Phần
III
31.
Lửa địa ngục
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, các Sa môn trong hàng ngũ của Ðại đức
thường dạy; lửa thế gian không nóng bằng lửa địa ngục.
Các ngài ấy còn nhấn mạnh thêm rằng: ném một cục đá
nhỏ vào lửa thế gian, dù lửa ấy cháy từ sáng đến tối,
đá kia cũng không tiêu nhưng một tảng đá lớn ném vào lửa
địa ngục, chỉ trong chốc lát là tiêu mất. Ðó là một
điều mà trẫm khó thể tin được. Các ngài ấy còn dạy
rằng: người làm điều ác, khi đọa vào địa ngục, bị
lửa địa ngục thiêu đốt cả ngàn vạn năm, người ấy
vẫn không chết mất tiêu. Ðó là điều thứ hai mà trẫm
thấy càng khó tin hơn nữa.
--
Tâu Ðại vương, hẵn Ðại vương có nghe nói dưới nước
có các loài thủy tộc như sấu, trạnh, cua, thuồng luồng,
và những con cái của các loài thủy tộc nầy khi có chửa
vẫn ăn sạn sõi mà sống?
--
Thưa, có. Chúng nó dùng sạn sỏi làm thức ăn.
--
Thế thì một khi vào bụng chúng, sạn sỏi ấy có tiêu không?
--
Thưa, hẳn phải tiêu hết.
--
Trứng chửa trong bụng chúng có tiêu không?
--
Thưa, không.
--
Vì sao vậy?
--
Theo thiển ý, có lẽ tại ảnh hưởng của cái nghiệp.
--
Con người trong lửa địa ngục cũng giống như thế. Bị thiêu
đốt cả ngàn vạn năm mà vẫn không tiêu, ấy là bởi ảnh
hưởng của nghiệp. Hễ khi nào tội lỗi đã tạo chưa trả
xong thì chưa thể chết mất tiêu.
--
Xin cho ví dụ khác.
--
Những ác thú như sư tử cái, cọp cái, beo cái, chó sói cái,
trong lúc đương có chửa, vẫn ăn xương thịt của các loài
thú khác. Xương thịt ấy sau khi vào bụng chúng, có tiêu đi
không?
--
Thưa có.
--
Thế thì cái thai chúng mang trong bụng có tiêu đi không?
--
Thưa, không.
--
Tại sao vậy?
--
Có lẽ cũng tại ảnh hưởng của cái ngiệp.
--
Con người trong lửa địa ngục cũng giống như thế. Bị thiêu
đốt cả ngàn vạn năm mà vẫn không tiêu, ấy là bởi nghiệp
báo chưa trả xong tội lỗi chưa đền hết. Cho nên chưa thể
chết mất tiêu được.
--
Xin cho ví dụ khác.
--
Bò cái, ngựa cái, lừa cái, nai cái, trong lúc đang có chửa,
vẫn ăn cây cỏ mà sống. Cỏ cây ấy vào trong bụng chúng
có tiêu đi không?
--
Thưa có.
--
Cái thai chúng đang mang trong bụng thế nào?
--
Không tiêu.
--
Sao vậy?
--
E cũng tại ảnh hưởng của cái nghiệp.
--
Con người trong lửa địa ngục, cũng giống như thế.
--
Xin cho ví dụ khác.
--
Trong hàng phụ nữ như quí phu nhân sang trọng và vợ của
các trưởng giả giàu có, thường dùng cá thịt sơn hào hải
vị làm thức ăn. Các thức ăn ấy vào trong bụng họ có tiêu
đi không?
--
Thưa, có.
--
Khi họ mang thai, cái thai ấy có tiêu đi không?
--
Thưa, không.
--
Sao vậy?
--
Chắc cũng tại ảnh hưởng của cái nghiệp.
--
Con người trong lửa địa ngục cũng giống như thế. Bị lửa
địa ngục thiêu đốt cả ngàn vạn năm nhưng vì tội lỗi
chưa trả xong, nghiệp báo chưa dứt hết nên vẫn chưa chết
mất tiêu được. Sanh ra trong sự thiêu đốt, họ cũng sẽ
già trong sự thiêu đốt, cho đến một ngày nào đó, nghiệp
báo dứt trừ, họ mới mất tiêu.
--
Hay thay! Hay thay!
32.
Nước dựa trên không khí
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, các Sa môn trong hàng ngũ của Ðại đức
dạy rằng đất dựa vào nước, nước dựa vào không khí,
không khí dựa vào hư không. Những điều nói đó, trẩm khó
thể tin được!
Nhân
có cái đãy lọc nước mang theo bên mình, Na Tiên dơ cao cái
đãy ấy lên, tâu lại vua rằng:
--
Tâu Ðại vương, nước trong đãy này không dựa trên không
khí là gì?
33.
Niết Bàn
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, phải chăng Niết Bàn là tịch diệt, là
ngưng nghĩ vĩnh viễn?
--
Thưa phải.
--
Xin giải thích cho trẫm hiểu.
--
Kẻ mê muội, từ trong tâm ra đến ngoài thân, mải mê chạy
theo ham muốn của giác quan. Trôi giạt trong sự ham muốn ái
ân, hụp lặn trong sự ham muốn ái ân, kẻ kia không có cách
gì thoát ra khỏi khổ đau của sanh, già, bịnh, chết. Bậc
trí giả nhờ có tu hành nên từ trong tâm họ đến ngoài thân,
không say đắm một cái gì hết. Không ham muốn, cũng chẳng
vui thích. Không trìu mến ái ân thì không tham dục. Không tham
dục thì không có bào thai. Không có bào thai thì không tái
sanh. Không tái sanh thì không già, không bịnh, không chết,
không sanh già bịnh chêt thì ngoài không sầu lụy hiện ra,
trong không bi thống nung nấu. Cho nên nói Niết Bàn là tịch
diệt, trong đó khổ đau ngưng nghỉ vĩnh viễn và hoàn toàn.
--
Như vậy, phải chăng các nhà tu hành đều chứng đắc Niết
Bàn hết?
--
Thưa, chưa chắc. Ai nhứt tâm hướng thiện đi trên con đường
đúc hạnh, học hết những điều chánh chân, luyện tập những
gì đáng luyện tập, gạt ra ngoài những gì đáng xả ly, nhớ
nghĩ những gì đáng nhớ nghĩ, vứt bỏ những gì không đáng
gắn ghi, người nào làm được như thế mới có thể chứng
đắc Niết Bàn.
--
Người chưa chứng đắc Niết Bàn có biết rằng Niết Bàn
là cảnh giới sung sướng không?
--
Thưa biết.
--
Chưa chứng đắc Niết Bàn, làm sao biết được là sướng?
