-
Chương
IX-2
-
Sơ
Thám về Huệ Lâm và
-
Quán
Thiện Luận
Về Quân thiện luận
Phản ứng trí thức
đương thời về Quân thiện luận
Những vấn đề tranh
cãi
Về
Quân Thiện Luận [^]
Cuộc đời và tâm trạng Huệ Lâm
chứa đựng khá nhiều bi đát và ẩn ức, như chính Lâm thú
nhận trên. Một trong những bi đát và ẩn ức đấy là việc
Lâm viết Quân thiện luận, chủ đề bàn cãi của những danh
sĩ thời ông cũng như cội nguồn cho những than trách về sau
của những sử gia Phật giáo. Ta đã thấy nó tạo nên những
phản ứng gì. Ngay cả một người như Đạo Tuyên cũng đã
không ngần ngại xếp Lâm vào cùng hạng với Phó Địch trong
Quảng Hoằng minh tập quyển 7 tờ 132b29-c4 và tước cái họ
Thích của Lâm để thế bằng cái họ thường của Lâm và
Lưu. Tuyên viết: "Lưu Huệ Lâm người Tần quận, xuất gia
ở chùa Trị Thành tại Dương Đô, có học thức tài ba, là
chỗ quen biết của Lỗ Lăng vương nhà Tống; ông viết Quân
thiện luận, sự bàn luận của nó khá rõ hết, sau sẽ chép
đủ lại ở thiên Pháp nghĩa, đại ý nói: "Chỉ biết lục
độ với ngũ giáo cùng hành, tín thuận và từ bi đều đứng,
thù đồ đồng qui, nên không được chấp lấy sự phát tích
khác nhau của chúng". Thiên Pháp nghĩa của Quảng hoằng minh
tập ngày nay không có chứa bản Quân thiện luận của Lâm.
Nó có lẽ đã bị những người như Hoài Tín trừ khử loại
bỏ vào những thế kỷ sau.
Mặc dù tước họ Thích của Lâm
và xếp Lâm vào hàng Phó Dịch, Tuyên tỏ ra khá tiến bộ,
khi ông chép lại bản Quân thiện luận, nếu so với sự im
lặng của Tăng Hựu, tuy Hựu đã dành hầu như hoàn toàn 3
quyển Hoằng minh tập về nó. Như chính Tuyên thừa nhận,
"cuốn luận của Lâm thật khó rõ hết" - kỳ luận nan cùng
thông - (cần nói là câu vừa dẫn cùng có thể cắt nghĩa
như "cuốn luận ông tra hỏi về vấn đề cùng thông", nhưng
có lẽ hơi quá xa vời). Quả vậy, cứ trên lập trường của
một Phật giáo tổng quát định nghĩa theo lối giáo phán của
Trí Khải hay Pháp Tạng, mà vào thời Tuyên đã tỏ ra được
chấp nhận một cách khá rộng rãi, người ta có thể hiểu,
tại sao Lâm phải viết Quân thiện luận, đặc biệt là khi
kết luận vẫn là một lời tán dương Phật giáo và ông vẫn
tiếp tục đời sống một nhà sư. Cố nhiên, Lâm phê bình
và vạch trần những thứ ăn nói và lý thuyết, mà người
ngày nay thường không tin tưởng hay cho là "dị đoan"L. Nhưng
sao ông phải dùng những lời khá nặng nề trong Quân thiện
luận? Đấy là khía cạnh bi đát và ẩn ức của tâm trạng
Lâm.
Ngay khi Quân thiện luận ra đời,
nó tức khắc trở thành chủ đề bàn cãi không những của
tập thể, tăng lữ Phật giáo, mà kết cục là quyết nghị
tẩn xuất Lâm, trái lại còn của những trí thức đương
thời, như đã thấy. Giữa những bàn cãi này quan trọng nhất
dĩ nhiên là những trao đổi giữa Hà Thừa Thiên và Tôn Bính.
Khoảng năm 433 Thiên gởi Quân thiện luận cho Bính nhằm có
"nhai ngộ". Bính viết trả lời, mặc dù khen nó "từ thanh
trí mỹ" - lời lẽ trong sáng, mục đích đẹp đẽ - và bảo
mình chưa rõ hoan toàn lý chỉ của nó, đã phân tích một
cách khá chi ly nội dung của nó. Có thể nói, lá thư Bính
viết cho Thiên đã thành công một phần nào trong việc soi
sáng nội dung Quân thiện luận của Lâm, dẫu về khía cạnh
phê bình, nói hình như không thành công cho lắm. Sự không
thành công này, chúng ta có thể thấy một cách dễ dàng trong
lá thư phúc đáp của Thiên.
Những lá thư tiếp theo, tuy lôi
cuốn tới một mức nào đó và có thể đọc một cách lợi
ích, tỏ ra không lôi cuốn bằng hai lá thư vừa kể. Bính
phê bình Lâm những điểm sau: 1) Vấn đề u minh không liên
lạc với đời này; 2) Vấn đề nói suông về không hữu;
3) Vấn đề ói vô thường để dụ dỗ sự khát khao của
người ta, chứ không có chi sâu sắc; 4) Vấn đề nói về
chuyện "vô lượng thọ" và thần quang linh biến; 5) Vấn đề
mâu thuẫn giữa lý thuyết "vô dục" và việc đem những thứ
tân kỳ như niết bàn pháp thân để tăng trưởng lòng dục
của Phật giáo; 6) Vấn đề làm chùa cho đẹp, đúc tượng
cho khéo, để tăng trưởng lòng cạnh tranh bè lũ. 7) Vấn đề
nên bỏ đi những chuyện "hiển hối" và "lai sanh".
Phân tích thành y vấn đề thế
này Bính tỏ ra hiểu Quân thiện luận một cách khá vững
vàng. Điểm đáng tiếc là, những trả lời các ông, có lẽ
trừ vấn đề thứ 6, phần nhiều không thành công cho lắm,
như phúc thư của Hà Thừa Thiên sẵn sàng vạch ra. Chẳng
hạn, để trả lời những phê bình của Lâm trong vấn đề
thứ 4, Bính vạch ra là, những thứ ăn nói như "có đức Phật
sống lâu vô lượng" hay "có ánh sáng thần" để được thấy,
người ta phải có lòng thành thì mới cảm và thấy được.
Chứ những kẻ "rơi vào lòng tà kiến, lại ngạo mạn khinh
thường" như Lâm thì bao giờ có thể thấy. Thiên vạch ra
một cách chí lý là, "giáo pháp của Thích Ca là một thứ
quyền giáo, khảo cứu giúp mọi vật. Nếu quả có sự ứng
nghiệm thì sao lại không hiện ra sự linh hiển, để làm rõ
cho bọn tà kiến? Sao lại chỉ ưa ăn nói tới hằng trăm vạn
lời mà lại tiếc một chút ánh sáng thần?".
Vạch ra vấn đề thứ 4 là cho thấy,
Quân thiện luận đã có những tiếng vang trung thành nào trong
sáu lá thư viết tại nước ta giữa Lý Miễu, Đạo Cao và
Pháp Minh. Lá thứ thứ 3, Miễu nói sao Phật "lại tiếc chút
ánh sáng thần". Lá thư thứ 4, Đạo Cao trả lời với quan
niệm "cảm ứng": "Có lòng thành thì có cảm, có cảm thì
có ứng, có ứng thì có thấy, không có cảm thì không có
ứng không có ứng thì không thấy, kẻ có thấy đem nói với
kẻ không thấy, kẻ không thấy cuối cùng cũng không tin".
Không những vì những lôi cuốn
lịch sử này, mà Quân thiện luận nắm vững sự chú ý và
nghiên cứu của chúng ta, dẫu nó phải kể là mục đích chính
yếu và tiên yếu, Quân thiện luận, như bản liệt kê 7 vấn
đề trên cho thấy, còn nêu lên thực sự những câu hỏi khá
sâu sắc về Phật giáo, với tất cả tính hiện đại của
chúng. Vấn đề mâu thuẫn giữa "vô dục" và "hữu dục" chẳng
hạn. Nó cho tới ngày nay vẫn được một số người lập
lại với cái tin tưởng ngây thơ, họ là những kẻ đầu
tiên biết nói về Phật giáo "một cách triết học", "một
cách biện chứng", Quân thiện luận do thế đáng nên công
bố cho mọi người tìm hiểu. Cứ bản chép duy nhất của
nó hiện nay là Tống thư quyển 97 tờ 6b11-8b10, mà sau đó
Nghiêm khả Quân (1762-1843) đã cho trích lại trong Toàn Tống
văn quyển 63 tờ 5b6-8a3, tham khảo thêm những trích dẫn đoạn
phiến của Tôn Bính trong lá thư của ông, thì Ông thiện luận
đọc thế này:
"Có Bạch học tiên sinh cho thánh
nhân Trung Quốc kinh luân bách thế, đức họ rộng rãi, trí
họ bao trùm vạn biển, lẽ trời người họ đều rõ hết,
đạo họ không có ẩn chỉ, lời dạy họ chẳng có thiếu
sót, họ thông minh đới triết, thì cần gì phải nhờ đến
những học thuyết khác. Có Hắc đạo học sĩ khinh chê họ,
nó họ không rõ con đường u minh, chẳng đề cập tới những
biến hóa của đời sau, tuy ưa thích sự hư tâm, nhưng chưa
chắc đã có thể hư sự, không bằng sự thâm thúy của học
thuyết Tây vức. Do thế, Bạch học hỏi lý do tại sao mà
không bằng lòng.
- Bạch hỏi: Họ Thích bàn không,
cùng với họ Lão nói không, chúng giống hay khác?
Hắc trả lời: - Khác. Họ Thích
cho vật là không, không và vật là một. Hữu và vô của họ
Lão đối với nhau, không và hữu là khác. Thì đâu có giống
nhau được?
- Bạch: Họ Thích không vật, vật
phải tin không sao?
- Hắc: Phải. Không lại không, nhưng
không mắc vào không vậy.
- Bạch: Ba nghi dài thiêng trong vũ
trụ, muôn vật sống đầy cả trời đất, thì cái gì không
ư
- Hắc: Ấy là không có cái tự
tính của chúng, mà không hại gì hết cái hình thể nhờ mượn
nhân duyên của chúng. Chẳng hạn góp săng gỗ làm thành một
cái nhà lớn, thì săng gỗ ấy thật không có cái tự tính
làm chỗ ngủ ngáy. Hay chứa nhóm từng phân tử một để
thành một cây đàn, thì phân tử ấy thực không có thể chất
cây đàn. Mọi sự sống đều không khoảng khắc dừng lại.
Núi Thái chẳng kiên cố trong một hơi thở. Chúng đều sinh
diệt vô thường, chỉ nhờ nhân duyên, mà không có chủ. Sự
không của chúng thuộc về tính lý. Còn chỗ hỏi của ngài
là cứ vào sự ứng dụng. Tôi cho thế là sai lầm vậy.
- Bạch: Cái không thật tướng của
Ngài là như thế đó ư?
- Hắc: Phải.
- Bạch: Nó là những lý lẽ phù
biến rộn rịp ở trước mắt, ai thấy nghe cũng đều biết
hết. Hiểu nó để mà lên đạo tràng, trọng nó để mà khinh
rẽ những học thuyết khác, chứ thực sự tôi chưa thấy
nó có một sâu sắc gì.
- Hắc: lẽ nó thì hình như có vẻ
gần gũi, nhưng suy ra thì thực là cao siêu. Thật vậy, cái
mà tình cảm coi trọng, tất phải giả dối.Cái mà việc làm
có thể coi trọng, thì tất phải chân thật. Nay, bỏ những
thứ chân thật này, rời khỏi những thứ giả dối ấy, thì
sự sai lầm của ái dục tất phải trừ khử. Khi ái dục
đã trừ khử, mà không lên đạo tràng, thì tôi không biết
lấy gì để làm cho ngài hiểu.
- Bạch: Nay, phân tích một cây ra
thành những phân tử để làm cho nó không, thứ việc ấy
không làm tổn thương một chút nào hết sự tốt đẹp của
sự nó cho bóng mát. Nay, tách rời săng gỗ trên để làm cho
cái nhà trở thành hư vô, thì việc ấy cũng không hao tổn
một tý gì sự đẹp đẽ lộng lẫy của cái nhà. Nói rõ
sự vô thường do thế là nhằm tăng thêm cái lòng mong được
nghỉ ngơi. Vạch ra sự không giả, do thế, là nhằm thúc đẩy
cái trí nghĩ cạnh tranh với phút giây. Chúng thật giống như
đan gấm để làm cho tấm thảm xấu trở thành đẹp, đem
muối tiêu để gia vị một bát canh dở dang như Tể hầu mơ
theo sự sung sướng của họ Sảng Cưu, Yên vương không có
được cái thuật sống lâu. Những lời lẽ hòa hiệp, những
lời dạy sâu xa chính đủ để tăng thêm cái lòng muốn sự
xa hoa đẹp đẽ chứ không phải là để lật đổ cái cảm
thức ưa cạnh tranh.
- Hắc: Đây chính là những lý lẽ,
mà sách vở Trung Quốc không có và chính đấy là sự không
bằng Tây vức của chúng.
- Bạch: Những lời về "núi cao
nhờ thấp" những ca hát về "cây sông chứa nhỏ", những ăn
nói về "thuyền hang lửa truyền" những bàn cãi về "cứng
tráng chợ búa", chúng đầy dẫy ở Trung Quốc, nhưng vì lẽ
chúng không sâu, nên không nêu ra để làm cơ sở cho lời dạy
vậy. Ngài vẫn cho bỏ lụy hư tâm làm đạo, nhưng cứ vào
việc chia chẻ ở trên thì nó lại không cao xa chi hết, nó
nằm trong khoảng giữa những ngón đốt bàn tay.
- Hắc: Lời dạy của Chu Khổng
chính đề cập tới một đời thôi, mà không thấy gì hết
những mối giường vô cùng của những đời sắp tới. Chứa
lành thì chẳng qua sự sung sướng của con cháu. Nhóm dữ thì
chẳng qua hình phạt của dư ương. Sự hiệu quả của báo
ứng thì quá lắm thì đến sự cùng bàn bần tiện. Những
gì ở ngoài tai nghe mắt thấy thì họ hoàn toàn mịt mờ không
biết. Thật là đáng thương thay: Đức Thích Ca làm rõ hết
những nghiệp báo vô cùng, vạch lên hết những hiểm nguy
của mấy ải, nên chỉ nắn ra một chút nghĩ suy thì vũ trụ
không đủ để mà chứa ánh sáng, bày ra một tý cứu giúp
vì lòng thương thì quần sanh không đủ để hơn được sự
giáo hóa. Tả ra địa ngục thì dân sợ làm điều ác. Nói
lên thiên đường thì muốn vui làm việc phước, chỉ tới
nê hoàn để làm nơi về trường viễn, nương vào pháp thân
để có thể nhìn xa. Thần biến khôn đâu là không khắp,
ơn linh không gì là không thấm, người hiểu trước lừng
lựng ở thượng thế, người ngộ sau nhảy nhót tập hay mà
không bị kết nối. Kẻ ngồi đáy giếng thì lấy gì mà biết
được cái nhà to vuông rộng ư?
