MỤC LỤC
Phần
I: NGHIÊN CỨU VỀ TRẦN NHÂN TÔNG
Chương
I Vấn đề sử liệu.
Chương
II Tuổi trẻ vua Trần Nhân Tông.
Chương
III Vua Trần Nhân Tông và cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1285.
Chương
IV Vua Trần Nhân Tông và cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1288.
Chương
V Vua Trần Nhân Tông và sự nghiệp xây dựng hòa bình thời
hậu chiến.
Chương
VI Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia.
Chương
VII Một số vấn đề tư tưởng vua Trần Nhân Tông.
Chương
VIII Vị trí văn học của vua Trần Nhân Tông.
Chương
IX Vua Trần Nhân Tông với thiền phái Trúc Lâm.
Phần
II: TÁC PHẨM TRẦN NHÂN TÔNG
Lời
dẫn.
Thơ
Trần Nhân Tông.
Phú
Trần Nhân Tông.
Bài
giảng Trần Nhân Tông.
Ngữ
lục
Văn
xuôi Trần Nhân Tông
Văn
thư ngoại giao
Tựa
Vua
Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, có những đóng
góp to lớn, nhiều mặt cho đất nước, cho lịch sử. Vua đã
trực tiếp lãnh đạo quân và dân nước ta, tập hợp được
những nhà quân sự tài giỏi, huy động được tiềm lực
của toàn dân, đánh thắng đội quân hung hãn, thiện chiến
nhất thời bấy giờ, làm nên những chiến công oanh liệt
Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, Tây Kết lẫy lừng, đưa
dân tộc ta lên đỉnh cao của thời đại. Không những thế,
vua đã mở rộng biên cương của tổ quốc, đặt nền móng
vững chắc cho sự nghiệp nam tiến hoành tráng của dân tộc,
mà con cháu hôm nay và mai sau mãi mãi ghi nhớ và biết ơn.
Thêm
vào đó, nền văn hóa Việt Nam thời đại vua Trần Nhân Tông
đã xuất hiện hai sự kiện có ý nghĩa hết sức trọng đại.
Thứ nhất là việc dùng tiếng Việt như một ngôn ngữ hành
chánh chính thức của triều đình cùng với tiếng Hán.
Đây
là lần đầu tiên việc sử dụng tiếng Việt đã được
ghi lại bằng minh văn. Các triều đại trước chắc chắn
đã ít nhiều dùng tiếng Việt, nhưng cho đến nay ta không
có bất cứ một xác minh nào. Chính dưới thời vua Nhân Tông,
mà một sự kiện như thế đã chính thức được chép lại.
Phải nói rằng, tiếng Việt sử dụng chính thức này đã
tạo điều kiện cho sự ra đời một loạt các tác phẩm văn
học tiếng Việt từ Tiều Ẩn quốc ngữ thi tập của Chu
Văn An, cho đến bản dịch Kinh Thi của Hồ Quí Ly, cùng các
bài thơ của Nguyễn Biểu, Trần Trùng Quang, nhà sư chùa An
Quốc. Đặc biệt là Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi và
bản dịch kinh Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng và
Phật thuyết báo phụ mẫu ân trọng tiếng Việt xưa nhất
hiện còn, có thể là của thiền sư Viên Thái.
Sự
kiện thứ hai là việc vua Trần Nhân Tông đã thành lập dòng
thiền Trúc Lâm Yên Tử thuần túy Việt Nam với chủ trương
Cư trần lạc đạo. Triều vua Trần Nhân Tông có những biến
động chính trị, quân sự to lớn qua việc hai lần đánh thắng
quân xâm lược Nguyên Mông và việc sát nhập hai châu Ô, Lý
vào bản đồ Đại Việt, cùng những biêện động học thuật
với việc sử dụng tiếng Việt như một ngôn ngữ chính thức
cùng với tiếng Hán, thì tất nhiên phải có những biến động
về tư tưởng. Giữa những biến động này chứng tỏ có
quan hệ biện chứng. Không thể có biến động này xảy ra
mà không kéo theo một biến động khác xuất hiện.
Chính
từ những biến động đó, mà dòng thiền Trúc Lâm ra đời,
không những làm nền tảng cho sự phát triển Phật giáo Việt
Nam mấy trăm năm tiếp theo, mà còn tạo tiền đề cho sự
nghiệp nam tiến của dân tộc trong mấy trăm năm ấy.
Không
phải ngẫu nhiên vị sáng tổ của phái Thảo Đường là vua
Lý Thánh Tông mở đầu cho sự nghiệp Nam tiến vào năm 1069.
Rồi vua Trần Nhân Tông đặt nền móng cho sự nghiệp đó
với việc thành lập hai châu Thuận và Hóa. Và gần đúng
400 năm sau, Bồ tát giới Hưng Long Nguyễn Phúc Chu đã chính
thức sai tướng Nguyễn Hữu Cảnh đi thiết lập thành phố
Sài Gòn và gầy dựng Nam Bộ thành một bộ phận không thể
phân ly của tổ quốc Việt Nam. Phải có một lý luận đằng
sau những người con ưu tú này của dân tộc. Vì Cư trần
lạc đạo phú của vua Trần Nhân Tông được bảo tồn qua
các truyền bản lưu giữ trong các tự viện của dòng thiền
Trúc Lâm, lần đầu tiên ta có một văn bản để nghiên cứu
cơ sở lý luận vừa nói.