--
Thế thì những người chưa từng bị chặt tay chân có biêt
rằng bị chặt tay chân là khổ không?
--
Thưa biết.
--
Chưa bị chặt tay chân, làm sao biết được là khổ?
--
Nghe tiếng kêu la than khóc của những người bị chặt tay
chân thì biết rằng bị chặt tay chân khổ lắm.
--
Cũng giống như thế, tuy chưa chứng đắc Niết Bàn, nhưng
nghe các nhà chân tu đắc đạo nói lại và thấy phong thái
nhàn lạc của họ thì biết rằng cảnh Niết Bàn sướng lắm.
34.
Phật có ra đời
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, Ðại đức đã thấy Phật lần nào chưa?
--
Tâu Ðại vương, chưa.
--
Lệnh Tôn sư có thấy không?
--
Thưa, cũng không.
--
Nếu thế thì chắc gì đã có Phật ra đời? Vì chính mắt
Ðại đức không thấy, mà lệnh Tôn sư cũng chẳng thấy!
--
Tâu Ðại vương, Ðại vương đã thấy con sông U Há (Uha) trên
núi Hy Mã Lạp Sơn chưa?
--
Thưa chưa.
--
Lệnh Vương phụ va lệnh Thái phụ có thấy không?
--
Thưa, cũng không.
--
Nếu thế thì chắc gì đã có sông U Há đương chảy trên
núi Hy Mã? Vì chính mắt Ðại vương không trông thấy, mà
lệnh Vương phụ cũng như lệnh Thái phu đều chẳng hề trông
thấy!
--
Thưa, quả thật có con sông U Há. Tuy đời Trẫm chưa trông
thấy và gia tiên cũng chẳng hề trông thấy, nhưng nhiều người
đã đến tận trên đó về nói và sông ấy chính là nguồn
tiếp nước cho sông cái chảy về đồng bằng.
--
Tâu Ðại vương, cũng như thế đó, tuy bần tăng không thấy
Phật, và Tôn Sư bần tăng cũng chưa hề thấy Phật, nhưng
Phật vẫn thật có ra đời mới có giáo pháp của Ngài truyền
thọ cho đến ngày nay.
35.
Phật là tối thắng
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, Phật là bậc cao quý nhất trên đời, có
đúng như thế không?
--
Tâu Ðại vương, đúng. Phật là tối thắng, không ai trên
đời này sánh kịp.
--
Làm sao Ðại đức biết được? Ðại đức đã từng xác
nhận tự mình chưa từng thấy kia mà!
--
Ví như chưa có người chưa hề thấy biển, nhưng đã thấy
năm con sông lớn (1) là các sông Hằng Hà, Tín Tha, Thư Tha,
Bác Xon, và Thi Phi Di ngày đêm đổ nước ra biển không ngừng
mà mặt biển vẫn không vì thế mà cao thêm thì người đó
có tin rằng biển sâu thẳm mênh mông không?
--
Thưa, tin.
--
Cũng như thế đó, vì có rất nhiều đại đệ tử đắc đạo,
thảy đều nói rằng không ai hơn Phật nên bần tăng tin rằng
Phật là tối thắng.
--
Có thể biết được Phật tối thắng như thế nào không?
--
Ðược.
--
Bằng cách nào?
--
Ðọc sách, Ðại vương có biết người ghi chép những lời
Phật dạy thành sách là ai không?
--
Vị ấy tên là Chất (2).
--
Thế Ðại vương đã từng thấy mặt đại đức Chất chưa?
--
Chưa hề thấy, vì Ðại đức ấy đã tịch lâu rồi.
--
Chưa từng thấy đại đức Chất, làm sao biết rằng đại
đức ấy viết sách?
--
Vì có sách và nét chữ của Ngài để lại.
--
Cũng như thế đó, ai thấy giáo pháp của Phật tức là thấy
Phật. Vì chính Phật đã truyền giáo pháp của Ngài lại cho
toàn thể tín đồ. Giáo pháp ấy thật là thậm thâm vi diệu.
Bằng vào đó, bần tăng biết rằng Phật là tối thắng, là
cao quý nhất trên đời này.
--
Hay thay! Hay thay!
(1)
Bấy giờ, vua Di Lan Ðà và ngài Na Tiên đương ở tại thủ
đô Sakala trong vùng Ngũ Hà (Pendjab) . Ðáng lý năm con sông
lớn nói đây phải là các sông: Indus (Tàu dịch là Ấn Hà,
Tín Hà, Tín Tha), Vitasta, Askini, Parusni và Sutudri. Vì đây là
tên năm con sông lớn trong hệ thống Ngũ Hà. Còn hệ thống
Hằng Hà (Gange) thì ở Ðông Ấn và số sông lớn nhiều hơn
con số 5 rất xa. Ðó là các sông: Gange, Yamunà, Carmarvati, Sona,
Sarayù, Aciravati, Hiranyavati v.v. Phải chăng có sự lầm lẫn
trong các bản Hán dịch?
(2)
Tissa. Nói đủ là Maggaliputta Tissa.
36.
Thân cũ không tái sanh
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, con người sau khi chết có trở lại mang
thân cũ mà tái sanh không?
--
Tâu Ðại vương, sau khi chết rồi, con người bỏ thân cũ
mà mang thân mới.
--
Xin cho ví dụ.
--
Vi như người ta châm đuốc. Hết đuốc này, lửa lan qua cháy
sáng đuốc kia. Con người ta cũng thế. Cái thân cũ không đem
đi theo. Phải thọ lãnh một thân mới.
Na
tiên trở ngược lại hỏi vua:
--
Ðại vương hồi nhỏ có theo thầy học chữ không?
--
Thưa có. Và ngày nay, trẫm vẫn còn nhớ.
--
Những kinh sách của Ðại vương học, sau khi phụ đạo dạy
xong và Ðại vương đã thông hiểu, phụ đạo còn nhớ gì
không, hay Ðại vương đã tóm thâu hết sạch rồi?
--
Thưa không, phụ đạo vẫn nhớ và thông hiểu như trước
khi chưa dạy trẫm.
--
Con người ta cũng thế, lìa bỏ thân cũ thì liền nhận thân
mới.
37.
Thân mất , việc làm còn
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, có cái thần hồn để nhớ không?
--
Tâu Ðại vương, không.
--
Thế thì trong con người cái gì ghi lại các việc làm đã
qua?
Na
Tiên trở hỏi ngược lại nhà vua rằng:
--
Ví như có người hái trộm xoài của kẻ khác thì có chịu
tội không?
--
Dĩ nhiên là có tội.
--
Khi mới trồng, cây xoài mầm đâu đã có trái? Ðây chỉ là
hái trái, đâu có trộm cây xoài mầm mà cũng chịu tội?