- Bạch: Cho nên có thể ăn lớn
nói láo! Nay, học đòi theo ánh thần mà không có một tấc
sáng, nghiệm lấy linh biến mà chẳng có một tí lạ. Kẻ
cần thành không thấy được mặt người hiền cứu, người
dốc học chẳng tìm được sự thật của chuyện lăng hư.
Rêu rao về sự sống lâu không lường, nhưng ai thấy được
một ông già trăm tuổi? Thiết tha về sự cứng rắn của
kim cương, nhưng ai ngó được một vật không thúi mục? Nếu
với sự thật, chúng không phù hiệp, thì nên đi tìm cái yếu
chỉ lập ngôn của chúng và vạch cái lý thuyết chúng gởi
gấm. Song, nếu muốn thiên đường mà bó thân không làm ác
thì ai đã theo lẽ để làm ngay thẳng lòng mình? Lạy lục
để cầu miễn tội thì đâu có phải là do lòng cung kính?
Cho một để mong trăm hơn thì đâu phải nương vào lòng không
bỏn sẻn? Nói hay về sự sung sướng cuả nê hoàn để làm
sinh ý đam dật. Ca ngợi vẻ mỹ miều cuả pháp thân để
dấy lên lòng hiếu kỳ. Lòng dục gần chưa cắt thì mối
lợi xa đã dấy. Tuy nói bồ tát vô dục, nhưng quần sanh vẫn
có dục. Bọn rộng ngăn luôn che do thế mở cửa ra cho cái
tục giành lợi. Làm trong tâm hồn để trở về với đạo
như thế, há lại có thể được chăng?
- Hắc: Những gì ngài nói là không
phải. Nếu không đem đời sau ra bày để gọi lòng dục, thì
lấy gì mà đổi thay được cái tình trạng vướng mắc của
đời nay? Lòng người không thể mau đổi. Cho nên phải chữa
dần để mà dụ dỗ, giành lấy phút giây này để mà nắm
được cái vô cùng kia. Nếu không đem việc xuân gieo thu gặt
để mà thúc đẩy thì lúc nào làm cho người ta hết khoanh
tay ngồi dưới đáy giếng, để mà dứt hết ý mong, rồi
lâu chìm vào cửu tuyền?.
- Bạch: Lạ thay! Sao trái với nhiệm
vụ của mình vậy! Đạo mình ở tại vô dục, lại lấy sự
hữu dục để mong đạt. Đi lên miền bắc, để tìm thành
Dĩnh, hướng về ngã tây, để tìm phương Việt! Thì người
ta sẽ luôn lạc u đồ, mãi sai rớt vào hang tối, xa xuôi Mân
Sở thì sao mà có thể đến được? Cái gọi là chứa dần,
ấy phải là ngày giảm bớt, nghĩa là trước bỏ những gì
nhẹ, rồi sau quân dần những gì nặng, khiến cho lợi dục
càng ngày càng khử trừ và sự trong trắng đó sinh ra vậy.
Há có thể lấy ít đòi nhiều, đem thô đổi mịn? Ở trong
vùng luồn cúi này hễ chẳng phải lợi thì không ai động.
Khi đã bị lợi động thời nó đâu có chỗ chấm dứt? Nên
mới có việc đen đỏ xanh để làm mờ mắt kẻ khoái đẹp,
lấy đất gỗ để khoe lòng ưa lơón, dấy lên cái đạo phung
phí, vét sạch của cả nước để dựng nên những việc vô
ích, nạo hết đồ cần dùng của quần sanh, để đem thỏa
những kế hoạch doanh tạo, biến chúng thành những quyền
lợi riêng tư, chăm vào công tác quyền hóa, để kết thế
bè đảng, chịu khổ tiết để mong lấy lời khen gắng giải,
hộ pháp mở rộng lòng lăng cạnh. Thật đáng thương thay!
Đạo há lại nằm trong chúng sao? Cho nên, Chu Khổng đôn tục
thì không thèm quan tâm đến những chuyện ngoài nghe thấy,
Lão Trang luyện phong thì chỉ giữ tính phận mà thôi.
- Hắc: Tam du dựa trên nhân nghĩa
trộm Chích nhờ đến năm thiện, thì cái tệ của dấu thánh
há lại có trong ngoài? Hơn nữa, những tên Hoàng Lão đầy
những phù chương giả, những thủy chúc láo, không thể bàn
cãi hết. Ngài thấy yên ổn với bên đó, mà lại kinh hãi
bên này, vùng vẫy trong nước đục mà quay lưng lại với
hồ nước trong sao?
- Bạch: Có dấu thì không thể không
bị che lấp, có thuật tì không thể không bị giả dối, chứng
quả là gông cùm của thánh nhân vậy. Điều đáng tiếc ngày
nay là người dùng tham lam để truyền giáo, đến nỗi biến
nó thành một thứ phong tục. Đã không chịu chỉnh phong những
tệ hại đó, người ta lại cho đời mạt, do thế không cần
phải bàn luận thêm.
- Hắc: Thế thì, giáo lý họ Thích
chỉ nhằm cứu phong tục mọi rợ mà thôi và không dùng gì
được tại đất Trung Hoa sao?
- Bạch: cố nhiên là không phải
thế! Hễ mở giềng thì người ta phải nhớ mối! Yêu vật,
bỏ giết, chuộng thì khắp người, dứt lòng bỏ nguyện vinh
hoa, niệm cứu giúp khắp hết của bậc đạo sĩ, ấy là mặc
nhiên đồng nhất với nhân nghĩa, thì có gì mà không chuộng
trọng. Điều đáng tiếc là, vì u chỉ không sáng nên làm
lụy kẻ mạt lưu.
- Hắc: Kết luận của ngài như
vậy khá khéo đồng nhất với kết luận cuả tôi. Thế thì
mọi việc chấm dứt ở cuộc sống này sao?
- Bạch: Lẽ u minh thực ra không
liên quan với nhân sự. Chu Khổng nghi mà không giải thích.
Thích Ca giải thích mà không phải thực sự. Do thế, nên bỏ
đi dấu vết mập mờ và giữ lại cái tôn chỉ cốt yếu.
Xin nói rõ thêm điều này. Rằng, để dắt dẫn mọi người,
ta phải dùng nhân nghĩa để làm cho họ chịu lẽ mà theo sự
giáo hóa; để lãnh đạo mọi người, ta phải dùng khuyên
răn để làm cho ọ tránh lợi mà nghiêng về thiện. Cho nên,
lời ngọt chỉ dấy lên khi còn hữu dục, mà tức khắc lặn
đi khi đã hiểu lẽ, lý thuyết đạm bạc lưu hành khi có
thiên giải, nhưng tàn lụi ở trong tham lụy. Do thế, kẻ bày
ra chuyện lai sanh, ấy là che lấp làm sứt mẻ đạo vậy.
Thích giáo bất đắc dĩ bày ra chuyện u ám, ấy là mặc nhiên
phu hiệp với sự việc im lặng của Cơ Khổng. Cứ đó mà
xét thì kẻ bàn về nó chưa chắc là cao siêu, kẻ biết chưa
chắc là đúng, kẻ không biết chưa chắc là sai.Chỉ biết
rằng, lục độ với ngũ giáo cùng hành, tín thuận và từ
bi đều lập. Chứng thù đồ mà đồng qui. Cho nên, không được
giữ chặt lấy vết phát tích khác nhau cuả chúng".
Đó là Quân thiện luận. Đọc nó,
ta có thể thấy, tại sao "cựu tăng vị kỳ biếm truất Thích
thị" và "muốn gia tẩn xích". Đồng thời, chúng ta cũng có
thể thấy, tại sao Lâm đã viết ra nó, mặc dù ông có lẽ
ý thức một phần nào những phản ứng bất lợi nó sẽ gây
ra cho chính ông. Diễn trình để Lâm đạt tới những kết
luận phát biểu trong đó có thể nói bắt nguồn tối thiểu
nhiều năm, trước khi Quân thiện luận ra đời. Trong bức
thư gởi vấn nạn Tạ Linh Vận về Biện tôn luận, Lâm lúc
đó đã nêu lên cái nghịch lý giữa hữu dục và vô dục.
Toàn lá thư đọc thế này: "Thích Huệ Lâm hỏi: "Bàn kỹ
ba lần, biện cãi hai nhà, đắn đo Nho Thích, thì quả được
ghi nhớ trong cuốn luận. Đến việc bỏ thuyết tiệm ngộ
của họ Thích và bỏ thuyết đãi già của ông Khổng, tôi
trộm nghĩ là một sai lầm. Họ Thích nói, có tiệm ngộ, ấy
là đúng về phía hữu hình mà nói là có tiệm ngộ; ông Khổng
cho không có tiệm ngộ, ấy là đứng về phía đạo mà nói
là không có tiệm ngộ. Làm sao biết như vậy? Họ Khổng dạy
rằng, kẻ ở giữa có thể nói với người trên, tập lâu
thì có thể đổi tánh. Đấng Thích nêu rằng, hiệp nhất
ở đạo tràng, thì chẳng phải bước qua mười địa. Như
vậy, Luận văn về tiệm tuyết, hai bậc thánh đã nói rõ
rồi. Há chỉ bó chặt vào lời dạy, vào lý lẽ mà đem lời
biện minh bắt bẻ dài dòng trong cuốn luận mới này ư?
Đạo nhân pháp Úc đã hỏi: "Tuyệt
dục ấy là do hiếu lý, thế cũng có nghĩa, người ta ngày
phải giảm bớt dục đi, để lấy lý mà được giác ngộ.
Cuốn luận trả lời: "Đạo trái với đời, vốn không quan
hệ, cho nên phải nhờ quyền biến, làm cho chúng thông nhau
để giúp người trở về gốc. Xin hỏi, mượn quyền biến
để luyện tâm thì cuối cùng không phải là một mối lo sao?
Đến ngày hiểu ngộ, há chẳng trái với lẽ không của kinh
sao? Nếu mãi quay lưng bàn suông thì thành ra chưa nói gì hết.
Nếu đầu cuối hổ trợ nhau thì có thể tu tập theo giáo
pháp để đạt đích.
Trong lời đáp cho câu hỏi về giá
trị cuả Tăng Duy và Huệ Lâm, lời văn nó quả rất đẹp
đẽ, nhưng lập luận thì có chỗ sai trái. Có giả vì theo
đuổi mê lầm, chôn vùi đạo lý, nên không lấy lửa bén
để diệt sai lầm. Hễ hướng về miền nam thì có thể đến
đất Việt, quay lưng phương bắc thì có thể bỏ được nước
Yên, ấy vì người ta tin nước Yên tại miền Bắc mà đất
Việt ở phương Nam vậy. Cũng thế, hễ nghĩ về không thì
có thể sạch lòng, giảm hữu thì có thể bỏ hết phiền
lụy. Nên cũng có người ngu mà làm thánh không. Như thế,
người ta chỉ cần siêng năng phát triển trí tuệ, để ngày
quên dần, ngó lấy đường Dĩnh, để làm tiến bước, thì
còn lo gì về việc chẳng đến nơi? Sợ rằng, nêu lên việc
nhất ngộ, thì càng mắc phải vấn đề nam bắc trong thí
dụ vừa kể".
Lá thư này, như đã nói, viết vào
khoảng những năm 423-424, sau cái chết của Nghĩa Chân và Lâm
ra ở với Pháp Cương tại núi Hổ Khưu. Đọc nó, ta thấy
ngay những vấn đề nó nêu lên và vài năm sau hiện hình một
cách đầy đủ trong Quân thiện luận. Pháp Úc đề ra vấn
đề tuyệt dục. Huệ Lâm biến nó thành một mâu thuẫn giữa
hữu dục với vô dục trong việc truy cầu vô dục và đặt
vào trong khung cảnh cuả một phê phán toàn diện về lý thuyết
Phật giáo theo quan niệm của những người Phật giáo thời
ông. Cứ vào bảy vấn đề do Tôn Bính liệt ra và cứ vào
sự so sánh chúng với nội dung của bản dịch Quân thiện
luận trên, nó trở thành rõ ràng là, từ vấn đề tuyệt
dục, Lâm khám phá ra sự mâu thuẫn của một số quan niệm
khác như "vô thường", "khổ đau", "báo ứng" và nhất là quan
niệm "không", mà từ thời Chi Lâu Ca Sấm trở đi đã thành
một chủ đề bàn cãi khá sôi nổi cuả tập thể giáo học
Phật giáo Trung Quốc với kết quả sự ra đời của sáu bảy
trường phái nói trên.
Tất cả những quan niệm vừa kể,
Lâm cho chúng không những là không có gì sâu sắc, ngược
lại còn coi chúng như những quan niệm nguy hiểm và đôi khi
không thực. "Nói rõ vô thường để làm tăng cường cái lòng
mong được nghỉ ngơi; vạch lên sự khổ giả là để thúc
đẩy cái trí cạnh tranh giây phút...; nói hay về sự sung sướng
của nê hoàn, để làm sinh cái lòng mê khoẻ; ca ngợi vẻ
mỹ miều của pháp thân, để dấy lên ý hiếu kỳ...; lẽ
u minh thực không liên quan với nhân sự, Chu Khổng nghi mà
không giải thích, Thích Ca giải thích mà không thực...". Viết
những dòng loại này, tất Lâm không thể nào không gây ra
những phản ứng quá khích từ những người, mà Pật giáo
đối với họ phải gồm những quan niệm Lâm cho là sai lầm
và nguy hiểm, dẫn tới việc họ lên án và đòi lột áo Lâm.
Ngay cả vào thời đại này, khi đọc những câu ấy, một
số người Phật giáo hiện nay rất có thể kết án Lâm theo
cùng một cách.
Tuy nhiên, sau lúc viết chúng và
bị ngay cả những Phật tử tại gia như Hà Thượng Chi coi
như "giả mặc áo thầy tu mà tự phá hủy đạo mình", Lâm
vẫn không bao giờ cởi áo, vẫn tiếp tục sống với những
đồng đạo cùng số phận như Trúc Đạo Sanh. Sanh chế một
hai năm sau khi Quân thiện luận ra đời. Lâm đã khóc, và nói:
"Sự đau xót ấy không cạn..., sự tiếc ấy là sầu". Rồi
cách một tháng, người bạn tâm sự của Lâm là Pháp Cương
theo gót. Lần này Lâm không cầm được nước mắt được
nữa, không còn giữ kín tâm sự lòng mình nữa. Lâm nói ra
hết, khóc ra hết trong bài truy điệu, mà chúng ta đã có dịp
gặp trên. Cho tới khi bị đuổi ra nước ta, để cuối cùng
chết trong một tình trạng mù lòa, Lâm vẫn tiếp tục cuộc
đời tu hành của mình.
