Cái
cốc của ngài Ajahn Chah
Ajahn
Chah bảo rằng ngài chẳng mơ gì nữa. Một đêm ngài chỉ
ngủ vài tiếng trên một cái cốc cao cẳng. Bên dưới cốc
là một sân rộng trống trải để tiếp khách.
Những
vị khách đến thăm ngài thường mang theo quà. Ngoài thức
ăn, y áo, họ còn đem dâng ngài những pho tượng cổ. Nhiều
pho tượng được chạm trổ những hoa văn biểu tượng Phật
giáo rất công phu và mỹ thuật.
Một
vị sư Tây phương, nguyên là một nhà sưu tầm đồ cổ, rất
say mê những tác phẩm mỹ thuật Á châu, lấy làm sung sướng
được nhận lãnh nhiệm vụ quét dọn sạch sẽ cốc của
ngài Ajahn Chah hàng ngày. Nhà sư nghĩ rằng đây là cơ hội
tốt để thầy thưởng thức những nghệ thuật phẩm mình
hằng ưa thích. Nhà sư nhận chìa khóa, lên cốc mở cửa,
nhưng chỉ thấy độc một chiếc giường nhỏ và cái mùng
che muỗi. Nhà sư khám phá ra rằng mỗi khi Ajahn Chah nhận được
tặng phẩm gì, ngài liền phân phối ngay sau đó, càng sớm
càng tốt. Achan Chah không dính mắc vào bất cứ cái gì.
Một
buổi lễ thiêng liêng, và một ngày nóng bức
Ngay
thời kỳ Đức Phật, các nhà sư vẫn được mời đi làm
lễ ban phước hay đem lại sự an lành cho tín đồ trong những
lúc họ gặp khó khăn. Kinh điển có ghi chép chính Đức Phật
đã theo tục lệ cổ truyền rảy nước thiêng và ban phúc
cho thiện nam tín nữ.
Vì
phần lớn các nhà sư hiện nay ở Thái Lan chỉ thích nghiên
cứu học hỏi kinh điển và lễ lạc mà không chú trọng đến
việc hành thiền nên ngài Ajahn Chah thường gọi đùa những
nghi lễ này là "Đi ngược đường." Tuy thế, Ajahn Chah cũng
dùng nghi lễ khi cần thiết. Một buổi chiều nóng nực, Ajahn
Chah được mời xuống phố để thuyết pháp và làm lễ ban
phước cho một số tín đồ và học sinh. Sau phần tụng kinh
và thuyết pháp thường lệ, Ajahn Chah bưng một bát nước
bằng đồng, nối liền với một sợi chỉ chuyền qua tay tám
vị sư khác, dẫn đến bức tượng Phật lớn ở tư thế
ngồi thiền. Sau phần tụng kinh và lễ dâng hương đèn, Ajahn
Chah đứng dậy dùng một nhánh lá cọ rảy nước thiêng để
chúc lành cho mọi người đến tham dự buổi thuyết pháp.
Môt
nhà sư Tây phương trẻ trong phái đoàn chư tăng đến tham
dự khởi tâm bất bình. Sau đó, không thể kiên nhẫn được
với buổi lễ, than trách với Ajahn Chah:
--
Tại sao Ngài lại làm những nghi lễ vô bổ và chán ngắt,
chẳng phù hợp với việc hành đạo chút nào?
Ajahn
Chah trách lại:
--
Dĩ nhiên phải làm, vì một ngày nóng nực như thế này, mọi
người đến tham dự đều muốn tắm mát.
Chân
phép mầu
Dân
làng và Phật tử sống quanh tu viện Wat Pah Pong kể rất nhiều
chuyện về phép mầu của ngài Ajahn Chah. Họ nói rằng Ajahn
Chah có thể phân thân đến nhiều nơi trong cùng một lúc.
Có người quả quyết đã thấy Ajahn Chah phân thân thành hai.
Họ nói rằng Ajahn Chah đã dùng phép mầu để chữa bệnh;
Ajahn Chah có nhãn thông đã thuần thục trong việc nhập định.
Ajahn
Chah cười khi nghe được những chuyện này. Phép mầu là vấn
đề mà những người chưa giác ngộ cũng như những người
chưa thông hiểu sâu xa Phật pháp thường mong cầu và quan
tâm. Ajahn Chah nói:
--
Chỉ có một loại Chân Pháp Mầu. Đó là Giáo Pháp, những
lời dạy có khả năng giải thoát tâm và chấm dứt khổ đau.
Những pháp mầu khác chỉ là ảo tưởng, thuật tráo bài,
mà mắt khiến ta đi trật đường. Đường chính của chúng
ta liên quan đến con người, chết sống và tiến đến giải
thoát. Ở Wat Pah Pong chỉ dạy có Chân Pháp Mầu mà thôi.
Một
dịp khác Ajahn Chah nói với chư tăng:
--
Dĩ nhiên, một khi thiền định thuần thục, có thể dùng thiền
định vào những mục tiêu khác như luyện thần thông, làm
nước thánh, phúc chúc, làm bùa, tiên đoán việc tương lai,
v. v. Nếu đạt tâm định các sư có thể làm được điều
đó. Nhưng hành thiền như thế chẳng khác nào uống thuốc
độc, uống rượu. Thế thì còn đâu là chánh đạo, con đường
Đức Phật đã đi? Ở đây, thiền định (thiền vắng lặng)
chỉ dùng làm căn bản cho thiền minh sát, vì vậy không cần
phải đạt đến mức thiền định thật cao. Chỉ cần quan
sát những gì sinh ra, tiếp tục quan sát nhân và quả, cứ
thế tiếp tục quan sát. Bằng cách này chúng ta dùng sự chú
tâm để quan sát hình sắc, âm thanh, mùi vị, sự xúc chạm
và những hoạt động của tâm ý và cuối cùng sẽ tìm thấy
Pháp Giải Thoát.
Pháp
hành của người chủ nhà
Đời
sống của gia đình thật khó mà cũng thật dễ. Khó làm nhưng
dễ hiểu. Chẳng khác nào bạn đến đây và than phiền về
cục than đỏ mà bạn đang nắm trong tay. Tôi chỉ đơn giản
bảo bạn hãy vất nó đi. Bạn không chịu và cãi lại:
--
Không, tôi không muốn bỏ. Tôi muốn nó trở nên lạnh cơ.
Bạn
có thể chọn một trong hai cách: vất bỏ nó đi, hoặc kiên
nhẫn chịu đựng. Bạn sẽ phân vân hỏi lại:
--
Làm thế nào tôi có thể vứt bỏ được?
Bạn
có thể bỏ gia đình bạn được không? Được. Bỏ phần
nội tại trong tâm bạn. Bỏ sự dính mắc bên trong thôi. Giống
như con chim đẻ trứng. Bạn có trách nhiệm phải ấp trứng.
Nếu không trứng sẽ thối.
Có
thể bạn muốn mọi người trong gia đình nể phục và cảm
thông bạn, biết rõ tại sao bạn làm như thế này mà không
làm như thế kia, v. v. Nhưng có thể họ không cảm thông được
bạn. Thái độ của bạn có thể thiếu hòa ái. Tâm hồn bạn
có thể chật hẹp. Nếu cha mẹ là một tên trộm và con không
hưởng ứng, phải chăng con là đứa trẻ hư hỏng? Hãy giải
thích và tìm hiểu mọi chuyện xảy ra trong chiều hướng tốt
đẹp. Cố gắng thành thật, sau đó hãy để mọi chuyện tự
nhiên. Nếu bạn bị bệnh và quyết định đến gặp bác sĩ,
nhưng sau khi tận tâm chữa trị bằng mọi loại thuốc, bệnh
bạn vẫn không khỏi, bạn phải làm thế nào đây? Bạn không
còn cách nào hơn là phải chấp nhận thực trạng và để
tâm tự nhiên.
Nếu
bạn nghĩ đến các danh từ "gia đình tôi," "việc hành thiền
của tôi," bạn sẽ gặp rắc rối vì những hình thức tự
ngã này là nguyên nhân của đau khổ. Đừng nhọc công đi
tìm hạnh phúc, dầu bạn đang sống với những người khác
hay đang sống một mình. Hãy sống với giáo pháp, hạnh phúc
sẽ tự tìm đến. Phật Pháp giúp bạn giải quyết vấn đề,
nhưng chính bạn phải tự thực hành và khai mở trí tuệ trước.
Bạn không thể có cơm bằng cách chỉ bỏ nước và gạo vào
nồi, rồi bảo nó chín ngay. Bạn phải nhúm lửa và để cơm
có đủ thời giờ chín. Với trí tuệ mọi vấn đề cuối
cùng đều có thể giải quyết. Khi hiểu rõ đời sống gia
đình, bạn có thể hiểu rõ được nghiệp báo và nhân quả,
và nhờ thế bạn có thể quán xuyến và cải thiện mọi hành
động của bạn trong tương lai.
Hành
thiền chung nhóm với mọi người ở thiền viện hay trong những
khóa thiền là những việc làm không mấy khó khăn. Vì ở
đấy mọi người đều hành thiền, bạn phải tinh tấn theo
họ, phải ngồi thiền, phải kinh hành như mọi người. Nhưng
lúc về đến gia đình, bạn gặp khó khăn. Bạn bảo rằng
lúc ở nhà bạn làm biếng. Bạn hãy bỏ hết quyền lực của
chính bạn, chuyển quyền hành đó kẻ khác, cho sở làm, cho
những vị thầy ở ngoài bạn. Hãy tỉnh dậy! Bạn tạo ra
một thế giới riêng của chính bạn. Mà điều quan trọng
là bạn có thích hành thiền không đã?
Là
sư sãi, chúng tôi phải cố gắng giữ giới luật và hành
hạnh đầu đà. Thực hành nghiêm chỉnh giới luật là con
đường dẫn đến giải thoát. Các bạn cư sĩ cũng phải cố
gắng giữ giới luật như vậy.
Các
bạn hành thiền ở nhà nên giữ gìn trong sạch những giới
căn bản. Cố gắng kiểm soát hành động và lời nói. Thật
sự tinh tấn và hành thiền liên tục không gián đoạn. Muốn
tập trung tâm ý bạn phải rán tinh tấn. Đừng thấy chỉ
mới cố gắng một hay hai lần mà không tập trung tâm ý đã
sinh ra chán nản.
Tại
sao không thử cố gắng lâu hơn? Bạn đã để tâm trí đi
lang bạt bao lâu theo ý nó mà không kiểm soát được? Bạn
có băn khoăn rằng một hay hai tháng chưa đủ để luyện tâm
an tịnh không?
Dĩ
nhiên, tâm rất khó huấn luyện. Muốn dạy một con ngựa bất
kham, hãy cho nó nhịn đói một lát, nó sẽ đến gần bạn
hơn. Khi nó đã bắt đầu nghe lời, hãy cho nó ăn chút ít.
Đạo sống của chúng ta có cái hay cái đẹp là có thể huấn
luyện được tâm. Với nỗ lực đúng, chúng ta có thể đạt
được trí tuệ.
Sông
đời sống cư sĩ và thực hành chánh pháp là sống trong thế
gian, nhưng ở trên thế gian. Giới bắt đầu bằng năm điều
học căn bản. Mọi giới đều quan trọng -- là cha mẹ của
mọi điều tốt đẹp.
Điều
căn bản là loại bỏ khỏi tâm mọi sai lầm, quét sạch mọi
nguyên nhân gây ra phiền muộn và dao động. Phải giữ giới
luật thật kiên cố. Sau đó hãy tham thiền khi cơ hội đến.
