Ghi Chú (1)
Luận này có 11 phần, ngoài 10 phần
là 10 tiết mục, còn có phần 1 này là cương yếu. Nay tôi
đổi đi một chút, gọi phần này là phần đầu, còn 10 phần
sau đúng theo số 10 tiết mục.
Ghi Chú (2)
Là các vị Bồ tát ở địa vị
cao, đã ngộ nhập đại thừa, mà ngộ nhập một cách khéo
léo.
Ghi Chú (3)
Thù thắng, thù là lớn, lạ, thắng
là hơn, siêu việt. Thù thắng là rất hơn, tối siêu việt.
Ghi Chú (4)
Ghi chú này có 4 điều. Điều 1,
dịch như vậy là dịch tắt, dịch rõ thì, thí dụ tiết mục
môểt phải là ngôn ngữ thù thắng về tiết mục thù thắng
"căn cứ của các pháp sở tri". Điều 2, ý nghĩa của 10 tiết
mục sẽ nói trong chương 2 dưới đây. Điều 3, 10 tiết mục
này thực sự chỉ có 7, vì 3 tiết mục sáu đến tám có thể
nói chung là 3 thứ tăng thượng giới định tuệ. Điều 4,
10 tiết mục có thể phân ra 3 loại: cảnh, gồm có 2 tiết
mục một và hai; hành, gồm có 6 tiết mục ba đến tám; quả,
gồm có 2 tiết mục chín và mười - cảnh là chân lý luận,
hành là phương pháp luận, quả là mục đích luận.
Ghi Chú (5)
Sở tri nghĩa là được biết đến.
Các pháp sở tri, chữ pháp nghĩa là khái niệm, một pháp là
một khái niệm. Cây bút là một pháp, mà cây bút dài hay ngắn,
trắng hay đen, cũ hay mới, tốt hay xấu, cũng toàn là một
pháp. Một ý tưởng là một pháp, mà ý tưởng ấy thiện
hay ác, đúng hay sai, lợi hay hại, mê hay ngộ, cũng toàn là
một pháp. Thế nên pháp bao gồm tất cả có không, tâm vật,
nhiễm tịnh, thiện ác, mê ngộ, thánh phàm. Các pháp ấy là
những đối tượng được biết, và luận này nói là 3 tánh,
đó gọi là các pháp sở tri. Căn cứ của các pháp sở tri,
căn cứ là căn bản; căn bản của các pháp sở tri là a lại
da. A lại da nên nói là chủ thể của các thức, là chủ thể
của các pháp, hơn là nói một thức. A lại da có nghĩa là
không mất, là kho tàng; nghĩa như vậy là cái nghĩa chủ thể.
Ghi Chú (6)
3 tánh (tính cách) là các pháp sở
tri. Nay hãy nói đơn giản nhất, thì 3 tánh là nói tính cách
không gian của các pháp. Mỗi pháp đều cùng lúc có 3 tánh,
và được ví dụ như sau. Như sợi giây gai phải do chỉ gai
mới có, đó là y tha (do yếu tố mới có); sợi giây gai ấy,
trong đêm tối hay từ đằng xa, mắt nhìn không rõ thì thấy
là con rắn, đó là biến kế (đối tượng chỉ tưởng tượng);
sợi giây gai ấy nếu ban ngày và mắt nhìn rõ thì thấy là
chỉ gai, đó là viên thành (đối cảnh rất chính xác). (Nhiếp
luận nói sợi giây gai ấy nếu được biết rõ là sắc hương
vị xúc, đó là viên thành).
Ghi Chú (7)
Nói a lại da hay nói 3 tánh như
trên, cũng đã thấy là duy thức. Nên duy thức là chân lý
của các pháp sở tri. Duy thức, nói chính xác thì a lại da
là căn bản của các pháp, nên gọi là duy thức; nói theo ngộ
nhập thì ngộ nhập duy thức là ngộ nhập 3 điều: 1. ngộ
nhập các pháp không thật, 2. ngộ nhập 2 phần tướng kiến
hình thành ra nhau, 3. ngộ nhập các pháp (mà Nhiếp luận gọi
là 11 thức) toàn là liên hệ với thức, nên gọi là duy thức.
Nhận thức được đạo lý duy thức tức là ngộ nhập chân
lý của 3 tánh (các pháp sở tri).
Ghi Chú (8)
6 độ là thí (cống hiến) giới
(khuôn phép) nhẫn (chịu đựng) tiến (tiến tới) định (chuyên
nhất) tuệ (minh sát). Độ là ba la mật đa, là đáo bỉ ngạn,
có nghĩa là toàn vẹn, hoàn hảo. Do 6 độ mà có sự ngộ
nhập duy thức, lại chính do sự ngộ nhập duy thức mà hoạt
dụng 6 độ: 6 độ là nhân mà cũng là quả của sự ngộ
nhập. Như vậy cũng đủ thấy ngộ nhập ở đây không phải
chỉ là lý giải, tâm đắc, chỉ là kiến thức, mà là sự
thể nhập và thể hiện của toàn bộ thân tâm đối với
đạo lý duy thức.
Ghi Chú (9)
10 địa là 10 cấp độ gần cuối
cùng của Bồ tát vị; 10 cấp độ này mới thật hoạt dụng
về 6 độ, ngộ nhập sâu vào đạo lý duy thức.
Ghi Chú (10)
Giới định tuệ (hay giới tâm
tuệ) là 3 học hay tăng thượng học (3 môn tu học hay 3 môn
tu học có tính cách tăng lên). Nhưng 3 học ở đây là của
10 Bồ tát vị, nên giới là bồ tát giới, định là các đại
định, tuệ là trí vô phân biệt. Các đại định thì quan
trọng nhất là thủ lăng nghiêm và hư không tạng. Thủ lăng
nghiêm dịch nghĩa là kiện hành (đi tới mạnh mẽ). Hư không
tạng là kho tàng hư không. Trí vô phân biệt, vô phân biệt
có nghĩa là không còn có sự phân biệt biến kế: cái trí
không còn biến kế, gọi là trí vô phân biệt.
Ghi Chú (11)
Phật có 3 đức: đoạn đức (giải
thoát cứu cánh) trí đức (tuệ giác cứu cánh) ân đức (hóa
độ tất cả). Ở đây nói về 2 đức một và hai, còn đức
ba thì gồm trong đức hai. Đoạn đức ở đây là đại niết
bàn, tức niết bàn vô trú: sự giải thoát không vướng mắc
vào sinh tử và vào chính niết bàn. Trí đức ở đây là đại
bồ đề, gồm cả 4 trí tức là 3 thân.
Ghi Chú (12)
Cái trí Nhất thế trí, nhất thế
trí là trí tuệ toàn giác, là toàn giác. Cái trí toàn giác
gọi là đại bồ đề (đại giác).
Ghi Chú (13)
Chỉnh cú, chính văn là tụng, tức
như thi, câu và chữ không so le. Nhưng ở đây, và sau đây,
tôi không dịch ra chỉnh cú, mà chỉ dịch ra văn bình thường.
Ghi Chú (14)
Hai cực đoạn thêm bớt là nơi
y tha, cố chấp biến kế là thêm, không biết viên thành là
bớt.
Ghi Chú (15)
Sở thủ cũng là sở tri mà nói
về biến kế; khéo biết sở thủ là biết sở thủ duy thức.
Ghi Chú (16)
Ba đại kiếp vô số là các bồ
tát địa phải trải qua 3 giai đoạn thì gian dài (mà dài đến
bao nhiêu là tùy sự nỗ lực và ngộ nhập mau hay chậm). Ba
giai đoạn là một diệt ngã chấp phần phân biệt, hai diệt
ngã chấp phần câu sinh và pháp chấp phần phân biệt, ba diệt
pháp chấp phần câu sinh; một ở sơ địa, hai ở bát địa,
ba ở thập địa.
Ghi Chú (17)
Bài chỉnh cú này có nghĩa a lại
da là căn bản của các pháp, do đó mà có sinh tử, cũng do
đó mà có niết bàn. Do a lại da mà có niết bàn, điều này
có 2 nghĩa. Nghĩa một, do a lại da mà có sinh tử, sinh tử
hết là niết bàn, nên nói a lại da là căn bản của sinh tử
niết bàn. Nghĩa hai, chủng tử các pháp sinh tử và niết bàn
đều là a lại da, nên nói a lại da là căn bản của sinh tử
và niết bàn. Nghĩa một sâu hơn; như cái tay chỉ xuống cũng
chính là cái tay chỉ lên: hết chỉ xuống thì chỉ lên, hết
sinh tử thì niết bàn.