Viết ra Quân thiện luận, Lâm do
thế không phải nhằm đến việc phê phán Phật giáo như chính
nó, nếu Phật giáo quả có một thứ Phật giáo như chính
nó, bởi vì với tài ba và khả năng của Lâm, nếu Lâm qủa
coi Phật giáo như "sai lầm" và "nguy hiểm" thì ông có đủ
cơ hội để chối bỏ nó và sống một cuộc đời trần tục
và quyền quí nhưo những người khác đồng thời. Nhưng Lâm
đã không làm. Việc phê phán của ông vì vậy phải nhắm
đến thứ Phật giáo. Do đó, khi Lâm viết: "Thích Ca giải
thích nhưng không thực", nó không có nghĩa, Lâm chỉ trích
lý thuyết Thích Ca, như ông quan niệm, mà như phần lớn người
đương thời giảng thuyết. Tình trạng này xảy ra, cố nhiên
vì những phân hóa tư tưởng Phật giáo đang xảy đến cho
Phật giáo Ấn Độ cũng như Trung Quốc cùng lúc.
Chúng ta nhớ rằng trong khi phần
lớn những nhà sư Kiến Nghiệp lên án thuyết xiển đà thành
Phật là một tà thuyết và lột áo tẩn xuất Đạo Sanh khỏi
tổ chức Tăng già cuả mình, để cho Sanh phải lưu lạc tới
Hổ Khưu, sống nhờ vào sự giúp đỡ của Pháp Cương và
sự can thiệp của Lâm, thì đồng thời cái mà Phật giáo
đương tại gọi là tà thuyết, đã được chứng minh chính
là do lý thuyết của Thích Ca. Từ kinh nghiệm đầy đau thương
này của Đạo Sanh, mà Lâm tham dự vào và đã khóc như "vật
sợ sáng lạ, người ghét cao trinh, giận nhóm đồng phục,
kết bè thích bẽ, chúng bèn dang cánh co chân, dẹp ảnh quăng
dấu người tới chốn ông Ngu; vết chân lên thuyền, có đi
không lại, mang bỏ núi sông, buồn khắp đô thị", chúng ta
có thể thấy, tại sao Lâm đã viết đầy những giọng đanh
thép và đầy những lời trịch thượng về thứ Phật giáo
của người thời ông.
Giáo lý đức Phật đối với ông
không phải là một thứ lý thuyết, để người ta dựa bậy
vào mà kết bè làm bậy. Nó không phải là thứ lý thuyết
đem ra để dọa mọi người với những thứ thiên đường
địa ngục với những thứ quả báo u minh. Nó cũng không phải
là một thứ lý thuyết về diệt dục hay không diệt dục.
Phật giáo với ông như vậy phải là một lý thuyết hướng
dẫn con người về điều thiện, là một lý thuyết đầy
cởi mở và tình thương, là một lý thuyết giúp đỡ con người
có một đời sống xã hội tràn đầy và thỏa mãn.
Có thể nói Huệ Lâm là nhà tư
tưởng Phật giáo Trung Quốc đầu tiên đặt Phật giáo trên
một quan niệm xã hội chính trị và muốn biến Phật giáo
thành một lý thuyết xã hội chính trị nhà nước. Chính chiều
hướng chính trị hóq Phật giáo này đã mở đầu cho lý thuyết
chính trị nhà nước Phật giáo của Vệ Nguyên Tung sau này,
mà cả những người chống Phật giáo như Đạo Tuyên đều
nhất loạt coi trọng. Dịch cho Tung là một trong 25 "cao thức"
của lịch sử Trung Quốc. Tuyên nói Tung là "hưng long chi nhân,
sùng kỉnh Phật pháp". Lý thuyết xã hội chính trị nhà nước
Phật giáo của Tung có thể tóm tắt thế này:
Thứ nhất, tiền đề gồm trong
khẳng định rằng, "tâm Phật lấy đại từ làm gốc", nên
"lợi dân ích quốc, tắc hội Phật tâm", chứ không cần phải
làm "khổ dịch lê dân, bắt họ phải cung đốn săng gỗ ngói
gạch" để làm chùa chiền. Tiếp đến, chính đề của nó
là "không chia rẽ tăng và tục, không phân biệt oán và thân,
lấy thành hoàng làm chùa tháp, coi Châu chúa là Như Lai, dùng
thành thị làng mạc làm tăng phòng, nhận chồng vợ hòa hợp
nhau làm thánh chúng, coi người đức cao làm tam cương, tôn
bậc già cả làm thượng tọa, chọn kẻ nhân trí sung vào
làm chấp sự, tìm người dũng cảm mưu lược làm pháp sư,
thực hành thập thiện để chiêu phục những nơi chưa yên,
đem trình bày thuyết vô tham để chấm dứt sự trộm cắp,
làm như thế thì cả nước không có tiếng than oán giận,
tám phương sẽ có lời hoan ca nhà Châu, chim cá sẽ an ổn
trong hang tổ của chúng, vật trên đất dưới nước sẽ nhờ
mãi mãi sinh sôi". Cuối cùng, kết đề là một điều trần
gồm 15 điều: "Khuyên thực hành bình đẳng thì chẳng diệt
hoại Phật pháp, còn khuyên thực hành bất bình đẳng thì
là diệt hoại Phật Pháp, khuyên thực hành đại thừa, khuyên
nhớ tới kẻ bần cùng; khuyên bỏ sự xan tham; khuyên người
tự phê phán; khuyên làm lợi ích quốc dân; khuyên dân thiểu
số hưởng mọi dân quyền, khuyên mọi người hòa hiệp; khuyên
lập chợ búa để làm lợi; khuyên thực hành kính dưỡng;
khuyên không đóng quân tại chùa; khuyên lập kho tàng để
cho bần cùng không bao giờ xảy ra; khuyên lập kho tàng dành
cho trẻ em; khuyên thầy tu dạy thầy tu; khuyên kính giữ giới
luật đại thừa đấy là nhữg sự điều, nếu phản lại
chúng thì diệt hoại Phật pháp; làm theo chúng thì phục hưng
đạo vậy".
Đọc qua tóm tắt đấy của lý
thuyết xã hội chính trị nhà nước của Vệ Nguyên Tung_1,
ta thấy ngay tại sao khi nhà Châu sụp đổ thì từ đống gạch
vụn sụp đổ đó nổi lên một khuôn mặt anh tài là Dương
Kiên, người mãnh liệt tin tưởng Phật pháp và thống nhất
toàn quốc Trung HOa sau đúng ba trăm năm chia cắt, mở đường
cho sự thành lập nhà Đường thịnh trị vĩ đại tiếp theo,
đặt cơ sở cho sự nghiệp hoằng pháp dịch thuật vĩ đại
của những vị như Huyền Tráng và tương tự. Chúng ta đồng
thời cũng có thể thấy, Tung đã chịu ảnh hưởng lý thuyết
xã hội chính trị cuả Huệ Lâm sâu sắc tới mức nào. Lâm
chống lại việc làm chùa dựng tháp đúc tượng nuôi tăng,
vì tất cả những việc này đều là đường lối cuả "đạo
phung phí", là "vét sạch của cả nước..., nạo hết thức
cần dùng của quần sanh". Lâm chống lại việc "chăm vào sự
quyền hóa..., chịu khổ tiết", vì chúng không có một ích
lợi gì. Như Thích Nguyên Tung, Huệ Lâm chắc cũng muốn đời
sống giới luật Phật giáo chỉ gồm có giới luật đại
thừa, mà Long Thọ đã định nghĩa như "thường giới", còn
những thứ khác như Tỷ-kheo giới v.v... đều nên hủy bỏ,
vì chúng hại đạo và vô ích. Trong khuôn khổ của một giới
luật như vậy, Duy Ma Cật mới có thể thuyết pháp, "chồng
vợ hòa thuận mới trở thành thánh chúng, người đức cao
mới làm tam cương, bạc già cả mới thành thượng tọa",
như Nguyên Tung mơ ước.
Lý thuyết xã hội chính trị của
Lâm từ đó khó mà có thể coi như không phải Phật giáo,
chứ khoan nói chi tới là "biếm truất" chỉ trích Phật giáo
kiểu những người Phật giáo thời ông, đặc biệt tập thể
tăng lữ tại Kiến nghiệp, đã lên án nhằm lột áo Lâm.
Chính trong một ước mơ đầy nhiệt thành về sự hiện thực
của một thế giới, trong đó bần cùng khổ đau, gian tham
trộm cướp không bao giờ xảy ra, làm Lâm đã viết Quân thiện
luận với tất cả giọng điệu nghiêm khắc thấy trên. Cũng
chính trong ước mơ ấy, mà Lâm đã khóc về số phận "lặn
chìm bùn cặn" của mình, khi viết truy điệu cho người bạn
chí thân Pháp Cương. Trong liên hệ này, cần vạch ra là, nếu
Lâm có một tâm hồn thực tế hầu như vũ bảo ấy, trong
cuộc đời cũng như văn luận, ấy là ông đã đến từ đất
Tần huyện. Tần quận tức thuộc địa phận phía nam tỉnh
Cam Túc ngày nay. Nói cách khác, ấy là vì Lâm đến từ miền
Bắc.
Vào giai đoạn nam bắc phân tranh
của lịch sử Trung Quốc, Phật giáo Trung Quốc có hai sự
tình phát triển khá khác nhau. Phật giáo miền Bắc và một
thứ Phật giáo hành động và niềm tin, trong khi Phật giáo
miền Nam là thứ Phật giáo lý luận và thi phú. Chẳng hạn,
trong những công trình đúc tượng tạo hình vĩ đại nhất
của lịch sử Phật giáo Trung Quốc, hầu như tất cả chúng
đã xảy ra duới triều Bắc Ngụy. Cùng một cách, nếu miền
Nam co1 những người phê bình Phật giáo như Phạm Trấn, thì
những phê bình ấy không gì hơn là những phê bình. Ngược
lại, chính tại miền Bắc, mà những cái nạn "tam võ nhất
tôn", trừ trường hợp Vũ Tôn của nhà Đường, đã xảy
ra. Phật giáo đối vói người miền Bắc phải là một cái
gì họ yêu hết lòng đến nỗi hầu như mù quáng. Họ hy sinh
tất cả cho những gì mình yêu. Như ca dao nói "yêu nhau lắm
thì cắn nhau đau". Cho nên, hễ Phật giáo là một thứ đối
tượng yêu tuyệt đối thì lâu lâu nói cũng là một đối
tượng ghét một cách đặc biệt. Chùa chiền hoàn toàn phá
hủy, tăng ni hoàn toàn lột áo hay cắt đầu, Phật tượng
kinh sách hoàn toàn đốt diệt. Tại miền Nam, ta không bao giờ
chứng kiến cảnh tượng như thế, dẫu rằng những phê bình
gay gắt nhất về Phật giáo lại xuất hiện từ những ngòi
bút cuả người miền Nam. Làm chùa đúc tượng cũng thế.
Những triều đại tiếp chân nhau tại miền Nam đều là những
triều đại tín đồ Phật giáo, đặc biệt là triều đại
Vũ đế của nhà Lương. Ấy mà không một công trình kiến
trúc đỉnh cách đã được tựu cử. Trái lại, chính tại
miền Bắc, mà những kiến trúc vĩ đại có một giá trị
trường cửu đã hình thành. Chúng dĩ nhiên là những động
đá Long Môn và Văn cương với tất cả công đức và nghiệp
tích sáng tạo, do Phật tử miền Bắc đầu tư.
Và Huệ Lâm lại phát tích từ miền
Phật giáo cảm tịnh đó. Chúng ta do thế có lẽ không có
gì ngạc nhiên trước sự thẳng thắn và minh bạch của những
lời Lâm phát biểu về Phật giáo. Phật giáo đối với ông
là một cái gì sống động phát nguồn từ ngay đời sống
thầm kín nhất của tâm tư ông. Nó, nếu cần phải làm cho
trong trắng, thì, như hành động sa thải Tăng ni phá hủy chùa
chiền kinh tượng của vua chúa miền Bắc, phải được vạch
thẳng ra những gì đã làm cho nó không còn trong trắng. Lời
lẽ nặng nề của Quân thiện luận, vì vậy là một kết
quả khá tự nhiên.
Tổng kết những lý do và hoàn cảnh
trường hợp trên, người ta bây giờ có thể thấy Lâm viết
Quân thiện luận trong ước mơ và điều kiện nào. Chính từ
chúng, mà ta phải hiểu tại sao Lâm đã thốt những câu như
"Thích Ca biện ni bất thật". Chúng nhằm vạch ra cho phần
lớn tăng lữ thời ông thấy là, thứ "Thích Ca" mà họ tôn
sùng, đối với Lâm cũng thật sự không có một quyền uy
phải kính trọng nào. Nổ lực của Lâm có thể nói là đã
nhằm đến mục đích hết sức vĩ đại và cao viễn, đâý
là thực sự đồng hóa lý thuyết chính trị của Chu Khổng
vào lý thuyết Phật giáo, để cuối cùng hoàn toàn thế chân
Chu Khổng ngay cả trong lãnh vực lý luận và lý thuyết chính
trị nhà nước.
Từ lợi điểm cái nhìn của một
người sau, chúng ta có thể nói, Lâm chắc hẳn phải cảm
thấy một cách sắc bén cái tình trạng, mà đã xảy ra đúng
gần 700 năm sau khi Lâm mất. Tình trạng ấy là, nếu Phật
giáo không thành cộng đồng hóa lý thuyết chính trị của
Chu Khổng một cách hoàn toàn, thì cuối cùng thứ lý thuyết
Phật giáo, mà chúng ta ngày nay có thể thấy, là đã xảy
ra với Tống Nho, đặc biệt là với Chu Hy.
Lâm hẳn đã suy niệm khá nhiều
về lịch sử phát triển của Phật giáo tại Trung Quốc và
hẳn đã thấy một cách rõ ràng là, nếu Phật giáo đã thành
công một cách thần tình và toàn diện trong việc đồng hóa
người Trung Hoa cho tới thời ông, ấy là nhờ Phật giáo đã
biết đồng hóa và sử dụng phong trào huyền học thanh đàm
của thời Hậu Hán trở đi thành một lợi khí phổ biến
và tuyên truyền Phật giáo. Tuy nhiên, đồng hóa và sử dụng
phong trào này chỉ mới là sử dụng và đồng hóa một phần
nửa tư tưởng hệ Trung Quốc, mặc dù nó vào thời Phật
giáo du nhập đã đóng một vai trò quan trọng nổi bật. Nửa
kia, đấy là tư tưởng hệ Chu Khổng, nếu Phật giáo muốn
thành công một cách viên mãn, phải bắt đầu thực sự đồng
hóa và sử dụng nói ngay từ thời ông.