--
Nhưng nếu không trồng cây xoài mầm thì lấy đâu ra xoài
trái để người kia hái trộm?
--
Con người cũng giống như thế. Với cái thân hiện tại, người
ta làm các việc lành dữ. Các việc lành dữ này không có
tướng trạng gì hết, nhưng trong khoảng "minh minh chi trung"
ấy, đương tựu thành một thân mới, để đời sau tái sanh
mà thành thọ quả báo.
--
Theo trẫm nghĩ, không phải con người đời sau chịu quả báo,
mà nó dựa vào thân mới ấy để tiếp tục làm điều thiện
điều ác khác.
--
Thế thì những việc lành dữ của nó trước kia đi đâu?
--
Như vậy, xoài mầm của Ðại vương đâu có kết trái? Làm
sao kết tội người hái trộm xoài trái được?
--
Vậy theo Ðại đức, những việc lành dữ trước kia đi đâu?
--
Chúng không đi đâu hết. Chúng theo sát gót kẻ đã tạo tác
ra chúng, như bóng theo hình. Người chết chỉ mất cái thân,
không bao giờ đánh rời những việc đã làm. Ví như đêm
tối đốt đèn viết sách, khi sách viết xong và đèn đã tắt,
chữ vẫn tiếp tục tồn tại trên giấy. Vì vậy cho nên,
những việc thiện ác đã làm trong đời này, đời sau đương
nhiên phải thành tựu kết quả, và kết quả ấy cũng chính
tác giả phải tự thọ lãnh lấy.
38.
Không thể biết quả báo về sau.
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, có thể chỉ rõ kết quả của việc lành
việc dữ sẽ tựu thành ra sao trong đời sau được không?
--
Tâu Ðại vương, không.
--
Sao vậy? Xin cho ví dụ.
--
Ví như trẻn một thân cây chưa ra trái, Ðại vương có cách
gì biết được trái sẽ kết tụ ở cành nào và tại chỗ
nào nhất định trên cây không?
--
Thưa không.
--
Cũng như thế đó, trong vòng sanh tử vô thủy vô chung vô cùng
vô tận, người chưa đắc đạo không thể nào biết những
việc thiện ác sẽ thành tựu ra sao và ở đâu một cách chính
xác.
--
Nhưng người còn tái sanh có biết được rằng mình sẽ phải
tái sanh không?
--
Biết.
--
Bằng cách nào?
--
Ví như người làm ruộng gieo trồng đúng thời tiết thì có
biết được rằng mình sẽ có lúa mà gặt không?
--
Thưa biết.
--
Cũng giống như thế, con người còn phải sanh trở lại cũng
biết được rằng mình sẽ tái sanh.
39.
Niết Bàn ở đâu?
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, thật có Niết Bàn không?
--
Tâu Ðại vương, có.
--
Ðại đức có thể cho biết hiện Ðức Phật đang an trú ở
chỗ nào trong cõi Niết Bàn ấy không?
--
Phật đã vào Niết Bàn, mà Niết Bàn là tịch diệt thì làm
sao chỉ được!
--
Xin cho ví dụ.
--
Ví như có người đốt lên một đám lửa lớn. Sau khi lữa
tắt, có thể chỉ ngọn lửa ấy hiện đương ở chỗ nào
không?
--
Thưa không, vì ngọn lửa đã dứt.
--
Cũng như thế đó, làm sao chỉ được Ðức Phật hiện đang
an trú ở chỗ nầy hay ở chỗ kia trong Niết Bàn. Duy chỉ
có pháp thân của Ngài, tức giáo pháp do Ngài truyền lại
là có thể chỉ được mà thôi.
40.
Vì sao Sa môn săn sóc cái thân?
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, chư Sa môn các ngài có nưng niu cái thân
của mình không?
--
Tâu Ðại vương, không.
--
Không nưng niu thân mình, thế thì vì sao khi nằm nghỉ, các
ngài cũng chọn chỗ êm ấm, khi ăn uống các ngài cũng thích
ăn những thức ăn ngon lành? Vì sao vậy?
--
Ðại vương tùng cầm quân ra trận nhiều lần rồi đấy chứ?
--
Thưa vâng.
--
Và cũng từng nhiều phen bị thương rồi đấy chứ?
--
Thưa, vâng.
--
Mỗi khi bị thương như thế, Ðại vương có chữa vết thương
không? và chữa ra sao?
--
Lấy thuốc cao mà đắp lên, và lấy bông gòn và giẻ sạch
mà rịt vết thương lại.
--
Phải chăng vì Ðại vương yêu mến và nưng niu vết thương
nên săn sóc nó cẫn thận như vậy?
--
Thưa, không phải vì yêu mến vết thương.
--
Nếu không phải vì yêu mến vết thương, thế thì vì cớ
gì mà Ðại vương lại săn sóc kỹ lưỡng như vậy?
--
Ấy là vì trẫm muốn cho nó mau lành mà thôi.
--
Cũng như thế
đó, sa môn không yêu mến cũng không nưng niu
thân mình, nhưng phải săn sóc nuôi dưỡng nó. Tuy vẫn ăn
uống nhưng không lấy việc ăn uống làm vui. Không cầu ăn
sang. Không mong ăn ngon. Nhưng cũng không thể để cho nó đói.
Mục đích ăn uống cốt là chỉ cốt để duy trì cái thân
và dùng nó mà hành đạo. Ðức Phật có dạy rằng: "Con người
ta có chín lỗ (cửu khổng) ví như chín cái ung nhọt ngày
đêm thường tiết rỉ ra những chất xú uế tanh hôi". Vì
vậy mà phải săn sóc nó, giống như Ðại vương săn sóc vết
thương vậy.
41.
Tại sao Phật không giống cha mẹ?
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, Ðại đức có chắc rằng Ðức Phật có
ba mươi hai phước tướng trang nghiêm , tám mươi vẻ đẹp
tùy thuộc, toàn thân nước da vàng rực và có vừng hào quang
tỏa chiếu chung quanh không?
--
Tâu Ðại vương, quả có như thế.
--
Vương phụ và Vương mẫu Phật có các tướng phước như
thế không?
--
Thưa, không.
--
Nếu cha mẹ không có thì làm sao con có được? Con không giống
cha thì giống mẹ, hoặc giống bà con nội ngoại gần nhất.
Căn cứ theo lời Ðại đức, cả Vương phụ lẫn Vương mẫu
Phật đều đã không có các phước tướng như thế, thì quyết
định Phật cũng không thể có được!
--
Tuy Vương phụ và Vương mẫu Phật không có các phước tướng
ấy, nhưng Phật thì chắc chắn có. Ðại vương đã thấy
cây sen chưa?
--
Thưa, có.