Ghi Chú (18)
Chủng tử, nghĩa đen là hạt giống,
nghĩa chính là tiềm năng. Sóng đôi với chủng tử là hiện
hành, tức là hiện tượng. Bàn tay có tiềm năng viết chữ
là chủng tử, bàn tay ấy viết ra chữ là hiện hành. Chủng
tử và hiện hành đối với a lại da cũng tương tự như vậy.
Ghi Chú (19)
Đáng lẽ nói các pháp hoặc nói
các pháp nhiễm tịnh. Nhưng chỉ nói các pháp tạp nhiễm là
vì a lại da là chỗ dựa của các pháp tạp nhiễm, mà các
pháp này huân tập và tăng trưởng a lại da; còn các pháp
thanh tịnh tuy cũng lấy a lại da làm chỗ dựa mà là pháp
đối trị và chuyển y a lại da. Như cái tay có thể chỉ lên
(tịnh), nhưng bây giờ đang chỉ xuống (nhiễm), thì, dẫu
biết toàn thể cái tay chỉ xuống cũng chính là toàn thể
cái tay sẽ chỉ lên, nhưng đang chỉ xuống thì mệnh danh là
a lại da, và các pháp dựa vào nó, huân tập cho nó, cùng nó
làm nhân duyên cho nhau, là các pháp tạp nhiễm.
Ghi Chú (20)
Đoạn này cắt nghĩa a lại da là
không mất (vô một), là tàng (thâu tàng). Tàng có sở tàng,
năng tàng và chấp tàng. Sở tàng là a lại da làm quả cho
các pháp, tiếp nhận các pháp huân tập chủng tử (tức hiện
hành sinh chủng tử). Năng tàng là a lại da làm nhân cho các
pháp, duy trì chủng tử phát sinh các pháp (tức chủng tử
sinh hiện hành). Chấp tàng là a lại da là tự ngã mà chúng
sinh tự ý thức, chấp lấy.
Ghi Chú (21)
Dòng nước dốc là nước thác
ghềnh đổ mạnh xuống, trông như tấm vải. Chủng tử mà
hiện hành thì cũng như vậy. Hãy lấy ví dụ khác. Như những
hình ảnh trên màn ảnh: chúng do vô số hình ảnh liên tiếp
hiện hành mà thành. Vũ trụ của duy thức là như vậy, toàn
do chủng tử hiện hành.
Ghi Chú (22)
A đà na nghĩa chính là lấy (thủ).
A đà na là đặc biệt nói về sinh mệnh. Sinh mệnh chúng ta
từ khi mở đầu trong thai mẹ (kiết sinh) cho đến lúc kết
liễu một đời, nó là tổng thể của các giác quan (sắc
căn), là sinh mệnh của chúng ta (tự thể). Sinh mệnh ấy là
tổng thể hiện hành của tổng thể chủng tử, hiện hành
trong một thời kỳ (đời sống). Sinh mệnh ấy, a đà na là
chủ thể. Điều phải nói thêm, là trên đây chỉ nói một
đời. Nhưng đối với a đà na thì mỗi đời chỉ là một
giai đoạn. Giai đoạn thì liên tục: sự liên tục ấy, chủ
thể cũng là a đà na.
Ghi Chú (23)
Ý có 2: ý vô gián và ý ô nhiễm.
Thứ nhất, ý vô gián là nói chung với tiểu thừa mà vẫn
có khác tiểu thừa. Tiểu thừa cũng nói ý (trong 18 giới,
tức 6 căn, 6 cảnh và 6 thức, thì ý là ý căn trong 6 căn).
Nhưng hỏi ý đó là gì, thì tiểu thừa bảo nó không là gì
khác hơn chính là bản thân ý thức mà giai đoạn trước sinh
rồi diệt đi, nhường chỗ cho giai đoạn sau sinh ra, cái giai
đoạn trước đó gọi là ý vô gián, và là ý căn trong 6 căn.
Đại thừa cũng nhận có cái ý vô gián như vậy, nhưng nói
rằng đó là đẳng vô gián duyên chứ không phải tăng thượng
duyên. Mà ý căn thì phải là tăng thượng duyên. Nên ý căn
phải biệt lập, không phải chỉ là vô gián diệt. Như vậy
nói về ý vô gián, cái ý thứ nhất, mà đại thừa đã khác
tiểu thừa. Thứ hai, ý ô nhiễm là ý thức về tự ngã: ngã
si, ngã kiến, ngã mạn và ngã ái. Chính cái ý ô nhiễm này,
vì vậy, làm cho tâm thức tạp nhiễm, và đó là cái ý chỉ
đại thừa nói đến.
Ghi Chú (24)
Sáu lý do chứng minh ý ô nhiễm
ở đây toàn là lấy 6 giáo nghĩa của tiểu thừa. Lý do 1
vô minh bất cọng và lý do 6 ngã chấp thường có, là có ý
ô nhiễm (ý thức tự ngã) mới có vô minh và ngã chấp hiện
hành trong mọi tâm thức thiện, ác và vô ký. Lý do 2 đồng
pháp 5 thức là 5 thức có 5 căn làm câu hữu y, thì ý thức
cũng vậy, phải có ý căn (ý ô nhiễm) làm câu hữu y. Lý
do 3 huấn thích danh từ là, như nhãn thức có nghĩa là thức
của nhãn căn, ý thức cũng vậy: ý thức là thức của ý
căn. Lý do 4, 2 định khác nhau là có ý nhiễm ô thì diệt
tận định mới khác vô tưởng định, vì diệt tận định
không còn ý ô nhiễm. Lý do 5 sinh trời vô tưởng không còn
ý thức mà vẫn còn ngã chấp: ngã chấp ấy chính là ý ô
nhiễm.
Ghi Chú (24B)
Tất cả tâm thức ở đây là tâm
thức thiện, ác, vô ký; mê, ngộ.
Ghi Chú (25)
Tính chất của tâm (gọi là tánh)
có 4 loại: thiện, ác, hữu phú vô ký (trung tính mà có ô
nhiễm) vô phú vô ký (trung tính mà không ô nhiễm). Ý ô nhiễm
vì là vi tế bằng hữu, như phiền não bị định chế ngự,
nên thuộc về loại thứ 3.
Ghi Chú (26)
Đoạn này chứng tỏ kinh của các
bộ phái không phải đồng nhất.
Ghi Chú (27)
Chính văn là 3 tướng: tự tướng,
nhân tướng, quả tướng. Nói tự tướng, quả tướng, nhân
tướng, mới thuận nghĩa hơn.
Ghi Chú (28)
Coi lại ghi chú 19 .
Ghi Chú (29)
Cùng sinh cùng diệt là 2 cái ướp
với nhau mà ngấm ngầm biến đổi, sinh và mất liên tục,
nên cái này mới có cái kia.
Ghi Chú (30)
Xưa người ta đem mè trộn với
hoa thơm, ủ lại, đến khi hoa rã ra thì đem mè ấy ép lấy
dầu, dầu này thành dầu thơm.
Ghi Chú (31)
A lại da làm nhân tố cho các pháp
là chủng tử sinh hiện hành, các pháp làm nhân tố cho a lại
da là hiện hành sinh chủng tử.
Ghi Chú (32)
Duyên có 4, và lấy nhãn thức làm
mẫu mà nói, thì (một) nhãn thức ấy do chủng tử của nó
hiện hành mà có, đó là nhân duyên (cái nhân làm duyên tố);
(hai) nhưng chủng tử nhãn thức hiện hành được là phải
có nhãn căn, đó là tăng thượng duyên (dữ kiện thêm lên
làm duyên tố); (ba) phải có sắc cảnh, đó là sở duyên duyên
(đối cảnh làm duyên tố); (bốn) và phải do chính bản thân
nhãn thức mà giai đoạn trước mất đi để chỗ cho giai đoạn
sau sinh ra, đó là đẳng vô gián duyên (sự mất đi của giai
đoạn trước làm duyên tố). Như vậy chỉ có chủng tử sinh
hiện hành (chủng tử nhãn thức sinh nhãn thức) và hiện hành
sinh chủng tử (nhãn thức sinh chủng tử nhãn thức) mới là
nhân duyên, ngoài ra là 3 duyên khác, không phải nhân duyên.
