PHẦN
I
NGHIÊN
CỨU VỀ TRẦN NHÂN TÔNG
CHƯƠNG
I
VẤN ĐỀ
SỬ LIỆU
Vua Trần
Nhân Tông đã được sử sách qua hàng trăm năm đánh giá là
một hoàng đế anh minh, một lãnh tụ thiên tài, một vị anh
hùng dân tộc. Do thế, cuộc đời vua được ghi chép tương
đối tỉ mỉ, khi so với cuộc đời của một số danh nhân
khác của dân tộc. Dẫu vậy, vẫn có những chi tiết không
rõ ràng, đặc biệt liên hệ với các tác phẩm của nhà vua.
Cho nên, để dựng lại những nét chính của cuộc đời vua
Trần Nhân Tông, nhằm làm cơ sở cho việc nghiên cứu những
đóng góp to lớn, mà nhà vua đã cống hiến cho đất nước
về các mặt võ công và văn trị, ta phải huy động tới những
nguồn tư liệu khác nhau, hiện được bảo lưu tại nước
ta cũng như tại Trung Quốc.
Trước hết,
về phía các nguồn tư liệu Việt Nam thì tư liệu cơ bản
nhất, ta phải quan tâm, dĩ nhiên là bộ ĐVSKTT, phần Bản
kỷ của vua Trần Nhân Tông, do Ngô Sĩ Liên lấy lại từ Đại
Việt sử ký của Phan Phu Tiên. Đây là bộ sử đầu
nguồn, mà các bộ sử sau như Việt sử tiêu án của Ngô Thì
Sỹ (1726-1780), và Khâm định Việt sử thông giám cương mục
của Quốc sử quán triều Nguyễn đã sử dụng để viết
về vị vua anh minh này. Dù có tham khảo thêm các sử liệu
khác, chủ yếu xuất phát từ Trung Quốc, chúng cũng không
có đóng góp gì mới. Thậm chí có điểm còn sai lạc thêm.
Vì vậy,
khi nghiên cứu vua Trần Nhân Tông, ĐVSKTT vẫn là nguồn tư
liệu cấp một.
Tuy nhiên,
có những khía cạnh và sự việc của cuộc đời vua Trần
Nhân Tông, mà ĐVSKTT đã không ghi lại hoặc ghi lại một cách
sơ sài thiếu sót. Ví dụ những ngày cuối đời của nhà
vua, ĐVSKTT chép không rõ ràng lắm, khi so với những gì do
Thánh đăng ngữ lục chép lại. Do vậy, ngoài ĐVSKTT, chúng
ta may mắn còn được một số các tài liệu đời Trần hoặc
do người viết về sau, mà chúng ta phải tham khảo. Cụ thể
là Thánh đăng ngữ lục, Thiền tông bản hạnh, Thượng sĩ
ngữ lục, Việt điện u linh tập, Nam ông mộng lục và Việt
âm thi tập.
Thánh đăng
ngữ lục là một tác phẩm ghi chép lại các thiền ngữ và
thơ văn của các vị vua đồng thời là thiền sư của đời
Trần, tức các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông
và Minh Tông. Có thể nói đây là bộ sử Phật giáo Việt
Nam từ năm 1226 khi vua Trần Thái Tông lên ngôi cho đến năm
1357 lúc vua Trần Minh Tông mất. Người viết bộ Ngữ lục
này, ngày nay không thấy ghi chép. Tuy nhiên, căn cứ vào nội
dung tác phẩm, ta biết tác giả phải là một người rất
gần gũi với vua Trần Minh Tông, và khi viết, phải được
sự đồng ý của vị vua kế nghiệp là Trần Dụ Tông và
triều đình.
Lý do nằm
ở chỗ, thứ nhất, nếu không gần gũi với các vị vua Trần,
đặc biệt là vua Trần Minh Tông, thì người viết không có
được những tư liệu đầu tay để viết nên bộ Ngữ lục
ấy, như ta có hôm nay. Thứ hai, nếu không được phép của
vua và triều đình, bộ Ngữ lục ấy sẽ không bao giờ được
viết, và nếu có viết lén thì không bao giờ được công
bố, vì nội dung nó có nhiều điều, thậm chí nhiều văn
kiện, liên hệ với các vua. Từ đó, trong số những tác gia
Việt Nam được biết tên sống sau năm 1357 và có những điều
kiện như vừa nói, ta thấy có thiền sư Kim Sơn, người có
quan hệ chặt chẽ với vua Minh Tông và được chứng kiến
những giây phút cuối đời của vị vua này. Nói cách khác,
ngoài khả năng là tác giả của Thiền uyển tập anh và Cổ
châu Pháp vân Phật bản hạnh ngữ lục, thiền sư Kim Sơn
cũng có thể là người biên soạn Thánh đăng ngữ lục.