Đôi lúc việc hành thiền tiến triển tốt đẹp, đôi lúc
không. Đó là chuyện tự nhiên. Đừng bận tâm về việc này.
Cứ tiếp tục. Nếu nghi ngờ khởi lên, hãy xem chúng cũng
như những chuyện khác của tâm đều vô thường cả.
Khi
bạn tiếp tục hành thiền đều đặn thì sẽ có định tâm.
Dùng tâm định này phát triển trí tuệ. Nhìn sự yêu ghét
khởi dậy từ các giác quan mà không dính mắc vào chúng. Đừng
bận tâm nghĩ đến kết quả hay sự tiến bộ. Cũng đừng
mong ngóng ao ước tiến bộ mau chóng. Cũng như đứa trẻ muốn
chạy phải tập bò và tập đi trước đã. Cứ giữ giới
thật trong sạch và tiếp tục hành thiền.
Vô
ngã
Đối
với người không hiểu sự chết, cuộc sống chứa đựng
nhiều rắc rối. Nếu thân thể ta thực sự là của ta, nó
hẳn đã nghe theo mệnh lệnh mà ta đưa ra. Khi ta bảo, "Đừng
có già" hay "Ta cấm ngươi không được đau," nó có nghe lời
ta không? Không, nó chẳng thèm để ý đến. Ta chỉ là người
thuê căn nhà này, chứ không phải chủ nhà. Nếu nghĩ rằng
căn nhà này thuộc về ta, ta sẽ đau khổ khi phải rời bỏ
nó. Nhưng thực ra chẳng có gì gọi là ta, chẳng có cái gì
gọi là bản ngã thường tồn. Không có gì vững chắc, bất
biến mà chúng ta có thể nắm giữ được.
Đức
Phật phân biệt cho chúng ta thấy rõ hai loại chân lý -- chân
lý rốt ráo và chân lý ước định. Ý niệm về một cái
ngã chỉ là một khái niệm, một ước định. Người Mỹ,
người Thái, thầy giáo, học sinh, tất cả chỉ là sự chế
định mà thôi. Một cách rốt ráo thì chẳng có gì cả. Chúng
chỉ là đất, nước, gió, lửa -- những yếu tố tạm thời
kết hợp lại với nhau.
Chúng
ta gọi cái cơ thể này là ta, nhưng một cách rốt ráo, chẳng
có gì là ta cả, chỉ có "ANATTA," vô ngã mà thôi. Muốn biết
rõ sự vô ngã, bạn phải hành thiền. Nếu bạn chỉ suy tư
tìm hiểu, đầu bạn sẽ nổ tung. Một khi bạn hiểu rõ vô
ngã, tức khắc gánh nặng của cuộc sống sẽ được nhấc
đi. Đời sống của gia đình bạn, công việc của bạn,...,
tất cả đều trở nên dễ dàng hơn. Khi không có cái nhìn
chật hẹp về ngã nữa, bạn sẽ không còn dính mắc vào hạnh
phúc. Và khi bạn không còn dính mắc vào hạnh phúc, bạn bắt
đầu có hạnh phúc thực sự.
Ngắn
và thẳng
Một
bà già mộ đạo từ một tỉnh kế cận đến Wat Pah Pong hành
hương. Bà thưa với ngài Ajahn Chah rằng bà chỉ có thể ở
đây một thời gian ngắn thôi vì bà còn phải trở về chăm
sóc mấy đứa chắt của bà. Bà cũng thưa với ngài là vì
bà đã quá già nên xin ngài ban cho một thời pháp ngắn.
Ngài
Ajahn Chah mạnh mẽ trả lời: Này, bà cụ hãy lắng tai nghe.
Ở đây không có ai hết, chỉ như vậy thôi. Không ai là chủ
nhân, không có ai già, không có ai trẻ, không có ai tốt, không
có ai xấu, không có ai mạnh, không có ai yếu. Chỉ có vậy
thôi, vậy thôi. Tất cả đều trống rỗng, chỉ có các yếu
tố khác nhau của thiên nhiên, chúng nó tác dụng hỗ tương
với nhau thôi. Không có ai sinh ra và chẳng có ai chết đi.
Người nào nói về cái chết là người đó nói chuyện như
đứa con nít không hiểu gì hết. Trong ngôn ngữ của Tâm,
nghĩa là ngôn ngữ của Phật Pháp, không có chuyện đó.
Khi
chúng ta gánh một gánh nặng, gánh đó thật nặng nề, nhưng
khi không có ai gánh cái gánh nặng đó thì chẳng có vấn đề
gì trên đời này nữa. Đừng tìm kiếm điều tốt, điều
xấu hay bất cứ điều gì hết. Đừng là gì hết. Không có
gì nữa hết. Chỉ có vậy.
Nước
ngầm
Phật
Pháp không riêng của ai; Phật Pháp không có sở hữu chủ.
Phật Pháp phát khởi khi thế giới hiện khởi, nhưng đứng
riêng độc lập một mình như sự thật muôn đời. Phật Pháp
luôn luôn có mặt nơi đây, không dời đổi, không biên cương,
dành sẵn cho mọi người muốn tìm đến với nó. Phật Pháp
cũng như nước ngầm trong lòng đất: ai đào giếng sẽ bắt
gặp chỗ nước ngầm đó. Dầu bạn có đào giếng hay không,
nước ngầm vẫn luôn luôn ở đấy, ẩn tàng sau lưng mọi
vật.
Khi
tìm kiếm Phật Pháp, chúng ta có khuynh hướng tìm kiếm quá
xa, chúng ta rướn quá độ, với quá xa, nên bỏ qua phần cốt
tủy. Phật Pháp không phải ở đàng kia, hay ở chỗ nào xa
lắc xa lơ, phải đi một chuyến thật xa, hay phải dùng viễn
vọng kính, mới tìm thấy được. Phật Pháp ở ngay tại đây,
rất gần với chúng ta, là yếu tính thật sự của chúng ta,
là vô ngã. Khi chúng ta nhìn thấy yếu tính này, mọi vấn
đề không còn nữa, mọi rắc rối biến mất hết. Tốt, xấu,
sướng, khổ, sáng, tối, ta, người,..., chỉ còn là những
hiện tượng trống rỗng. Nếu chúng ta biết được điều
thiết yếu này, ý thức xưa cũ của chúng ta về tự ngã sẽ
không còn nữa và chúng ta trở nên thật sự tự do.
Chúng
ta thực hành sự xả bỏ, chứ không trì thủ. Nhưng trước
khi có thể xả bỏ Thân và Tâm, chúng ta phải biết rõ bản
chất của nó. Khi ấy sự xả bỏ xảy ra tự nhiên.
Không
có gì là ta hay của ta; tất cả đều vô thường. Tại sao
chúng ta không thể nói Niết Bàn là của ta? Bởi vì những
kẻ chứng ngộ Niết Bàn không còn có tư tưởng về cái ta
vàcủa ta nữa. Nếu còn có tư tưởng về ta và của ta, họ
không thể nào thấy được Niết Bàn. Dầu họ biết rằng
mật là ngọt, nhưng họ không còn nghĩ: Tôi đang nếm vị
ngọt của mật.
Con
đường Phật Pháp là phải bước tới hoài, nhưng Chân Phật
Pháp không đi tới, không đi lui, cũng không đứng yên một
chỗ.
Niềm
vui của Đức Phật
Nếu
mọi sự đều vô thường, bất xứng ý và vô ngã, mục tiêu
của sự sống là gì? Một người ngắm nhìn dòng sông chảy
qua. Nếu anh ta không muốn nó chảy, không muốn dòng sông liên
tục thay đổi theo bản chất của nó, anh ta sẽ phải nhận
chịu sự đau khổ lớn lao. Một người khác, ý thức được
rằng bản chất của dòng sông là thay đổi không ngừng, dù
mình có thích như vậy hay không, anh ta sẽ không cảm thấy
đau khổ. Biết được sự sống cũng như dòng sông này, không
có sự vui sướng lâu dài, không có tự ngã, chính là tìm
được chân lý vững bền và không có sự đau khổ, chính
là tìm ra được sự an tịnh thật sự trên đời.
Người
ta có thể nói, "Thế thì ý nghĩa của cuộc đời là gì?"
"Con người sinh ra làm chi?" Tôi không thể trả lời các câu
hỏi đó. Tại sao bạn ăn? Bạn ăn để không phải ăn thêm
nữa. Bạn sanh ra để không phải sanh ra nữa.
Giải
thích bản chất thực sự của sự vật, về sự trống rỗng
của chúng ta, là một việc khó khăn. Nghe được giáo pháp,
con người phải tìm ra phương cách để hiểu.
Tại
sao chúng ta hành thiền? Nếu chúng ta không hỏi tại sao, chúng
ta được an nhiên tự tại rồi đó. Buồn rầu đau khổ không
thể xảy đến với người hành thiền như thế này.
Ngũ
uẩn là những kẻ giết người. Bám lấy thân thì sẽ bám
lấy tâm, và ngược lại. Chúng ta hãy ngưng lại, đừng tin
tưởng tâm của chúng ta nữa. Hãy dùng giới luật và sự
an tịnh tâm để giữ gìn chánh niệm và tỉnh thức thường
trực. Khi ấy bạn sẽ nhận chân được rằng mọi sự đều
vô thường, bất xứng ý và trống rỗng, cùng lúc bạn sẽ
nhìn thấy hạnh phúc và đau khổ xảy ra riêng rẽ. Trong sự
tĩnh lặng đó, niềm vui chân thực của Đức Phật sẽ đến.
Lượm
xoài
Khi
bạn có được trí tuệ, sự tiếp xúc với đối tượng giác
quan, cho dù tốt hay xấu, vui sướng hay đau khổ, cũng giống
như đứng dưới gốc cây xoài lượm trái trong khi có kẻ
khác leo lên cây rung cho bạn. Chúng ta chỉ việc lựa xoài
tốt và xoài thúi mà chẳng nhọc công vì chúng ta không phải
leo lên cây.
Như
vậy nghĩa là gì? Mỗi đối tượng giác quan đến với chúng
ta, mang lại cho chúng ta kiến thức. Chúng ta không cần phải
làm đẹp chúng. Tám ngọn gió của thế gian -- được mất,
vinh nhục, khen chê, đau khổ và vui sướng, cứ tới tự nhiên.
Nếu tâm của bạn đã phát triển được sự yên tĩnh và
trí tuệ, bạn có thể lượm và lựa một cách thoải mái.
Cái mà người khác có thể gọi là tốt hay xấu, đó hay đây,
vui sướng hay đau khổ, đều lợi lộc cho bạn, bởi vì kẻ
khác leo lên cây xoài rung cho bạn, và bạn chẳng có điều
gì phải sợ hãi.
Tám
ngọn gió thế gian cũng giống như những trái xoài rớt xuống
cho bạn. Bạn hãy dùng định lực và tâm yên tịnh để chiêm
ngưỡng và thu thập. Biết trái xoài nào tốt, trái xoài nào
thuí, chính là trí tuệ, tức là sự minh sát (vipassana). Bạn
không tạo ra trí tuệ. Khi có trí tuệ, nội quán (insight) tự
nhiên phát sinh. Dầu rằng tôi gọi nó là trí tuệ, bạn không
nhất thiết phải cho nó một cái tên.
Tôi
nói ngôn ngữ Zen
Một
thiền sinh Zen hỏi Ngài Ajahn Chah:
- Sư
bao nhiêu tuổi? Sư sống ở đây quanh năm suốt tháng, phải
không?
Ngài
Ajahn Chah trả lời:
- Tôi
không sống ở đâu hết. Ông không kiếm ra tôi ở đâu hết.