Ghi Chú (33)
Dịch sát và đủ là duyên khởi
ra những tự thể đáng ưa và đáng ghét khác nhau. Tự thể
là sinh mạng (và thế giới của sinh mạng), nói chung là quả
báo.
Ghi Chú (33B)
Tự tánh (bản thể) là phái Sổ
luận. Túc tác (việc làm cũ) là định mạng luận. Tự tại
(chúa trời Đại tự tại) là nhất thần giáo. Thật ngã (ngã
là phạn, phạn là ngã, thật ngã: phạn ngã) là phái Vệ đà.
Không có nguyên nhân là tự nhiên luận.
Ghi Chú (34)
Tác giả: chủ thể tạo tác. Thọ
giả: chủ thể sử dụng.
Ghi Chú (35)
Coi lại chính văn 2 loại duyên
khởi. Tự tánh là loại duyên khởi thứ nhất, tự thể là
loại duyên khởi thứ hai. Tự tánh là đặc tính khác nhau,
tự thể là sinh mạng khác nhau.
Ghi Chú (36)
Chủng tử ở ngoài là hạt giống
nói theo nghĩa đen. Chủng tử ở trong là năng tính gọi theo
tiếng ví dụ.
Ghi Chú (37)
Để hiểu 3 bài chỉnh cú này,
phải biết trước 3 pháp số sau đây. Thứ nhất là chủng
tử có 6 đặc tính: một là sát na diệt, là chủng tử sinh
diệt trong từng sát na; hai là quả câu hữu, là chủng tử
câu hữu với căn và cảnh; ba là hằng tùy chuyển, là chủng
tử liên tục với hiện hành; bốn là tánh quyết định, là
chủng tử cùng tính chất với hiện hành; năm là đãi chúng
duyên, là chủng tử đủ mọi duyên tố mới hiện hành; sáu
là dẫn tự quả, là chủng tử chỉ dẫn ra hiện hành của
nó. Thứ hai là năng huân có 4 đặc tính: một là có sinh diệt,
là có sinh diệt chuyển biến; hai là có thắng dụng, là có
cường lực tư duy và thiện ác; ba là có tăng giảm, là có
khi tăng khi giảm; bốn là hòa hợp với sở huân, là cùng
thân cùng lúc với sở huân. Năng huân, như vậy, là 6 thức
trước. Thứ ba là sở huân có 4 đặc tính: một là kiên trụ,
là liên tục ổn định; hai là vô ký, là vô ký trung tính;
ba là khả huân, là khả năng thọ huân; bốn là hòa hợp với
năng huân, là cùng thân cùng lúc với năng huân. Sở huân,
như vậy, là thức thứ 8. Các bài tụng 1, 2 và 3 là nói chủng
tử có 6 đặc tính và sở huân có 4 đặc tính.
Ghi Chú (38)
Tiểu thừa cho 6 thức trước là
sở huân, nhưng 6 thức ấy có 3 sự sai biệt là căn, cảnh
và tác ý đều khác nhau, nên không có sự tương ưng với
năng huân; tiểu thừa lại cho 6 thức trước, ngay bản thân
mà giai đoạn sau là sở huân, nhưng 2 giai đoạn trước và
sau đồng loại mà không câu hữu, nên cũng không thích ứng
với đặc tính của sở huân.
Ghi Chú (39)
Chủng tử có 2 lực, lực năng
sinh và lực năng dẫn, năng sinh là sinh ra hiện hành, năng
dẫn là duy trì hiện hành. Cái cây khô rồi, cái thân chết
rồi, mà còn một thì gian mới hủy diệt hẳn, thì đó là
lực năng dẫn.
Ghi Chú (40)
Hai loại chủng tử cùng có 6 đặc
tính, nhưng đứng về mặt huân tập thì 2 loại chủng tử
rất khác nhau. Chủng tử ở ngoài có thứ có huân tập (như
hoa ướp mè) có thứ không huân tập (như bùn mọc sen). Còn
chủng tử ở trong nhất thiết phải có sự huân tập. Lấy
thí dụ như sự đa văn. Nếu sự huân tập đa văn không có
thì không thể có kết quả của sự đa văn (là ký ức và
tác ý đúng lý), lại làm đa văn thì mất kết quả, không
làm đa văn mà được kết quả, thì rất sai lầm.
Ghi Chú (41)
Chủng tử ở ngoài thực ra là
hiện hành, do chủng tử ở trong làm nhân duyên, nghĩa là do
a lại da tiếp nhận huân tập mà có chủng tử (chủng tử
ở trong) và hiện hành (chủng tử ở ngoài). Chủng tử ở
ngoài mọc lên cây cối, đó là hiện hành sinh hiện hành (là
tăng thượng duyên, không phải nhân duyên).
Ghi Chú (42)
Thức nhân duyên là a lại da, làm
nhân duyên cho các pháp; thức thọ dụng là 6 thức trước,
thọ dụng quả báo khổ vui. Sự thọ dụng của thức thọ
dụng là diễn biến qua 3 tâm sở: thọ dụng (thọ) phân biệt
(tưởng) suy động (hành, đặc biệt là tư trong hành).
Ghi Chú (43)
Chữ các pháp ở đây là chữ các
pháp tạp nhiễm đã nói trong những đoạn trước, các pháp
này là chỉ cho chuyển thức (thức thọ dụng). Tàng thức
ở đây là a lại da (thức nhân duyên). Hai thức này làm nhân
làm quả cho nhau là một, các pháp đối với tàng thức, thì
các pháp năng huân (nhân) tàng thức sở huân (quả), hai, tàng
thức đối với các pháp, thì chủng tử tàng thức (nhân)
hiện hành các pháp (quả).
Ghi Chú (44)
6 thức, phải nói rõ là bản thân
của 6 thức (thức thọ dụng); bản thân 6 thức, ngoài nhân
duyên đã nói, còn có 3 duyên nữa (nghĩa là đủ cả 4 duyên).
Ghi Chú (45)
3 sự duyên khởi ở đây là ngoài
sự duyên khởi thứ nhất duyên khởi ra tự tánh khác nhau
(ở đây gọi là cùng tận sinh tử) và sự duyên khởi thứ
hai duyên khởi ra tự thể khác nhau (ở đây gọi là đường
lành đường dữ, dịch sát là quả báo đáng ưa hay không
đáng ưa), ở đây thêm 1 sự duyên khởi nữa, đó là khả
năng thọ dụng, để nói về thức thọ dụng. Nói 3 sự duyên
khởi này có đủ 4 duyên là nói tổng quát, phân tách thì
là nhân duyên (sự duyên khởi cùng tận sinh tử), là tăng
thượng duyên (sự duyên khởi đường lành đường dữ), là
3 duyên tăng thượng duyên, sở duyên duyên và đẳng vô gián
duyên (sự duyên khởi khả năng thọ dụng). Còn nhân duyên
là sự duyên khởi cùng tận sinh tử đã nói.
Ghi Chú (46)
Phải bổ túc như vầy nữa mới
rõ: mà ý thức thì không hoàn toàn ô nhiễm, thì có gián đoạn,
thì có đối cảnh rõ rệt.
Ghi Chú (47)
Thực là ăn. Ăn ở đây có nghĩa
là khả năng duy trì sự sống. Với cái nghĩa như vậy, ăn
có 4 thứ. Một là đoàn thực, ăn bằng thực phẩm. Hai là
xúc thực, ăn bằng sự tiếp xúc đối cảnh của các giác
quan. Ba là tư thực, ăn bằng sự tư duy. Bốn là thức thực,
ăn bằng sự duy trì căn thân của thức dị thục.
Ghi Chú (48)
Thức chủng tử dị thục, hay thức
chủng tử thức dị thục, là danh từ gọi đặc tính làm
nhân và đặc tính làm quả của a lại da.
Ghi Chú (49)
Cái thiện tâm lệ thuộc cõi Dục
là chính cái tham lệ thuộc cõi Dục vừa nói ở trên. Cái
tham ấy bây giờ được gọi là thiện tâm là vì nó ham muốn
ly dục mà siêng tu.
Ghi Chú (50)
Chánh văn (nghe chánh pháp một cách
chính xác) do pháp giới tối thanh tịnh làm nhân, do trí vô
phân biệt làm quả. Đẳng lưu là bản thân (ở đây là pháp
giới tối thanh tịnh) thế nào thì chảy ra như vậy.