Thực tế,
Thánh đăng ngữ lục được viết theo phương pháp thực lục,
nghĩa là phương pháp dùng để ghi chép sự việc hàng ngày,
chủ yếu của các vị vua, mà sử gia Trung Quốc thường dùng.
Cho nên, đếữn thế kỷ thứ 18, nhằm dựng lại thiền phả
của dòng thiền Trúc Lâm, thiền sư Tính Quảng và Ngô Thời
Nhiệm (1746 - 1803) đã trích phần Trần Nhân Tông của Thánh
đăng ngữ lục, ghép với bản Niên phổ của Pháp Loa khắc
trên bia tại chùa Thanh Mai và tiểu sử của Huyền Quang chép
trong Tổ gia thực lục, để soạn nên tác phẩm Tam tổ thực
lục. Điều đáng chú ý là dù viết theo phương pháp thực
lục, Thánh đăng ngữ lục chỉ cơ bản ghi lại các sự việc
liên quan tới hoạt động Phật giáo của các vị vua thiền
sư, mà tuyệt đối không có bất cứ ghi chép nào quan hệ
tới hoạt động chính trị và quân sự của họ. Dẫu thế,
Thánh đăng ngữ lục vẫn là một tư liệu đáng quý, đặc
biệt khi ta nghiên cứu các hoạt động Phật giáo của vua
Trần Nhân Tông.
Hơn thế
nữa, Thánh đăng ngữ lục đã là nguồn tài liệu để cho
thiền sư Chân Nguyên (1647-1726) sử dụng và viết nên tác
phẩm Thiền tông bản hạnh. Điểm đặc biệt của bản Thiền
tông bản hạnh này là khi in vào năm 1745, người đứng in
đã cho in kèm vào 3 tác phẩm tiếng Việt và Ngộ đạo nhân
duyên của chính Chân Nguyên. Trong 3 tác phẩm tiếng Việt ấy,
thì 2 là của vua Trần Nhân Tông. Đó là Cư trần lạc đạo
phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Hai bài phú này,
dù đến năm 1745 mới được khắc bản, nhưng chắc chắn
đã tồn tại trong thế kỷ thứ 17, bởi vì Chân Nguyên đã
trích dẫn Cư trần lạc đạo phú trong tác phẩm Kiến tánh
thành Phật do ông viết vào khoảng những năm 1684.
Ngoài Thánh
đăng ngữ lục, ta còn có Thượng sĩ ngữ lục của Tuệ Trung
Trần Quốc Tung, một danh tướng giải phóng Thăng Long của
cuộc chiến tranh 1285, đã được in dưới thời Trần Anh Tông,
vào khoảng những năm 1308-1311. Bộ Ngữ lục nay có chứa đựng
tiểu sử của Tuệ Trung Trần Quốc Tung (1230 -1290) do chính
vua Trần Nhân Tông viết.
Bản tiểu
sử ấy cho thấy một phần nào quá trình tiếp cận và học
tập Phật giáo cùng văn tài của nhà vua. Không những
thế, nó còn ghi lại thêm cho ta một bài thơ, mà vua đã làm
để ca ngợi đại sĩ Tuệ Trung.
Bên cạnh
đó, Việt điện u linh tập do Lý Tế Xuyên viết vào khoảng
những năm 1329, tuy chủ yếu ghi lại các anh hùng, liệt nữ
và hạo khí anh linh của đất nước ta, cũng đã lần đầu
tiên ghi chép việc Trần Nhân Tông phong tặng gia hiệu cho các
anh hùng, liệt nữ và hạo khí anh linh ấy vào những năm Trùng
Hưng thứ nhất (1285) và thứ tư (1288). Sự kiện này không
thấy ĐVSKTT ghi lại, nhưng về mặt văn hóa có một ý nghĩa
hết sức thú vị. Đó là lần đầu tiên một thần điện
Việt Nam ra đời được nhà nước chính thức công khai thừa
nhận. Việt điện u linh tập do thế có một vị trí khá lôi
cuốn trong việc soi sáng cho ta một số quan điểm của vua
Trần Nhân Tông về quá khứ thần thánh của dân tộc.