--
Cây sen sanh ra trong bùn, lớn lên giữa nước bẩn. Thế mà
khi trổ hoa thì sắc tuyệt đẹp, hương tuyệt thơm. Sắc ấy,
hương ấy, có giống gì với sắc hương của nước đục
bùn dơ không?
--
Thưa, không.
--
Ðức Phật cũng như thế đó. Tuy Vương phụ và Vương mẫu
Ngài không có các phước tướng, nhưng Ngài thì chắc chắn
là có. Giống như hoa sen, Phật sanh ra giữa thế gian , lớn
lên giữa thế gian, nhưng không giống với bất cứ ai giữa
thế gian.
--Hay
thay! Hay thay!
42.
Chơi chữ
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, phải chăng Ðức Phật là bậc chuyên tu
phạm hạnh, không giao hội với phụ nữ, giống như vua trời
Phạm Thiên trên tầng trời thứ bảy?
--
Tâu Ðại vương, đúng như thế. Ngài sa lìa nữ giới, giới
hạnh Ngài rất thanh tịnh, không mảy may tỳ vết.
--
Sở hành của Ngài giống như sở hành của vua Trời Phạm
Thiên, như vậy thì Ngài là đệ tử của Phạm thiên chứ?
--
Tâu Ðại vương, vua trời Phạm Thiên có bồ đề tâm (tức
tâm Phật) không?
--
Thưa có.
--
Thế thì chúa Trời Phạm Thiên và chư thiên trên thượng giới
là đệ tử của Phật chứ gì?
Na
Tiên tiếp hỏi:
--
Tiếng chim kêu như thế nào?
--
Giống như tiếng chim nhạn.
--
Như thế Ðại vương có cho rằng tất cả các loài chim thảy
đều là nhạn, hoặc là đệ tử của nhạn cả không?
--
Thưa không.
--
Cũng giống như vậy, Phật không phải là đệ tử của vua
Trời Phạm Thiên.
--
Hay thay!
43.
Ai truyền giới cho Phật?
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, hẳn là Phật phải có biết rồi mới theo
đó mà phụng hành giới luật chứ?
--
Tâu Ðại vương, vâng.
--
Ai là Thầy truyền giới cho Phật?
--
Phật không có Thầy. Ngài không học với ai hết. Ngài tự
mình tu học cho đến khi đắc đạo dưới gốc cây bồ đề,
thì hoát nhiên đại ngộ mà tự biết các giới luật. Ngài
không giống như các đệ tử của Ngài phải học nơi Ngài
rồi mới biết mà phụng hành giới luật cho đến già. Vì
vậy Phật mới là bậc vô thượng giác vương.
44.
Giọt nước mắt lành
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, ngưòi ta khi có cha mẹ chết thì ưu sầu
khổ, gào khóc thảm thê, nước mắt ràn rụa. Lại có người
khi mới nghe được Pháp Phật và nhờ đó mà tỉnh ngộ, cũng
lại nước mắt đầm đìa, lệ tuôn lả chả. Cả hai trường
hợp đều có lệ rơi. Vậy hai dòng lệ ấy có khác nhau không?
--
Tâu Ðại vương, nước mắt tuông ra khi cha mẹ chết là nước
mắt của sầu ưu khổ thống, do niệm ân ái gây nên. Ðó
là chất độc của ngu si tiết rỉ ra. Còn nước mắt ứa
trào ra khi nghe được pháp Phật là nước mắt của lòng từ
tâm, vì nhớ nghĩ đến khổ đau của thế gian mà tuông ra.
Ðây là loại nước mắt an lạc, thanh tịnh. Cũng đồng thời
là nước mắt nhưng một bên thì nóng bức đố hiêu, một
bên lại mát mẻ an lành và tăng thêm phước đức.
--
Hay thay! Hay thay!
45.
Mê ngộ khác nhau
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, người đã giải thoát và người chưa giải
thoát khác nhau chỗ nào?
--
Tâu Ðại vương, hạng trước không còn lòng tham dục, còn
hạng sau thì nặng trĩu lòng tham dục. Người nặng trĩu lòng
tham dục thì suốt đời và bất cứ ở đâu cũng đuổi bắt
miếng cơm manh áo, lo toan cho mạng sống được sung sướng
mà thôi.
--
Trẩm thấy trong thế gian này, bất cứ là ai dù xuất gia hay
tại gia, thảy đều cho là mình sung sướng, thảy đều muốn
ăn ngon ăn bổ mà chẳng bao giờ biết nhàm chán.
--
Hai đằng đều cần ăn như nhau. Vì có ăn mới duy trì được
thân mạng, Nhưng với kẻ chưa giải thoát thì thú vui tối
thượng là được ăn no và ăn ngon. Ăn được càng nhiều
món sang vật lạ bao nhiêu càng vui thích bấy nhiêu. Với bậc
đã giải thoát thì ăn chỉ là ăn. Ăn cốt để nuôi sống
mà tiến tu. Ăn, không chú ý tới sự ngon dở. Ngon càng tốt,
nhưng dở cũng chẳng sao. Miễn là được sống để lo độ
mình và độ đời.
--
Hay thay! Hay thay!
46.
Trí Nhớ
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, người ta trong khi có việc đang làm, có
nhớ được những việc xa xưa không?
--
Tâu Ðại vương, khi rầu lo, người ta hay nhớ đến những
việc xa xưa hơn.
--
Dùng cái gì để nhớ? Phải chăng là dùng óc tưởng tượng?
hay dùng trí nhớ?
--
Những điều Ðại vương đã học và đã biết, về sau Ðại
vương có nhớ lại được không?
--
Có điều nhớ mà cũng có điều về sau bỗng nhiên quên đi.
--
Lúc quên đi đó, là vì Ðại vương không có óc tưởng tượng
chăng?
--
Thưa không, Chính lúc đó, trẫm không có trí nhớ.
--
Thế thì không đúng với lời Ðại vương vừa nói rằng người
ta nhớ được là nhờ có óc tưởng tượng!
Vua
lại hỏi:
--
Ai đã có làm thì đều có nhớ được. Như trước kia hay
ngày nay, hễ có làm là đều có thể dùng trí nhớ mà biết
được chăng?
--
Vâng.
--
Như vậy, người ta chỉ nhớ được những việc đã qua, chứ
không thể nhớ được việc mới?
--
Những việc mới ấy, nếu đã từng làm rồi mà nay không
nhớ ra thì cũng chỉ tại không có trí nhớ.
--
Nếu vậy thì những người học chữ hay học mỹ nghệ là
luống công vô ích sao?
--
Không, những người mới học chữ hay học vẽ đều có nhớ.