Ghi Chú (51)
Thế gian và xuất thế ở đây
là hữu lậu và vô lậu.
Ghi Chú (52)
Sữa hòa với nước mà ngỗng chỉ
uống sữa, còn nước vẫn còn, điều này tôi thực không
biết và chưa thấy.
Ghi Chú (53)
Diệt định là gọi tắt diệt
tận định hay diệt thọ tưởng định. Tiểu thừa thì đệ
tam quả sắp lên, đại thừa thì bồ tát bất thoái sắp lên,
mới nhập được định này. Nhập định này thì cảm giác
(thọ) và tư tưởng (tưởng) đều không còn hiện hành.
Ghi Chú (54)
Trước đã nói 2 giai đoạn trước
sau thì không phải là câu hữu để huân tập thành chủng
tử.
Ghi Chú (55)
Danh ngôn huân tập, danh ngôn là
các pháp. Các pháp mà gọi là danh ngôn, là vì các pháp là
những khái niệm. Khái niệm là danh ngôn. Danh ngôn có 2 loại:
chính khái nhiệm là biểu thị các pháp, nên gọi nó là danh
ngôn hiển cảnh; rồi ngôn ngữ văn tự truyền đạt danh ngôn
hiển cảnh thì gọi là danh ngôn biểu nghĩa. Nói danh ngôn
huân tập cũng như nói các pháp huân tập, huân tập thành
ra chủng tử tương lai của các pháp, các pháp tương lai do
chủng tử ấy mà hiện hành. Nên danh ngôn huân tập là duyên
khởi thứ nhất, duyên khởi ra tự tánh khác nhau.
Ghi Chú (56)
Ngã kiến huân tập là mạt na (ý
ô nhiễm) ý thức a lại da làm tự ngã. Ý thức tự ngã này
huân tập thành ra chủng tử thấy có mình có người, tự
thể (sinh mạng) khác nhau.
Ghi Chú (57)
Hữu chi huân tập, hữu chi là 12
nhân duyên. Do hữu chi huân tập, bằng các nghiệp phước,
phi phước và bất động, mà có ra tự thể (và quả báo của
tự thể) là 3 cõi 6 đường đáng ưa và đáng ghét. Ngã kiến
huân tập và hữu chi huân tập là duyên khởi thứ hai, duyên
khởi ra tự thể khác nhau.
Ghi Chú (58)
Thế giới ở ngoài, chính văn là
khí thế gian, là thế giới làm đồ dùng của tự thể. Tự
thể, chính văn là nội xứ, là cái tổng thể gồm cả 6 giác
quan.
Ghi Chú (59)
Cọng kiết là kiết sử ai cũng
có như nhau. Cái gọi là cọng kiết, phải thêm: thế giới
ở ngoài do cọng kiết thành ra.
Ghi Chú (60)
Tướng (sắc thái) cũng gọi là
tánh (tính cách). Tên tắt 3 tướng là y tha, biến kế, viên
thành.
Ghi Chú (61)
Phân biệt hư vọng: sự phân biệt
không chính xác.
Ghi Chú (62)
Có 11 thức tất cả. Hãy tạm gác
chữ thức để cắt nghĩa 11 thứ đã. Thân (thân) là cái tổng
thể gồm có 5 giác quan. Chủ thể của thân (thân giả) là
ý ô nhiễm. Chủ thể của sự tiếp nhận (thọ giả) là ý
vô gián diệt. Được tiếp nhận (bỉ sở thọ) là 6 cảnh.
Tiếp nhận (bỉ năng thọ) là 6 thức. Thì gian (thế) là vị
lai hiện tại quá khứ liên tục. Số mục (số) là những
số mục hàng lẻ, hàng chục, v/v. Thế giới cư trú (xứ)
là thế giới chúng sinh cư trú. Nói năng (ngôn thuyết) là
ngôn ngữ xuất từ thấy nghe hay biết. Mình người (tự tha
sai biệt) là bản thân với tha thân. Đường lành đường
dữ (thiện thú ác thú tử sinh) là những nẻo đường sinh
tử. Tất cả 11 thứ này đều gọi là thức, là vì liên hệ
đến thức, do thức biểu thị. Tất cả 11 thức này là y
tha khởi, bao gồm hết thảy mọi sự sai biệt của nhân sinh
vũ trụ.
Ghi Chú (63)
Hiện tượng thác loạn (loạn tướng)
là sắc, bản thể thác loạn (loạn thể) là thức. Sắc với
thức này là khách thể với chủ thể mà từ đó có mọi
sự thác loạn.
Ghi Chú (64)
Ở đây, trước đây, và sau đây
còn
nữa, nên nhớ chữ các thức là 11 thức, tức là tất cả
các pháp.
Ghi Chú (65)
Phải để ý mấy danh từ. Sắc
thức là sắc cảnh, nhãn thức là nhãn căn, thức của nhãn
thức là nhãn thức; pháp thức là pháp cảnh, ý thức là ý
căn, thức của ý thức là ý thức ...
Ghi Chú (65B)
Có thật là thấy các pháp thật
có, phân biệt là thấy các pháp khác nhau.
Ghi Chú (66)
Một là cái trí biết mâu thuẫn,
là có thật như nước mà người thấy nước, quỉ thấy máu,
trời thấy cung điện: thật thì sao một mà thấy khác nhau
như vậy? Hai là không thật như việc đã qua, sẽ đến, hay
chiêm bao, không thật mà vẫn có ấn tượng được biết:
thật thì sao không mà thấy có như vậy? Ba, nếu đối cảnh
là thật thì cái trí của chúng ta cũng thật rồi, cần gì
phải dụng công tu tập? Bốn, thì có 3: (1) nếu là thật thì
sao định quán xanh thấy xanh cả? (2) nếu là thật thì sao
quán pháp, nghĩ gì là thấy liền? (3) nếu là thật thì sao
trí vô phân biệt thấy không có gì thật hết?
Ghi Chú (67)
Ý thức ở đây là ý và ý thức.
Ghi Chú (68)
Sợi giây gai là sở biến kế,
con rắn do thấy lầm sợi giây là biến kế chấp, vậy sợi
giây với con rắn là một hay khác nhau? sở biến kế với
biến kế chấp là một hay khác nhau? Thật ra con rắn là đối
tượng nhận thức hóa, không thể nói là một hay khác nhau.
Ghi Chú (69)
Sai biệt cũng gọi là cọng tướng.
Thí dụ nói sắc vô thường, thì sắc là tự tánh, vô thường
là sai biệt (thế nhưng sự sai biệt ấy lại có như pháp
khác, nên cũng gọi là cọng tướng, đối lại tự tánh gọi
là tự tướng).
Ghi Chú (70)
Bản thể vốn thanh tịnh, gọi
là tự tánh viên thành; tự tánh viên thành ấy đã hiển lộ
thì gọi là thanh tịnh viên thành.
Ghi Chú (71)
Như hư không vốn trong sáng, chỉ
vì mây che mà u ám, tịnh trừ mây che thì trong sáng hoàn trong
sáng. Đó là sự trong sáng vốn có, không phải mới làm ra.
Ghi Chú (72)
Ở đây chỉ kể có 2 pháp.
Ghi Chú (73)
Trong 8 ví dụ, sóng nắng là từ
đằng xa nhìn hơi nắng bốc lên, thấy như sóng dợn, làm
cho nai khát sinh ra cái tưởng là nước. Ảnh tượng, ở đây
là hình ảnh trong gương. Bóng sáng là do ánh sáng mà có những
bóng in trên vách trên đất. Tiếng dội là ở trong hang núi
mà kêu lên thì tiếng dội lại y như tiếng kêu. Trăng nước
là bóng trăng dưới nước, nước trong và lặng thì thấy
được. Biến hóa là nhà ảo thuật làm ra ảo thuật mà người
thích.
Ghi Chú (74)
Địa giới, hay địa đại, là
1 trong 4 thứ thuộc vật lý cấu thành vũ trụ; 4 thứ ấy
là cố thể (địa giới) dịch thể (thủy giới) nhiệt lực
(hỏa giới), động lực (phong giới). Nguyên ngữ là kiên,
thấp, noãn, động (còn địa, thủy, hỏa, phong, tức là đất,
nước, lửa, gió, chỉ là nói theo kiến thức phổ thông).