Nam ông mộng
lục do Hồ Nguyên Trừng viết vào năm 1438 ở Trung Quốc. Trong
31 thiên truyện do ông ghi lại, ta thấy Hồ Nguyên Trừng đã
dành 4 thiên để ghi về vua Trần Nhân Tông. Đó là các thiên
về Trúc Lâm thị tịch (số 2), Tổ linh định mệnh (số 3),
Cảm kích đồ hành (số 17) và Thi ý thanh tân (số 19), nghĩa
là chiếm 15% nội dung tác phẩm. Qua những ghi chép này, ta
không những được cung cấp thêm một số sự kiện và văn
bản liên hệ tới vuaTrần Nhân Tông, mà còn thấy được
một phần nào những tác động và ảnh hưởng, mà vua Trần
Nhân Tông đã có đối với hậu thế.
Cuối cùng
là Việt âm thi tập. Tác phẩm này là một thành quả của
cuộc vận động chấn hưng văn hoá dân tộc sau khi đánh đuổi
quân Minh và phục hồi nền độc lập dân tộc của vị anh
hùng Lê Lợi. Nó được biên soạn trong giai đoạn Phan Phu
Tiên đang còn làm ở Quốc sử quán vào năm 1334 và sau đó
được Chu Xa hoàn thành vào năm Diên Ninh thứ sáu (1443). Về
phần Trần Nhân Tông, Phan Phu Tiên và Chu Xa đã thu thập được
26 bài thơ. Nguồn tư liệu sử dụng chắc hẳn xuất
phát từ những tác phẩm, mà Quốc sử quán đã tập hợp
được và Phan Phu Tiên dùng để viết nên bộ Đại Việt
sử ký tục biên.
Điểm đáng
chú ý là có bài thơ Hạnh Thiên Trường phủ, Việt âm thi
tập bảo là của Trần Nhân Tông và chép xuất xứ là từ
Quốc sử. Quốc sử đây tức chắc chắn làĐại Việt sử
ký tục biên của chính Phan Phu Tiên. Thế nhưng bản ĐVSKTT
ngày nay, xuất phát từ Nội các quan bản, lại chép là của
Trần Thánh Tông. Khảo Nam ông mộng lục, thì bài thơ đó
cũng được ghi là của Trần Thánh Tông. Vậy bản Việt âm
thi tập in năm Bảo Thái thứ 7 (1727) có sự sai sót nào chăng?
Bản Việt
âm thi tập này sau đó đã được dùng làm nguồn tư liệu
cho các tác phẩm có ghi chép về thơ văn của các vua quan đời
Trần. Điển hình là bộ sách đồ sộ Toàn Việt thi lục
của Lê Quý Đôn và Trần triều thế phả hành trạng của
một tác giả vô danh đời Nguyễn. Về phần Trần Nhân Tông,
Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, sau khi loại bài thơ Hạnh
Thiên Trường phủ, cũng chỉ giới hạn trong số 26 bài thơ,
mà Việt âm thi tập đã có, chứ không bổ sung thêm được
bài nào. Thánh đăng ngữ lục đươc thiền sư Chân Nguyên
in vào năm 1705 và bản in do Tính Quảng đề tựa vào năm 1750
đã không đến tay Lê Quý Đôn. Vì vậy, ông đã không thể
khai thác số thơ văn có ghi chép trong tác phẩm đó. Trần
triều thế phả hành trạng càng giới hạn hơn, chỉ ghi lại
được hơn 18 bài.
Còn về nguồn
tư liệu Trung Quốc, thì Nguyên sử, đặc biệt là phần viết
về đất nước ta biết dưới mục An Nam truyện, cung cấp
một phần lớn các thông tin liên hệ đến hai cuộc chiến
tranh Mông - Việt vào những năm 1285 và 1288 và những quan hệ
ngoại giao trước và sau hai cuộc chiến tranh này. Để bổ
sung, ta có An Nam chí lược của Lê Thực, Thiên nam hành ký
của Từ Minh Thiện và Trần Cương Trung thi tập của Trần
Phu. Các tác giả của ba tác phẩm này đều là những người
cùng thời với vua Trần Nhân Tông, đã đứng về phía kẻ
thù của dân tộc và tham gia trực tiếp vào các hoạt động
chính trị, quân sự liên hệ với nước ta dưới dạng này
hay dạng khác. Cho nên, dù nhìn những hoạt động ấy dưới
lăng kính đối lập với quyền lợi của dân tộc, họ vẫn
cho ta một số thông tin chính trị và quân sự có quan hệ
với vua Trần Nhân Tông.