Bằng chứng là họ dạy lại cho học trò và khiến học trò
cũng biết như họ. Vì vậy mà nói rằng dùng trí để nhớ.
47.
Mười sáu cách nhớ
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, có bao nhiêu trường hợp khiến con người
phát khởi được trí nhớ?
--Tâu
Ðại vương, có mười sáu trường hợp:
1)
Nhớ là vì việc đã làm từ xa xưa.
2)
Nhớ vì mới vừa được học hỏi
3)
Nhớ vì một dịp vinh quang.
4)
Nhớ vì nghĩ đến điều thiện.
5)
Nhớ vì từng bị khổ đau.
6)
Nhớ vì tự mình suy tư.
7)
Nhớ vì có nhiều yếu tố xen lộn.
8)
Nhớ vì được nghe nhắc lại.
9)
Nhớ vì thấy dấu hiệu.
10)
Nhớ vì được thôi thúc nhắc nhở.
11)
Nhớ vì quen tay.
12)
Nhớ vì quen tánh.
13)
Nhớ vì thuộc lòng.
14)
Nhớ vì nhứt tâm.
15)
Nhớ vì đọc sách.
16)
Nhớ vì đã cất dấu nay thấy lại.
Như trên
là 16 trường hợp khiến con người phát khởi được trí
nhớ.
--
Thế nào là nhớ vì việc đã làm từ xa xưa?
--
Như đệ tử Phật là Ðức A Nan (Ananda) và nữ đệ tử là
Ưu bà di Cưu thù đan la (Khujjuttarã) cùng nhiều thánh tăng,
đều nhớ được các kiếp trước của mình.
--
Thế nào là nhớ vì mới được học hỏi.?
--
Như có người đã học và biết rồi, nhưng sau đó quên đi,
thấy người khác học bỗng nhớ lại.
--
Thế nào là nhớ vì một dịp vinh quang?
--
Như nhà vua nhớ ngày đăng quang , người xuất gia nhớ ngày
thọ giới. Ðó là những việc trọng đại vinh quang của đời
mình, cho nên nhớ dai.
--
Thế nào là nhớ vì nghĩ đến điều thiện?
--
Như nhân có một dịp may nào đó, mình được đãi ngộ xứng
ý. Do đó tự nghĩ rằng kiếp trước hẳn mình đã có gây
nhiều phước đức nhân duyên mới được hưỡng quả báo
tốt đẹp như thế này.
--
Thế nào là nhớ vì từng bị khổ đau?
--
Như những người từng bị lao lung khốn đốn, thường nhớ
mãi những đau khỗ mình đả chịu đựng.
--
Thế nào là nhớ vì tự mình suy tư?
--
Như những gì mình đã thấy quen mắt trong gia đình, bất cứ
là cha mẹ, anh chị em, hoặc vườn nhà, gia súc v.v., nay thấy
những hình ảnh khác hao hao giống như thế, thì tự mình tư
duy rồi liên tưởng từ cái nọ sang cái kia.
--
Thế nào là nhớ vì nhiều yếu tố xen lộn?
--
Như tên người, tên vật cùng là tự loại của chúng và màu
sắc hương vị thơm hôi đắng ngọt .v.v.. của từng vật
một; nương nơi sự xen lộn của các yếu tố sai khác ấy
tạo thành sự vật mà nhớ được chúng thì gọi là nhớ
vì được tạo bởi nhiều yếu tố xen lộn.
--
Thế nào là nhớ vì được nghe nhắc lại?
--
Như người có tánh hay quên, nhờ kẻ khác nhắc lại mới
nhớ.
--
Thế nào là nhớ vì thấy dấu hiệu?
--
Như trâu có dấu hiệu riêng của trâu, bò có dấu hiệu riêng
của bò, v.v.. Người ta nhớ từng sự vật, nương nơi các
dấu hiệu riêng của chúng.
--
Thế nào là nhớ vì được thôi thúc nhắc nhỡ?
--
Như trong hoàn cảnh của người hay quên, phải có kẻ đứng
bên nhắc nhở, hoặc tự người ấy phải luôn luôn tâm niệm
để tránh khỏi quên.
--
Thế nào là nhớ vì quen tay?
--
Như người học chữ, phải tự mình viết đi viết lại mới
nhớ mặt chữ được.
--
Thế nào là nhớ vì quen tính?
--
Như người học toán, học đến mức thành thục thì tính
toán phân minh mau lẹ, có thể nhớ được những con số rất
lớn.
--
Thế nào là nhớ vì thuộc lòng?
--
Nhờ thuộc lòng, người ta nhớ được nhiều bản văn rất
dài và rất khó nhớ. Ðây giống như luật trả vay. Có vay
thì có trả, có thuộc lòng thì có nhớ.
--
Thế nào là nhớ vì nhứt tâm?
--
Nhứt tâm đạt được là nhờ tham thiền. Nhờ tu hành, nhờ
nhứt tâm, mà nhớ được những sự việc đã xảy ra trong
mỗi đời.
--
Thế nào là nhớ vì đọc sách?
--
Vua chúa ai cũng có sử sách ghi chép lại những việc làm của
triều đại mình. Nay muốn biết một đời vua nào có làm
được những việc gì trong năm nào, chỉ cần lật sách ra
đọc là biết. Như thế gọi là nhớ vì đọc sách.
--
Thế nào là nhớ vì cất dấu?
--
Vật gì mình đã dụng ý cất dấu kỹ lưỡng cẩn thận,
đến khi thấy trở lại thì nhớ rõ mồn một từng chi tiết.
--
Hay thay!
48.
Phật là Ðấng Toàn Giác
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, Ðức Phật có biết hết tất cả các việc
quá khứ và vị lai không?
--
Tâu Ðại vương, có, Ðức Phật biết hết.
--
Nếu Phật biết hết, vì sao Ngài không truyền trao giới luật
và giáo pháp cho đệ tử trong cùng một lúc mà phải đợi
dịp ban bố dần dần?
Na
Tiên hỏi ngược lại nhà vua rằng;
--
Trong quốc độ của Ðại vương có vị lương y nào không?
--
Thưa có.
--
Vị lương y ấy có biết hết cả các vị thuốc trong thiên
hạ không?
--
Thưa, biết hết.
--
Khi vị lương y ấy trị bịnh, ông ta có cho bệnh nhân uống
tất cả các vị thuốc cùng một lúc không? Hay ông ta cho uống
dần dần, hết vị này sang vị khác?
--
Phàm cho uống thuốc thì phải ứng với bệnh. Bệnh nào uống
thuốc ấy.
--
Cũng như thế đó, Ðức Phật là đấng toàn giác, Ngài biết
tất cả quá khứ, hiện tại, vị lai, nhưng không thể cùng
một lúc mà Ngài truyền trao hết giáo pháp và giới luật
cho đệ tử được. Phải chờ dịp để ban bố đúng lúc
thì mới khiến đệ tử nhớ mà phụng hành trọn đời.