Ghi Chú (75)
Phật nói ngài là đức Thắng quán
(Tỳ bà thi), đó là căn cứ vào sự bình đẳng giữa các
đức Phật. Nói niệm hồng danh và phát nguyện mà có kết
quả lớn, đó là căn cứ vào thì gian cuối cùng. Nói phụng
sự nhiều Phật mới hiểu đại thừa, đó là căn cứ vào
sự hiểu cao sâu. Với 1 pháp mà khi khen khi chê, đó là căn
cứ vào ích lợi khác nhau cho người nghe.
Ghi Chú (76)
Về 4 bí mật, 2 thứ đầu của
luận này phải hội ý với luận Đại thừa trang nghiêm kinh
mới rõ. Bí mật dẫn vào, là thế nhân rất sợ vô ngã nên
phải căn cứ thế tục đế mà nói có ngã để dẫn dắt
họ; còn tiểu thừa ngộ nhập vô ngã nhưng rất sợ vô pháp,
nên phải căn cứ thế tục đế mà nói có pháp để dẫn
dắt họ. Bí mật về tướng là nói 3 tánh mà chính ra cho
thấy vô tánh. Bí mật đối trị là nói pháp môn có đến
84 ngàn chỉ vì đối trị 84 ngàn phiền não. Bí mật chuyển
biến là nói với ngụ ý bằng chữ nghĩa khác, ví dụ nói
như bài chỉnh cú đã dẫn. Nghĩa bài ấy như sau. Kiên cố
là ngoan cố, khó điều phục. Không kiên cố là không còn
sự kiên cố nói trên, tức là định. Biết được định
mới là kiên cố thật. Sự đảo ngược là thường lạc ngã
tịnh (đảo ngược vô thường bất lạc vô ngã bất tịnh).
Khéo sống trong sự đảo ngược là sống trong sự đảo ngược
mà không đảo ngược (vẫn sống bằng vô thường bất lạc
vô ngã bất tịnh). Cùng cực sự não loạn của phiền não
là những khổ hạnh khó nhẫn khó làm; mà nhẫn và làm được
cả nên được vô thượng giác.
Ghi Chú (77)
Duyên khởi cốt nói về sở tri
y (a lại da). Duyên sinh cốt nói về sở tri tướng (3 tự tướng).
Cả 2 tiết mục này là nói về cảnh (chân lý luận). Còn
ngữ nghĩa là nói về hành (phương pháp luận) và quả (mục
đích luâển). Do vậy, 3 tiết mục này bao quát toàn bộ đại
thừa.
Ghi Chú (78)
Do danh ngôn mà sinh ra các pháp,
đó là nói dị thục làm nhân cho chuyển thức; danh ngôn lại
do các pháp huân tập, đó là nói chuyển thức làm nhân do
dị thục.
Ghi Chú (79)
Thức là phân biệt, tướng là
sở phân biệt, kiến là năng phân biệt.
Ghi Chú (80)
Chỗ dựa là y tha, sở chấp là
biến kế, pháp tánh là viên thành.
Ghi Chú (81)
Phàm với thánh như nhau, ở chỗ
nơi y tha ai cũng được với không được: khi phàm phu chưa
thấy chân lý, thì nơi y tha họ được biến kế tức không
được viên thành ; khi thánh giả đã thấy chân lý, thì nơi
y tha họ được viên thành tức không được biến kế.
Ghi Chú (82)
Công đức là thành quả, phẩm
chất.
Ghi Chú (83)
Chính văn này của Giải thâm mật,
Hoa nghiêm.
Ghi Chú (84)
32 pháp này thấy trong kinh Đại
bảo tích.
Ghi Chú (85)
Dịch sát là nay tôi mượn cái
trí làm gì.
Ghi Chú (86)
Cũng có thể dịch là không phải
mượn tới lòng thương xót.
Ghi Chú (87)
Ý thức, chính văn là ý ngôn, một
tên gọi khác của ý thức, có nghĩa ý thức hay phân biệt
danh ngôn, nên gọi là ý ngôn.
Ghi Chú (88)
Thắng giải: lý giải một cách
thượng thặng.
Ghi Chú (89)
Dịch sát là người hơn người
đã có cái ý lạc ấy.
Ghi Chú (90)
Trí tuệ khác là kiến thức hiểu
sai về đại thừa, là nghi hoặc không tin đại thừa là Phật
thuyết.
Ghi Chú (91)
Pháp chấp ở đây là cái thường
gọi là pháp ái.
Ghi Chú (92)
Hiện tượng hiện tiền là thế
giới mình đang tiếp xúc, hiện tượng xác lập là ảnh tượng
trong định.
Ghi Chú (93)
Tầm tư là suy tìm. Danh và nghĩa
ở đây là danh và nghĩa của các pháp, thí dụ bút là danh,
để viết là nghĩa. Tự tánh và sai biệt là đặc tính và
chi tiết; tự tánh và sai biệt ở đây là của danh và nghĩa;
thí dụ bút mực hay bút chì (tự tánh) và mới hay cũ (sai
biệt), và đó là tự tánh và sai biệt của nghĩa; còn tên
để gọi tự tánh và sai biệt ấy của nghĩa là tự tánh
và sai biệt của danh. Tầm tư là suy tìm 4 thứ trên toàn là
giả thiết, chỉ là ý thức.
Ghi Chú (94)
Thật trí, nói đủ là như thật
trí, cái biết đúng như sự thật, về danh nghĩa tự tánh
sai biệt.
Ghi Chú (95)
Duy thức, phải nói đủ là vô
nghĩa duy thức (duy thức vì không thật). Không thật ở đây
là ý thức giả thiết, là không thể thủ đắc.
Ghi Chú (96)
Muốn hiểu chỗ này thì phải coi
lại tiết mục 2 (mục lược giải y tha và tiết đa thức
luận). Ở đây chỉ ghi chú rằng nói ngộ nhập là ngộ nhập
duy thức, và ngộ nhập duy thức là qua 3 sự: một là ngộ
nhập duy thức, vì các pháp toàn là không thật; hai là ngộ
nhập 2 tướng (tướng phần và kiến phần), vì các pháp toàn
là năng thủ sở thủ (nhận thức đã đối tượng hóa và
đối tượng đã nhận thức hóa); ba là ngộ nhập nhiều thứ,
vì các pháp chỉ là lắm sự thể của thức (tức 11 thức).
Ghi Chú (97)
Muốn hiểu chỗ này thì phải coi
lại tiết mục 2 (mục lược giải y tha và tiết đa thức
luận). Ở đây chỉ ghi chú rằng nói ngộ nhập là ngộ nhập
duy thức, và ngộ nhập duy thức là qua 3 sự: một là ngộ
nhập duy thức, vì các pháp toàn là không thật; hai là ngộ
nhập 2 tướng (tướng phần và kiến phần), vì các pháp toàn
là năng thủ sở thủ (nhận thức đã đối tượng hóa và
đối tượng đã nhận thức hóa); ba là ngộ nhập nhiều thứ,
vì các pháp chỉ là lắm sự thể của thức (tức 11 thức).
Ghi Chú (98)
Có tất cả 10 tên. Pháp là pháp
chấp. Ngã là ngã chấp. Giáo pháp là năng thuyên. Nghĩa lý
là sở thuyên. Đại lược là nói tóm. Phong phú là nói rộng.
Căn bản là tự mẫu. Ô nhiễm là phàm. Thanh tịnh là thánh.
Cứu cánh là toàn bộ. Có người nói đây là 10 tên của pháp
tánh viên thành. Nếu hiểu như vậy thì phải nói đây là
pháp tánh viên thành được gọi theo các cái được biết
(tựa như nói chân như có 7 thứ, nói thức có 11 thứ).
Ghi Chú (99)
Sở y ở đây là a lại da hay y
tha.
Ghi Chú (100)
Thuận với phần quyết trạch,
tức là da hành vị, phần sau của giải hành vị. Đối lại,
phần đầu của giải hành vị là tư lương vị (thuận với
phần giải thoát).
Ghi Chú (101)
Cái nhẫn các pháp không thâểt,
nhẫn nghĩa là chấp nhận, bao gồm cái nghĩa chịu đựng,
nhận định. Cái nhẫn các pháp không thật là cái nhẫn các
pháp duy thức.
Ghi Chú (102)
Quyết định về các pháp không
thật, quyết định là cao hơn nhẫn.
Ghi Chú (103)
Nhập vào một phần chân thật,
chân thật là viên thành, ở đây chứng mà chưa chứng được
toàn phần.