Đặc biệt,
họ đã giữ lại cho ta 22 văn kiện ngoại giao, mà vua Trần
Nhân Tông đã gửi cho vua quan nhà Nguyên. Đây là một mảng
tư liệu, phía nước ta trong bảy trăm năm qua tuy có biết
đến, nhưng chưa bao giờ khai thác có hệ thống và công bố
đầy đủ, nhằm làm cơ sở cho sự nhận thức về cuộc đấu
tranh ngoại giao đầy cam go trước và sau hai cuộc chiến tranh
vừa nói. Chẳng hạn, Lê Quí Đôn có nhắc tới Thiên nam hành
ký và Sứ Giao tập của Trần Cương Trung thi tập, song chỉ
nhặt được một bài thơ của Trần Phu trong Kiến văn tiểu
lục.
Ngoài ra,
một bức họa do Trần Giám Như vẽ mang tên Trúc Lâm đại
sĩ xuất sơn đồ vào năm Chí Chính thứ 23 (1363) đã được
Trần Quang Chỉ đề từ vào năm Vĩnh Lạc thứ 18 (1420) ghi
lại tóm tắt cuộc đời Trần Nhân Tông tương đối tổng
quát, có một số chi tiết khá lôi cuốn.
Tuy nhiên,
khi sử dụng các nguồn tư liệu Trung Quốc, ta gặp một số
vấn đề cần phải giải quyết dứt điểm. Thứ nhất, về
vấn đề lịch pháp thì những người nghiên cứu cho đến
ngày nay đã thống nhất là hệ thống lịch pháp nước ta
thời bấy giờ hoàn toàn phù hợp với hệ thống lịch pháp
của Trung Quốc đời Nguyên. Cho nên những năm tháng ghi ra
các sử kiện giữa những sử liệu Việt Nam và Trung Quốc
không có sai lệch gì nhiều. Nếu về cùng một sự kiện mà
có những sai lệch thì, hoặc do những thông tin khác nhau, hoặc
do những truyền bản ghi chép bị nhầm lẫn. Trong Toàn tập
này, chúng tôi chủ yếu sử dụng hệ thống ngày tháng của
lịch pháp ta, và chỉ đổi ra ngày tháng dương lịch ở những
nơi cần thiết để tránh sự rối rắm không đáng có. Chỉ
riêng đối với những năm Giáp Tý thì chúng tôi có chua ở
trong ngoặc đơn năm dương lịch để cho tiện bề theo dõi.
Thứ hai,
vấn đề tên tuổi của các nhân vật lịch sử thời đó.
Đối với tên các nhân vật lịch sử Trung Quốc, nhất là
tên những người thuộc tộc Mông Cổ, chúng tôi cơ bản vẫn
chấp nhận cách phiên âm của Nguyên sử, trừ những trường
hợp bị chép sai khi so với một số sử liệu khác. Trường
hợp này chúng tôi cho đính chính lại và có ghi chú rõ ràng.
Nói thế có nghĩa chúng tôi cũng tái dựng lại tên của những
nhân vật này trong tiếng Mông Cổ và để trong ngoặc đơn,
chứ không thay thế tên đã được lưu hành trong sử sách
Trung Quốc như một số nhà nghiên cứu đã làm trước đây.
Trong liên
hệ này cần nói một chút về chữ Thực của tên Việt gian
Lê Thực. Trong tiếng Hán tên này được viết () và các sử
sách viết bằng tiếng quốc ngữ trước nay thường phiên
âm là Tắc hoặc Trắc. Tuy nhiên, ĐVSKTT 5 tờ 46b5-6, dưới
chữ () ấy được chua là “thổ lực thiết”. Điều này
có nghĩa, ta phải đọc chữ ( ) là Thực thay vì Trắc hoặc
Tắc. Thứ ba, về tên các nhà lãnh đạo Việt Nam, cụ thể
là các vị vua nhà Trần, do sử liệu Trung Quốc ghi lại. Đây
là một vấn đề khó khăn. Khi nghiên cứu về cuộc kháng
chiến chống Nguyên Mông của nhà Trần trong Annam shi kenkyu,
Yamamoto đã dành hẳn một chương để nghiên cứu vấn đề
này, tức Chinchõ no omei ni kansuru kenkyu.1 Dẫu thế, những kết
luận của Yamamoto theo chúng tôi vẫn chưa thỏa đáng lắm.