Cố nhiên, sinh sống lâu năm tại
Kiến Nghiệp, trí óc Lâm chắc bị ám ảnh bởi cuộc đối
thoại lịch sử giữa Khương Tăng Hội và Tôn Hạo đúng khoảng
hai trăm năm trước đấy. Cứ ghi lại cuả Cao Tăng truyện
1, thì nó xảy ra thế này: "Hạo lớn nhóm những người hiền
giỏi tại triều đình, lấy xe đi đón Hội. Hội đến, ngồi
xong, Hạo hỏi: "Phật giáo trình bày rõ ràng về thiện ác
báo ứng, thì chúng là những thứ gì thế?". Hội đáp: "Hễ
minh chúa lấy hiếu thuận lòng thương dạy đời thì "qua đó"
lừng lựng, mà người già thưa đi; lấy nhân đức nuôi vật
thì suối ngọt tuôn ra mà lúa ngon lại mọc Thiện có điềm,
thì ác cũng như vậy. Cho nên, hễ làm ác, dù đi trốn, quỉ
cũng bắt được mà giết đi. Hễ làm ác mà dương dương
ra, thì người bắt được mà giết đi. Kinh Dịch nói: chứa
lành nhiều vui. Kinh Thi khen: tìm phúc không trở lại. Tuy nho
điển gọn lời, chúng tức là những lời dạy rõ ràng của
Phật giáo vậy. Hạo nói: "Nếu thế, thì Chu Khổng cũng đã
đủ rõ rồi, cần gì phải dùng Phật giáo?" Hội trả lời:
"Chu Khổng gọn lời, bày ra vết gân. Còn như Thích giáo thì
đầy khắp cả u minh, cho nên làm ác thì có sự khỗ mãi ở
địa ngục, tu thiện thì có sự sướng luôn tại thiên cung.
Nêu lên những điểm này để khuyên người làm lành và chận
người làm dữ, há không vĩ đại sao?"
Đấy là cuộc đối thoại giữa
Tăng Hội và Tôn Hạo. Đọc nó, ta nhận ra ngay nó đã có
những sự tương tự văn cú và đặt tên những vấn đề
nào cho suy niệm của Lâm. Nó vạch ra một cách minh nhiên là,
Lâm đã bất mãn với giải đáp của Tăng Hội về những
liên lạc có thể giữa Phật giáo và Chu Khổng. Với Hội
và tập thể Phật giáo lúc Phật giáo mới bén chân đến
đất Trung Quốc, lý thuyết Phật giáo hoàn toàn đồng nhất
với Chu Khổng về khía cạnh điều lành của xã hội, nhưng
Phật giáo đi xa hơn Chu Khổng trong việc trình bày một cơ
sở lý thuyết nhằm chống đỡ cho lý thuyết điều hành xã
hội đó, mà Chu Khổng hoàn toàn thiếu sót. Nhưng, đến thời
Lâm, khi Phật giáo đã trở thành một lực lượng đời sống
phổ biến khắp nam bắc và giúp Lâm có được địa vị như
Lâm đang nắm giữ, thì một quan hệ kiểu quan hệ do Hội
thiết lập không còn thỏa mãn nữa. Thâm ý của Lâm, lúc
viết Quân thiện luận, có lẽ nhằm chứng minh rằng, Phật
giáo không cần phải nhờ ngay cả đến những chuyện u minh,
thiên cung hay địa ngục, để chứng minh tính ích dụng của
nó. Tính ích dụng cuả nó đã nằm ngay chính giữa lòng lý
thuyết điều hành xã hội, mà nó đã thể hiện ra giữa lòng
đời sống cuả mọi người Trung Quốc.
Vào thời Lâm, nó trở thành rõ
ràng là, Phật giáo uốn nắm tâm hồn và hành động người
Trung Quốc, không phải chỉ vì lý thuyết u minh hay quả báo
của nó, ngược lại, chính vì nó là một lý thuyết xã hội
lấy tình thương làm cơ sở và lấy cuộc sống an lạc cho
hết mọi người làm mục đích. Cũng vào thời ấy, lý thuyết
Chu Khổng đang tiếp tục đời sống leo lét của nó, sau những
đợt tấn công của những pháp gia chính trị thời Tần Thủy
Hoàng và đặc biệt là sau vụ Vương Mãng cướp ngôi. Trước
khi Phật giáo trổi lên, nó phải chống chế với những phương
sỹ, đặc biệt là Hoàng lão, và phong trào huyền học thanh
đàm. Tới lúc Phật giáo hưng thịnh, ở đấy vua chúa quan
lại cũng như nhân dân đa số là Phật giáo, nó biến thành
như một thứ lý thuyết hữu danh vô thực.
Trong một sự tình như thế, chúng
ta không có gì ngạc nhiên, khi Lâm đòi hỏi những người
Phật giáo phải xóa bỏ hết những quan niệm, mà những nhà
truyền giáo trước kiểu Khương Tăng Hội thiết lập về
quan hệ giữa Phật giáo và Chu Khổng, và thay thế nó bằng
một quan hệ mới, trong đó Chu Khổng hoàn toàn trở thành
không gì hơn là một tiểu bộ của tòa lâu đài lý thuyết
xã hội chính trị Phật giáo. Lý thuyết của đức Phật đối
với Lâm là một xã hội chính trị nhằm tới những vấn
đề bấy giờ và ở đây. Nó không gồm gì khác. Và nếu
những tập thể Phật giáo Kiến nghiệp đã kết tội Đạo
Sanh những tập thể Phật giáo Kiến nghiệp đã kết tội
Đạo Sanh một cách sai lầm, thì có một bảo đảm gì về
những điều họ tuyên truyền và tin tưởng về Phật giáo
đấy là không sai lầm và tà thuyết? Lâm do thế mạnh dạn
vạch ra rằng, lý thuyết của đức "Thích Ca", mà những đối
phương của Lâm tin tưởng, quả thật "biện nhi bất thật".
Hiểu thế này, bây giờ ta có thể nhận ra, tại sao trong khi
viết "Thích Ca biện nhi bất thật", Lâm vẫn tiếp tục tin
tuởng đức Phật, và sống cuộc đời của một người phương
ngoại. Đấy chính là mối ẩn tình của cõi lòng Lâm.
Sự mong ước và mục tiêu của
Lâm từ đó phải kể là cao xa và thực tiễn. Hiển nhiên,
nay cả với lợi điểm của một người sống sau, chúng ta
cũng không thể định lượng được một cách chắc chắn
đáng muốn là, nếu Phật giáo Trung Quốc đã biến mình theo
chiều hướngdo Lâm và sau đấy Thích Nguyên Tung chỉ đạo,
nó sẽ như thế nào ngày hôm nay. Chỉ cần nhìn đến số
phận của lý thuyết Chu Khổng trong hình thái của Tống Nho,
đặc biệt là hình thái Chu Hy, ta có thể có một vài ý niệm.
Song, với một thời gian ngắn ngủi chưa đầy một thế kỷ,
khi Chu Khổng bị đả đảo như thần tượng của lý thuyết
chính trị nhà nước, nó có lẽ quá sớm cho một nhận định
dứt khoát và cáo chung về số phận của nó. Chúng ta cần
dứt khoát và cáo chung về số phận của nó. Chúng ta cần
nhớ lại nổ lực tiêu diệt học thuyết Chu Khổng của những
pháp gia đời Tần, gồm ngay cả việc đốt sách chôn học
trò.
Tuy thế, nếu xét kỹ thứ Phật
giáo do đối phương của Lâm duy trì, thì nó có lẽ không
cao siêu cho mấy và đôi khi đầy dẫy những mâu thuẫn, như
những phê bình của Lâm vạch ra. Nhưng khi đem nó thử sức
can trường, nó tỏ ra có một sức mạnh bất khả kháng và
bất khả diệt. Ngày nay tại Trung Quốc khó mà tìm thấy một
người công khai nhận mình là học trò hay đồ đệ của thứ
phong kiến Chu Khổng, nhưng lại có khá nhiều người tin mình
là đệ tử Thích Ca. Sự can trường này đã xảy ra, chúng
ta phải tìm nguồn gốc của nó trong tính chất đại chúng
và bình dân của nó
Thứ Phật giáo của Lâm có thể
nói là một thứ triết học, là một thứ lý thuyết chính
trị hay đạo đức dành cho một số ít người, đặc biệt
một số ít người đứng vào giai cấp thống trị. Nó là
một thứ Phật giáo "ê lít". Như thứ Phật giáo đó, nó tất
nhiên phải sụp đổ, như lý thuyết thống trị Chu Khổng
đã sụp đổ, khi tầng lớp "ê lít" chống đỡ nó tàn diệt
qua thời gian hay qua một cuộc cách mạng. Thứ Phật giáo của
đối phương Lâm chứa đựng đủ mọi mâu thuẫn và mọi
sắc thái đặc thù, một điều khá tự nhiên, khi thừa nhận
tính đa nguyên của đời sống nó, bởi vì sự tham dự vào
nhiều hạng ngưòi khác nhau, từ một kẻ mù lòa nghèo xơ
xác cho tới một tên quyền quí tiền trăm của vạn. Đời
sống nó do thế tuỳ thuộc nhiều yếu tố khác nhau, mà thời
gian không thể nào tiêu mòn hết.
Cứ trên nhận xét đó, thứ Phật
giáo do Lâm quan niệm và Vệ Nguyên Tung mô tả có lẽ không
nhận được những đánh giá đúng đắn đáng muốn, mặc
dù mục đích hết sức cao viễn và vĩ đại nó nhắm đến.
Tất nhiên, chúng ta không thể nào xác định được một cách
tương đối chắc chắn hành vi của thứ Phật giáo ấy trong
lịch sử. Những gì vừa trình bày là dựa trên sự có thể
so sánh của nó với lý thuyết Chu Khổng, do thế, vị tất
đã xảy ra, nếu nó thực sự có một vận mệnh lịch sử
kiểu của lý thuyết Chu Khổng. Tuy vậy, với một giảm trừ
làm theo loại Huệ Lâm, ở đấy "lục độ với ngũ giáo đồng
hành, tín thuận và từ bi đều lập", Phật giáo quả đã
mất khá nhiều bản sắc của nó, dẫu một phần nào tính
mâu thuẫn đã được giải tỏa. Điểm đáng tò mò hơn nữa
là, như một giảm trừ vứa nói có thể thực hiện một cách
thỏa mãn cho cả Phật giáo và Chu Khổng, thì Lâm phải định
nghĩa thế nào cái tương quan hiện hữu của chúng.
Tương quan ấy phải chăng là một
tương quan đồng nhất? Phải chăng tương quan nhị nguyên?
Lâm nói chúng "thù đồ nhưng đồng qui". Nhưng sao lại thù
đồ và sao lại đồng qui? Lục độ dĩ nihên là sáu vượt
bến, tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền
định và trí tuệ. Ngũ giáo tức nhân, nghĩa, lễ, trí tín,
Lâm cho rằng, lục độ và ngũ giáo tuy "thù đồ" sẽ đồng
qui ở mục đích tối hậu của chúng, đấy là sự thiện.
Nhưng như thế thì ngưòi ta có thể lập lại câu hỏi của
Tôn Hạo dẫn trên: "Nếu vậy, thì Chu Khổng cũng đủ rõ
rồi, cần gì phải dùng Phật giáo?" - Nhược nhiên tắc Chu
Khổng dĩ minh, hà dụng Phật giáo. Hơn thế nữa, nếu Phật
giáo là "nhân nghĩa huyền nhất, như Lâm đã nói, nó phải
huyền nhất ra sao? Lục độ và ngũ giáo, cứ trên lý thuyết
thông thường của Thích Ca và Chu Khổng về chúng, có thể
noi nhằm đến hai mục đích khác nhau. Ngũ giáo được định
nghĩa trên cơ sở của trách nhiệm cá nhân đối với xã hội,
trong khi lục độ được xác định trên cơ sở trách nhiệm
cá nhân đối với cá nhân, dù có tương quan cá nhân xã hội
là một tương quan biện chứng xoắn xuýt lấy nhau. Chính Lâm
đã nhận thấy điểm này, khi ông diễu cợt lý thuyết nhân
nghĩa bằng cách vạch ra rằng: "tam du bản ư nhân nghĩa, đạo
Chích tư ư ngũ thiện" - tam du gốc ở nhân nghĩa, trộm Chích
phải nhờ đến năm thiện.
Tam du cố nhiên là một ám chỉ
tới câu nói của Khổng Khâu trong Luận ngữ 6 21, theo đấy
ba người cùng đi thì thấy có kẻ làm thầy ta, ta chọn lấy
điều hay ở họ mà theo, và điều không hay của họ mà sửa
đổi" - Tử viết, tam nhân hành, tất hữu ngã sư yên, trạch
kỳ thiện giả nhi tùng chi, kỳ bất thiện giả nhi cải chi_1.
Về chuyện "trộm Chích phải nhờ tới năm thiện". Lâm muốn
nói tới điểm trộm Chích của Chương Khu khiếp trong đồ
đệ của Chích hỏi Chích rằng: trộm cũng có đạo ư? Chích
trả lời: Sao chẳng lại không có đạo? Hễ làm cho người
ta nói bậy ra của cải trong nhà là thánh vậy. Hễ vào trước
là đúng vậy, hễ vào sau là nghĩa vậy, hễ hiểu biết phải
chăng là trí vậy, hễ chia phần quân bình là nhân vậy. Đấy
là năm điều, nếu không đầy đủ mà có thể trở thành
một kẻ trộm lớn là chuyện chưa bao giờ có trong thiên hạ
vậy".
Vạch ra hai điểm cố đấy, Lâm
nhằm mượn cái luận đề của Trang Tử là "Người thiện
ở thiên hạ thì ít mà kẻ bất thiện thì nhiều, tức cái
lợi cuả thánh nhân đối với thiên hạ thì ít mà cái hại
của họ đối với thiên hạ thì nhiều", để chứng minh rằng,
giả như kẻ theo Phật giáo có làm sai, thì ấy chưa chắc
đã là vì Phật giáo. Song, đồng thời Lâm cũng để cho thấy
cơ sở của lý thuyết nhân nghĩa tự nguyên ủy là một cơ
sở xã hội, mà ta có thể coi như một đối lập hoàn toàn
với cơ sở lý thuyết lục độ, bởi vì cơ sở của lý thuyết
này tự nguyện uỷ là một cơ sở cá nhân. Lục độ là một
trả lời co quan niệm trách nhiệm hành động cá nhân, mà
thông thường người ta gọi là quan niệm nghiệp báo. Nó không
phải là một trả lời cho một trách nhiệm xã hội, và giả
như trách nhiệm xã hội được bao hàm, thì ấy là một sản
phẩm cấp thứ và hoàn toàn đạo dẫn. Nói như Lý Miễu "Khổng
và Thích hai đường khác nhau, tức sự mà bàn thì không phải
là không mâu thuẫn".