Ghi Chú (104)
Bên cạnh hiện quán (hiện quán
biên), hiện quán là tuệ giác vô lậu chứng được chân thật;
đang là phương tiện của tuệ giác, gần được tuệ giác
ấy, thì gọi là bên cạnh hiện quán.
Ghi Chú (105)
3 loại thân Phật là đại bồ
đề, được chuyển y là đại niết bàn, nói theo ở đây.
Ghi Chú (105B)
Thường sinh trong các đại tập
hội của chư Phật là cách nói sinh tịnh độ, mà là tha thọ
dụng độ, của Phật.
Ghi Chú (106)
Là danh ngôn phân biệt, tự tánh
phân biệt, sai biệt phân biệt.
Ghi Chú (107)
Biến kế không thì y tha cũng không
(cảnh không thì thức cũng không).
Ghi Chú (108)
Là hiện chứng một phần pháp
tánh thôi, như trước đây mới nói.
Ghi Chú (109)
Là hư vọng phân biệt (thức).
Ghi Chú (110)
Sự không tán động là định ba
la mật. Biến giác chân lý là tuệ ba la mật.
Ghi Chú (111)
Chưa định làm cho định, định
rồi làm cho thoát, là định ba la mật. Khai ngộ cho thành thục,
là tuệ ba la mật.
Ghi Chú (112)
Có cái là thí mà không phải là
ba la mật, là sự thí không có 6 sự hơn hết. Có cái là ba
la mật mà không phải là thí, là 5 ba la mật khác có 6 sự
hơn hết. Có cái là thí mà cũng là ba la mật, là sự thí
có 6 sự hơn hết. Có cái không phải là thí mà cũng không
phải là ba la mật, là 5 ba la mật không có 6 sự hơn hết.
Ghi Chú (113)
Là định.
Ghi Chú (114)
Biết đúng chân thật là trí căn
bản, biết đúng phẩm loại là trí hậu đắc. Ở đây chân
thật là tánh như sở hữu, phẩm loại là tánh tận sở hữu.
Ghi Chú (115)
Tu tập bằng sự nỗ lực nổi
lên là, thí dụ thí ba la mật, cụ bị mọi yếu tố về thí
mà làm sự ấy. Tu tập bằng sự thắng giải là như trong
chương 1 nói do cái thắng giải đối với giáo pháp Phật
dạy mà tu tập. Tu tập bằng sự tác ý là cũng như trong chương
ấy nói do những tác ý mến trọng, tùy hỷ và vui thích mà
tu tập. Tu tập bằng sự phương tiện khéo léo là như đoạn
1 của mục 2 nói là được trí vô phân biệt tiếp nhận mà
tu tập, hoặc cũng như trong chương 1 nói thường xuyên, không
cách hở, thích ứng phương tiện mà tu tập. Tu tập bằng
sự thành tựu việc làm là chính Phật hoạt dụng liên tục
và tự nhiên về 6 ba la mật mà Ngài đã viên mãn.
Ghi Chú (116)
Nhẫn pháp (đế sát pháp nhẫn)
là chấp nhận thật tướng các pháp đã quán sát kyծ
Ghi Chú (117)
Tiến áo giáp là tinh tiến như
cái áo giáp bảo vệ cho người tu hành khỏi bị sát hại
bởi phiền não, nhất là sự nhác.
Ghi Chú (118)
Định an trú là định làm cho thân
tâm khinh an, định dẫn phát là định dẫn ra thần lực, định
thành sự là thần lực ấy làm mọi sự lợi ích.
Ghi Chú (119)
Tuệ là trí vô phân biệt; trí
ấy ở giai đoạn tu tập thì gọi là da hành, ở giai đoạn
chứng đắc thì gọi là căn bản, ở giai đoạn hoạt dụng
thì gọi là hậu đắc.
Ghi Chú (120)
Ý câu hỏi cho thấy muốn nói 2
bên, ba la mật và thiện pháp khác, thống thuộc lẫn nhau.
Nhưng lời đáp thì chỉ nói ba la mật thống nhiếp thiện
pháp. Ý lời đáp đúng hơn. Tựu trung, chữ sắc thái, chính
văn là tướng, có người giải thích tướng đây là thực
chất : thực chất của ba la mâểt là tuệ ba la mật, bởi
vì rời tuệ ba la mật thì không một pháp nào thành ba la mật
cả. Giải thích như vậy tuy chính xác, nhưng không sát văn
ý ở đây.
Ghi Chú (121)
Nói điển hình như thí ba la mật
thì sở triể của pháp này là tham lẫn; tham lẫn có 3, là
bản thân của nó, là những gì làm nguyên nhân của nó và
những gì làm hậu quả của nó, tất cả 3 thứ như vậy đều
bị thí ba la mật đối trị. Các pháp ba la mật khác cũng
vậy, suy ra thì biết.
Ghi Chú (122)
Ngũ minh (5 minh xứ): công xảo minh
(công nghệ học) y phương minh (y dược học) thanh minh (ngữ
văn học) nhân minh (luận lý học) nội minh (Phật học).
Ghi Chú (123)
Nghĩa lợi: lợi ích chân thật.
Ghi Chú (124)
Da hành, nghĩa đen là làm thêm,
thêm lên việc làm, tức là nỗ lực, cụ bị, vận dụng phương
cách (nên có chỗ dịch là phương tiện).
Ghi Chú (125)
Địa (đất) là tiếng ví dụ;
10 địa là 10 cấp độ cuối cùng của bồ tát vị, ở đó
là chỗ công đức sinh ra, đứng vững và lớn lên, nên ví
duÍ như đất. Đặc chất của 10 địa là trí vô phân biệt,
mọi công đức khác chỉ là tùy thuộc trang hoàng.
Ghi Chú (126)
10 vô minh, có chỗ kê như sau: 1.
tính dị sinh, 2. 3 nghiệp tà hạnh của chúng sinh, 3. tính chậm
lụt, 4. hiện hành câu sinh phiền não nhỏ nhiệm của thân
kiến, 5. nhập niết bàn của thanh văn, 6. hiện hành tướng
thô, 7. hiện hành tướng tế, 8. vô tướng còn dụng công,
9. không làm viêểc lợi ích chúng sinh, 10. chưa được tự
tại trong các pháp.
Ghi Chú (127)
10 sắc thái pháp tánh: 1. phổ biến:
toàn thể nhất vị, 2. tối thắng: 3 nghiệp thanh tịnh, 3.
thắng lưu: thù thắng lưu xuất, 4. không nhiếp thọ: không
tiếp nhận ngã ngã sở, 5. không sai biệt: sinh tử với niết
bàn không thấy sai biệt, 6. không nhiễm tịnh: không còn thấy
tạp nhiễm với thanh tịnh có sai biệt, 7. mỗi pháp không
sai biệt: các pháp mỗi pháp đều không có sai biệt, 8. không
tăng giảm và thân tự tại độ tự tại: thân hình và thế
giới biểu hiện tùy ý, 9. trí tự tại: tuệ giác tự tại,
10. nghiệp tự tại: 3 nghiệp tự do, tổng trì tự tại: nắm
giữ không mất, chánh định tự tại: định lực bất động.
Ghi Chú (128)
Đẳng trì: 4 thiền, đẳng chí:
4 vô sắc định.
Ghi Chú (129)
Là 37 bồ đề phần pháp.
Ghi Chú (130)
Là trí quán 12 chi duyên khởi.
Ghi Chú (131)
Là 4 vô ngại trí.
Ghi Chú (132)
Sao chép, hiến cúng, chuyền cho,
lắng nghe, dở đọc, học nhớ, chỉ dạy, phúng tụng, suy
nghĩ, tu tập. Pháp hạnh, gọi đủ là chánh pháp hạnh : việc
làm đối với chánh pháp. Pháp số 10 pháp hạnh ở trên là
trích luận Biện trung biện.
Ghi Chú (133)
Tổng tập là tập hợp giáo pháp
đại thừa mà quán sát theo tổng tướng. Vô tướng là trong
pháp tánh, quán các pháp không thể thủ đắc. Không dụng
công là nhiệm vận tu chỉ quán, không cần phải tác ý và
dụng công. Xí thạnh là sự tu tập trên, thêm và hơn lên
trong từng ý nghĩ. Không mừng đủ là sự tu tập trên, bước
tới và bước lên mãi, không tự hào và tự mãn.