Vì vậy, cần phải làm những nghiên cứu mới. Đây là một
yêu cầu, mà ta phải thỏa mãn để việc trình bày các sử
kiện cũng như các tác phẩm liên hệ đến vua Trần Nhân Tông
mới rõ ràng và có tính thuyết phục cao.
Theo các sử
liệu Trung Quốc, cụ thể là An Nam truyện của Nguyên sử
209 tờ 1a8 và 1b4, thì vị vua đầu tiên của nhà Trần là
Trần Nhật Cảnh, “đến tháng hai năm Mậu Ngọ thì Nhật
Cảnh truyền nước cho con trưởng là Quang Bính, cải nguyên
là Thiệu Long... ”. Điều này hoàn toàn phù hợp với những
gì do Ngô Sĩ Liên chép lại trong ĐVSKTT.
ĐVSKTT quyển
5 tờ 24a4-6 viết: “Ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ, vua nhường
ngôi cho Hoàng Thái tử, rút lui về ở Bắc cung. Thái tử lên
ngôi Hoàng đế cải nguyên là Thiệu Long”. Vậy rõ ràng Quang
Bính của Nguyên sử là một tên khác của vua Trần Thánh Tông
trong ĐVSKTT.
Tiếp đến,
An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 3b13 viết: “Năm (Chí
Nguyên) 14, Quang Bính chết, người trong nước lập thế tử
Nhật Huyên, sai trung thị đại phu Châu Trọng Ngạn, trung lượng
đại phu Ngô Đức Thiệu đến chầu”. Năm Chí Nguyên thứ
14 tức năm 1277. Đây đúng là năm vua Trần Thái Tông Nhật
Cảnh mất, như ĐVSKTT 5 tờ 59a6-7 đã ghi. Chính dựa vào năm
mất này của Quang Bính, mà Yamamoto đã đi đến kết luận
Quang Bính chính là một tên khác của vua Trần Thái Tông và
Trần Nhật Huyên là tên của vua Trần Thánh Tông.
Tuy nhiên,
Bản kỷ của Nguyên sử 10 tờ 4a12 lại chép: “Năm (Chí Nguyên)
15, tháng sáu ngày Tân Tỡ, vua nước An Nam là Trần Quang Bính
sai sứ dâng biểu đến cống”. Rõ ràng nếu Quang Bính chết
vào năm Chí Nguyên thứ 14 (1277) thì tất nhiên đến năm Chí
Nguyên thứ 15 không thể nào gửi sứ đến cống được. Yamamoto
cho là An Nam truyện chép nhầm 14 thành 15. Song một đề xuất
như thế tỏ ra không thuyết phục lắm, vì nếu Quang Bính
là một tên khác của vua Trần Thánh Tông, thì năm Chí Nguyên
15 vẫn còn gửi sứ qua Nguyên. Dù với trường hợp nào đi
nữa, trong Nguyên sử ta có hai thông tin khác nhau về Quang Bính.
Một nói Quang Bính chết năm 1277, và một nói Quang Bính năm
1278 còn gửi sứ qua cống. Vậy không thể đơn giản chỉ
dựa vào năm mất của Quang Bính ở An Nam truyện của Nguyên
sử để kết luận Quang Bính là tên vua Trần Thánh Tông, như
Yamamoto đã làm.
Ngoài ra,
Bản kỷ của Nguyên sử 10 tờ 13b3-4 chép: “Ngày Nhâm Tý
tháng 11 năm Chí Nguyên 16 (1279) sai Lễ bộ thượng thư Sài
Thung cùng đi với sứ nước An Nam là Đỗ trung tán đem chiếu
đến dụ thế tử An Nam là Trần Nhật Huyên vào chầu”.
Điều này xác định tên Nhật Huyên chỉ xuất hiện trong
sử sách Trung Quốc vào thời điểm, khi vua Trần Nhân Tông
đã lên ngôi, tức tháng 10 năm Mậu Dần (1278), như ĐVSKTT
5 tờ 37b9 - 38a1 đã ghi cùng với việc vua Trần Nhân Tông sau
đó đã tiếp phái bộ của Sài Thung.
Thêm vào
đó, tên Trần Nhật Huyên còn xuất hiện một năm sau khi vua
Trần Thánh Tông đã mất, tức năm Chí Nguyên thứ 28 (1291).
