.
Mười chương ấy như sau:
-
Niệm Phật phải vì thoát sanh
tử.
-
Niệm Phật phải phát lòng Bồ
Đề.
-
Niệm Phật phải dứt trừ lòng
nghi.
-
Niệm Phật phải quyết định
nguyện vãng sanh.
-
Niệm Phật phải hành trì cho
thiết thật.
-
Niệm Phật phải đoạn tuyệt
phiền não.
-
Niệm Phật phải khắc kỳ cầu
chứng nghiệm.
-
Niệm Phật phải bền lâu không
gián đoạn.
-
Niệm Phật phải an nhẫn các
chướng duyên.
-
Niệm Phật phải dự bị lúc
lâm chung.