--
Hay thay! Hay thay!
49.
Nhân it, quả nhiều
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, các sa môn trong hàng ngũ của Ðại đức
bảo rằng những kẻ trọn đời làm ác nhưng đến khi lâm
chung biết tưởng nghĩ đến Phật thì được sanh lên các
cõi trời. Quả thật Trẫm không tin được điều đó. Các
ngài lại còn bảo rằng những kẻ trọn đời làm lành, nhưng
nếu phạm tội giết một sinh mạng thì sau khi chết, đều
phải đọa địa ngục. Ðiều này Trẫm lại cũng không thể
tin được.
Na
Tiên hỏi ngược lại nhà vua:
--
Giả sử có kẻ cầm một cục đá nhỏ ném xuống nước,
cục đá ấy nổi hay chìm?
--
Thưa chìm.
--
Bây giờ, có kẻ đem một trăm viên đá lớn chất vào một
chiếc ghe bự đủ sức chở hàng ngàn tảng đá lớn, thì
trăm viên đá ấy có chìm không?
--
Thưa không.
--
Ðá không chìm là nhờ ghe chở. Cũng giống như thế, người
làm ác khi chết biết tưởng nhớ đến Phật, được Phật
lực nâng đỡ nên không đọa vào địa ngục mà lại được
sanh lên các cõi trời. Hễ ai tin Phật và tưởng nhớ đến
Phật thì khi lâm chung đều được Phật tiếp độ.
50.
Ngừa giặc khi chưa đến
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, các sa môn trong hàng ngũ Ðại đức vì sao
phải học đạo tu hành? Ðể làm gì?
--
Tâu Ðại vương, Ðại vương không thấy quá khứ đầy đau
khổ, hiện tại đầy đau khổ, và tương lai đầy đau khổ
sao? Vì muốn tiêu diệt đau khổ, muốn thoát khỏi đau khổ,
nên chúng tôi mới học đạo tu hành làm sa môn.
--
Nếu là đau khổ của đời sau thì cần gì phải lo trước.
Na
Tiên hỏi lại:
--Có
nước cừu địch nào lăm le xâm chiếm nước của Ðại vương
không?
--
Thưa có.
--
Thế thì Ðại vương có chờ cho đến khi giặc quân đến
công phá ngoài thành rồi mới lo rèn đúc binh khí, luyện tập
binh mã, hay phải lo toan dự phòng các việc ấy từ trước?
--
Phải lo dự phòng từ trước.
--
Giặc chưa đến thì dự phòng làm gì?
--
Vì giặc đến bất thình lình.
--
Cũng thế, khổ đau đến với kiếp sống không thể nào lường
trước được. Nếu không chuẩn bị thì không kịp thời đối
phó.
Na
Tiên lại hỏi:
--
Tâu Ðại vương, đợi đói mới trồng, khát mới đào giếng,
hay phải làm các việc ấy từ khi chưa đói, chưa khát?
--
Phải lo từ trước.
--
Cũng thế, việc diệt trừ khổ đau nếu không lo toan từ trước
thì không cách gì ứng phó kịp thời. Vì vậy mà chúng tôi
xuất gia học đạo tu hành.
51.
Thần thông chẳng quản xa gần
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, từ mặt đất lên tới cõi trời Phạm Thiên
(1) đường dài phỏng độ bao xa?
--
Tâu Ðại vương, rất xa. Giả sử có người cầm một tảng
đá lớn bằng tòa cung điện của nhà vua đây mà đứng nơi
tầng trời ấy rồi buông tay ra cho đá rơi xuống thì phải
mất sáu tháng đá ấy mới rơi tới mặt đất.
--
Mặt khác các sa môn trong hàng ngũ Ðại đức lại dạy rằng
những ai chứng đắc đạo quả A La Hán đều có phép thần
thông, bay từ mặt đất lên tới cõi trời Phạm Thiên, mau
bằng khoảng thời gian của người lực sĩ co duỗi cánh tay.
Quả thật trẫm không thể nào tin được điều đó. Vượt
qua cả ngàn muôn ức dặm, sao lại có thể lẹ đến như thế
được?
--
Thưa, Ðại vương quê quán ở đâu?
--
Ở ốc đảo A Lệ Tán nước Ðại Tân (2)
--
Từ đây đến đó bao xa?
--
Hai ngàn do tuần (3)
--
Có khi nào Ðại vương tưởng nghĩ đến những sự việc xảy
ra ở quê cũ không?
--
Có. Trẩm tưởng nhớ đến luôn.
--
Bây giờ, Ðại vương thử nhớ lại một việc đã làm tại
đấy.
--
Trẩm nhớ lại rồi.
--
Sao Ðại vương vượt qua tám vạn dặm vừa đi vừa về, mà
lại mau đến thế?
--
Hay thay! Hay thay!
(1)
Cõi trời Phạm Thiên: tầng trời thứ bảy, sau khi vượt khỏi
tầng trời của cõi dục.
(2)
Nước Ðại Tân cũng gọi là nước Ðại Hạ, tức nước
Batriane, ở về phía tây Trung Á, và phía Bắc nước Ba Tư
ngày nay. Nước nầy do một tướng lãnh người Hy Lạp tên
là Diodotos thành lập. Ông vốn là tổng trấn xứ nầy, do
triều đình Séleucides bổ nhiệm, đến năm 200 trước TL thì
tự tách ra vương hiệu của ông là Diodotos i, vua nước Batriane.
Truyền đến đời con là Diodotos II (235 225 trước TL) bị mất
vào tay một tướng lãnh làm phản tên là Euthydème de Magnesie
là Démétrios kế nghiệp cha, cất quân đánh chiếm Ấn Ðộ,
tiến xuống tới vùng lưu vực sông Hằng và vây hảm thành
Ba Liên Phất (Pataliputra). Bãy giờ cũng là lúc đế quốc Khổng
Tước (Maurya) sụp đổ (187 trước TL). Trên đường về, ông
giao vùng tây Ấn lại cho rể ông cai trị. Ðó là vua Di Lan
Ðà (Milinda) nói trong kinh nầy.
Ốc
đảo A Lệ Tán tức Alasanda, một thị trấn do A Lịch Sơn
đại đế thành lập, nguyên gọi là Alexandrie sous caucase ở
về phía tây cuối rặng Thông Lãnh (Hindukush), trên con đường
giao thông giữa Bắc Trung Hoa và Tiểu Á Tế Á, quẹo xuống
Ấn Ðộ, thị trấn nầy trước khi chưa thành lập nguyên
là một ốc đảo.