Tôi không có tuổi tác gì hết. Muốn có tuổi tác thì phải
hiện hữu, mà nghĩ rằng mình hiện hữu là chuốc lấy rắc
rối rồi. Chúng ta không tạo ra vấn đề thì thế giới cũng
không có rắc rối. Đừng tạo ra cái tự ngã. Chẳng có gì
đáng nói thêm nữa.
Có
lẽ thiền sinh Zen này nhìn ra được rằng cốt tủy của Thiền
Minh Sát (vipassana) không khác biệt với cốt tủy của Zen.
Chiêng
im lặng
Sống
trong thế gian mà hành thiền, người khác thấy bạn chẳng
khác nào cái chiêng không được đánh động và không tạo
nên âm thanh nào hết. Họ thấy bạn như vô dụng, điên rồ,
thất bại. Nhưng thực ra điều ngược lại thì đúng hơn.
Sự
thực ẩn tàng trong sự không thực, cũng như tính thường
hằng ẩn tàng trong sự vô thường.
Không
có gì đặc biệt
Người
ta thường hỏi dọ tôi về sự hành trì riêng của tôi: Tôi
chuẩn bị tâm tư như thế nào khi ngồi thiền? Không có gì
đặc biệt hết! Tâm tôi để yên chỗ hồi nào tới giờ
nó ở. Họ hỏi tôi, "Thế thì Ngài là một vị A-La-Hán chăng?"
(A-La-Hán là một vị tu hành đã đạt đến mức độ cao của
sự tiến bộ về tâm linh.) Tôi có biết đâu? Tôi như cây
cổ thụ đầy lá hoa, hoa và trái. Chim chóc tới ăn và làm
tổ trong cây đó. Nhưng cây cổ thụ đó không hiểu biết
về thân phận nó. Nó cứ sống tự nhiên vậy thôi, nó sao
nó vậy.
Bên
trong bạn không có gì cả
Năm
thứ ba tôi làm tỳ kheo, tôi có sự nghi ngờ về bản chất
của Định và Trí Tuệ. Quá muốn kinh nghiệm trạng thái Định,
tôi không ngừng cố gắng hành trì. Khi ngồi tham thiền, tôi
cố gắng hình dung ra tiến trình đó, và do đó tâm tôi bị
chia tách một cách đặc biệt.
Khi
tôi không làm gì đặc biệt hết và không tham thiền thì tôi
tốt, không có làm sao. Nhưng khi nào tôi quyết tâm tập trung
tư tưởng thì tâm tôi trở nên cực kỳ bấn loạn.
Tôi
tự hỏi, "Chuyện gì vậy? Tại sao nó như thế này?" Sau một
thời gian tôi nhận ra rằng sự tập trung tâm ý trong việc
hành thiền cũng giống như hít thở vậy thôi. Nếu bạn nhất
định cố gắng thở sâu hay cạn, mau hay chậm, việc hít thở
trở nên khó khăn. Còn nếu cứ xuôi thuận theo nó, không cần
ý thức việc hít vào thở ra, việc hít thở trở nên tự
nhiên và trôi chảy. Tương tự như vậy, mọi cố gắng bắt
buộc mình trở nên tĩnh lặng chỉ là thể hiện sự bám víu
và ham muốn. Làm như vậy chỉ cản trở sự định tâm mà
thôi.
Thời
gian trôi qua, tôi tiếp tục hành trì với lòng tin tưởng vững
chắc và sự hiểu biết càng lúc càng lớn mạnh hơn lên.
Dần dà tôi bắt đầu thấy diễn tiến tự nhiên của việc
hành thiền. Vì nhận ra rằng những ước muốn của tôi rõ
ràng là một chướng ngại, tôi hành trì một cách cởi mở
hơn, khảo sát các yếu tố của tâm khi chúng xảy ra. Tôi
ngồi và theo dõi, ngồi và theo dõi, cứ như vậy hoài.
Một
ngày nọ, vào khoảng 11 giờ đên, sau khi ngồi thiền xong tôi
đi kinh hành. Trong đầu tôi khi đó trống trơn không có tư
tưởng nào hết. Tôi đang ở tu viện trong rừng mà có thể
nghe những tiếng ồn ào và tiếng ca hát của cuộc hội hè
đình đám đang diễn ra trong làng cách tu viện một khoảng
xa. Khi cảm thấy mỏi mệt do việc hành thiền, tôi trở về
cốc của mình. Khi tôi ngồi xuống, tôi nhận thấy tôi không
ngồi vô thế kiết già mau lẹ như thường lệ. Tâm tôi tự
nó muốn tiến vô trạng thái Định thâm sâu. Tâm tự nó như
thế đó. Tôi tự nghĩ, "Tại sao như vậy?" Khi tôi ngồi xuống,
tôi thấy tĩnh lặng hết sức. Tâm tôi vững vàng và tập
trung tốt. Không phải là tôi không nghe được tiếng ca hát
từ trong làng, nhưng tôi có thể làm cho tôi không nghe tiếng
ca hát đó nếu tôi muốn như vậy.
Ở
trạng thái nhất tâm này, tôi xoay nó hướng về các âm thanh
thì tôi nghe được các âm thanh đó. Khi tôi không hướng tâm
về các âm thanh thì hoàn toàn yên lặng. Lúc âm thanh tới,
tôi quan sát kẻ đang chú tâm đến âm thanh, kẻ này hoàn toàn
tách biệt với âm thanh. Tôi quán tưởng như vậy. Đây là
trạng thái định, phải không? Không phải trạng thái này
thì còn trạng thái nào khác hơn? Tôi có thể nhìn thấy tâm
tôi tách rời khỏi đối tượng nó nhìn như cái chén này
và ấm nước này vậy. Tâm và âm thanh không hề dính liền
với nhau. Tôi tiếp tục xét như vậy, rồi tôi hiểu. Tôi
nhìn thấy cái nối liền chủ thể và khách thể lại với
nhau, và khi sự nối liền này bị phá vỡ, sự an tịnh thật
sự hiển lộ.
Lần
đó, tâm tôi không để ý đến chuyện gì khác. Nếu tôi muốn
ngưng hành thiền, tôi có thể ngưng, như vậy mà không thấy
khó chịu. Khi một nhà sư ngưng hành thiền, thầy thường
tự hỏi, "Ta làm biếng chăng? Ta mệt mỏi chăng? Ta bất an
chăng?" Không, tâm tôi lúc đó không làm biếng, không mệt
mỏi, cũng không bất an. Tôi chỉ thấy trọn vẹn và đầy
đủ về mọi mặt.
Khi
tôi ngưng hành thiền để nghỉ ngơi một lát, chỉ có hành
động ngồi là ngưng lại thôi. Tâm tôi vẫn y nguyên như trước,
không thay đổi. Khi tôi nằm xuống, tâm tôi vẫn tĩnh lặng
y như trước. Khi đầu tôi chạm lên chiếc gối, tâm tôi xoay
vào trong. Tôi không biết nó xoay vô trong chỗ nào, nhưng nó
xoay vô trong như điện được bật lên vậy, và toàn thân
tôi nổ bùng ồn ào; sự nhận thức thì vô cùng tinh tế.
Vượt qua điểm đó, tâm bước sâu vô nữa, bên trong không
có gì hết, hoàn toàn không có gì hết, không có gì vô trong
hết, không có gì có thể đạt tới hết. Sự nhận biết
ngưng lại bên trong một lúc rồi trở ra. Không phải tôi kéo
nó ra, không đâu, tôi chỉ là một quan sát viên, là người
nhận biết mà thôi.
Khi
tôi ra khỏi tình trạng này, tâm tôi trở lại trạng thái
bình thường, và một câu hỏi nảy lên, "Cái đó là cái gì
vậy?" Câu trả lời xảy đến là, "Những sự việc này, chúng
chỉ là như vậy, như vậy thôi. Không cần phải nghi ngờ
chúng nó." Tôi chỉ nói có bấy nhiêu, và tâm tôi chấp nhận
như vậy.
Sau
khi ngưng nghỉ một lúc, tâm tôi lại quay bật vô trong. Tôi
không quay nó; chính nó tự quay vô trong lấy một mình. Khi
tâm đi vô trong, nó lại đi tới bờ mé như lần trước. Lần
thứ nhì này thân thể tôi vỡ thành từng mảnh vụn. Và tâm
tôi đi sâu hơn nữa, tĩnh lặng, cùng tột. Khi tâm tiến vô
và đã lưu lại một thời gian lâu như ý nó muốn, nó lại
ra trở lại, và tôi trở về trạng thái bình thường. Trong
thời gian này, tâm tự nó hành động, tôi chẳng hề có ý
bắt nó đi vô hay đi ra gì hết. Tôi chỉ nhận biết và quan
sát những gì xảy ra vậy thôi. Tôi không nghi ngờ. Tôi chỉ
tiếp tục ngồi thiền và quán tưởng mà thôi.
Lần
thứ ba tâm tiến vô, toàn bộ thế giới đều tan vỡ: đất
đai, cây cỏ, đồi núi, người,..., tất cả chỉ là khoảng
trống. Không một vật gì còn lại hết. Khi tâm thức đã
tiến vô và lưu lại một thời gian như nó muốn, nó rút ra
và trở lại trạng thái bình thường. Tôi không biết nó trụ
như thế nào, những chuyện đó khó thấy và khó diễn tả.
Không có gì có thể dùng để so sánh với tình trạng đó
được.
Về
ba lần kinh nghiệm này, ai nói được là chuyện gì đã xảy
ra? Ai biết được điều đó? Tôi có thể gọi đó là gì?
Điều tôi nói ở đây chỉ là vấn đề bản thể của tâm.
Không cần phải bàn tới việc phân loại các tâm hay tâm sở.
Bằng lòng tin sâu chặt, tôi tiến vô hành thiền, sẵn sàng
liều mạng, và khi tôi ra khỏi kinh nghiệm này thì toàn thể
thế giới đã thay đổi hẳn. Mọi kiến thức và hiểu biết
đều đã biến thái. Nếu có người nào trông thấy tôi thì
chắc người đó nghĩ là tôi đã điên mất rồi. Thật vậy,
người nào không chánh niệm vững vàng rất dễ trở nên điên
khùng, bởi vì nhận thức về thế giới vũ trụ hoàn toàn
thay đổi hẳn so với trước. Thực ra chỉ có "cái ta" là
thay đổi mà thôi. Tuy vậy, cái ta thay đổi đó vẫn chỉ
là một người với cái ta trước kia. Thiên hạ nghĩ thế
này, tôi nghĩ thế khác. Thiên hạ nói như thế này, tôi nói
như thế khác. Tôi không còn đồng nhất với bàng dân thiên
hạ như trước nữa.
Khi
tâm tôi đạt tới sức mạnh tột độ của nó thì căn bản
ở đây là năng lực tinh thần, năng lực của sự tập trung
tâm ý. Trong trường hợp tôi vừa mô tả, kinh nghiệm đó
đạt trên năng lực của định. Khi định đạt tới trình
độ này, minh sát tự nó diễn tiến trong khi hành giả không
cần phải cố gắng.
Nếu
bạn hành trì như thế này, bạn sẽ không phải tìm kiếm
ở đâu xa. Bạn thân ơi, bạn còn chần chờ gì nữa mà không
thử đi?
Có
một chiếc thuyền bạn có thể dùng để qua bên kia bờ sông.
Tại sao bạn chưa chịu bước lên thuyền? Hay là bạn thích
bùn sình hơn? Tôi có thể chèo chống ra khơi bất cứ lúc
nào, nhưng mà tôi còn ở đây chờ bạn đó!