Bản kỷ của Nguyên sử 16 tờ 11b8-9 chép: “Năm (Chí Nguyên)
thứ 28 tháng 9 ngày Tân Hợi, vua An Nam là Trần Nhật Huyên
sai sứ dâng biểu cống phương vật, vừa để tạ tội không
đến chầu”.
Sự kiện
này, Yamamoto có đề cập tới, nhưng cho đây là một chép
sai. Tuy nhiên, căn cứ vào những sự kiện, như ta vừa thấy
trên và theo cách đồng nhất của chúng tôi, thì Trần Nhật
Huyên ở đây chính là vua Trần Nhân Tông, chứ không phải
vua Trần Thánh Tông. Cần nhớ là Bản kỷ của Nguyên sử
chép Quang Bính còn sai sứ qua Nguyên sau khi vua Trần Thái Tông
đã chết được một năm. Một lần nữa, vua Thánh Tông đã
mất một năm, mà Nhật Huyên còn gửi sứ. Việc đồng nhất
Quang Bính với vua Trần Thánh Tông và Nhật Huyên với vua Trần
Nhân Tông cho phép ta không cần phải nại đến những giả
thiết của sự chép sai. Thực tế, Bản kỷ ít chép sai hơn
phần Liệt truyện nhiều, bởi vì Bản kỷ chỉ ghi chép dựa
vào Khởi cư chú, tức nhật ký những việc làm của vua hằng
ngày như tiếp sứ, nhận biểu tấu, ra chiếu chỉ v.vỢ, trong
khi Liệt truyện phải tổng hợp nhiều nguồn tư liệu khác
nhau, do đó dễ đưa đến sai sót.
Hơn nữa,
Kinh thế đại điển tự lục do Triệu Thế Diên và Ngu Tập
soạn vào những năm 1330-1331, về mục Chinh phạt, mà sau này
được sao lại vào Nguyên văn loại 41 tờ 26b1 đến 27b6, chép
ở tờ 27a8 việc “Đường Ngột Đãi đuổi Nhật Huyên và
Thượng hoàng đến cửa biển An bang”. Một lần nữa, Nhật
Huyên lại có Thượng hoàng. Nếu Nhật Huyên là vua Trần Thánh
Tông, và vua Trần Thái Tông đã mất vào năm 1277, thì làm
gì vào năm 1285, khi cuộc chiến tranh lần thứ hai nổ ra, lại
có mặt Thượng hoàng Trần Thái Tông.
Chỉ dựa
trên bốn chứng cứ này thôi thì Nhật Cảnh không còn nghi
ngờ gì nữa phải là vua Trần Thái Tông, Quang Bính phải là
vua Trần Thánh Tông và Nhật Huyên là vua Trần Nhân Tông. Tuy
nhiên, cũng có hai chi tiết để Yamamoto nghĩ rằng Trần Nhật
Huyên chính là vua Trần Thánh Tông.
Thứ nhất
là việc An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 10a9 ghi: “Năm
(Chí Nguyên) 27, Nhật Huyên chết, con là Nhật Tôn sai sứ đến
cống”. Năm Chí Nguyên 27 (1290) là năm vua Trần Thánh Tông
mất, như ĐVSKTT 5 tờ 59a6-7 đã ghi.
Chi tiết
thứ hai là việc An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 7a10-12
ghi lại báo cáo mô tả những gì, mà quân Nguyên khi chiếm
Thăng Long đã thấy được trong cuộc chiến tranh năm 1285.
Theo đó thì “Nhật Huyên tiếm xưng Đại Việt quốc chúa,
Hiến Thiên Thể Đạo Đại Minh Quang Hiếu hoàng đế Trần
Uy Hoảng, nhường ngôi cho Hoàng thái tử, lập Hoàng thái tử
phi làm hoàng hậu. (...) Nhật Huyên liền ở ngôi Thái Thượng
hoàng, thấy lập vua nước An Nam thuộc hệ con của Nhật Huyên,
lưu hành niên hiệu Thiệu Bảo”. Hiến Thiên Thể Đạo Đại
Minh Quang Hiếu hoàng đế đúng là tôn hiệu của vua Trần
Thánh Tông như ĐVSKTT 5 tờ 24b8 đã ghi. Và niên hiệu Thiệu
Bảo đúng là niên hiệu của vua Trần Nhân Tông, mà ở đây
được xác định là niên hiệu thuộc con của Nhật Huyên.