(3)
Do tuần: Ðơn vị đo bề dài của Ấn Ðộ xưa. Một do tuần
bằng 40 dặm của Trung Hoa, phỏng non 10Km
52.
Cùng đến một lượt
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, giả sử có hai người cùng chết ở đây,
một người sanh lên cõi trời Phạm Thiên, một người đi
đầu thai tại nước Kế Tân (Kashmir) cách đây mười hai do
tuần, thế thì ai là kẻ đến trước?
--
Tâu Ðại vương, cùng đến một lượt.
--
Ðường đi xa gần không đồng nhau, vì sao lại cùng đến
một lượt?
--
Ðại vương thử nhớ nghĩ đền xứ A Lệ Tán đi.
--
Rồi.
--
Bây giờ, Ðại vương thử nhớ nghĩ đến xứ Kế Tân đi.
--
Rồi.
--
Ðại vương nhớ nghĩ đến xứ nào mau hơn?
--
Hai bên mau như nhau.
--
Cũng như thế đó, người sanh lên cõi trời Phạm Thiên và
người đi đầu thai ở xứ Kế Tân, cả hai cùng đến một
lượt.
Na
Tiên hỏi lại:
--
Nếu có một cặp chim cùng bay, nhưng một con đến đậu trên
một gốc đại thọ, và một con đến đậu trên một cành
cây con, cả hai con cùng đậu, bóng con nào in xuống mặt đất
trước?
--
Cùng một lượt.
--
Người chết sanh lên cõi trời Phạm Thiên và người chết
đầu thai ở xứ Kế Tân cũng như thế đó.
53.
Bảy sự việc tựu thành giác ngộ.
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, muốn thành tự giác ngộ, cần phải tu học
bao nhiêu việc?
--
Tâu Ðại vương, cần phải tu học bảy việc.
--
Xin nói cho nghe.
--
Một là phân biệt điều thiện điều ác. Hai là cố gắng
tinh tấn xông tới. Ba là an vui trong niềm đạo. Bốn là chế
phục tâm ý để làm lành. Năm là luôn luôn nhớ nghỉ đạo
lý. Sáu là quy nhứt cái tâm trong đại định. Bảy là bình
thản chấp nhận mọi cảnh ngộ.
--
Ai cũng phải học đủ bảy việc ấy mới đưọc giác ngộ
chăng?
--
Không hẳn. Thường thường chỉ cần làm một việc là đủ.
Như dã đắc trí tụ rồi thì tất nhiên cũng phân biệt được
thiện ác.
--
Nếu chỉ cần tu học một việc mà biết đủ hết thì hà
tất phải nói đến bảy việc?
--
Ví như người cầm con dao cất dấu trong bao da mà đứng dựa
bên vách, con dao ấy tự nó có cắt đứt được vật gì không?
--
Thưa không.
--
Tâm con người cũng thế. Tuy tâm ấy đã bừng sáng, nhưng
phải hội đủ sáu việc hiệp lại mới tựu thành trí tuệ
giác ngộ được.
54.
Làm việc lành nhỏ được phước lớn.
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, phải chăng người làm điều lành thì được
phước lớn, còn người làm điều dữ thì bị họa lớn?
--
Tâu Ðại vương, hẳn nhiên là người làm điều lành thì
được phước lớn. Nhưng người làm điều dữ chỉ bị họa
nhỏ thôi.
--
Tại sao vậy?
--
Tại vì ngưòi làm điều dữ thỉ suốt ngày đêm lòng thường
hối hận nên điều ác càng ngày càng vơi bớt. Còn người
làm điều lành thì suốt ngày đêm lòng thường hoan hỷ nên
phước đức càng ngày càng gia tăng. Thuở trước, hồi Phật
còn tại thế, một hôm Ngài gặp một tội nhân bị chặt
hết hay chân đem đến dâng cúng Ngài một cành hoa sen. Phật
liền quay lại bảo các tỳ kheo rằng: "Nhờ phước đức này,
suốt trong chín mươi mốt kiếp sắp tới, người cụt tay
chân kia không những khỏi bị đọa vào ba đường dữ là
đia ngục, ngạ quỷ và súc sanh, mà lại còn được sanh lên
cõi trời cho đến khi hưởng hết phước ấy mới trở lại
làm người". Do đó nên biết rằng làm việc lành nhỏ vẫn
được hưởng phước lớn. Còn người làm việc dữ mà lòng
biết ăn năn hối hận thì dần dần tội lỗi sẽ giảm thiểu
tiêu trừ hết. Vì vậy mà bần tăng biết rằng người làm
điều dữ chỉ bị họa nhỏ thôi.
55.
Kẻ trí làm điều dữ ít bị tai vạ hơn người ngu
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, giả sử có kẻ trí và người ngu cùng làm
điều dữ, ai bị tai vạ nhiều hơn?
--
Tâu Ðại vương, người ngu.
--
Sao vậy? Theo luật pháp trong nước của trẩm, thì một vị
đại thần phạm tội phải bị xử phạt rất nặng. Cũng
tội ấy, chưng nếu ngu dân phạm vào thì xử phạt nhẹ hơn.
Như vậy, kẻ trí làm điều dữ hẳn phải bị tai vạ nhiều
hơn người ngu chứ?
--
Tâu Ðại vương, giả sử có một hòn sắt cháy đỏ mà có
hai người cùng cầm. Một người biết đó là sắt đương
cháy đỏ, còn người kia thì không hay biết gì hết. Trong
hai người ấy ai là người bị phỏng tay nhiều hơn?
--
Người không biết.
--
Cũng giống như thế. Người ngu làm điều dữ thì đâu có
biết ăn năn hối hận cho nên bị tai vạ lớn. Còn kẻ trí
làm điều dữ thì tự biết lẽ đáng không nên làm, cho nên
lòng luôn luôn hối hận. Biết hối hận như thế cho nên tai
vạ sẽ giảm thiểu đi rất nhiều.
--
Hay thay!
56.
Bay lên trên không
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, có ai cất nổi mình bay lên đến cõi trời
Phạm Thiên hoặc cõi Bắc câu lô châu hay một cõi nào khác
mà mình muốn được không?
--
Tâu Ðại vương, được.
--
Làm sao có thể bay lên như thế?
--
Ðại vương hãy nhớ lại hồi còn nhỏ có khi nào Ðại vương
nhảy cao đến một trượng không?
--
Có. Lúc nô đùa, Trẫm nhảy cao hơn một trượng.
--
Làm thế nào để nhảy?
--
Trẩm nghĩ trong trí rằng "phải nhảy cao đến đó", nhờ vậy
mà thân hình bỗng trở nên nhẹ nhàng mà nhảy lên được.