Hành
thiền là nhìn thẳng vào tâm mình - Vấn đạo với Ajahn Chah
Sau
đây là những lời vấn đạo của một thiền sinh Tây phương
với ngài Ajahn Chah.
Hỏi:
Thưa thầy, tôi đã cố gắng hết sức để hành thiền, nhưng
dường như tôi chẳng đạt được chút kết quả nào. Tôi
phải làm sao đây?
Đáp:
Điều quan trọng trong lúc hành thiền là đừng mong muốn đạt
được cái gì. Lòng mong mỏi giải thoát hay giác ngộ là một
chướng ngại cho sự giải thoát. Dù bạn có nỗ lực hành
thiền đến mức độ nào đi nữa, hoặc hành thiền suốt
ngày đêm mà vẫn còn ôm ấp tư tưởng là sẽ đạt được
cái gì đó, tâm bạn sẽ không bao giờ bình an, tĩnh lặng.
Nỗ lực hành thiền với ước muốn đạt đươc cái gì là
nguyên nhân tạo ra sự hoài nghi và bất an. Người hành thiền
với ước muốn đạt được cái gì sẽ không bao giờ tiến
bộ bởi vì trí tuệ không thể khởi sinh từ lòng ham muốn.
Vậy thì cứ thản nhiên thực tập, chú tâm theo dõi thân tâm,
và đừng mong ước đạt thành gì cả. Đừng dính mắc vào
sự giải thoát, giác ngộ. Ngoài ra, khi bạn bắt đầu hành
thiền, và khi tâm bắt đầu yên tịnh, bạn liền nghĩ rằng,
"Ồ, không biết như vầy đã đến tầng thiền-na thứ nhất
chưa? Còn phải bao lâu nữa?" Ngay lúc khởi tâm như thế, bạn
mất hết tất cả. Cách hay nhất là cứ tiếp tục theo dõi
đề mục và để trí tuệ phát triển một cách tự nhiên.
Bạn
cứ tiếp tục chú tâm theo dõi mọi diễn biến của thân tâm
mà đừng nghĩ gì đến việc đánh giá trình độ mình, không
cần biết mình đang ở tuệ nào, mức độ nào. Bạn càng
chú tâm theo dõi thân tâm bao nhiêu, bạn càng thấy rõ bấy
nhiêu. Nếu bạn hoàn toàn tập trung tâm ý vào đề mục, bạn
sẽ không còn băn khoăn lo lắng đến chuyện đã đạt đến
trình độ nào. Cứ tiếp tục đi đúng đường rồi chân lý
sẽ hiển lộ một cách tự nhiên.
Làm
sao có thể nói cốt tủy của việc thực hành? Đi tới cũng
không đúng! Đi lui cũng không đúng! Đứng yên một chỗ cũng
không đúng! Không có cách nào để đo lường hay phân loại
sự giải thoát.
Hỏi:
Tôi vẫn còn suy nghĩ nhiều, vẫn còn bị phóng tâm nhiều,
mặc dầu tôi rất cố gắng chú tâm chánh niệm. Tại sao?
Đáp:
Đừng lo lắng, băn khoăn về chuyện đó. Hãy cố gắng giữ
tâm an trụ trong hiện tại. Bất kỳ tư tưởng gì hiện ra
trong tâm bạn, bạn phải chú tâm ghi nhận nó. Những phóng
tâm ấy sẽ tự động ra đi. Cũng đừng ao ước sẽ xua đuổi
được chúng; cứ thực hành rồi bạn sẽ đạt được trạng
thái tự nhiên. Cũng không nên có sự phân biệt giữa tốt
và xấu, giữa nóng và lạnh. Chẳng có tôi, chẳng có anh,
và chẳng có tự ngã gì cả. Chúng thế nào thì nhìn chúng
thế ấy. Khi bạn ôm bát đi khất thực, bạn chẳng cần làm
chuyện gì đặc biệt cả, chỉ đơn thuần đi và chú tâm
vào những gì đang xảy ra. Chẳng cần phải dính mắc vào
sự tĩnh lặng hay độc cư. Nghĩa là đừng bao giờ có tư
tưởng: tôi phải thiền một mình ở một nơi yên tĩnh mới
tiến bộ được. Bất cứ đi nơi đâu bạn cũng có thể thiền
được. Khi bạn ở đâu bạn cũng đều phải biết mình và
chú tâm chánh niệm một cách tự nhiên. Nếu có sự nghi ngờ
xuất hiện, phải theo dõi sự nghi ngờ đến và đi. Chỉ giản
dị thế thôi. Không bám víu hay nắm giữ điều gì, vật gì,
dầu tốt hay xấu. Trong khi đi kinh hành, thỉnh thoảng bạn
có thể gặp vài trở ngại. Chẳng hạn, tư tưởng của bạn
bị ô nhiễm và hướng đi nơi khác, khiến bạn không còn
chú tâm vào bước đi nữa. Gặp những trường hợp phiền
não đến quấy nhiễu bạn như thế, bạn chỉ cần nhìn chúng,
chúng sẽ ra đi. Đừng bao giờ suy nghĩ, bận tâm đến những
trở ngại đã trôi qua. Đừng ưu tư về những chuyện gì
sắp hay chưa xảy ra. Hãy an trú trong hiện tại. Đừng quan
tâm đến chiều dài của con đường đi, cũng đừng dính mắc
vào nó nữa. Khi thực tập đã thuần thục, tự nhiên sự
quân bình sẽ đến với bạn.
Hỏi:
Tôi phải khởi đầu việc hành thiền như thế nào? Có cần
phải có đức tin trước khi thực hành không?
Đáp:
Một số người bắt đầu việc thực hành khi họ đã có
một số đức tin và hiểu biết về Phật Pháp. Đó là chuyện
tự nhiên. Nhưng như thế không có nghĩa là phải có đức
tin và hiểu biết Phật Pháp mới chịu đi hành thiền. Chúng
ta có thể hành thiền, và phải hành thiền mà không cần phải
có điều kiện nào cả. Điều quan trọng là phải thực sự
muốn nhìn vào bên trong của Tâm mình, hoàn cảnh của chính
mình, hiểu Tâm mình một cách trực tiếp. Sau đó, tự nhiên
đức tin và sự hiểu biết chín mùi trong tâm.
Hỏi:
Trong khi hành thiền, chúng tôi có cần đi sâu vào Định hay
không?
Đáp:
Trong khi ngồi thiền, nếu tâm bạn bắt đầu yên tĩnh và
định thì đó là điều tốt, vì bạn có thể dùng chúng làm
dụng cụ để tiến xa hơn. Nhưng bạn cần thận trọng và
đừng bị dính chặt vào sự yên tịnh. Nếu bạn ngồi chỉ
với mục đích đạt đến định tâm thì bạn sẽ cảm thấy
hạnh phúc và sung sướng, nhưng bạn đã phí thì giờ. Mục
đích của hành thiền là ngồi và để cho tâm an định, rồi
dùng tâm định này để quan sát bản chất của Thân và Tâm.
Ngoài ra, nếu bạn chỉ muốn đạt tới định tâm, bạn sẽ
đạt được sự an tịnh và đè nén được nhiều phiền não
trong lúc bạn ngồi, nhưng khi hết hành thiền, sự an tịnh
và định tâm cũng mất luôn. Giống như bạn lấy một tảng
đá để đè lên hố rác, khi bạn nhấc tảng đá đi, hố
rác vẫn còn. Ngồi lâu hay mau không thành vấn đề. Bạn đừng
để mình bị lạc vào trong an tịnh mà phải dùng sự an tịnh
của mình để quan sát sâu xa hơn bản chất của Thân và Tâm.
Đó chính là phương cách giúp bạn giải thoát thực sự.
Quan
sát Thân - Tâm một cách trực tiếp nhất, đó là không dùng
sự suy nghĩ, tưởng tượng để nhìn Thân - Tâm. Có hai trình
độ quan sát. Một là suy nghĩ và đi lang thang từ điểm này
đến điểm khác, khiến bạn bị dính mắc vào những tri giác
hời hợt giả tạo, chỉ có bề mặt mà không có thực chất.
Loại quan sát thứ hai là một sự an tịnh, định tâm và lắng
nghe bên trong. Chỉ khi nào có tâm định, tỉnh và an tịnh,
lúc ấy chân trí tuệ mới phát sinh một cách tự nhiên. Thoạt
đầu, trí tuệ chỉ là một âm vang nhè nhẹ, một mầm cây
yếu mềm vừa nhô lên khỏi mặt đất. Nếu bạn không hiểu
điều này, bạn có thể nghĩ quá nhiều đến nó, săn sóc
nó quá nặng tay khiến nó chết một cách đau đớn dưới
chân bạn. Nếu bạn cảm nhận nó một cách lặng lẽ, từ
đó bạn có thể thấy được căn bản của tiến trình Thân
và Tâm. Từ nhận thức này bạn sẽ thấy được vô thường
và bản chất vô ngã của Thân và Tâm.
Hỏi:
Nhưng nếu chúng tôi không tìm kiếm gì cả thì làm sao gặp
được Phật Pháp?
Đáp:
Bất kỳ chỗ nào bạn nhìn đều là Pháp--xây dựng nhà cửa,
đi trên đường cái, ở trong nhà tắm, hay ở trong thiền đường
này,..., tất cả đều là Pháp. Khi bạn hiểu biết đúng thì
không có gì trên thế gian này mà không phải là Pháp cả.
Nhưng
bạn phải hiểu rằng hạnh phúc và đau khổ, vui và buồn
luôn luôn ở với ta. Khi bạn hiểu rõ bản chất của chúng,
Phật và Pháp cũng ở ngay đây. Khi bạn thấy một cách rõ
ràng, mỗi thời khắc của kinh nghiệm đều là Pháp. Nhưng
phần lớn chúng ta có phản ứng một cách mê muội. Trước
lạc thú, "Tôi thích cái này; tôi muốn được nhiều hơn."
Và trước những gì không vừa lòng, "Đi đi, tôi không thích
cái đó; tôi không muốn nữa." Nếu bạn hoàn toàn mở rộng
tầm mắt trước mọi diễn biến của thế gian mà không có
thái độ mê muội như trên, bạn với Phật sẽ là một.
Một
khi bạn đã hiểu rõ, đó chỉ là một vất đề đơn giản
và trực tiếp. Khi lạc thú phát sinh, nên hiểu rằng nó không
phải là ta, là của ta. Khi đau khổ phát sinh, cũng nên hiểu
rằng nó không phải là ta, là của ta, đau khổ hay khoái lạc
đều biến mất. Nếu bạn không chấp giữ các hiện tượng
xảy ra, không đồng hoá chúng với mình, không xem chúng là
sở hữu của mình, tâm sẽ đạt được trạng thái quân bình.
Sự quân bình này là chánh đạo, những lời dạy của Đức
Phật, dẫn đến giải thoát. Thường chúng ta hay kỳ vọng,
"Tôi có thể đạt được tầng thiền này hay tầng thiền
kia không?" hay, "Tôi có thể phát triển năng lực gì?" Như
vậy là chúng ta đã bỏ qua những lời dạy của Đức Phật
để nhảy sang một lãnh vực khác thật sự chẳng hữu dụng
chút nào. Nếu bạn thật sự muốn, bạn có thể tìm thấy
Đức Phật trong những sự vật đơn giản nhất trước mắt
bạn, và có thể đạt được cốt tuỷ của sự quân bình
này bằng tâm xả bỏ.