Hiển nhiên, nếu thâm ý của Lâm
là nhằm đến việc đồng hóa lý thuyết Chu Khổng như đã
nói trên, những khó khăn vừa nêu tất không đưa ra một trở
ngại nào nhằm làm nhanh chóng hơn nữa phản ứng tổng hợp
cuả việc đồng hóa. Phât giáo không còn phải viện dẫn
gì đến những thứ như u minh hay thiên đường địa ngục,
để chứng minh tính ích dụng của nó, kiểu Khương Tăng Hội
hai trăm năm trước đã làm, vào thời Lâm, tính ích dụng
ấy trở thành một thực tại với tín đồ chùa chiền tăng
lữ khắp nơi. Lâm vì thế không cần phải bận tâm. Việc
ông bận tâm là làm sao, sau khi đã đồng hóa một cách tài
tình phong trào huyền học thanh đàm và lực lượng Lão giáo,
Phật giáo bây giờ có thể đồng hóa lý thuyết chính trị
nhà nước của Chu Khổng. Sự khác nhau giữa chúng, ngay cả
về khía cạnh mục tiêu và ý hướng, cũng không tạo nên
một dùn bước nào.
Từ quan điểm này, Lâm phải bắt
đầu quét sạch hết những dấu vết của giai đoạn đồng
hóa huyền học thanh đàm của Phật giáo và sửa soạn cho
nó một bộ áo mới biết dưới nhãn hiệu của thứ Phật
giáo nhân nghĩa. Dấu vết của nền Phật giáo giai đoạn huyền
học thanh đàm đương nhiên là những bàn cãi về vấn đề
Không có, u minh, pháp thân, niết bàn. Về vấn đề Không Có,
Lâm đem quan niệm duyên hội của nhà bát nhã học đầu tiên
là Vu Đạo Thúy, để phê phán. Cả Lâm lẫn Thúy đều lấy
cái nhà làm thí dụ, chứng minh không tính cuả cái nhà, khi
săng gỗ tách rời ra. Thang Dụng Đồng_1 nhận xét về. Nói
thế, Đồng tỏ ra không hiểu một cách chín chắn thâm ý
của Lâm, bởi Lâm không nhằm đến phê phán thuyết. Không
như chính nó, mà là nhắm đến thuyết Không như một chủ
đề bàn cãi của nền Phật giáo phong trào huyền học thanh
đàm.
Bằng cớ cho một khẳng định như
vậy nằm ở chỗ, sau khi dài dòng bàn cãi không và những
vấn đề do nó đẻ ra, Lâm nói, những thứ ăn nói như "núi
cao nhờ thấp, cây sông chứa nhỏ, thuyền hang lửa truyền,
trắng cứng chợ búa" đều "đầy dẫy ở Trung Quốc, nhưng
vì lý chúng không sâu nên không nêu lên làm cơ sở cho lời
dạy". Rõ ràng, với một liệt kê kiểu đó, Lâm ám chỉ trực
tiếp đến quan niệm của Phật giáo trong bộ áo của Trang
Tử, mà những nhà huyền học thanh đàm trước ông, đặc
biệt là những người như Chi Đạo Lâm, đã thường nói tới.
Bởi vì trong số sáu tỷ dụ Lâm dẫn ra để so với quan niệm
không thì bốn trong chúng đã rút ra từ Trang Tử, đó là thuyền
hang, lửa truyền, trắng cứng và chợ búa.
Về tỷ dụ thuyền hang, Lâm rút
nó từ chương Đại tôn sư của Trang Tử nội thiên quyển
3 tờ 8b6-9a1: "Rằng, dấu thuyền ở hang, dấu núi ở đầm,
có thể nói là kiên cố vậy; nhưng nửa đêm có lực sĩ đánh
chúng cắp mà chạy, kẻ mờ không biết". Hình ảnh thời gian
và sự chết cướp lấy sự sống như chàng lực sĩ cõng núi
và thuyền mà chạy, thường gợi cho tôi hình ảnh trong Pháp
cú 287: "Sự chết đến và mang người khác đi... như trận
lụt quét sạch một ngôi làng đang ngủ" (tạm... sutam gànam
mahogho va maccu adàya gacchati)
Về tỷ dụ lửa truyền, nó xuất
hiện trong chương Dưỡng, sanh chủ của Trang Tử nội thiên
quyển 2 tờ 6c3-6 "Chỉ cùng ư vi tân hỏa truyền giả, bất
tri kỷ tận dã", nói rằng, sự sống không bao giờ bị chấm
dứt, như lửa lan từ củi chưa cháy, khi củi trước đã cháy.
Tỷ dụ về trắng cứng nằm ở
chương Tề vật luận cũng của Trang Tử nội thiên quyển
1 tờ 32a7-8, nhắc lại tính chất "muội chung" của lý luận
Côn Tôn Long. Tỷ dụ "chợ búa" rút ra từ chương Điền Tử
PHưong của Trang Tử ngoại thiên quyển 7 tờ 32a8, ví đời
sống con người đổi thay không thường như con ngựa qua chợ,
nhân sanh nhược mã tri quá tứ nhỉ, hằng vô trú tu du tân
cố tri tương tục bất xả trú dạ giả, nói theo lời chú
về "tìm ngựa ở chợ búa" (cầu mã ư đường tứ giả).
Hai tỷ dụ còn lại, tuy xuất xứ
của chúng, chúng tôi hiện chưa tìm ra, ý nghĩa thực sự không
có gì khó hiểu cho lắm, "núi cao nhờ thấp" muốn nói, núi
cao phải nhờ những thành phần thấp của nó tụ hiệp lại,
"sông cây chứa nhỏ" có nghĩa, giòng nước sông gồm nhiều
giọt nước sông nhỏ, và cây to là những thớ thịt nhỏ
của nó làm thành.
Truy nhận sáu nguồn gốc sáu tỷ
dụ vừa dẫn cho thấy một cách không chối cãi thái độ
của Lâm đối với thứ Phật giáo huyền học thanh đàm. Lâm
bảo chúng là không có gì "sâu sắc" hết; nên không cần phải
nêu lên làm lý thuyết. Cuốn sách, mà phong trào huyền học
thanh đàm coi như sách gối giường, từ đó bị ông coi là
khá tầm thường. Việc, tiểu sử của Lâm nói Lâm viét bình
luận chú thích Trang Tử và Đạo đức kinh, vì vậy không
nhất thiết có nghĩa Lâm chấp nhận và coi chừng có một
giá trị lý thuyết. Viết chúng, Lâm chắc chắn muốn đánh
tan một cách miên viễn sự lệ thuộc chúng của Phật giáo,
mà những người Phật giáo trước thời ông đã tạo ra, và
đồng thời chắc chắn nhằm tới những công tác sửa soạn
cơ sở cho việc đồng hóa lý thuyết Chu Khổng.
Thâm ý này biện minh giúp Lâm về
giá trị quan niệm "đôn tục" của Chu Khổng và quan niệm
"đào phong" của Lão Trang, mà Lâm tán thành và coi như một
giá trị khả nhận. Trầm Ước cũng bảo Lâm chú thích Hiếu
kinh. Một lần nữa, làm chú thích này, Lâm chắc muốn giải
thích không phải Hiếu kinh chính nó, mà có lẽ đồng thời
nhằm trình bày lý thuyết "tín thuận từ bi cùng lập" của
mình. Nói cách khác, Lâm muốn giải thích Hiếu kinh theo quan
điểm Phật giáo định nghĩa như Lâm hiểu nó.
Có lẽ vì thâm ý ấy, ngày nay những
bản bình luận về Lão Trang cũng như Hiếu kinh viết từ thời
Đường đã không một bản dẫn Lâm, dù những gì Lâm viết
về chúng đang còn lưu hành vào lúc đó. Dẫu trường hợp
nào đi nữa, nó trở thành rõ ràng là, với những dẫn chứng
từ Luận ngữ và Trang Tử nói trên, Lâm chắc không có một
đánh giá khá cao quan niệm đức lý cuả Chu Khổng cũng như
Lão Trang. Tuy ông đã nhiều lần so sánh chúng với Phật giáo.
Sự phê bình Phật giáo trong Quân thiện luận trong cùng một
cách là nhằm tới phê bình thứ Phật giáo của những Phật
tử thời phong trào huyền học thanh đàm, nhằm tách rời nó
ra khỏi phong trào ấy và sửa soạn cho trong đầu, ông đã
viết Hôn nông vô thượng luận mà Pháp luận của Lục Trừng
đã dẫn ra và ngày nay đã tán thất, nhằm thuyên giải quan
điểm Phật giáo của ông về những vấn đề hôn nhân và
nông nghiệp. Chỉ cứ vào cái đầu đề, ta có thể giả thiết
ông coi hôn nhân và nông nghiệp là những vấn đề tối thượng,
những vấn đề "không gì hơn", những vấn đề tối quan trọng
cần giải quyết.
Trong liên hệ này, cần vạch ra
là, trước khi nói tới sự không sâu sắc của những thứ
ăn nói kiểu của Trang tứ, Lâm nêu lên những bàn cãi của
thứ Phật giáo huyền học thanh đàm về vấn đề: "Vô thường,
khổ, không và vô ngã". Lâm phê bình rằng: Hay phân tích cái
cây thành những phân tử để làm cho nó ra không, thì việc
ấy cũng không tổn thương một chút nào hết sự tốt đẹp
của việc nó cho bóng mát. Hay chia chẻ săng gỗ để làm cho
cái nhà trở thành hư vô, thì việc ấy cũng không làm hao
tổn một tí gì sự nó lộng lẫy đẹp đẽ. Nói rõ sự vô
thường do thế là nhằm tăng trưởng cái lòng mong được
nghỉ ngơi; vạch ra sự khổ giả là nhằm thúc đẩy cái trí
c5nh tranh với phút giây. Dùng sắc màu để làm đẹp tấm
gấm đan, lấy muối tiêu để hòa canh cho ngon vị, làm Tề
hầu mơ theo sự sướng của Sản Cưu. Yên vương không được
thuật muôn năm trường thọ, thì sợ rằng, những bàn cãi
về hòa hiệp, những lời dạy về sâu sắc chính đủ để
làm lòng dục quyến luyến sự thị hiếu, chứ không phải
là để lật đổ với ý muốn ưa cạnh tranh".
Viết như thế, Lâm đã rút những
điển cố của mình từ những kinh sử Trung Quốc. Câu "dùng
nhiều vẽ vời để làm tấm gấm đan đẹp đẽ" - bối cẩm
dĩ phồn thái phát huy - dĩ nhiên là một rút ra từ bài ca
Hạng Bá của thiên Tiểu nhã kinh Thi: Thê hề phỉ hề, thành
thị bối cẩm, bỉ tán nhân giả diệc dĩ đại thận. Bài
ca này nằm trong bản in Mao thi Trịnh thiên quyển 12 tờ 18a10,
bối cẩm, Mao chú thích là "cẩm văn". Trịnh Huyền cắt nghĩa
"cẩm văn, thi văn là như những đường vằn vện của những
dòng suối hay trứng kiến; kẻ dấy lên nó là so với những
người dèm pha, nhằm nhóm nhen lỗi nhỏ cuả người khác để
làm thành tội, như người con gái dệt nhóm những màu sắc
để thành những văn của gấm". Dùng sắc màu để làm đẹp
tấm gấm đan do thế có nghĩa, dùng lấy những thứ không
thật để thêu dệt lên lời bậy.
Thí dụ muối cũng thế. Nó rút
ra từ kinh Thi, trong liên hệ với chuyện Tề hầu trong Tả
truyện. Tề hầu đi săn về, Yến tử chạy ra đón. Tề hầu
cho Yến tử "cùng mình hòa" Tử Do trả lời: "Yến tử muốn
đồng, chứ đâu phải hòa". Bởi sự khác nhau giữa đồng
và hòa. Tử Do nói: "Hòa là như hoà canh, người ta phải có
lửa, nước, giấm, thịt ướp muối, tiêu, để nấu cá thịt,
và củi để mà đốt nấu... cho nên kinh Thi nói: "Diệc hữu
hòa canh, ký giới ký bình, tổng cả vô ngôn, thời mỵ hữu
tranh". Cố sự xảy ra vào năm Chiêu Công thứ 20. Xuân thu kinh
truyện tập giải chép ở quyển 24 tờ 15b4-17b8.
Cũng trong sự cố này, Tề hầu
hỏi về sự sung sướng cuả những người không chết, Yến
tử trả lời: "Người xưa mà không chết thì ấy là cái sung
sướng của người xưa, chứ ngài có quan hệ gì mà muốn
biết. Xưa họ Sảng Cưu sống ở đất này, Quí Sắc nối
chân theo, rồi có Phùng Bá Lăng tiếp theo; rồi họ Bồ Cô
nối chân, sau cùng là Đại công nối theo. Cho nên, nếu người
xưa không chết thì đấy là sự sung sướng của họ Sảng
Cưu, chứ đâu phải là chỗ sở nguyện cuả ngài". Nói cách
khác, nếu Sảng Cưu thị không chết, thì cố nhiên Tề hầu
đâu có kế nghiệp Sảng Cưu được, nên sự sung sướng của
Sảng Cưu không phải là sự sung sướng của Tề hầu.
Về cố sự "Yên vương không có
thuật sống lâu", nó đến từ thiên Phong thiền của Sử ký
quyển 28 tờ 8b3-9b2, kể chuyện "Yên Chiêu sai người vào bể
tìm ba ngọn núi thần Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu,
truyền rằng nó ở trong Bột Hải cách người không xa, chịu
khó đến thì gió dẫn thuyền đi. Bởi thường có người
đến, người tiên và thuốc tiên đều ở đấy. Vật loại
và cầm thú cuả nó đều trắng. Còn cung khuyết thì làm bằng
vàng ròng và bạc. Khi chưa tới thì trông như mây. Đến khi
tới thì ba ngọn núi thần trở thành nằm ở dưới nước.
Tới đấy thì bị gió dẫn đi nên cuối cùng không ai có thể
đến".
Dùng những điển tích và cố sự
vừa dẫn, Lâm nhằm cho thấy việc nói tới những thứ như
pháp thân, niết bàn, vô thường v.v... của thứ Phật giáo
huyền học thanh đàm không gì hơn những thứ mơ tưởng hão
huyền không liên quan gì hết tới đời sống và chỉ tưởng
trưng một nổ lực cố làm "đồng" kiểu của Yến tử. Chứ
không phải là một nổ lực cố làm hòa.