--
Cũng giống như thế. Bậc tu hành đắc đạo cũng nhờ tâm
niệm tưởng nghĩ và tự mình làm chủ được mình mà cái
thân trở nên nhẹ nhàng, do đó bay lên được trên không.
57.
Xương dài bốn ngàn dặm
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, các sa môn trong hàng ngũ của Ðại đức
có những đốt xương dài đến bốn ngàn dặm. Thân hình như
thế nào mà xương dài đến như thế?
--
Tâu Ðại vương, Ðại vương đã từng nghe dưới biển có
loài cá tên là Chất, mình dài hai vạn tám ngàn dặm chưa?
--
Thưa có.
--
Một con cá mình dài hai vạn tám ngàn đặm thì xương hông
của nó dài bốn ngàn dặm, đâu có gì là lạ!
58.
Ngừng hơi thở
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, các sa môn trong hàng ngũ của Ðại đức
bảo rằng họ có thể ngưng hơi thở. Làm sao ngưng được?
--
Thưa có. Tâu Ðại vương, Ðại vương đã từng nghe người
ngũ ngáy chưa?
--
Thưa có.
--
Khi trở mình người ấy ngưng ngáy, phải không?
--
Thưa phải.
--
Ðấy Ðại vương thấy chưa? Người thường chưa từng học
đạo, chưa chế phục được tác động của thân và khẩu,
mà chỉ bằng một cái trở mình cũng đủ ngưng được tiếng
ngáy. Huống là người đã dày công tu luyện, từng khắc phục
được tác động của thân và khẩu, đã quy nhứt được
cái tâm, đã chứng được phép tứ thiền, mà lại không ngưng
được hơi thở hay sao?
59.
Biển
Vua
hỏi:
--
Tâu Ðại đức vì sao gọi là biển? Nước là biển chăng?
--
Tâu Ðại vương, sở dĩ gọi là biển vì trong đó có nửa
phần nước và nửa phần muối.
--
Vì sao nước biển lại mặn?
--
Vì bị chứa đựng lâu ngày, cộng thêm có xác cá, rùa, cua,
ốc v.v. tan rã và tiết rỉ ra, thấm vào nước khiến nước
ấy trở nên mặn.
60.
Trí tuệ soi thấu tất cả.
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, người đắc đạo có thể tư duy mà thấu
hết được sự vật sâu kín chăng?
--
Tâu Ðại vương, được. Pháp Phật sâu xa mầu nhiệm phân
tích đủ hết mọi sự, nhưng không thể cân nhắc suy lường
được mọi sự. Chỉ có trí tuệ mới làm được việc đó.
61.
Thần hồn, trí và thức
Vua
hỏi:
--
Bạch Ðại đức, cái thần hồn cái trí và cái thức có giống
nhau không?
--
Tâu Ðại vương, cái thức thì nhận biết sự vật, cái trí
thì phán đoán mà hiểu được đạo, còn cái thần hồn thì
không có.
--
Nếu không có thần hồn thì ai thấy bằng mắt, nghe bằng
tai, ngửi bằng mủi, nếm bằng lưỡi, sờ mó bằng thân,
suy nghĩ bằng ý?
--
Nếu Ðại vương cho rằng phải có cái thần hồn thấy bằng
mắt, nghe bằng tai vv. thì trong khi người ta khoét con mắt
cho to, cái thần hồn có trông thấy rõ và xa hơn không? Trong
khi người ta banh lỗ tai ra cho lớn, cái thần hồn có nghe
được rõ và xa hơn không? v.v.
--
Thưa không.
--
Như thế thì đâu có cái thần hồn?
62.
Phật làm được việc khó làm
Na
Tiên nói:
--
Phật làm được việc rất khó làm và pháp Phật rất huyền
diệu.
--
Việc gì mà khó làm và huyền diệu?
--
Lời Phật nói soi rõ tận tim gan con ngưòi. Ngài phân biệt
được hết các pháp vô hình vô tướng ở trong mỗi giác
quan của con người, từ việc mắt thấy, tai nghe đến những
ý nghĩ thầm kín sâu xa nhất.
--
Xin cho ví dụ.
--
Ví như có người ngậm một ngụm nước biển vào miệng.
Thử hỏi người ấy có phân biệt được trong ngụm nước
đương ngậm ấy có mấy phần là nước suối, mấy phần
là nước khe, mấy phần là nước sông nọ, mấy phần là
nước sông kia không?
--
Các thứ ấy hợp thành một, quả thật khó mà nhận ra.
--
Ðối với việc trước mắt mà còn khó như thế, huống nữa
là đối với các pháp vô hình vô tướng trong con người,
từ tâm niệm đến mắt thấy, từ tâm niệm đến tai nghe,
mũi ngửi, lưỡi nếm, thân sờ, ý nghĩ? Vậy mà Phật đều
phân biệt và giảng giải rõ ràng từng pháp một. Vì vậy
cho nên bần tăng mới nói rằng pháp Phật rất huyền diệu
và Phật đã làm được việc rất khó làm.
--
Hay thay! Hay thay!
Lời
cuối cùng
Ðến
đây, Na Tiên tâu với vua rằng:
--
Tâu Ðại vương, bây giờ đã nửa đêm rồi. Bần tăng muốn
trở về chùa.
Vua
Di Lan Ðà liền truyền thị vệ lấy vải và dạ quấn lại,
bên trong tẩm đầy dầu, đốt lên làm đuốc để tiển đưa
Na Tiên ra về. Nhà vua phán:
--
Các ngươi phục vụ trẩm như thế nào thì cũng phục vụ
Ðại đức như thế ấy.
Xong
ông quay ra bạch Na Tiên:
--
Có Thầy như Ðại đức và có đệ tử như trẩm thì hẳn
là người đời mau thông hiểu đạo lý lắm .
Tất
cả các câu hỏi của nhà vua đều được Na Tiên ứng đáp
rành rẽ và mau lẹ, cho nên ông hết sức hài lòng. Ông liền
truyền mở kho lấy ra một cây gấm đáng giá mười vạn đồng
dâng cúng cho Na Tiên và bạch rằng:
--
Bạch Ðại đức, từ nay về sau, trẫm nguyện cúng dường
tám trăm đại đức sa môn ngay tại cung điện này, chư Ðại
đức cần dùng những gì thì xin cứ tùy thích. Của trong kho
có sẵn.
--
Tâu Ðại vương, xin đa tạ, bần tăng và huynh đệ là những
kẻ tu hành, không ham muốn gì hết.
--
Trẫm vẫn biết như vậy. Nhưng Ðại đức nên tự bảo vệ
và đồng thời bảo vệ luôn cho trẩm nữa.
--
Vì sao vậy?
--
Vì nếu Ðại đức từ khước thì e dư luận sẽ cho r