Bước
đầu thực hành, điều quan trọng là bạn phải có một hướng
đi thích hợp. Thay vì cứ đi càn, đến đâu thì đến, bạn
phải có một bản đồ hay được một người đã từng đi
trên đường này hướng dẫn. Con đường giải thoát mà Đức
Phật là người đầu tiên chỉ dẫn là Trung Đạo, nằm giữa
hai thái cực: lợi dưỡng và khổ hạnh. Tâm phải mở rộng
trước mọi kinh nghiệm, không mất quân bình hay rơi vào những
cực đoan. Được vậy, bạn sẽ nhìn sự vật với tâm tự
nhiên, không dính mắc mà cũng không hất huỉ. Khi hiểu rõ
được sự quân bình này thì Đạo sẽ rõ dần. Khi sự hiểu
biết được phát triển là lúc lạc thú đến, bạn hiểu
ngay nó là vô thường, bất an và trống rỗng. Khi đau buồn
và thất vọng đến, bạn cũng xem chúng như vậy: vô thường,
bất an và trống rỗng. Cuối cùng, khi đã đạt được một
đoạn khá xa trên con đường, bạn sẽ thấy rõ ràng rằng
trên thế gian này chẳng có gì có giá trị, chẳng có gì cần
phải nắm giữ. Mọi vật chẳng khác nào những vỏ chuối
hay vỏ dừa, chẳng có gì hấp dẫn. Khi bạn nhìn thấy mọi
vật trên thế gian đều là những vỏ chuối và vỏ dừa,
bạn sẽ tự do đi trên thế gian này, không có gì khiến bạn
bực mình chán nản. Lúc ấy bạn đã đi trên con đường dẫn
đến giải thoát.
Hỏi:
Ngài có đòi hỏi thiền sinh phải theo những khoá thiền dài
ngày, hành thiền tích cực và tịnh khẩu không?
Đáp:
Vấn đề này tùy thuộc vào từng cá nhân. Bạn phải tập
hành thiền trong mọi hoàn cảnh, ở chợ hay độc cư trong
rừng. Dĩ nhiên hành thiền nơi yên tĩnh thì tốt hơn. Đó
là lý do chúng tôi sống ở trong rừng. Lúc mới thực hành,
bạn phải làm mọi việc một cách chậm chạp, phải chánh
niệm trong khi đi. Sau đó bạn có thể học chánh niệm trong
mọi hoàn cảnh.
Một
số người xin được hành thiền tích cực, tịnh khẩu trong
sáu tháng hay một năm. Nhưng không có luật lệ nào về việc
này. Đó phải là quyết định của cá nhân. Cũng như những
chiếc xe bò mà các nông dân sử dụng quanh đây -- khi muốn
chở hàng nhiều thì họ phải thêm sức mạnh vào xe, thay bánh
xe mạnh hơn và thêm bò kéo. Họ có thể làm được điều
ấy hay không? Cũng vậy, thiền sư và thiền sinh phải linh
động trong việc này. Thiền sinh có thật sự muốn thế không?
Có đúng lúc không? Phải tế nhị, linh động, hiểu và tôn
trọng giới hạn của mình. Đó cũng là trí tuệ.
Đức
Phật dạy hai loại thực hành: Giải thoát bằng trí tuệ và
giải thoát bằng hành thiền.
Những
người
giác ngộ bằng trí tuệ chỉ cần nghe Pháp
và tức thì có tri kiến. Bởi vì toàn bộ giáo lý đều dạy
xả bỏ mọi vật, để mọi vật như vậy, họ thực hành
xả bỏ theo lối tự nhiên chẳng cần phải qua nỗ lực tinh
tấn hay định tâm. Lối thực hành đơn giản này cuối cùng
có thể đưa họ đến chỗ không còn tự ngã, nơi đó không
còn gì để xả bỏ và không còn gì để nắm giữ.
Những
người
giác ngộ bằng thiền định cần phải
có nhiều thì giờ để định tâm hơn. Họ phải ngồi hay
thực hành theo một số kỷ luật đặc biệt và dài ngày.
Đối với họ, sự định tâm này nếu sử dụng đúng cách
sẽ trở thành cơ sở để tiến sâu vào minh sát. Một khi
tâm đã định, cũng giống như học xong bậc trung học, bấy
giờ họ có thể vào đại học và học bất cứ ngành nào
thích hợp với họ. Một khi tâm định đã mạnh họ có thể
tiến đến những tầng thiền định cao hơn hay dùng tâm định
để phát triển tất cả các mức độ của minh sát.
Dù
giải thoát bằng trí tuệ hay giải thoát bằng thiền định,
chúng ta đều phải qua con đường thực hành. Mọi phương
cách thực hành mà không có sự dính mắc, chấp thủ đều
đưa đến giải thoát.
Hỏi:
Cần phải thực hành pháp niệm tâm từ cùng lúc với thiền
minh sát không?
Đáp:
Lập đi lập lại những câu niệm tâm từ đem lại kết quả
tốt đẹp. Nhưng đó chỉ là sự thực tập căn bản cho những
người mới hành thiền. Khi bạn đã thực sự nhìn thấy bên
trong tâm bạn và thực hành phần tinh tuý của Phật Giáo một
cách đứng đắng thì tâm từ của bạn tự nhiên phát triển.
Khi bạn xả bỏ tự ngã và các thứ khác thì bạn sẽ có
một sự phát triển sâu xa và tự nhiên khác hẳn với người
sơ cơ, lập đi lập lại câu: "Cầu mong cho tất cả chúng
sinh an vui hạnh phúc, cầu mong cho tất cả chúng sinh tránh
khỏi mọi điều đau khổ."
Hỏi:
Chúng tôi phải đi dâu để nghiên cứu Phật Pháp?
Đáp:
Khi bạn tìm thấy Phật Pháp, bạn sẽ nhận thấy Phật Pháp
không ở trong rừng sâu hay trên núi cao. Phật Pháp cũng không
ở trong hang động hay trong tu viện. Phật Pháp ở ngay trong
tâm. Ngôn ngữ của Phật Pháp không phải là tiếng Thái, tiếng
Miến hay tiếng Pali. Phật Pháp có ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ
chung của mọi người, ngôn ngữ của kinh nghiệm gặt hái
qua thực hành. Có một sự khác biệt lớn lao giữa sự chế
định của thế tục và kinh nghiệm trực tiếp. Người nào
nhúng tay vào ly nước nóng đều cảm thấy nóng. Nhưng sự
nóng này được diễn tả bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau.
Cũng vậy, người nào nhìn sâu vào tâm đều có cùng kinh nghiệm
như nhau, chẳng liên quan gì đến quá trình văn hóa hay ngôn
ngữ. Nếu tâm bạn nếm được hương vị của giáo pháp thì
bạn trở thành một với mọi người, chẳng khác nào gia nhập
chung một đại gia đình.
Hỏi:
Phật Giáo có khác biệt nhiều với các tôn giáo khác không?
Đáp:
Mục đích của tôn giáo, trong đó có Phật Giáo, là đem lại
hạnh phúc cho con người, bằng cách giúp họ thấy một cách
rõ ràng và chân thật sự vật nó như thế nào. Bất kỳ tôn
giáo nào, hệ thống tín ngưỡng hay đường lối thực hành
nào giúp con người thấy rõ chân tướng của sự vật, đều
có thể gọi là Phật Giáo, nếu bạn muốn.
Trong
đạo Thiên Chúa, một trong những ngày lễ quan trọng là Lễ
Giáng Sinh. Năm ngoái, một nhóm nhà sư Tây phương đã tổ
chức một ngày Giáng Sinh đặc biệt, với một lễ tặng quà
và làm phước. Một số thiện nam tín nữ thắc mắc điều
đó, "Tại sao đã xuất gia thành sư sãi Phật Giáo rồi mà
các vị này còn tổ chức Lễ Giáng Sinh? Bộ đó không phải
là lễ của Thiên Chúa Giáo sao?"
Trong
buổi thuyết pháp, tôi đã giải thích tại sao mọi người
trên thế giới đều có một căn bản như nhau. Gọi là người
Âu, người Hoa kỳ, hay người Thái, chỉ là muốn nói đến
chỗ họ sinh hay màu tóc của họ, nhưng Thân và Tâm của họ
đều có cùng bản chất như nhau. Tất cả đều ở trong một
gia đình nhân loại, có cùng đặc tính giống nhau, đó là
đều phải sinh ra, đều phải già, đều phải chết. Khi bạn
hiểu được điều đó, sự khác biệt không còn quan trọng
nữa. Cũng vậy, lễ Giáng Sinh là một dịp để mọi người
cố gắng giúp đỡ người khác bằng những việc làm tốt
đẹp của mình. Đó là điều quan trọng và kỳ diệu. Bạn
có thể gọi đây là ngày gì cũng được, chẳng ăn nhằm
gì điều đó cả.
Bởi
thế tôi mới nói với mọi thiện tín, "Hôm nay là ngày Thiên
Chúa Phật Pháp." Ai thực hành đúng thì họ đã thực hành
"Phật Đà Thiên Chúa Giáo" và mọi chuyện đều tốt đẹp.
Tôi
dạy họ cách này để xả bỏ chấp thủ và luyến ái vào
những chế định của thế gian và để nhìn thấy mọi diễn
biến của sự vật một cách chính xác và tự nhiên.
Bất
kỳ cái gì giúp chúng ta thấy rõ chân lý, giúp chúng ta làm
điều tốt đẹp, đều là lối thực hành đúng. Bạn có thể
đặt cho nó tên gì cũng được.
Hỏi:
Những người mới tập thiền phải hành thiền như thế nào?
Đáp:
Cũng như những người hành thiền lâu.
Hỏi:
Tôi có thể quan sát tham lam và sân hận, nhưng làm thế nào
để kiểm soát si mê?
Đáp:
Bạn như người đang cưỡi ngựa mà lại hỏi, "Con ngựa đâu?"
Hỏi:
Về việc ngủ nghỉ phải như thế nào? Tôi phải ngủ mấy
tiếng mỗi ngày?
Đáp:
Thật là khó trả lời cho bạn điều đó. Đối với thiền
sinh, trung bình mỗi ngày ngủ bốn tiếng là đủ. Điều quan
trọng là phải tự xét xem và tự tìm hiểu mình để chọn
một số giờ ngủ nghỉ thích hợp. Nếu bạn ngủ quá ít,
bạn sẽ thấy không thoải mái, và điều này làm cho bạn
khó tỉnh thức. Nhưng ngủ nhiều quá cũng khiến trí óc chậm
lụt và tâm chao động. Hãy tìm một sự quân bình tự nhiên
cho chính mình, thận trọng quan sát thân tâm và cố gắng chọn
cho mình một số giờ ngủ thích hợp. Sau một thời gian hành
thiền, bạn sẽ tự biết là phải ngủ bao nhiêu giờ một
ngày. Nếu ngủ dậy mà còn nằm nướng thêm, đó là phiền
não. Hãy tỉnh thức, chánh niệm ngay lúc bạn vừa mở mắt.
Hỏi:
Về việc ăn uống thì sao? Tôi phải ăn nhiều ít mỗi ngày?
Đáp:
Ăn cũng như ngủ, bạn phải tự biết lấy. Thức ăn là nhu
cầu dinh dưỡng của cơ thể. Hãy xem thức ăn như những loại
thuốc chữa bệnh. Nếu bạn cảm thấy buồn ngủ sau khi ăn
hay cảm thấy càng ngày càng mập ra, như vậy là bạn đã
ăn quá nhiều. Hãy bớt ăn lại, xem xét thân và tâm bạn.