Những phê bình cũng như ước muốn
do Quân thiện luận bày tỏ liên quan tới Phật giáo như vậy
vị tất là đã hoàn toàn không có giá trị, đặc biệt là
khi đặt vào trong bối cảnh lịch sử của nó. Với một nền
Phật giáo đào luyện và nung đúc trong bầu không khí của
phong trào huyền học thanh đàm trong những thế kỷ trước
thế kỷ thứ năm của Lâm, nó trở thành dần dần cục bộ
và mất những liên hệ đời sống với hoàn cảnh trí thức
và xã hội mới của nó. Phật giáo thế kỷ thứ năm không
còn giới hạn vào những bàn cãi huyền học thanh đàm. Nó
đã lan tràn ra khỏi giới hạn của chúng và đã thâm nhập
một cách đậm đà vào đời sống người Trung Quốc một
cách hoàn diện, từ âm nhạc thi ca cho tới chính trị khoa
học kỹ thuật.
Chính trong hoàn cảnh này, mà một
định nghĩa mới về Phật giáo theo Lâm cần phải được
nêu lên. Nó thẳng thắn chối bỏ nền Phật giáo của thời
đại huyền học thanh đàm và thực sự chấp nhận một vai
trò mới bằng cách biến thành lý thuyết xã hội chính trị
nhà nước. Phật giáo cuả định nghĩa này không còn bận
tâm nói tới những thứ như "vô thường, khổ, không và vô
ngã", hay tuyên truyền những loại "thiên đường, địa ngục,
pháp thân, niết bàn". Nó bây giờ hoàn toàn bận tâm tới
vấn đề lục độ và từ bi, hai yếu tố căn bản của lý
thuyết xã hội chính trị nhà nước Phật giáo. Định nghĩa
mới này cuả Lâm về Phật giáo phải kể là một khởi sắc,
bởi vì Lâm cho biết, tại sao Ông đã đạt đến một định
nghĩa như vậy một cách trực tiếp. Ông vạch ra những mâu
thuẫn "nội tại" về thứ Phật giáo huyền họ thanh đàm
và chỉ cho thấy, nó hẳn không phải là thứ Phật giáo thực
thụ.
Cố nhiên như một luận văn phê
phán hơn là trình bày, định nghĩa của Quân thiện luận về
Phật giáo tất không thể tránh khỏi những mập mờ của
nó. Chẳng hạn, nêú ông coi lục độ như có một giá trị,
thì đương nhiên sự cắt nghĩa lục độ không chỉ giới
hạn vào phạm vi của ngũ giáo dầu ngũ giáo có thể coi như
thuộc phạm vi của lục độ, bởi vì quan niệm trí tuệ của
lục độ tất không thể nao chỉ tương đương với quan niệm
"trí" của ngũ giáo. Ngay cả danh từ lục độ cũng bao hàm
những ý nghĩa riêng của nó, mà danh từ ngũ giáo không có.
Lục độ tức "sáu vượt qua", và đã vượt qua thì tất nhiên
phải giả thiết một cái gì cần vượt qua và bị vượt
qua, một vấn đề Lâm chối từ không bàn tới.
Dù có những phiến diện ấy, có
những vấn đề và phê phán cũng như những giải quyết có
thể do Lâm đề ra trong Quân thiện luận vẫn đang có những
mời gọi cho những người có suy nghĩa ngày nay. Chúng mang
một tính hiện đại đáng ngạc nhiên và đáng chú ý, đặc
biệt là cái định nghĩa Phật giáo trên cơ sở lục độ
và từ bi. Về những phê bình thực hiện trực tiếp liên
quan tới tình trạng tôn giáo đương thời, chúng ta phải thừa
nhận Lâm không phải đã đặt chuyện ra để tránh móc chỉ
trích. Khi Lâm than vãn chuyện "đem xanh đỏ để làm mờ mắt
kẻ khoái đẹp, lấy đất gỗ để khoe lòng ưa lớon, đấy
là cái đạo phung phí, vét sạch của cả nước để dựng
nên những việc vô ích, nạo hết đồ cần dùng của quần
sanh để thỏa mãn kế hoạch doanh tạo" chúng không phải là
đã không xảy ra.
Ở trên, chúng tôi đã cho dẫn bản
tấu của Tiêu Mộ Chi theo bản chép của Tăng Hưu trong Hoằng
minh tập. Về việc "từ mấy lúc nay lòng kính tín của người
ta ít ỏi, họ không lấy sự tín thành làm mục đích, lại
cho sự cạnh tranh xa hoa là quí trọng; chùa cũ đổ nát thì
chẳng ai sửa chữa tu bổ, mà mỗi một người thì lại muốn
riêng tạo một chùa mới, để tự khoe khoang với nhau". Đây
là lời tâu năm 435, khoảng 4 năm sau khi L6m viết Quân thiện
luận, Tống thư quyển 97 tờ 5b8-6a1 và Nam sử quyển 78 tơ
10a1-3 đều có ghi lại nó.
Khi Lâm phê bình cái tình trạng
"chăm vào công tác quyền hóa để kết bè đảng, chịu lấy
khổ tiết để mong có lời khen gắng giỏi, làm việc hộ
pháp để mở rộng lòng lăng cạnh", thì một lần nữa nó
không phải là không có thực. Thí dụ rõ ràng nhất cho nó
không gì khác hơn là trường hợp kết án Trúc Đạo Sanh của
tập thể tăng lữ Kiến nghiệp. Dù Sanh đã diễn thuyết và
trình bày đúng lý thuyết Phật giáo, ông đã bị bọn "vật
sợ sáng lạ, người ghét cao trinh, giận nhóm đồng phục,
ưa bè kết lũ; chúng bèn dang cánh co chân, dẹp ảnh người
vào nơi hang huyệt; theo che chí đạo, quăng dấu người tới
chốn ông Ngu; vết chân lên thuyền, có đi không lại, mạng
bỏ núi non, buồn khắp đô thị", như Lâm đã truy điệu.
Cuối cùng, Lâm nói đến "những
tên Hoàng Lão đầy phu chương giả, thủy chúc láo, không thể
kể xiết" - Hoàng Lão chi gia, phù chương chi ngụy, thủy chúc
chi vu, bất khả thắng luận. Một lần nữa, sự tình này
không phải là không thể không kiểm chứng. Tiểu sử của
Dương Hân ở Tống thư quyển 62 tờ 1a5-b12 đã ghi lại chuyện
hân "rất thích Hoàng Lão, thường chính tay viết ra chương
phù, có bệnh thì Hán không chịu uống thuốc, lại uống nước
phù mà thôi". Hân sinh năm 360 và mất năm 432, đúng lúc Quân
thiện luận ra đời không lâu. Hân là một trí thức đáng
chú ý của thời Đông Tấn và Lưu Tống. Tác phẩm của ông
gồm có Dược phương 10 quyển và Cổ lai năng thơ nhân danh
1 quyển. Hân là một người "rất giỏi viết lệ thư" và
"rất giỏi y thuật" như Tống thư bảo. Nhưng đồng thời
cũng chính từ con người này mà ta có chuyện "viết phù chương"
và "uống nước phù".
Cùng một cách, tiểu sử đứa con
trưởng của Văn Đế trong Tống thư quyển 99 tờ 1a5-10b11
và Nam sử quyển 14 tờ 1a12-5a7 ghi chuyện bà đồng Nghiêm
đạo Dục đã ảnh hưởng Lưu Thiệu dẫn Văn đế tới dự
tính phế địa vị hoàng thái tử của Thiệu và dẫn Thiệu
tới hành động giết Văn đế vào năm 453, lúc Văn đế mới
47 tuổi. "Bà đồng Nghiêm Đạo Dục vốn người Ngô hưng
tự nói là thông minh có thể sai khiến quỉ vật... Thiệu
và Tuấn kính trọng thờ cúng, gọi là Thiên sư, sau bèn làm
bùa ngải, dùng người ngọc giống hình vua đem chôn ở trước
điện Hàm chương". Sự bại lộ, Văn đế cho tìm lục thì
"được thư từ của Thiệu và Tuấn vài trăm lá, toàn là
những lời chú trở bùa ngải và được hình vua chôn ở trong
cung". Văn đế muốn phế Thiệu, nhưng chưa quyết định ai
thế Thiệu làm hoàng thái tử, thì vào đêm giáp tý tháng
2 năm Nguyên gia thứ 30 (453) Thiệu xua bộ hạ mình vào giết.
Từ Dương Hân cho tới Nghiêm Đạo Dục, trong khoảng gần
một trăm năm này đạo Hoàng Lão với những thứ "phù chương
giả, bùa ngải láo" đang còn hiện hành và lưu hành khá mạnh
tại một số địa điểm ở Trung Quốc.
Với những phân tích trên về phê
phán lý thuyết và thực tiễn cuả Lâm trong Quân thiện luận,
chúng ta phải nhận, Lâm không phải là không có một lo lắng
và yêu thương đối với Phật giáo. Việc ông gọi những
người theo Hoàng lão là "bọn dâm vọng đời chứng đã thiển
cận bỉ ổi nguồn gốc chúng lại đốn mạt" và sợ Phật
giáo biến thành một thứ "dâm vọng" với những ăn nói về
"u minh? hay "quả báo", chứng tỏ Lâm không phải là không ý
thức vai trò cải cách Phật giáo của mình. Có lẽ vì quá
ý thức với vai trò ấy, mà Lâm đã dành hầu như hoàn toàn
cả Quân thiện luận để phê bình và mô tả thực trạng
nhiều hơn là trình bày chính lý thuyết và đường lối của
chính mình. Lâm chỉ bằng lòng nói: "Chỉ biết lục độ với
ngũ giáo cùng hành tín thuận và từ bi đều lập", nhưng tóm
tắt, tất cả cơ sở của nền Phật giáo cải cách theo ông,
và không bàn cãi gì hết tới những vấn đề và quan niệm,
mà ông mặc nhiên sử dụng, để phê bình và mô tả thực
trạng Phật giáo thời ông.
Chẳng hạn, khái niệm "tính lý"
và "lý" mà ông nói tới nhiều lần như một nguyên tắc chi
phối con người và sự vật một cách tổng quát, kiểu trong
những câu "e sự không của mọi vật là thuộc về "tính lý"
hay nếu sợ địa ngục để mà bó thân không làm ác thì ai
đã theo lý để làm ngay thẳng lòng mình" hay"lời ngọt chỉ
dấy lên khi còn hữu dục, mà tức khắc lặng đi khi đã hiểu
lý". Khái niệm "lý" và "tính lý" này ở những thế kỷ sau
đã đóng một vai trò hầu như dẫn đạo và ngự trị hoàn
toàn chiều hướng suy nghĩ của Tống Nho, đã không được
Lâm giải thích một cách minh nhiên nó có nghĩa gì trong hệ
thống tư tưởng của ông.
Dĩ nhiên căn cứ vào sử dụng nó
trong những câu vừa dẫn, ta có thể giả thiết nó có một
ý nghĩa nào đấy và có thể cắt nghĩa như muốn chỉ một
nguyên tắc hữu lý vô ngã chi phối mọi đời sống con người
và sự vật. Điều đáng tiếc là, với một khái niệm quan
trọng và lôi cuốn như "tính lý" sự thiếu bàn cãi và trình
bày của Lâm làm mất đi không ít giá trị và sự hiểu biết
của ta về nó cũng như về tư tưởng hệ của Lâm. Dẫu thế,
Quân thiện luận phải nói là một tác phẩm khởi sắc và
tiến bộ, đầy những câu hỏi cho những người chịu suy
nghĩ hôm nay.
Phản
ứng trí thức đương thời với Quân thiện luận [^]
Kể từ ngày Quân thiện luận ra
đời, nó không ngừng làm chủ đề bàn cãi cho những người
Phật giáo và người ngoài Phật giáo, như chúng ta đã có
dịp thấy ở trên. Tuy nhiên, giữa những bàn cãi đấy, bàn
cãi chi ly và dài dòng nhất là 5 lá thư trao đổi giữa Tôn
Bính (374-443) và Hà Thừa Thiên (370-448) viết không lâu sau
khi Quân thiện luận ra đời khoảng những năm 333-335 do Tăng
Hựu (445-519) sưu tập lại trong Hoằng minh tạp quyển 3 tờ
17c26-12c10. Vì nhằm cho thấy một phần nào phản ứng của
giới trí thức thời bấy giờ đối với Quân thiện luận
chúng tôi xin dịch chúng ở đây.
Thư
Hà viết cho Tôn
Gần đây tôi nhận được thư của
Tùng trung lang Hiền, nói túc hạ siêng năng làm việc đạo
Tây phương. Người hiền chí lớn, há cho chuyện vạn kiếp
là xa xỉ. Chỉ hận là đời sống ngắn ngủi nên không lấy
đâu mà trắc lường được sự u linh. Đạo nhân Huệ Lâm
chùa Trị Thành viết ra Quân thiện luận, bèn bị chúng tăng
tẩn xuất. May nhờ gặp sự khéo cứu của minh chúa, nên được
miễn ba la di. Đã làm Tỷ-kheo, ông ấy không chịu rõ về
u minh, thì điều đó bọn người tục ta sao lại không bàn
cãi. Túc hạ thử tìm hai học thuyết Nho Thích, xem ai là hay
hơn. Tôi hoàn toàn mù tịt, nên hy vọng có được giải thích
cuả ngài để hiểu hơn.
Hà Thừa Thiên bạch.
Thư
đáp Hà Hoạnh Dương
Bạch hắc luận của Lâm đạo nhân
do ngài gởi, văn nó đã thanh mà ý lại đẹp. Chỉ có điều
là tôi đang lờ mờ hiểu những lý luận của nó, nên còn
chưa rõ ý của ông ấy. Đã nói, "lẽ u minh không liên quan
với nhân sự, Chu Khổng nghi mà không giải thích, họ Thích
giải thích mà không đúng sự thực", song nếu biểu tượng
của nhân sự và lý lẽ của u minh là hoàn toàn rỗng không,
sao lại còn thần minh? Nếu hoàn toàn rỗng không, sao các thánh
và Lão Trang đều nói có thần? Nếu có thần minh, thì lại
lấy gì mà quyết đoán là không thật?
Như Phật dạy: Nay cùng nhau ở trong
giới vực cuả người thường đây, đắn đo những việc
gần, mà có nhiều sai lầm để bị hăm vào hoạn họa. Cho
tới những nghề tầm thường như cờ bạc chú ý nghiên cứu,
có kẻ bảo được thì trở ra là thua, nói thua thì thật ra
là được. Trong việc gần ấy, chưa từng thấy kẻ thường
được mà không bao giờ thua, thì lấy gì mà đoán quyết rằng,
những giải thích về những việc bên ngoài trời đất ở
ngoài ức kiếp trong cõi mờ mờ là không thật? Nếu cứ suy
từ việc làm mà không được sự thật thì nghi còn có thể
được. Chứ nay hình người rất thô trong khi tinh thần con
người lại rất điệu. Đem xác thân đuổi lấy tinh thần
thi đậu có cùng chấm dứt một điểm? Vì chỗ cảm cuả
lòng, mà thành đổ xương rơi, vồng trắng cuộn mặt trời,
thái bạch đụng sao mão. Vì thuốc cấm khí, tâm làm nước
lửa, lạnh nóng liền ứng. Huống nay đem cái trí rất minh,
cái chí rất tinh, chuyên thành diệu triệt, cảm lấy mà thọ
thân, lai sinh ở đất thất bảo, thì sao lại không có thể
thật?