Sự
nghiệp văn trị và võ công của vua Trần Nhân Tông vĩ đại
như thế. Trải qua 700 năm lịch sử, sự nghiệp này đã được
nhiều lần đánh giá và ca ngợi, từ những người đồng
thời như Trương Hán Siêu, Trần Minh Tông, Phạm Sư Mạnh cho
đến những người về sau như Nguyễn Trãi, Ngô Sỹ Liên,
Lê Quí Đôn, Ngô Thì Nhiệm v.v Và sự nghiệp văn học và
tác phẩm của vua Trần Nhân Tông cũng đã từng bước được
sưu tập như Việt âm thi tập, Toàn Việt thi lục, Tam tổ
thực lục,... Nhưng cho đến nay, trong công tác sưu tập này
vẫn còn có những thiếu sót. Chẳng hạn toàn bộ các văn
thư ngoại giao do vua Trần Nhân Tông viết cho vua quan nhà Nguyên
vẫn chưa được thu thập và công bố đầy đủ, tối thiểu
là trong giới hạn của những nguồn tư liệu hiện tại bảo
lưu và cho phép.
Chúng
tôi, do thế, đề nghị giới thiệu lại sự nghiệp võ công
và văn trị cùng những tác phẩm văn học, mà vua Trần Nhân
Tông đã để lại cho chúng ta đến ngày hôm nay. Toàn tập
Trần Nhân Tông ra đời là một thể hiện nỗ lực ấy.
Toàn
tập này được chia làm hai phần. Phần đầu giới thiệu
tổng quát sự nghiệp võ công và văn trị qua 9 chương nghiên
cứu từng vấn đề, từ tuổi trẻ cho đến vai trò nhà vua
trong hai cuộc chiến tranh 1285 và 1288, cũng như trong việc mở
mang bờ cõi, sử dụng tiếng Việt và thành lập dòng thiền
Trúc Lâm Yên Tử. Phần hai công bố các tác phẩm văn học
từ thơ phú, văn xuôi, bài giảng, ngữ lục cho đến các văn
thư ngoại giao, nhằm cung cấp tư liệu cho những ai quan tâm
nghiên cứu nhiều mặt về lịch sử Việt Nam nói chung và
bản thân vua Trần Nhân Tông nói riêng.
Cuối
cùng, để cung cấp tài liệu tham khảo và kiểm soát, chúng
tôi cho in lại toàn bộ các văn bản chữ Hán và Quốc âm,
mà chúng tôi sử dụng để phiên âm hay dịch nghĩa. Trong trường
hợp có nhiều bản khác nhau, chúng tôi chọn những bản xưa
nhất hiện có làm bản đáy và cho in, còn các bản khác thì
được dùng làm khảo dị.
Toàn
tập này về cơ bản hoàn thành vào năm 1977, nhưng đến nay
mới được công bố trọn vẹn. Tuy vậy, chỉ có một điều
đáng tiếc là trong số các tác phẩm của vua Trần Nhân Tông
do chúng tôi sưu tầm được trong những năm 1974-1975 và trước
đó, thì trong lần công bố này thiếu mất bản dịch chú
Lăng Nghiêm do Bồ Đề Thất Lỡ (Bodhiri) truyền đạt, Bảo
Sát bút thọ và vua Trần Nhân Tông nhuận sắc. Đây có thể
nói là một trong những bản dịch cuối cùng từ tiếng Phạn
ra tiếng Hán tại nước ta và của Viễn Đông và có sự tham
gia của nhà vua.
Bản
chúng tôi tìm thấy tại chùa Từ Quang tỉnh Phú Yên là một
bản in thời Cảnh Hưng không còn nguyên vẹn lắm.
Những
trang đầu có lời tựa đã bị mất, chỉ còn tờ cuối. Còn
năm đệ chú Lăng Nghiêm thì bốn đệ đầu còn nguyên, đệ
cuối cùng bị rách và chỉ còn đoạn phiến. Về phần Thập
chú cũng bị mất. Sau mỗi cụm từ Phạn in cỡ chữ lớn
có hai hàng chữ Hán dịch nghĩa in cỡ chữ nhỏ. Rất tiếc
bản này đã bị thất lạc trong năm 1984. Chúng tôi hy vọng
những ai đang giữ bản in ấy, vì lợi ích chung của nền
học thuật nước nhà, xin công bố, để làm tư liệu nghiên
cứu cho việc tìm hiểu không những chính các đóng góp của
vua Trần Nhân Tông đối với dân tộc và Phật giáo, mà còn
lịch sử văn hóa và tư tưởng Việt Nam nói chung.
Vạn
Hạnh
Tiết
trùng dương năm Kỷ Mão
Lê
Mạnh Thát
10-01-2001
08:45:23