Căn cứ vào
hai chi tiết này, Nhật Huyên quả là tên chỉ vua Trần Thánh
Tông, và Nhật Tôn quả chỉ vua Trần Nhân Tông. Tuy vậy, không
thể hoàn toàn dựa vào hai chi tiết này để xác định Quang
Bính là tên vua Trần Thái Tông, Nhật Huyên là tên vua Trần
Thánh Tông và Nhật Tôn là tên vua Trần Nhân Tông, như Yamamoto
đã làm. Lý do nằm ở chỗ nếu đem hai chứng cớ này so với
bốn chứng cớ trên thì chỉ số lượng thôi cũng không cho
phép ta đi đến một kết luận kiểu ấy.
Sự thật,
tất cả rối rắm đấy có nguyên do của nó. Nguyên do thứ
nhất là sự lên ngôi và thoái vị của các vua Việt Nam cho
đến thời đại vua Trần Nhân Tông và trở về sau thường
không được báo cáo hoàn toàn chính xác trong các văn thư
gửi cho các vua Trung Quốc. Chẳng hạn, ngay từ thời Đinh
Tiên Hoàng, Đinh Liễn đã viết thư cho vua Tống như là lãnh
tụ tối cao của nước Đại Cồ Việt, chứ không phải là
Đinh Tiên Hoàng, như Tống sử ghi. Gần hơn, sau thời
vua Trần Nhân Tông, ta thấy An Nam truyện của Nguyên sử ghi
rời rạc tên của những người kế nghiệp như Nhật Sủy
vào năm Chí Đại thứ 5 (1311), Nhật Khoáng năm Thái Định
thứ nhất (1324), mà trong sử liệu Việt Nam, cụ thể là ĐVSKTT,
ta không bao gờ tìm thấy những tên người như thế.
Xuất phát
từ những văn thư qua lại không chính xác này giữa Việt
Nam và Trung Quốc, sự rối rắm càng gia tăng vào thời điểm
vua Trần Nhân Tông lãnh đạo kháng chiến trong cuộc chiến
tranh năm 1285, do sự có mặt của một số tên Việt gian đầu
hàng giặc như Trần Ích Tắc, Trần Văn Lộng, Lê Thực trong
hàng ngũ đối phương. Chính bọn này đã cung cấp những báo
cáo nhiều mặt về đất nước ta, trong đó chắc chắn có
cả việc lên ngôi và thoái vị của các vua chúa Việt Nam
và quan hệ giữa họ với nhau. Chính từ những báo cáo của
chúng và từ những văn thư vừa nói đã tạo nên mớ hỗn
độn mâu thuẫn, như vừa thấy ở trên. Và đấy là nguyên
do thứ hai. Do thế, ta không thể dựa vào các sử liệu Trung
Quốc để đồng nhất các tên do chúng ghi lại với tên các
vị vua có trong sử liệu Việt Nam. Phải hoàn toàn dựa
vào sử liệu Việt Nam, lấy chúng làm cơ sở để xác định
tên các vị vua xuất hiện trong sử liệu Trung Quốc là ai.
Sử liệu Trung Quốc trong trường hợp này chỉ dùng để tham
khảo.
Quan điểm
chúng tôi, vì vậy, không chấp nhận cách giải quyết của
Yamamoto bằng việc đồng nhất Quang Bính với vua Trần Thái
Tông, Nhật Huyên với vua Trần Thánh Tông và Nhật Tôn với
vua Trần Nhân Tông, do việc những sử liệu không cho phép
đồng nhất một cách dễ dàng như thế, ngay cả về phía
Trung Quốc, mà ta đã thấy trên. Chúng có quá nhiều mâu thuẫn.
Cho nên, cách giải quyết của chúng tôi là lấy chính sử
Việt Nam làm sử liệu cơ bản. Căn cứ trên các cơ sở sử
liệu này, chúng tôi coi Quang Bính chính là vua Trần Thánh Tông,
Nhật Huyên và Nhật Tôn chính là những tên gọi khác nhau
của vua Trần Nhân Tông, còn Nhật Sủy và Nhật Khoáng là
chỉ vua Trần Anh Tông và vua Trần Minh Tông. Đặc biệt, việc
đồng nhất Nhật Huyên và Nhật Tôn với vua Trần Nhân Tông,
vì vua Trần Nhân Tông là đối tượng nghiên cứu của chúng
ta.