Cũng không cần phải ăn quá đói. Hãy tự xem bạn cần phải
dùng bao nhiêu lượng thực phẩm hàng ngày. Hãy tìm lấy sự
quân bình tự nhiên của cơ thể bạn. Thực hành hạnh đầu
đà bằng cách bỏ tất cả thức ăn vào trong bình bát của
bạn, lúc bấy giờ bạn sẽ dễ dàng tìm thấy số lượng
thực phẩm đủ dùng cho bạn trong mỗi bữa ăn. Mỗi khi ăn
hãy thận trọng theo dõi mình, bạn sẽ tự hiểu rõ. Tinh túy
của sự thực hành là ở chỗ đó. Bạn chẳng cần phải
làm gì đặc biệt cả, chỉ cần theo dõi chính mình, theo dõi
tâm mình để tìm ra sự quân bình tự nhiên.
Hỏi:
Tâm người Đông phương và tâm người Tây phương có khác
nhau không?
Đáp:
Mặc dầu hình dáng bên ngoài và ngôn ngữ có khác nhau, nhưng
tâm con người đều có những đặc tính thiên nhiên giống
nhau. Người Đông phương hay Tây phương cũng đều có tham
lam, sân hận như nhau. Mọi người đều có đau khổ và đều
có khả năng chấm dứt khổ đau.
Hỏi:
Đọc hay học giáo lý có phải là một trong những yếu tố
cần thiết để hành thiền không?
Đáp:
Không thể tìm thấy giáo lý trong kinh điển. Nếu bạn muốn
tự mình tìm thấy những gì Đức Phật dạy cho bạn, bạn
không cần bận tâm đến sách vở làm gì. Hãy theo dõi tâm
mình. Hãy quan sát và theo dõi cảm giác và tư tưởng đến
rồi đi như thế nào. Đừng để bị dính mắc vào bất cứ
điều gì, chuyện gì. Chỉ cần chú tâm tỉnh thức trước
những gì đang xảy ra. Đó là con đường tiến đến chân
lý. Hãy tự nhiên. Mọi việc làm, mọi động tác của bạn
ở đây đều là cơ hội để bạn thực tập thiền quán.
Tất cả đều là giáo pháp. Bất kỳ làm công việc gì bạn
cũng phải cố gắng chánh niệm. Trong khi quét dọn, phụ bếp,
rửa chén, v. v., bạn phải chú tâm tỉnh thức, giữ chánh
niệm. Khi bạn đi đổ rác, đổ ống nhổ, chuì rửa nhà cầu,
..., đừng nghĩ bạn làm những công việc đó vì lợi ích
cho kẻ khác. Chân lý nằm ngay trong việc đổ ống nhổ, trong
công tác chùi rửa cầu tiêu. Đừng nghĩ rằng chỉ những
lúc ngồi kiết già mới là những giờ phút hành thiền. Nhiều
người than phiền là không có dư thì giờ để hành thiền.
Điều đó thật sai lầm. Bộ bạn không có đủ thì giờ để
thở sao? Thiền định của bạn nằm ở đây: chánh niệm,
giác tỉnh, hoàn toàn tự nhiên, thoái mái trong mọi công việc
bạn đang làm.
Hỏi:
Tại sao lúc hành thiền ở đây chúng tôi không có những giờ
trình pháp hàng ngày?
Đáp:
Nếu bạn có vấn đề gì cần hỏi, bạn có thể đến gặp
thiền sư bất cứ lúc nào. Không cần phải trình pháp hàng
ngày. Nếu tôi trả lời bạn tất cả mọi câu hỏi nhỏ nhặt
nhất, bạn sẽ không bao giờ hiểu được tiến trình hoài
nghi trong tâm bạn. Điều cần thiết là bạn phải biết tự
biết cách tự xem xét mình, tự hỏi mình, tự trình pháp cho
mình. Hãy chú tâm theo dõi bài giảng một thời gian, rồi đem
những lời giảng đó so sánh với sự thực hành của bạn.
Xét xem thử sự thực hành của bạn đúng hay sai, khác với
lời giảng dạy ở điểm nào? Tìm hiểu xem tại sao bạn hoài
nghi, ai hoài nghi và hoài nghi cái gì? Bạn chỉ có thể hiểu
được những điểm này khi chính bạn tự xem xét lấy.
Hỏi:
Đôi lúc tôi lo lắng về giới luật của nhà sư. Vô ý làm
chết côn trùng có tội lỗi không?
Đáp:
Giới luật và những qui luật đạo đức rất cần thiết;
chúng là những yếu tố căn bản trong việc hành thiền, nhưng
đừng dính mắc một cách mù quáng vào chúng. Sự chủ ý hay
cố ý đóng vai trò quan trọng trong giới sát sanh cũng như
trong các giới khác. Hãy hiểu tâm mình. Đừng quá dính mắc
vào giới luật. Nếu giữ một cách đứng đắn và thích hợp,
giới sẽ hỗ trợ cho bạn trong lúc hành thiền. Nhiều nhà
sư quá lo lắng về giới luật khiến họ ăn ngủ không yên;
đấy là một trở ngại. Đừng khiến giới luật trở thành
gánh nặng cho chính mình.
Trong
việc thực tâp thiền của chúng ta ở đây, nền tảng chính
là giới luật. Giới luật, hạnh đầu đà, và thực hành
thiền định là ba điểm quan trọng. Chú tâm chánh niệm và
thận trọng giữ gìn giới luật (từ những qui luật có tính
cách hỗ trợ trong lúc hành thiền cho đến 227 giới của tỳ
kheo) sẽ đem lại lợi ích lớn lao. Giới luật giúp cho đời
sống giản dị, tri túc, không phiền toái.
Không
cần lo lắng là phải giữ giới như thế nào, làm sao để
khỏi phạm giới, v. v. Hãy tự nhiên trong mọi tác động.
Không quá lo lắng về giới luật sẽ khiến bạn khỏi suy
nghĩ. Thay vào đó bạn chỉ cần chú tâm chánh niệm là đủ.
Giới luật giúp chúng ta cùng sống hoà hợp với mọi người,
một cuộc sống êm thắm, hài hoà. Giới luật là những viên
gạch lót đường để tiến đến định tâm và phát triển
trí tuệ. Giữ giới luật và hành hạnh đầu đà khiến chúng
ta sống đời sống đơn giản, không bám víu vào vật chất
và của sở hữu. Do đó, sống ở đây chúng ta có thể thực
hành trọn vẹn những lời dạy của Đức Phật: tránh xa điều
ác, làm điều lành, sống đơn giản (chỉ sử dụng những
nhu cầu vật chất cần thiết), thanh lọc tâm. Muốn thế chỉ
cần chú tâm theo dõi mọi tác động của thân và tâm bạn
trong mọi oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi.
Hỏi:
Làm thế nào để đối trị với sự hoài nghi? Nhiều hôm
tôi đâm ra nghi ngờ nhiều thứ. Nghi ngờ sự thực hành, nghi
ngờ sự tiến bộ của chính tôi, và nghi ngờ cả thiền sư
nữa.
Đáp:
Nghi ngờ là chuyện tự nhiên. Mọi người bắt đầu với
sự
nghi ngờ. Bạn sẽ học được ở hoài nghi nhiều điều
lợi ích. Điều quan trọng là đừng đồng hoá mình với sự
hoài nghi, nghĩa là đừng chụp lấy nó, bám víu vào nó. Dính
mắc vào hoài nghi sẽ khiến bạn rơi vào vòng lẩn quẩn.
Thay vào đó, hãy theo dõi toàn thể tiến trình của hoài nghi,
của băn khoăn. Hãy nhìn xem ai đang hoài nghi. Hoài nghi đến
và đi như thế nào. Làm thế bạn sẽ không còn là nạn nhân
của sự nghi ngờ nữa. Bạn sẽ vượt ra khỏi sự nghi ngờ
và tâm bạn sẽ yên tĩnh. Lúc bấy giờ bạn sẽ thấy mọi
chuyện đến và đi một cách rõ ràng. Tóm lại, hãy để cho
mọi sự bám víu, mọi dính mắc của bạn trôi đi; chú tâm
quan sát sự nghi ngờ. Đó là cách hiệu quả nhất để chấm
dứt hoài nghi. Chỉ cần đơn thuần chú tâm quan sát hoài nghi,
hoài nghi sẽ biến mất.
Hỏi:
Có rất nhiều thiền sư và mỗi vị chỉ dạy một phương
pháp hành thiền riêng, khiến thiền sinh bối rối, băn khoăn.
Làm sao biết phương pháp nào đúng?
Đáp:
Cũng giống như việc đi xuống phố. Chúng ta có thể đến
phố từ nhiều hướng khác nhau. Thường các phương pháp thiền
chỉ khác nhau bề ngoài. Dầu phương pháp nào đi nữa, chậm
hay nhanh, nếu giúp chánh niệm thì cũng như nhau. Điểm chính
yếu mà mọi thiền sinh cần phải nằm lòng là đừng dính
mắc. Vì cuối cùng thì mọi phương pháp hành thiền phải
được buông bỏ. Phương pháp hành thiền chỉ là phương tiện.
Thêm vào đó, thiền sinh cũng không được dính mắc vào thiền
sư. Lối của thiền sư nào đưa bạn đến sự dứt bỏ, không
dính mắc, đó là lối thiền đứng đắn.
Bạn
có thể đi đây đó để tham học với các thiền sư và để
thử qua những phương pháp hành thiền khác nhau. Một số các
bạn ở đây đã từng làm như thế. Đó là điều ước muốn
và là việc tự nhiên. Sau khi bạn đã đặt nhiều câu hỏi
với các vị thiền sư và đã biết được nhiều phương pháp
hành thiền, bạn sẽ nhận thấy rằng tất cả những việc
bạn làm chẳng đưa bạn đến chân lý ngoài sự buồn chán.
Rồi bạn sẽ thấy rằng chỉ có lúc bạn đứng lại để
xem xét tâm mình mới là lúc bạn thấy được, tìm được
những gì Đức Phật dạy. Chẳng cần phải đi tìm cái gì
bên ngoài bạn. Hãy trở về đối diện với bản chất thực
sự của chính mình. Chính lúc trở về đối diện với chính
mình bạn sẽ thấy chân lý.
Hỏi:
Nhiều lúc tôi thấy dường như các vị sư ở đây chẳng
thực hành thiền chút nào. Họ có vẻ lờ đờ, thiếu giác
tỉnh. Những hình ảnh này làm bận tâm tôi rất nhiều.
Đáp:
Không nên chú ý đến kẻ khác. Để ý đến kẻ khác chẳng
đem lại lợi ích gì cho chúng ta. Nếu bạn cảm thấy bực
bội, hãy xem xét sự bực bội của mình. Không nên thắc mắc
rằng thiện tín này xấu, vị sư kia không tốt. Hãy để họ
qua một bên, không cần phải đánh giá, phê bình người khác
làm gì. Bạn sẽ không thấy trí tuệ nếu cứ để tâm theo
dõi, xem xét, đánh giá kẻ khác. Giới luật, nội qui là dụng
cụ trợ giúp cho bạn hành thiền có kết quả. Giới luật
không phải là khí cụ để bạn chỉ trích hay tìm lỗi ở
kẻ khác. Không ai có thể hành thiền thay cho bạn. Bạn cũng
không thể hành thiền thay cho ai cả. Hãy chú tâm chánh niệm,
tỉnh thức trước những gì bạn làm; đó là phương pháp
hành thiền tốt đẹp.
Hỏi:
Tôi hết sức cố gắng tập thu thúc lục căn và chú tâm đến
cảm giác của mình. Tôi luôn luôn nhìn xuống đất và giữ
tâm chánh niệm trong mọi tác động nhỏ nhặt. Chẳng hạn,
lúc ăn, ăn rất chậm, dành nhiều thì giờ để ăn. Tôi để
ý đến từng xúc chạm của sự ăn: nhai, ý thức muì vị,
nuốt, v. v. Tôi thực hiện từng tác động một cách thận
trọng và ý tứ. Thực hành như vậy có đúng không?