Ghi Chú (134)
Tiêu dung chỗ dựa của mọi thứ
thô nặng, thì chỗ dựa là a lại da, thô nặng là chủng tử
2 chướng. Xa rời các tướng thì các tướng là các tướng
hý luận, những khái niệm nhị biên. Biết được cái ánh
sáng chánh pháp lớn lao thì ánh sáng ấy là tuệ vô ngại,
thông đạt pháp tánh viên minh. Hiện hành vô tướng thuận
với phần thanh tịnh, thì vô tướng là trí vô phân biệt,
phần thanh tịnh là chân tánh xuất triền. Viên mãn thành tựu
pháp thân, thì đó là mục đích chính, vì mục đích ấy mà
10 địa sự tu tập của địa trước là nhân thù thắng của
địa sau.
Ghi Chú (135)
Nói mỗi địa tu mỗi độ là nói
theo sự tăng thắng.
Ghi Chú (136)
Tư trạch lực: năng lực tư duy
quyết trạch.
Ghi Chú (137)
Nói các địa tu các độ là nói
theo sự chung thông.
Ghi Chú (138)
Kho tàng ba la mật: kho tàng đại
thừa.
Ghi Chú (139)
Chính văn là bổ đặc dà la, tạm
dịch là người. Nhưng không phải là 5 loại người, mà là
mọi người đều trải qua 5 giai đoạn, nên đổi chữ ấy
rõ hơn.
Ghi Chú (140)
Có người nói chữ tương tự không
có. Nay xét có thể có thật, và có với cái nghĩa giá tội
tương tự, tức tuồng như giá tội, chứ không phải thật
là giá tội.
Ghi Chú (141)
Phương tiện khéo léo là phương
tiện do đại bi làm động cơ và do đại trí dẫn đạo.
Ghi Chú (142)
Đại thừa quang minh: ánh sáng của
giáo pháp đại thừa. Tập phước định vương: chúa tể trong
sự tập hợp phước đức. Hiền thủ: từ bi giữ gìn cho
chúng sinh. Kiện hành: tinh tiến hùng mãnh.
Ghi Chú (143)
Muốn tháo cái chốt lớn thì lấy
cái chốt nhỏ đóng vào đầu chốt ấy, chốt ấy ra thì chốt
nhỏ cũng ra.
Ghi Chú (144)
Là chủng tử.
Ghi Chú (145)
Là sinh đâu tùy ý. Nhưng tiểu
thừa chỉ nhập niết bàn mà không có năng lực này.
Ghi Chú (146)
Là đến đâu tùy ý.
Ghi Chú (147)
Hãy tạm theo 1 bản chú thích như
sau: 1 là cho đến nỗi không thấy cho chút gì, 2 là cho đến
nỗi không còn thích cho mới cho, 3 là cho đến nỗi không đợi
tin Phật mới cho, 4 là cho đến nỗi không cần tự khích lệ
mới cho, 5 là cho đến nỗi không có chút thì gian cách hở,
6 là cho theo định lực phân thân vô số mà cho, 7 là cho đến
nỗi keo lẫn không dung sự dơ bẩn nào nơi tâm trí, 8 là cho
đến nỗi không đứng vào niết bàn rốt ráo, 9 là cho đến
nỗi không cho sự tham lẫn còn tự do trong sự cho, 10 là cho
đến nỗi không đứng nơi niết bàn vô tận.
Ghi Chú (148)
Pháp của Phật ở đây là những
phẩm chất và thành quả của Ngài, như 10 lực, 4 vô úy, v/v.
Ghi Chú (149)
Có 16 chi tiết tất cả, sẽ được
giải thích sau đây.
Ghi Chú (149B)
Tư lượng ở đây là ý thức tự
ngã.
Ghi Chú (149C)
Nghĩa là sinh trong tịnh độ thuộc
loại tha thọ dụng độ, hoặc sinh trong tịnh độ thuộc loại
biến hóa độ.
Ghi Chú (150)
Nhân tố là do quá khứ đa văn
huân tập có sức mạnh, nên đời này không cần hiện duyên
mà vẫn phát sinh, tức như thường nói đốn ngộ. Dẫn ra
là quá khứ có đa văn huân tập mà đời này vẫn phải nhờ
hiện duyên cần thiết mới phát sinh. Tập luôn là quá khứ
đa văn huân tập hoặc quá kém hoặc không có, đời này phải
tu tập luôn luôn mới phát sinh. Cả 3 loại do sự phát sinh
khác nhau mà khác nhau.
Ghi Chú (151)
Đã đầy đủ là ngoại đạo sinh
Vô tưởng thiên hay Phi phi tưởng xứ, đời sống không có
tác ý, và họ thỏa mãn, cho là đã đủ rồi. Không thác loạn
là tiểu thừa niết bàn không còn phân biệt thác loạn về
thường lạc ngã tịnh. Không hý luận là bồ tát không còn
danh ngôn huân tập, chứng pháp tánh vô phân biệt. Cả 3 loại
này do sự vô phân biệt khác nhau mà khác nhau.
Ghi Chú (152)
Thông suốt là quán chân như bằng
ấn tượng mà thông suốt chân như. Tùy nghĩ là theo sự thông
suốt mà truy niệm chân như. Thiết lập là thiết lập danh
tướng mà tuyên thuyết cho người về chân như. Tổng hợp
là tổng hợp các pháp mà quán sát. Đúng ý là muốn gì cũng
biến hóa được. Cả 5 loại này do sự tư trạch khác nhau
mà khác nhau.
Ghi Chú (153)
6 bài chỉnh cú này là nói lại
4 trí đã nói trong tiết mục 2. Bài 1 là nói cái trí biết
sự mâu thuẫn, bài 2 là nói cái trí biết không có đối cảnh
mà thức vẫn có, bài 3 là nói cái trí biết đáng lẽ không
dụng công mà vẫn không thác loạn. Các bài 4, 5 và 6 là nói
3 trí của cái trí tùy chuyển: bài 4 là thứ nhất, cái trí
tùy thắng giải lực của định tự tại mà đối cảnh biểu
hiện; bài 5 là thứ hai, cái trí tùy tác ý lực của tu pháp
quán mà đối cảnh biểu hiện; bài 6 là thứ ba, cái trí tùy
trí vô phân biệt mà thấy đối cảnh biểu hiện không có
gì là thật cả. Muốn rõ, coi lại chính văn và ghi chú 66.
Ghi Chú (154)
Chúng hội của chư Phật, hay đại
tập hội của chư Phật, là đại hội gồm toàn chư vị bồ
tát; thân Phật mà đại hội này nhìn thấy là tha thọ dụng
thân của Phật; tịnh độ mà có đại hội này chính là tha
thọ dụng độ của Phật.
Ghi Chú (155)
Trong 10 tự tại, tâm thức tự
tại là không bị trần lao ô nhiễm, không bị đối cảnh
chi phối; nghiệp tự tại là 3 nghiệp thân miệng ý không
bị trở ngại; sinh tự tại là muốn sinh đâu tùy ý, không
bị nghiệp lực hữu lậu chi phối; pháp tự tại là trí hậu
đắc tùy cơ thiết lập giáo pháp mà hợp chánh lý cả.
Ghi Chú (156)
Chủng tánh là đa văn huân tập,
không rỗng là tu hành thì thành Phật chứ không phải rỗng
không, viên mãn là giáo pháp hóa độ cho người thì đức
Phật nào cũng nói đầy đủ, không đầu là không thể có
đức Phật đầu tiên mà sự thành Phật là vô thỉ vô chung.
Ghi Chú (157)
Là tu tổng tập, tu không tướng,
tu không dụng công, tu xí thạnh, tu không mừng đủ, đã nói
trong tiết mục 2. Coi lại ghi chú 133 .
Ghi Chú (158)
Năng lực là năng lực của pháp
tánh. Sự thành là thành tựu sự nghiệp độ sinh. Pháp vị
là diệu nghĩa của pháp tánh đẳng lưu. Nghĩa đức, nghĩa
là niết bàn, đức là công đức vô lậu. Thấy thường là
thấy pháp tánh thường trú. Năm sự này đem lại sự đại
hoan hỷ của Phật, và xuất sinh từ pháp tánh mà Phật đẳng
chứng, nên gọi là tánh hỷ.
Ghi Chú (159)
Bài này tán dương 4 vô lượng
tâm của Phật.