Sự đồng
nhất các tên gọi kể trên xuất phát từ hai nguồn sử liệu
khác nhau. Thứ nhất, về phía Trung Quốc, cụ thể là Nguyên
sử Bản kỷ và Kinh thế đại điển tự lục, đều xác nhận
Quang Bính sống cho đến năm Chí Nguyên 15 (1278) trong khi vua
Trần Thái Tông mất trước đó một năm (1277), và Nhật Huyên
năm 1279 mới sai sứ qua cống cho đến năm 1291, nghĩa là sau
khi Trần Thánh Tông mất một năm và có Thượng hoàng của
mình trong cuộc chiến năm 1285.
Và thứ hai,
về phía sử liệu Việt Nam, Hồ Nguyên Trừng và Ngô Sĩ Liên
cho rằng “Gia pháp của họ Trần... thì khi con đã lớn liền
cho nối ngôi chính, cha lui ở cung Thánh Từ xưng là Thượng
hoàng, cùng trông coi chính sự, kỳ thực chỉ truyền ngôi
để yên việc sau, phòng khi thảng thốt mà thôi, chứ mọi
việc đều do ở Thượng hoàng quyết định cả” (Nam ông
mộng lục, tờ 3a7-9 và ĐVSKTT 5 tờ 24a9-b3). Song trong trường
hợp vua Trần Nhân Tông, dù Thượng hoàng Thánh Tông đang còn,
nhưng tất cả mọi việc đều chính do vua Trần Nhân Tông
quyết định. Thí dụ điển hình là sự kiện “Đỗ Hành
chỉ được phong quan nội hầu, vì khi bắt được Ô Mã Nhi
không dâng lên vua mà lại dâng lên Thượng hoàng”, như ĐVSKTT
5 tờ 56b9 - 57a1 đã ghi. Việc Đỗ Hành không được phong tước
cao này rõ ràng xác định vai trò của vua Trần Nhân Tông trong
sự lãnh đạo và quyết định công việc của đất nước.
Thực tế, ĐVSKTT đã ghi chính vua Trần Nhân Tông đã tiếp
các phái bộ của Trung Quốc từ cuối năm 1278 cho đến khi
mất.
Sự thật,
việc nghiên cứu vua Trần Nhân Tông cũng như bất cứ nhân
vật lịch sử nào của Việt Nam, tất nhiên phải lấy các
sử liệu Việt Nam làm chính. Song vào thời vua Trần Nhân Tông,
nước ta có những quan hệ ngoại giao và quân sự với Trung
Quốc. Quan hệ ấy đặc biệt đã để lại cho ta một số
sự kiện và tác phẩm mang tên những người lãnh đạo đất
nước ta, nhưng lại không có trong chính sử của Việt Nam.
Vì vậy, nó đòi hỏi ta phải xác định các tên vừa nêu
liên hệ với những nhân vật nào có mặt trong chính sử ấy.
Ngay một sự kiện vua nhà Trần đã đổi tên mình trong quan
hệ ngoại giao với Trung Quốc đã cho thấy ít nhiều ý đồ
các hoàng đế Đại Việt không muốn cho phía Trung Quốc biết
rõ nhân thân của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Việc dài dòng
bàn cãi để đồng nhất các tên ấy với nhau trở thành tất
yếu.
Một lý do
nữa là vì vấn đề này đã được một số nhà nghiên cứu
nước ta đề cập tới, nhưng đã dễ dàng chấp nhận cách
giải quyết của Yamamoto. Thực tế, cách giải quyết của
Yamamoto, như chúng tôi đã chứng tỏ, có quá nhiều sơ hở,
đặc biệt ông đã không coi trọng chính sử Việt Nam làm
cơ sở. Vì thế, khi bàn cãi, chúng tôi không chỉ nhắm đến
những sơ hở của chính Yamamoto, mà còn nhắm đến việc sửa
sai những tác động nhận thức của Yamamoto đối với giới
nghiên cứu sử học của nước ta.
Từ đây,
trong tác phẩm này, chúng tôi tập trung tất cả các sử kiện
và tác phẩm mang tên Trần Nhật Huyên và Trần Nhật Tôn về
cho chính vua Trần Nhân Tông. Chỉ trừ hai chi tiết là tôn
hiệu Hiến Thiên Thể Đạo Đại Minh Quang Hiếu hoàng đế
và việc Nhật Huyên mất vào năm Chí Nguyên 27, còn tất cả
sử kiện khác do phía Trung Quốc ghi lại dứt khoát là thuộc
về vua Trần Nhân Tông và chúng tôi sẽ không bàn cãi gì thêm
nữa.