Lại nói: "Phân tích những phân
tử ra cho cái cây trở thành không, điều ấy không tổn thương
một chút nào sự tốt đẹp cuả việc nó cho bóng mát; hay
chia chẻ săng gỗ để làm cái nhà thành hư vô, điều đó
cũng không làm hao tổn một tí gì sự nó lộng lẫy; chúng
là giống dùng nhiều màu để làm đẹp tấm gấm đan, đem
muối tiêu để làm ngon một bát canh dở, nhằm chận đứng
lời dạy bản vô". Nó lại không phải thế. Kinh Phật gọi
"bản vô", ấy chẳng có nghĩa "Những gì do nhân duyên hòa
hiêp thì đều không". Cho bóng mát hay vẻ lộng lẫy, vật
tự chúng có thể có, cho nên gọi là sự thật về không.
Tôi, tuy không hiểu Phật lý, song cho rằng điều ấy thực
rất là đúng. Sự có của thiên biến vạn hóa từ xưa bỗng
chốc đều trở thành không. Đang lúc chúng có, há là không
thường có, thì sự thật này thường có sự không, bỗng
tự nhiên mà có không sao?
Điểm này cũng giống như cái mà
Huệ Tử gọi vật mới sinh thì đã chết, trời mới đứng
bóng thì đã chiều. Sự thật về chết và chiều luôn luôn
tham dự một cách rõ ràng vào cái thời gian trước khi vật
chưa sinh và chưa đứng bóng. Kẻ ngu không thấy cái nguyên
lý ấy, mà chỉ thấy cái sự có của chúng. Cho nên, Tề hầu
nắm lấy sự giả thừa của Sản Cưu để mà khóc thương
sự sung sướng của nó. Kẻ hiền thì tâm và lý là một.
Cho nên, Nhan tử ngăn hết cho đến không, có như không, thật
như giả. Từ Nhan trở xuống thì mỗi mỗi tuỳ theo khả năng
sâu cạn, thưởng thức cái mùi vị cuả hư vô đó.
Nếu xuống tới những người dưới,
túng sử họ không hay có thể tự làm trong mình theo lời dạy
chí lý để lật đổ cái sai lầm của việc ưa tranh dành,
thì cũng thường chẳng làm lờ mờ nó đi một chút naò hết.
Há đáng làm ngược lại, đem một chút lửa để tăng thêm
lạnh, lại khiến cho lòng luyến theo cái dục thị hiếu ư?
Đến nỗi phải khẳng định rằng: "nói rõ vô thường để
tăng trưởng cái lòng mong được nghỉ ngơi, vạch ra sự khổ
giả để thúc đẩy cái trí cạnh tranh với phút giây". Lời
nói đấy thật quá lắm.
Lại nói những bàn cãi về "thuyền
hang chợ búa" là đầy dẫy ở Trung Quốc song chẳng có lý
lẽ sâu sắc nên không nêu lên làm cơ sở cuả lời dạy,
rồi nói sự chia chẻ những lý lẽ ấy là của bọn người
chỉ tay. Rằng, thuyền ở hang lặng mất, ấy là điều kinh
Phật gọi "hiện tại không dừng nghỉ" Người thật sự có
thể hiểu rõ điều đó thì ta và vật đều trở thành rỗng
không. Lý của nó há lại không sâu sắc sao? Ấy bởi vì kẻ
hiểu biết nó quá ít, nên không lấy nó làm cơ sở cuả lời
dạy vậy. Chi công có thể nó là chưa ngang đức Phật, thì
sao lại đem ra đồn khắp Trung Quốc, và lại đi miệt thị
lời dạy cí lý của Ngài?
Lại cho: "Học đòi theo ánh thần
mà không có một tốc sáng. Nghiệm lấy linh biến mà chẳng
có một tí lạ, nói đại là có sự sống lâu vô lượng,
nhưng ai thấy được một ông già trăm tuổi". Những thứ
này đều bị nói là "Không phù hiệp với sự thật". Rằng
ánh thần linh biến và sự sống vô lượng đều phải do thành
tín và u kỳ mà ra. Cho nên sự sắp sinh đất Phật, thì chính
thân mình sáng chói quang minh, sống lâu không lường. Nay, đã
rơi vào tà kiến, lại khinh nhờn sự linh hóa, lẽ đáng phải
xa cách trời vực, thì do đâu mà thấy được việc chúng
phù hiệp với sự thật? Rằng, lòng không ham muốn là cột
gốc của mười điều lành, cho nên ngó xuống thì có thể
dứt địa ngục, và trông lên thì có thể sinh tới thiên đàng.
Đấy tức cũng là chịu phục điều nghĩa để đi theo lẽ
đạo và làm ngay thẳng lòng mình. Nay, bên trong mang niềm kiền
thành ngưỡng mộ, cho nên lạy bái để hối tội. Hiểu được
sự vô thường, cho nên lòng mới không bỏn sẻn, đem chính
vợ con mình ra làm của thí. Há lại mang sự trăm hơn. Sao
lại có thể nói được là nó không do niềm cung kính và chẳng
nương lòng không san lẫn? Nê hoàn lấy sự không sung sướng
làm sung sướng, pháp thân lấy sự không có thân làm thân.
Nếu vốn không hy vọng làm theo thì cũng có thể làm tăng
trưởng cái lòng đam dật và dấy lên cái tâm hiếu kỳ. Chứ
nếu thực sự thực hành nó thì sự đam dật sẽ trừ diệt
đi, và người ta hưởng được cái lợi ở nơi không có lợi,
thì sao lại quan hệ với cái phong tục tranh dành quyền lợi?
Lại nói: "Đạo mình ở tại vô
dục, mà lại đem sự hữu dục để đi tìm". Ở trong vòng
luồn cúi này, hễ chẳng phải lợi thì không ai động. Sao
lại vu cáo đức Phật sâu sắc đến thế ư? Rằng, mục đích
lớn của nhà Phật là vạch ra tám khổ đều do lòng dục
và nói rõ lý 12 nhân duyên, khiến cho những người thuộc
hạng cao diệu, phơi phới tinh thần họ ở nơi vô sanh. Muốn
cái đạo đó thì có thể nói là có lòng dục đối với cái
không dục vậy. Đến như bày vẽ những việc thô gần kiểu
địa ngục thiên đường, chúng đều có những ảnh hưởng
thực. Cũng như Vu công vì có nhân đức mà được sống lại
và được phong chức. Họ Nghiêm vì hiếu sát đến nỗi bị
tru di. Những kẻ sợ bị tru di và muốn được phong tước
tất sẽ bỏ giết mà tu nhân. Gắng làm điều hay vì hy vọng
thiên đường, giữ ngũ giới vì muốn xa địa ngục, thì tuy
có dục đối với cái đáng dục, nhưng thực sự đó là con
đường trong trắng dẫn đến sự ngày càng ít đi. Ấy cũng
là đi về phía Tây để tìm thành Dĩnh, lo gì mà không tới
nó ư?
Lại ghét chuyện "Xanh đỏ làm mờ
mắt người khoái đẹp, đất gỗ để bỏ khoe khoang lòng
ưa to lớn, thành lập những quyền lợi riêng tư kết thế
bè đảng đua đòi theo tiếng khen gắng giỏi gây nên cái chí
dành giựt". Đó vẫn là sự xấu của nạn sâu keo đen. Hoặc
có thể nói người ta phải truyền giáo để làm cho những
cái tệ như tham lam ít đi, chứ sao lại khinh mạn đức Phật
để bảo rằng truyền giáo là nhằm tới chuyện gieo truyền
những sự tham lam? Vương Mãn ăn trộm sáu kinh để cướp
lấy ngôi đế. Tần Thủy Hoàng nhân lễ triều cận, để
mà dựng nên cung A Phòng. Há có thể lại lấy những việc
ấy, để làm tội lễ giáo của tiên vương sao?
Lại nói: "Nên bỏ đi dấu vết
mập mờ và giữ lại cái tôn chỉ cốt yếu, kẻ bày ra chuyện
lai sanh, ấy là che lấp và làm sứt mẻ đạo Thích dù phải
bất đắc dĩ?. Xin hỏi rằng, cái tôn chỉ ấy muốn cốt
yếu tới mực nào? Tất muốn khiến người ta tránh điều
lợi mà nghiêng về điều thiện, để thỏa mãn cái bản tính
cuả nó. Song bực thánh không có thường tâm, họ đến với
vạn vật và lấy đi vạn vật làm tâm của mình. Nếu xác
thân chết đi, tinh thần hoại diệt là chân tính của mọi
vật, thì chỉ đem cái tính tất diệt đó để cùng với Chu
Khổng hết sức truyền dạy khiến cho mọi vât không bẩm
thọ nó, thật có việc nghiêng về điều thiện, há không
hay sao? Sao lấy bậy sự bất diệt để khi chế lý thuyết
Phật giáo? Khiến sự cắt tóc đốt da, làm đoạn tuyệt thân
người, chận đứng miêu duệ số không thể lường, tai hại
như vậy, thương tổn sự đẹp đẽ của thuyết tánh dứt,
thì họ Thích đâu lại phải làm nó một cách bất đắc dĩ?
Nếu bọn không có lòng tin thì chúng cũng không chịu lánh
lợi để nghiêng về thiện. Rằng, những người có lòng tin
thì tất phải như Kỳ vực, Kiến Đà Lặc, Di Đà Mật, Trúc
Pháp Thừa, Bạch Pháp Tổ, Trúc Pháp Hộ, Vu Pháp Lan, Trúc
Pháp Hạnh, Vu Đạo Thúy, Quyết Công Tắc, Phật Đồ Trừng,
Thi Lê Mật, Quách văn Cử, Thích Đạo An, Chi Đạo Lâm và
Viễn hòa thượng. Họ là những người thần lý và phong thái
hình như rất không đứng sau Lâm Tỷ-kheo, thì há lại có
chuyện họ bỏ bậy nhân lý để cạo tóc đi theo sự giáo
hóa của người không thật sao? Họ đều chứng thật cho sự
linh kỳ, nhằm dẫn những tâm hồn xa vợi để hoàn thành
sự nghiệp rõ thần, trong chân.
Túc hạ đã dựa vào sự không có
lòng tin của ông ấy, xa gởi cuốn Luận tới cho tôi. Hơn
nữa, người hoài nghi ở đời đều cho nó là hay ho. Cho nên
tôi phải tự sức mình bạch đáp, để bày tỏ mọi tình.
Rằng, việc đời chấp nhận hay chối bỏ Phật pháp quả
là to lớn, như vụ hưng táng của con người, thì tôi sao được
ngồi yên trong vòng chấp nhận và chối bỏ đó. Tôi do thế
đem hết chỗ ngu cuả mình ra, viết Minh Phật luận, để tự
trình bày hoài bão. Mới viết xong, tôi đã sai người chép
lại, nhưng không kịp lá thư này. Quá muộn cho nên tôi lại
sai người đem thư đi. Khi nghe tin ngài, tôi sẻ gởi nó đến.
Tôn Bình Bạch.
Thư
đáp Tôn cư sĩ
Trước đây tôi có gởi Quân thiện
luận cho ngài cùng xin hỏi ngài chỉ giáo. Thư ngài đáp thật
đầy đủ. Và vì cho lý lẽ nó liên quan tới sự hưng táng
của con người, nên ngài phải vạch rõ mà không thể chỉ
ngồi yên trong vòng chối bỏ hay chấp nhận đó. Tôi tuy không
thể nhất thiết y phụ vào đó, cũng không hoàn toàn giữ
chặt một thiên kiến, song chỉ vì muốn tìm một đốm lửa
trong đêm tối giữa một biển lớn, mà chính tự mình chưa
được đó thôi.
Người ta cho là kinh sách Phật giáo
hay hơn cả những biệt gia của chính phái. Trộn lẫn với
Đạo gia và Mặc gia thì từ bi và chuộng thí cố nhiên cùng
với Trung Quốc không khác. Đại nhân quân tử lấy điều
nhân làm chính nhiệm vụ mình, lòng không nhớ nghĩ. Song người
ta lấy sự đẹp đẽ trau chuốt của hình tượng đem ra để
làm vui tai mắt kẻ tầm thường. Từ đấy nổi lên sự phung
phí. Nó không những làm suy yếu đi sự hoằng ích của Phật
giáo mà còn có kẻ bám vào nó để làm cho nó tồn tại càng
nhiều thêm nữa. Thậm chí, kẻ hiếu sự lại cho Phật giáo
là siêu hơn Khổng và vượt hơn Lão, chỉ nó là quí hơn hết.
Ấy quả là chưa hay tìm được cơ sở lập ngôn của nó,
mà đã mờ mịt đi theo những lời nói ngọn ngành. Kẻ hiểu
lời dạy nó đáng lý phải đợi ngưòi quên lời dạy nó.
Nếu chỉ lấy việc tin tưởng sự báo ứng của thiên đường
địa ngục, sự linh nghiệm của nhân duyên bất diệt để
nén lòng ăn chay, hết sức lễ bái, hầu được che dưới
lộng Bảo xứng, được lên tòa Di đăng, thì quả là một
trò đùa đối lớn kiểu Thuần Vu Sanh.
Lá thư của ngài nói: "Các thánh
và Lão Trang đều nói có thần minh, thì lấy gì mà quyết
định là nó không phải như đức Phật giảng dạy". Tôi xin
trả lời rằng: sáng sủa thì có lễ nhạc; u ẩn thì có quỉ
thần; các bậc thánh vương vì thế đã đem ra dạy chứ đâu
phải họ mờ mịt về sự không có. Nếu quả có báo ứng
ở đời sau, thì sao Chu Khổng phải ngậm câm mà không có
nói một lời nào hết? Nếu người phàm ngay cả kinh hãi khi
một đứa bé đang đến hố thẳm, thì các bậc thánh há lại
chỉ một mình họ là bất nhân sao?
Lại nói: "Thân xác con người thì
rất thô, trong khi tinh thần con người lại rất diệu, đem
thân xác mà đuổi theo tinh thần, há lại có thể chấm dứt
ở cùng một điểm sao?". Tôi xin đáp rằng: "Thân xác và tinh
thần giúp đỡ cho nhau. Người xưa ví chúng như lửa và củi.
Củi còn thì lửa cháy, củi hết thì lửa tắt. Tinh thần,
tuy có sự diệu của nó, há lại có thể một mình lan truyền
đi chăng?