Ghi Chú (160)
Bài này tán dương 8 giải thoát
(giải thoát hết thảy chướng ngại), 8 thắng xứ (bậc thánh
hơn cả thế gian) và 10 biến xứ (tuệ giác cùng khắp các
pháp).
Ghi Chú (161)
Bài này tán dương công đức vô
tránh của Phật. Vô tránh là hòa bình, không cãi. Sự vô tránh
của Phật là hủy diệt sự tranh cãi cho chúng sinh, sự tranh
cãi ấy là mê hoặc, phiền não, nhiễm ô.
Ghi Chú (162)
Bài này tán dương nguyện trí của
Phật. Nguyện trí ấy có 5 phẩm chất.
Ghi Chú (163)
Bài này tán dương 4 trí vô ngại
của Phật: giáo pháp là pháp vô ngại, nghĩa lý là nghĩa vô
ngại, ngôn từ là từ vô ngại, trí tuệ là biện vô ngại.
Ghi Chú (164)
Bài này tán dương lục thông giáo
hóa của Phật. Đây là thứ tự của lục thông ấy: như ý
thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông, thiên
nhãn thông, lậu tận thông.
Ghi Chú (165)
Bài này tán dương 32 tướng tốt
và 80 nét đẹp của thân Phật.
Ghi Chú (166)
Bài này tán dương 4 tất cả tướng
thanh tịnh. Thứ tự như sau: thân thanh tịnh, độ thanh tịnh,
định thanh tịnh, trí thanh tịnh.
Ghi Chú (167)
Bài này tán dương 10 lực của
Phật. Phương tiện là nguyên nhân, ma vương nói sai nguyên
nhân, Phật dùng trí lực thị xứ phi xứ mà bác bỏ. Qui y
là tôn thờ, ma vương bảo tôn thờ chúa trời, Phật dùng
trí lực tam thế nghiệp báo mà bác bỏ. Thanh tịnh là giải
thoát, ma vương nói sai giải thoát, Phật dùng trí lực thiền
định giải thoát mà bác bỏ. Xuất ly là giải thoát cứu
cánh của đại thừa, ma vương nói chúng sinh không tu được
pháp ấy, Phật dùng 7 trí lực khác mà bác bỏ.
Ghi Chú (168)
Bài này tán dương 4 vô úy của
Phật. Thứ tự như sau: chánh đẳng giác vô úy, lậu vĩnh
tận vô úy, thuyết chướng pháp vô úy, thuyết xuất đạo
vô úy.
Ghi Chú (169)
Bài này tán dương 3 bất hộ và
3 niệm trú của Phật. Về 3 bất hộ, thân miệng ý của Phật
thuần tịnh thuần trí, không có gì còn phải giữ gìn, nên
thuyết pháp cho đại chúng thì điều phục cho họ. Về 3 niệm
trú, Phật vĩnh viễn sống trong chánh niệm và chánh trí, nên
ai khen không ưa, ai chê không ghét, ai khen chê không ưa ghét.
Ghi Chú (170)
Bài này tán dương công đức bạt
nhổ tập khí của Phật.
Ghi Chú (171)
Bài này tán dương sự không quên
mất của Phật.
Ghi Chú (172)
Bài này tán dương đại bi của
Phật.
Ghi Chú (173)
Bài này tán dương 18 pháp bất
cọng của Phật, 18 pháp ấy chia ra 4 loại: hành, là 6 bất
cọng đầu tiên; chứng, là 6 bất cọng kế tiếp; trí, là
3 bất cọng tiếp theo; nghiệp, là 3 bất cọng cuối cùng.
Ghi Chú (174)
Bài này tán dương nhất thế tướng
diệu trí của Phật. Trí ấy là nhất thế chủng trí, là
nhất thế trí trí, hoàn thành 4 trí tức 3 thân.
Ghi Chú (175)
Bài này nói sự sâu xa về sinh,
trú, nghiệp và ăn. Không trú ở mà trú ở: trú ở niết bàn
vô trú. Ăn có 4 loại, Phật thuộc loại ăn thứ 4: ăn chỉ
là thị hiện có ăn.
Ghi Chú (176)
Bài này nói sự sâu xa về an lập,
số lượng và việc làm. Việc làm là lợi lạc chúng sinh.
Việc làm ấy có loại không thường xuyên là biến hóa thân
và thọ dụng thân, có loại thường xuyên là tự tánh thân.
Ghi Chú (177)
Bài này nói sự sâu xa về hiện
thành đẳng giác. Thành Phật mà nói không phải có, là không
phải có biến kế nơi y tha; thành Phật mà nói không phải
không, là không phải không viên thành nơi y tha. Nói cách khác,
thành Phật là biểu thị sự có viên thành và sự không biến
kế ấy.
Ghi Chú (178)
Bài này nói sự sâu xa về ly dục.
Ghi Chú (179)
Bài này nói sự sâu xa về đoạn
diệt các uẩn.
Ghi Chú (180)
Bài này nói sự sâu xa về thành
thục chúng sinh.
Ghi Chú (181)
Bài này nói sự sâu xa về hiển
hiện của Phật.
Ghi Chú (182)
Bài này nói sự sâu xa về thị
hiện thành đẳng giác và nhập niết bàn.
Ghi Chú (183)
Bài này nói sự sâu xa về an trú.
An trú trong tự thể tối thắng có 3: một, ở trong pháp phi
thánh thì Phật an trú trong thánh trú (là 3 giải thoát môn
không vô tướng vô nguyện), hai, trong nhân loại và các nẻo
ác thì Phật an trú trong thiên trú (là thiền định), ba, trong
pháp phi phạn hạnh thì Phật an trú trong phạn trú (4 phạn
trú từ bi hỷ xả).
Ghi Chú (184)
Bài này nói sự sâu xa về thị
hiện bản thân. Tùy căn cơ mà Phật thị hiện, không ở nơi
nào mà không nơi nào không ở, nên thân Phật thì siêu giác
quan.
Ghi Chú (185)
Bài này nói sự sâu xa về đoạn
diệt phiền não. Độc tố bị chú lực là cũng như thuốc
chủng. Để lại phiền não là để thọ sinh trong sinh tử
mà hóa độ chúng sinh.
Ghi Chú (186)
Bài này nói sự sâu xa về bất
khả tư nghị.
Ghi Chú (187)
18 viên mãn, chính văn kể tiếp
ở đây. Nhưng tôi đem lên đoạn trên, ghi trong mở đóng vòng
đơn, làm như vậy để dễ hiểu hơn.
Ghi Chú (188)
Vì dẫn dắt thanh văn xoay về đại
thừa, vì giữ gìn bồ tát có khuynh hướng không phải đại
thừa, nói tóm, vì 2 số người thuộc loại không cố định
này mà Phật nói nhất thừa.
Ghi Chú (189)
Vì pháp tánh, vô ngã và giải thoát,
3 điều này thì Phật với thanh văn duyên giác đồng đẳng,
nên Phật nói nhất thừa. Những người thuộc loại không
cố định là thanh văn và bồ tát mà bài chỉnh cú trên mới
nói. Ý lạc có 2, có nhân ý lạc, mình người bình đẳng,
có pháp ý lạc, pháp pháp bình đẳng. Thanh văn còn có 1 loại
nữa là hóa thân của Phật. Sự rốt ráo là cứu cánh, là
chung cục, cuối cùng - thì chỉ là một. Vì 5 lý do này nữa,
cọng với 3 lý do trước, có tất cả 8 lý do mà Phật nói
nhất thừa.
Ghi Chú (190)
Lý do ba là tập thể thấy khác
nhau. Lý do bốn là cá thể thấy cũng trước sau khác nhau.
Lý do sáu, chuyển bản thức được pháp thân, chuyển chuyển
thức được được thọ dụng thân, không thể không khác
nhau.
Ghi Chú (190B)
Cùng lúc Phật hóa thân nhập thai
thì cũng hóa thân thành tôn giả Xá lợi phất v/v nhập thai.
Hóa thân như vậy là để làm tôn nghiêm cho sự thành Phật
của một đức Phật.
Ghi Chú (191)
Lý do sau hết, nhập niết bàn chỉ
là hóa thân thị hiện; nếu hóa thân là pháp thân, thì nhập
niết bàn là pháp thân nhập niết bàn, như vậy là trái với
thệ nguyện độ sinh, hoặc thệ nguyện ấy vô hiệu quả.