Đáp:
Thu thúc lục căn và theo dõi cảm giác của mình là sự thực
tập tốt đẹp. Lúc nào chúng ta cũng phải chú tâm tỉnh thức,
ghi nhận mọi cảm giác đến với mình. Nhưng đừng thái quá.
Hãy đi, đứng, nằm, ngồi một cách tự nhiên. Đừng quá
thúc ép việc hành thiền của bạn, cũng như đừng quá bó
buộc chính mình vào trong một khuôn khổ định sẵn nào. Quá
thúc ép cũng là một hình thức của tham ái. Hãy kiên nhẫn.
Kiên nhẫn và chịu đựng là điều kiện cần thiết của
một thiền sinh. Nếu bạn hành động một cách tự nhiên và
chú tâm tỉnh thức, trí tuệ sẽ đến với bạn một cách
tự nhiên.
Hỏi:
Có cần phải ngồi thiền thật lâu không?
Đáp:
Không cần phải ngồi thiền thật lâu, thật nhiều giờ. Nhiều
người nghĩ rằng càng ngồi lâu thì chúng ta càng sáng suốt.
Điều đó không đúng. Trí tuệ đến với chúng ta qua mọi
oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi. Buổi sáng, lúc mới thức
dậy, bạn phải hành thiền ngay và bạn phải tiếp tục hành
thiền cho đến khi bạn đi ngủ. Trong suốt ngày bạn có thể
hành thiền qua mọi tư thế: đi, đứng, nằm, ngồi. Điều
quan trọng là phải chánh niệm trong mọi tư thế, mọi tác
động của bạn; việc duy trì một tư thế nào lâu không phải
là điều quan trọng.
Nói
như thế không có nghĩa ngồi lâu là điều không tốt; ở
đây, tôi muốn nhấn mạnh đến
sự chánh niệm.
Không cần quan tâm đến chuyện bạn có thể ngồi được
bao lâu. Điều quan trọng là bạn phải theo dõi mọi tác động,
mọi tư thế của bạn trong mọi lúc đi, đứng, tắm, rửa,
ăn, uống, v. v.
Mỗi
người có một bản chất thân, tâm khác nhau (người có thể
ngồi lâu, người có thể đi lâu, v. v.) Chẳng hạn một số
bạn sẽ chết ở tuổi năm mươi; một số khác ở tuổi sáu
mươi, và một số khác nữa ở tuổi chín mươi. Cũng thế,
không thể qui định thế nào về sự thực hành của bạn.
Đừng suy nghĩ hay băn khoăn về điều đó. Hãy chánh niệm
và để mọi chuyện trôi chảy một cách tự nhiên; dần dần
tâm bạn sẽ an tĩnh và tất cả những gì quanh bạn cũng sẽ
tĩnh lặng theo. Tâm bạn lúc bấy giờ sẽ tĩnh lặng như mặt
hồ phẳng lặng trong khu rừng yên tĩnh. Mọi loại thú hiếm
và quí sẽ đến uống nước tại chiếc hồ tĩnh lặng này.
Bạn sẽ thấy biết bao điều kỳ diệu đến và đi, nhưng
bạn vẫn tĩnh lặng trong sự đến và đi đó. Mọi giải đáp
sẽ hiển lộ và bạn sẽ tức thời nhận thấy bản chất
thực sự của vạn hữu. Đó là hạnh phúc của kẻ giác ngộ.
Hỏi:
Khi hành thiền có nhất thiết phải đạt đến trạng thái
nhập định không?
Đáp:
Không cần thiết. Bạn chỉ cần có tâm an tịnh và đạt đến
nhất tâm là đủ. Rồi dùng sự nhất tâm đó để xem xét
chính bạn. Ngoài ra, chẳng cần phải có điều kiện nào khác.
Nếu đạt đươc định tâm cũng tốt, nhưng chẳng cần phải
dính mắc, chấp chặt vào chúng. Một số người dính mắc
vào trạng thái định tâm; đấy là một trở ngại. Trạng
thái định tâm cũng có thể đem lại nhiều thích thú, nhưng
bạn nên hạn chế. Nếu bạn khéo léo một chút, bạn sẽ
biết cách sử dụng và giới hạn trạng thái này.
Hỏi:
Tại sao chúng ta phải hành hạnh đầu đà? Chẳng hạn chỉ
ăn thức ăn đựng trong bát, không được dùng thức ăn đựng
trong chén đĩa?
Đáp:
Hạnh đầu đà giúp cắt đứt phiền não. Chỉ ăn thức ăn
trong bát giúp chúng ta chánh niệm, giác tỉnh hơn và xem thức
ăn như một món thuốc chữa bệnh. Nếu chúng ta không có phiền
não, chúng ta có thể ăn như thế nào cũng được. Ở đây
chúng ta thực hành như thế này là để có một đời sống
đơn giản. Đức Phật không buộc mỗi tu sĩ đều phải giữ
hạnh đầu đà. Ngài cho phép những ai muốn thực hành tích
cực được giữ hạnh đầu đà vì hạnh đầu đà giúp gia
tăng ý chí và sức mạnh tinh thần. Đây là một hạnh tự
nguyện. Đừng để ý đến người khác đã thực hành như
thế nào. Hãy quan sát chính tâm bạn và tìm xem hạnh đầu
đà đem lại lợi ích gì cho bạn.
Ngay
ở đây, khi thiền sinh đến tu, họ sẽ được chỉ định
một căn lều để ở. Họ được chỉ định, không được
tự do chọn lựa. Việc đó nhằm mục đích giúp thiền sinh
không bám víu, dính mắc vào chỗ ở; ở đâu cũng được.
Sau khi hành thiền một thời gian, nếu họ ra đi rồi trở
lại hành thiền lần nữa, họ sẽ được chỉ định ở một
lều khác. Đó là cách thực tập của chúng tôi -- tập không
dính mắc vào bất cứ chuyện gì.
Hỏi:
Nếu chỉ ăn thức ăn đựng trong bát là điều quan trọng
để hành thiền, tại sao là thầy mà Ngài không ăn trong bát
như chúng tôi? Ngài không nghĩ rằng một vị thầy phải làm
gương cho người khác noi theo sao?
Đáp:
Đúng. Một vị thầy phải làm gương cho học trò noi theo.
Tôi không trách bạn chỉ trích điều đó. Bạn có thể hỏi
bất cứ điều gì bạn muốn. Nhưng điều quan trọng tôi muốn
nói ở đây là đừng dính mắc vào vị thầy nữa. Nếu tôi
có hình thức bên ngoài hoàn toàn tuyệt hảo thì thật là
kinh khủng! Tất cả các bạn sẽ dính mắc vào tôi. Ngay Đức
Phật nhiều lần bảo học trò làm thế này nhưng Ngài làm
thế khác. Sự nghi ngờ của bạn đối với vị thầy có thể
giúp bạn.
Bạn
nên theo dõi chính bản thân mình. Phải theo dõi những phản
ứng của mình. Có khi nào bạn nghĩ rằng tôi để thức ăn
ở dĩa rồi đem cho những thiện tín làm việc quanh ngôi chùa
này không? Muốn có trí tuệ, chính bạn phải biết quay lại
và khai triển ở chính mình. Hãy học hỏi ở thầy những
điều gì tốt đẹp, và chú tâm tỉnh thức, hiểu biết mình
trong khi thực hành. Nếu tôi đang nghỉ ngơi thoải mái, trong
khi đó bạn phải ngồi xếp bằng để tham thiền, bạn có
lấy làm tức tối không? Khi tôi nói đây là màu xanh, kia là
màu đỏ, đó là đàn ông, đây là đàn bà, bạn phải tự
mình quan sát, đừng nghe theo tôi một cách mù quáng.
Một
vị thầy của tôi trước đây ăn rất nhanh, khi ăn ông ta
gây ra những tiếng động ồn ào, nhưng ông ta lại dạy chúng
tôi phải ăn chầm chậm và chú tâm tỉnh thức trong khi ăn.
Quan sát thầy, tôi lấy làm thất vọng và buồn nản. Tôi
đau khổ trong khi ông ta vẫn tự nhiên! Thật ra tôi đã quan
sát bên ngoài mà không quan sát chính tôi. Sau này tôi mới
hiểu rõ được điều đó. Có nhiều người lái xe rất nhanh,
nhưng cẩn thận. Trong khi đó một số khác lái xe rất chậm
nhưng lại gây ra rất nhiều tai nạn. Đừng dính mắc vào
những qui luật có sẵn. Đừng dính mắc vào hình thức bên
ngoài.
Nên
nhìn người ngoài mười phần trăm, và để lại chín mươi
phần trăm theo dõi chính mình. Đó là phương pháp thực hành
tốt đẹp. Trong thời gian đầu tôi thường để tâm quan sát
thầy tôi là Ngài Achaan Toong Rath và có nhiều nghi ngờ đối
với Ngài. Nhiều người nghi Ngài là một người bất bình
thường. Ngài làm nhiều chuyện kỳ lạ và đối xử rất
khắt khe với học trò. Bề ngoài Ngài có vẻ rất nóng giận,
nhưng bên trong thì rất bình lặng. Tâm hồn Ngài rất trong
sáng và luôn luôn chánh niệm -- cho đến giây phút Ngài qua
đời.
Thông
thường chúng ta hay nhìn bề ngoài để so sánh phân biệt.
Nếu cứ nhìn bề ngoài để quan sát thiên hạ, bạn sẽ
không bao giờ có hạnh phúc. Cũng như thế, nếu bạn
muốn tìm thấy sự an bình mà lại cứ phí thì giờ để quan
sát theo dõi những người hoàn toàn hay những vị tuyệt hảo,
bạn cũng sẽ không được bình an chút nào. Đức Phật dạy
chúng ta phải nhìn vào giáo pháp, chân lý, chớ đừng nhìn
vào kẻ khác.
Hỏi:
Làm thế nào để có thể chế ngự được dục vọng? Đôi
khi tôi cảm thấy mình thật sự bị nô lệ vào những thú
vui thể xác.
Đáp:
Tham dục phải được quân bình bằng sự chú tâm vào đề
mục bất tịnh. Dính mắc vào vóc dáng có thể là một cực
đoan. Gặp trường hợp như thế, chúng ta phải để tâm đến
một cực đoan khác của cơ thể. Chúng ta hãy quan sát cơ thể
và xem đó như một xác chết. Hãy nhìn vào tiến trình tan
rã, huỷ hoại của một xác chết. Cũng có thể quan sát từng
bộ phận của cơ thể như phổi, tim, gan, mắt, máu, nước
tiểu, mồ hôi, v. v. Hãy nhớ lại hình ảnh của các yếu
tố bất tịnh của cơ thể mỗi khi tham dục phát sinh. Làm
như thế sẽ tránh khỏi tham dục quấy nhiễu.
Hỏi:
Còn về sự nóng giận thì sao? Khi cơn giận nổi lên, tôi
phải làm thế nào?
Đáp:
Phải niệm tâm từ. Khi tâm nóng giận phát sinh, bạn phải
quân bình chúng bằng cách khai triển từ tâm. Nếu có ai làm
điều gì xấu đối với bạn hay giận bạn, bạn cũng đừng
giận dỗi. Nếu tức giận, bạn càng si mê và tối tăm hơn
người đó nữa. Hãy sáng suốt giữ tâm từ ái và thương
người đó, vì người ấy đang đau khổ. Hãy làm cho tâm tràn
đầy tình thương, xem người đang giận mình như anh chị em
thân yêu của mình. Lúc bấy giờ hãy chú tâm vào cảm giác
từ ái, và lấy sự từ ái làm đề mục thiền định. Trải
lòng từ đến tất cả chúng sinh trên toàn thế giới. Chỉ
có lòng từ ái mới thắng được sự sân hận.
Đôi
khi bạn có thể thấy vài vị sư có hành động và thái độ
không tốt. Điều này làm bạn bất bình. Sự bất bình này
là một phiền não, đau khổ không cần thiết. Có những ý
nghĩ bất bình như thế là bạn đã đi ra ngoài Giáo Pháp của
Đức Phật. Khi bạn thấy những vị sư không tốt, tư tưởng
sau đây có thể đến với bạn: những vị này không hành
thiền một cách tích cực như ta, đấy là những vị không
tốt, v. v. Suy nghĩ như vậy là tự tạo ra và mang lấy vào
mình một phiền não lớn lao. Đừng so sánh, phê phán, phân
biệt. Hãy để cho thành kiến, quan niệm của bạn trôi đi
và theo dõi chính mình. Đó là giáo pháp.
Bạn
không thể nào khiến người khác làm đúng như bạn hay theo
ý bạn. Đừng ao ước điều gì diễn ra theo ý muốn của
mình, vì đó là nguyên nhân gây ra sự đau khổ. Thiền sinh
thường vấp phải những khuyết điểm thông thường như thế.
Hãy nhớ rằng: việc quan sát, theo dõi kẻ khác không giúp
cho bạn mở mang trí tuệ. Đừng phí phạm thì giờ và tâm
trí quan sát người khác, mà hãy xem xét chính mình, xem xét
cảm giác của mình. Đó là phương pháp giúp cho bạn mở mang
trí tuệ.
Hỏi:
Trong lúc hành thiền, tôi hay buồn ngủ. Sự buồn ngủ làm
cho tôi khó hành thiền. Tôi phải làm thế nào để hết buồn
ngủ?
Đáp:
Có nhiều cách để chế ngự cơn buồn ngủ. Nếu bạn đang
ngồi trong chỗ tối, hãy đến ngồi ở chỗ sáng hơn và mở
mắt ra. Đứng dậy, đi rửa mặt. Vỗ vào mặt hay đi tắm.
Nếu vẫn còn buồn ngủ, hãy thay đổi tư thế. Đi bộ nhiều
hơn. Đi thụt lùi. Đi thụt lùi khiến bạn chú ý đến bước
đi nhiều hơn và hết buồn ngủ. Nếu vẫn còn buồn ngủ,
hãy đứng một chỗ, tưởng tượng rằng ánh sáng chan hòa
khắp nơi. Cũng có thể đến ngồi gần mép cầu thang cao hoặc
ngồi bên bờ miệng giếng sâu, bạn sẽ không còn dám buồn
ngủ nữa.
Nếu
đã làm tất cả những chuyện ấy mà vẫn buồn ngủ, hãy
đi ngủ! Nằm xuống từ từ, thận trọng theo dõi tâm cho đến
khi hoàn toàn rơi vào giấc ngủ. Khi thức giấc hãy tỉnh thức
ngay, đừng xem đồng hồ hay nằm nướng thêm. Hãy chánh niệm
ngày từ lúc bạn bắt đầu thức dậy.
Nếu
ngày nào bạn cũng thấy buồn ngủ, hãy cố gắng ăn ít đi.
Hãy tự xem xét mình. Khi thấy còn chừng năm muỗng nữa sẽ
no, hãy ngừng lại đừng ăn nữa, rồi uống nước vào. Sau
đó đến chỗ ngồi theo dõi sự buồn ngủ và sự đói bụng
của bạn. Bạn hãy tập cách quân bình sự ăn uống của mình.
Khi tiếp tục làm như thế, bạn sẽ tự nhiên thấy mình tinh
tấn hơn và sẽ ăn ít đi.
Hỏi:
Tại sao hàng ngày chúng tôi phải lạy rất nhiều?
Đáp:
Lễ lạy rất quan trọng. Đó là hình thức biểu hiện bên
ngoài một phần việc thực tập thiền định của bạn. Hình
thức lễ lạy phải làm một cách đứng đắn. Đầu phải
để sát xuống sàn, cùi chõ phải để gần đầu gối và
hai đầu gối phải cách nhau một gang tay. Lạy chậm chậm
và chánh niệm trên thân thể bạn. Đó là cách chữa
bệnh kiêu ngạo, ngã mạn. Chúng ta phải lễ lạy thường
xuyên. Khi lạy ba lạy, bạn có thể giữ trong mình ba đặc
tính quí báu: Phật, Pháp, Tăng. Đó là đức tính của tâm
trong sạch sáng suốt và bình an. Lễ lạy là dùng hình thức
bên ngoài để tự huấn luyện mình, làm cho cơ thể và tâm
hồn trở nên điều hòa.
Đừng
để rơi vào khuyết điểm là nhìn xem những người khác lễ
lạy như thế nào. Những chú tiểu mới tu có vẻ khờ khạo,
buồn ngủ hay những vị sư già có vẻ thiếu chánh niệm không
phải là đối tượng để cho bạn phán đoán. Mỗi người
có những đặc tính riêng, bởi vậy khó có một phương pháp
huấn luyện tổng quát. Một vài người học hiểu rất nhanh;
một số khác lại có vẻ chậm chạp khi thực hành hay tiếp
thu những điều dạy dỗ. Phán đoán kẻ khác chỉ làm gia
tăng tính tự kiêu, ngã mạn của bạn. Thay vì phán đoán kẻ
khác, hãy xem xét chính mình. Lễ lạy thường xuyên sẽ giúp
bạn dần dần loại bỏ được những tính xấu ấy.
Những
vị nào đã hài hoà với giáo pháp sẽ vượt qua những hình
thức bên ngoài. Mỗi việc họ làm đều là một hình thức
lễ lạy. Khi ăn họ nghiêm trang như đang lạy; khi đi, đứng,
nói năng, họ cũng nghiêm trang như đang lễ lạy; đối xử
với mọi người họ cũng nghiêm trang như đang lễ lạy. Tại
sao họ có tư thái như thế? Bởi vì họ đã vượt ra ngoài
sự ích kỷ.
Hỏi:
Đối với những học trò mới, Ngài gặp phải vấn đề gì
khó khăn nhất?
Đáp:
Đối với những thiền sinh mới, vấn đề khó khăn nhất
và cũng là một trở ngại lớn lao ảnh hưởng đến viện
hành thiền của họ, là quan điểm và ý kiến riêng của họ
về mọi vấn đề: quan điểm ngay chính họ, quan điểm về
sự thực hành, quan điểm về những lời dạy của Đức Phật.
Tri kiến của họ là những vấn đề, những trở ngại
lớn lao!
Phần
lớn những người học thiền ở đây là người có địa
vị cao trong xã hội. Họ là những nhà buôn giàu có, những
người tốt nghiệp đại học, giáo sư, sĩ quan. Khối óc của
họ chứa đầy quan niệm. Họ biết đủ thứ; họ quá giỏi
giang nên không cần đến người khác. Chẳng khác nào một
cái chén đựng đầy nước dơ nếu đổ thêm nước vào thì
chẳng dùng được gì cả. Phải đổ nước cũ đi, chùi sạch
cái chén thì mới có thể sử dụng được.
Bởi
thế thiền sinh phải để cho đầu óc mình trống rỗng; bỏ
hết mọi quan niệm, ý kiến, sự hiểu biết của mình, lúc
bấy giờ họ mới có thể thấy được chân lý. Việc thực
hành của chúng ta vượt ra ngoài sự thông minh và sự ngu dốt.
Nếu bạn tự nghĩ rằng, "Ta thông minh, ta lanh lợi, ta giàu
có, ta là nhân vật quan trọng, ta hiểu biết rõ giáo pháp
của Đức Phật," bạn đã làm lu mờ chân lý Vô Ngã. Đâu
đâu bạn cũng nhìn thấy Tôi và Của Tôi mà thôi. Như vậy
là bạn đã đi ra ngoài giáo pháp của Đức Phật, vì Phật
Giáo loại bỏ tự ngã.
Hỏi:
Những phiền não như tham lam, sân hận là ảo tưởng hay có
thật?
Đáp:
Tham lam, sân hận vừa có thật vừa là ảo tưởng. Những
phiền não mà ta thường gọi là tham ái, tham dục, tham lam
hay sân hận, si mê, v. v., chỉ là những cái tên bên ngoài.
Giống như trường hợp ta gọi cái chén này đẹp, xấu; cái
chén kia to, nhỏ, v. v., đó là không phải sự thật. Những
cái tên được gọi một cách qui ước như vậy phát khởi
từ sự tham ái của chúng ta. Nếu ta muốn một cái chén lớn
hơn, ta gọi cái chén ta đang có là cái chén nhỏ. Lòng tham
ái khiến chúng ta có sự phân biệt. Thật ra, chân lý không
có tên gọi. Nó thế nào thì để nó thế ấy.
Hãy
nhìn sự vật theo đúng thực tướng của chúng, đừng định
danh theo quan niệm thiên lệch của mình. Bạn là đàn ông phải
không? Bạn có thể trả lời, "Phải." Đó chẳng qua là sự
biểu hiện bên ngoài của sự vật. Thật ra, bạn chỉ là
sự kết hợp của nhiều yếu tố, là một tổng hợp của
các uẩn biến đổi không ngừng. Khi bạn có một tâm hồn
tự do, cởi mở, bạn không còn có sự phân biệt nữa. Chẳng
có lớn hay nhỏ; chẳng có tôi và anh. Chẳng có gì cả. Vô
ngã hay không có một linh hồn vĩnh cửu. Thật ra cuối cùng
thì chẳng có ngã hay vô ngã gì cả. Đó chỉ là những danh
từ qui ước.
Hỏi:
Xin thầy giải thích thêm về nghiệp báo.
Đáp:
Nghiệp là tác động. Nghiệp là sự dính mắc. Cơ thể chúng
ta, lời nói chúng ta và tâm chúng ta đều tạo ra nghiệp khi
chúng ta dính mắc. Chúng ta tạo thói quen. Những thói quen này
sẽ khiến chúng ta khổ trong tương lai. Đó là kết quả của
sự dính mắc của chúng ta, đồng thời cũng là kết quả
của những phiền não trong quá khứ. Mọi tham ái đều dẫn
đến nghiệp.
Giả
sử trước khi trở thành một nhà sư, bạn là một tên trộm.
Bạn ăn cắp, bạn làm cho người khác đau khổ, làm cho cha
mẹ buồn lòng. Bây giờ bạn đã là một nhà sư, nhưng mỗi
khi nhớ đến những việc sai quấy bạn đã làm trước đây,
bạn không khỏi đau buồn, ân hận. Hãy nhớ rằng không phải
chỉ do thân thể mà cả ngôn ngữ và tâm hồn cũng tạo điều
kiện cho những gì sẽ xảy ra trong tương lai. Trong quá khứ
nếu bạn làm điều gì tốt đẹp, bây giờ chỉ nhớ lại
thôi, bạn cũng sẽ lấy làm sung sướng hãnh diện. Trạng
thái sung sướng, hãnh diện hôm nay là kết quả của những
gì bạn đã làm trong quá khứ. Nói cách khác, những gì bạn
nhận hôm nay là kết quả của nghiệp trong quá khứ.
Tất
cả mọi sự đều được điều kiện hóa bởi nguyên nhân,
dầu đó là nguyên nhân đã có từ lâu hay trong khoảnh khắc
hiện tại. Nhưng bạn cũng chẳng cần phải bă