Lại nói: "Vì có chỗ cảm của
lòng, nên thành đổ xương rơi, vồng trắng quàng lấy mặt
trời, sao thái bạch đụng vào sao mão; vì thuốc cấm khí
nên lạnh nóng liền ứng nhau. Cũng thế, nếu chuyện thành
diệu cảm để thọ thân, mà sinh ở đất thất bảo, thì
sao lại không thể làm đặng?". Tôi xin đáp rằng: "Về chuyện
thành đổ xương rơi, quàng lấy mặt trời, đụng vào sao
mão, chúng không làm rõ ràng gì hết như những thí dụ cho
đời sau, nên không đáng dẫn ra ở đây. Về chuyện nước
lửa cấm kỵ nhau, mà hy vọng có thể sinh vào quê hương thất
bảo, nó như chỉ cần nhìn vàng nấu chảy ra, rồi hy vọng
nó có thể tự túc thành đồ, thì cuối cùng cũng không thể
được. Việc không thể sinh quê hương thất bảo do thế cũng
có thể biết được vậy.
Lại nói: "Sự thật về có và sự
thật về không, lý thuyết đã rõ ràng rất vữg. Tự xưa
thiên biến vạn hóa đang có thì bỗng chốc đều trở thành
không; do thế đang ở trong thời thịnh có của chúng, chúng
ta lại không thường có sự thật về tính tốt không sao?
Kẻ ngu không biết cái lý đấy, mà chỉ thấy sự đang có
của chúng thôi". Tôi xin đáp rằng: như lá thư của ngài nói,
đang ở trong thời thịnh có của chúng, chúng đã có sự thật
về tính tất không. Song vậy, thì tức vật thường không,
không và vật là một vậy. Nay, trong khi sự không và có là
chưa khác nhau thì kẻ hiền người ngu đã bị phân biệt ra
khác nhau, sao thế? Cái gọi là đạo ngày xưa thì đối với
hình, họ làm vô hình, đối với sự, họ làm vô sự, điềm
nhiên lặng lẽ nuôi dưỡng chúng mình, thư thái tinh thần
mình, há đâu phải chỉ việc trừ khử ái dục và lo sợ
về túc duyên? Chỉ thấy sự có của nó, há lại đã vượt
qua nó, để đem nó ra mà cưỡi Tề Hầu? Ấy cũng giống như
người mới đi được năm mươi bước thì đã cười kẻ
đi được một trăm bước vậy.
Lại nói: "Thuyền hang lặng mất,
đó là cái kinh Phật gọi là hiện tại không bao giờ dừng
nghỉ; nếu người ta thực sự có thể rõ được điều ấy
thì tâm và vật đều thường rỗng không". Tôi xin đáp rằng:
"Người ta có thể có sự kinh hãi xác thân mà không hao tổn
tâm thần, người ta có thể có phần mộ mà không tức ghét
cái chết. Giả Sinh cũng có nói: "Đã trở thành một vật
khác, thì sao lại phải lắng lo?". Lời nói ấy quả là thấu
được lẽ biến hóa của sống chết vậy. Sao lại khư khư
cứ chạy đi lo lắng chuyện chết trong khi còn sống để cho
tâm hồn vướng mắc đến chuyện sống lâu không lường,
dể cho ý chí quyết sinh lên thiên đường? Bọn tôi thường
lạ lùng trước điều ấy.
Lại nói: "Ánh thần, linh biến và
sự sống lâu không lường đều phải do lòng thành tín đối
với u kỳ thì chúng mới phát ra ánh sáng rõ ràng cuả chúng;
nay đã rơi vào tà kiến, đúng lý thì xa cách trời vực".
Tôi xin đáp: "Nay, nếu vậy thì cũng có nghĩa người ta không
theo kẻ trở thành kiêu mạn để ma tìm ánh sáng, nhưng tìm
nó ở kẻ thành tín vậy. Tra khảo lời dạy của Thích ca,
thì nó dùng những phương tiện thiện quyền, để cứu vật.
Như vậy, nếu quả có sự ứng nghiệm, nếu thế, sao lại
không thấy sự linh biến của nó, để tỉnh thức bọn tà
kiến? Há Thích Ca chỉ không tiếc những giảng dạy dài hàng
vài mươi trăm vạn lời, mà lại đi tiếc một chút ánh thần
trong giây lát? Há chẳng hóa ra là những lời giải thích suông,
mà rốt cuộc chẳng có một tí rõ ràng, khi đối với chân
trí? Suốt đời cực nhọc thực hành mà không biết đi về
đâu, há không đáng thương lắm hay sao?
Lại nói: "Bên trong mang lòng kiền
thành ngưỡng mộ, cho nên lễ bái để sám hối tội lỗi,
thấu rõ được sự vô thường, nên lòng không còn bỏn sẻn;
đem vợ con ra mà bố thí, há có việc mong chuyện trăm hơn.
Tôi xin đáp rằng: "Lắm xảo để mà gây chuyện, chưa chắc
là trừ khử được tham dục để mà chấm dứt sự tranh dành.
Chịu theo giới luật để mà rửa tội sám hối chưa chắc
bằng đã bỏ vinh hoa để bảo toàn chân phác. Huống nữa
là dụ dỗ theo điều người ta ưa chuộng để mong cầu sự
lợi, quên đi bẩm tính trời cho để mà xin lấy tiếng khen,
rồi nói là không mong chuyện trăm hơn tôi không tin vậy.
Lại nói: "Nê hoàn lấy sự không
sung sướng làm sung sướng; pháp thân lấy sự không có thân
làm thân; nếu người ta thật sự có thể thưởng ngoạn thì
nó là sự đam dật dần trừ và nhận được cái lợi ở
không lợi vậy". Tôi xin đáp rằng: "Nê hoàn lấy việc xa
lìa sự khổ làm sung sướng, pháp thân lấy việc nhận sự
thiện làm thân; chúng vì thế khiến bọn thưởng ngoạn không
thể tự cắt đứt ra được vậy. Chứ nếu chúng quả dẫn
về sự vô lợi thì người cần lao cho chúng nhận được
cái gì, mà bảo là nhận được ở không lợi ư? Đấy cũng
là chứng cớ cho việc thân xác và tinh thần đều tận diệt.
Sợ rằng, nó không phải là kết luận, mà bức thư hay của
ngài đúng nên nói rõ ra.
Lại nói: "Muốn cái đạo đó thì
có thể nói là hữu dục ở cái vô dục vậy. Đến như việc
bày ra những chuyện thô gần, để dắt dẫn mọi người,
ấy chúng cũng có sự thật ảnh hưởng của chúng, cũng như
Vu công vì lòng nhân đức mà đến khi sống lại liền được
phong tước và họ Nghiêm vì hiếu sát đến nỗi chính mình
bị tru di. Gắng làm điều hay để hy vọng thiên đường,
giữ gìn năm giới vì muốn xa lánh địa ngục, thì tuy có
dục đối với sự đáng dục, nhưng thực sự đó là con đường
dẫn tới sự ngày càng ít đi. Ấy cũng là đi về phía tây
để tìm thành Dĩnh thì lo gì mà không tới nó. Tôi xin đáp
rằng: Nói là đem sự thô gần để bày ra mà dắt dẫn, sánh
báo ứng với vang bóng thì cũng không hay sao? Chỉ có điều
là, cái nhân của bóng và vang tất phải là hình và tiếng.
Với một cái hình tầm thường thì đâu có được cái bóng
của tám vạn do tuần? Nếu chỗ bị vướng mắc là hữu dục
ở cái vô dục, thì cũng đang còn mãi vướng mắc vào cái
bị dục. Rằng, tai mắt mỗi cơ quan có riêng nhiệm vụ của
nó. Công nghệ có những nghiệp nghề khác nhau. Nghề mạt
còn có thể nói ra sự cao của nó; chim hồng; chim hộc mới
nhóm mùa thu mờ không thể báo hiệu. Song, dục nhờ lấy hữu
dục để trở thành vô dục, hy vọng để đi đến sự ngày
càng ít đi, tuy nói đi về phía tây, người ta càng cách xa
thành Dĩnh, như thế thì biết làm sao?
Lại nói: "Nếu xác thân chết đi,
tinh thần mất thật, là chân tính của mọi vật, thì nên
đem hết sức cùng Chu Khổng ra giáo hóa, chứ sao lại đem
thuyết tinh thần không diệt mà lừa dối, lấy Phật lý để
mà khiến người cắt tóc đốt da, đoạn tuyệt xác thân làm
cho tổn thương cái đẹp của sự tận tính?". Tôi xin đáp
rằng: "Trung Hoa và mọi rợ tự nó có sự không giống nhau.
Sao vậy? Người Trung Quốc bẩm khí trong trắng hòa hiệp,
sống theo điều nhân, giữ lấy điều nghĩa. Cho nên Chu Khổng
nói rõ lời dạy luyện tính. Bọn người nước ngoài, vì
bẩm tính cường tráng, tham dục hung trái, cho nên họ Thích
phải giới nghiêm bằng cách đề ra năm giới. Đấy là cái
mà lá thư ngài gởi gọi là "bậc thánh không có thường tâm,
họ đến với vạn vật và lâý vạn vật làm tính của mình"
vậy. Răn đe để mà trừng trị sự hung bạo thì không có
gì khổ hơn là địa ngục. Khuyên lơn để mà dụ dỗ sự
làm việc thiện thì không có gì đẹp hơn là thiên đường.
Sắp nhổ sạch cội gốc cuả sự tàn hại thì tất không
thể nói tới sự trung dung được. Chu Khổng thì không thế.
Họ thuần theo thiên tính cuả người Trung Quốc, mà bỏ đi
những điều thái quá. Dâm trộm thì ghi vào ngũ hĩnh, tội
rượu thì làm rõ ở Chu Cấn, ruộng xuân thì không chận nước,
thấy vật sống thì không nỡ giết, năm phạm ba khu là nhằm
dẫn dắt, chứ không phải là bỏ cột. Do thế, nhân ái thấm
khắp, ân trạch lan tới chim cá, lễ đẹp thường có mâm
cúng, người già thường có thịt ăn, xuân cày thu hái, nuôi
tằm dệt vải đúng lúc, trời đất người cả ba linh cảm
lấy nhau, trăm phần đều hưởng lộc. Việc làm của phương
kia ấy há không rộng lớn sao? Lại nữa, bày ra sự tặng
thưởng của việc dâng cúng là làm nghiêm hình phạt cho ai
nghi ngờ giáo pháp, kể lại lời hỏi của sư tổ làm căn
bản của sự khuyến hóa, diễn lại lời đáp của Quân Hạo,
để làm rõ ra sự ứng nghiệm của đời sau, rồi mặc áo
đan phùng mang trợn mắt mà khoe khoang cái thuyết của mình,
cách xử tâm của họ quả thật cũng hung tợn như vậy.
Lá thư lại gọi đến những lũ
ngưòi như Kỳ Vức, Di Đà Mật, Thi Lê và bảo thần lý và
phong tháo họ không ở sau Lâm Tỷ-kheo. Túc hạ đã quá biết
là, người thường không thể đắn đo ngay cả việc gần,
thì nay sao đem ra nói cho họ sự hơn thua của những việc
trăm năm về trước, ngàn dặm ở ngoài? Nếu Lâm Tỳ-kheo,
tuy mắt mũi là thầy tu, nhưng tính tình ngay thẳng, hình như
sâu biết sự chân giả khác nhau, nên rất không chịu kiêng
kinh, giúp thầy, để mà tô vẽ cho thuyết ngụy. Tôi vì thế
mà kính trọng ông ta. Cuốn luận của Tôn Hưng Công nói đến
sự uyên đại của Trúc Pháp Hộ và sự thuần bác của Vu
Pháp Lan, túc hạ muốn sánh họ với kẽ sĩ nào của Trung
thổ vậy? Cho đến việc tu nhân ty của Sở Vương Anh, cấp
đồ ăn co tỳ kheo của Trác Dung, thì há chúng lại có sự
thanh chân phong tháo hay sao?
Trước đây, khi đang còn ở lại
Đông ấp, có sa môn Đạo Hàm tử miền Ngôn đến, sâu thấy
khuyên dỗ, rất có kiến thành. Tôi nhân thế lưu lại ba đê,
cùng nhau nói chuyện rèn luyện thân xác để làm trong tinh
thần và chuyện ứng nghiệm của tội phước đấy mất, đều
có điều quán. Tôi vòng tay ngồi nghe lời thẳng tới sáng
quên cả ngủ. Trở về, tôi nghĩ, kẻ sĩ sở dĩ có thể lập
thân, dương danh, giữ tín, mà hành đạo, ấy thực là nhờ
ở lời dạy của Chu Khổng. Tử Lộ nói rằng, mình đã nghe
nó, nhưng chưa có thể làm nó. Tôi chỉ sợ có nghe, nhưng
điều phải làm đang còn nhiều vậy, thì sao phải vội vã
bỏ bên này mà lo việc bên kia? Lại tìm lấy cách gọi tình
mà lập văn, chỉ biết chuyện đời sau mà xa xỉ, tìm hiểu
nó buồn bã suốt đời không thôi, hiểu được sự thọ thân
là khổ khăn, đã hai lần nói thánh nhân là thầy ta thì Chu
Khổng há lại dối lừa ta sao?
Vì túc hạ tình ngay, nên tôi giải
bày đầy đủ đầu đuôi. Nghĩ rằng, bậc đại trí kỳ cựu
dạy người không biết mệt, nên tôi chưa thể im lặng về
những điều trên. Trước đây, tôi đã cho người đi lấy
Minh Phật luận. Nó mới đến, tôi hy vọng nó có thể làm
sáng lòng mình.
Hà Thì Thiên bạch.
Thư
đáp Hà Hoạnh Dương
Kính xem lá thư mới đến thì ngài
dứt tiệt sự giáo hóa của Phât giáo, mà hết chí với Nho
nghiệp. Ý nghĩa nó đã gắn bó, mà tài bút lại rành rành,
khéo có thể đem để kỉnh sách thế tình, thật là lối bàn
đẹp của trung khu vậy. Xem ý của túc hạ thì chẳng phải
nói Phật pháp là không phải thánh, chỉ rằng pháp của Phật
là quyền mà không thật thôi. Song, chưa xét xong lấy gì mà
rõ được sự không thật cuả nó ư? Nay xin cùng với ngài
quyết đoán, nhìn thấy việc mà kể sơ thì được mất gần
nửa năm vậy.
Linh hóa vượt lên cả bên ngoài
cuả Huyền cực, nguyên cớ nó kết liên ở trong u minh, và
từng không có một thần nhân dơ tay cùng đối diện nói ra.
Nó chẳng qua tín vào bằng sử liệu thành văn, đã bị khuyết
đi sau vụ đốt thiêu (của Tần Thủy Hoàng). Thế mà dã muốn
bỏ ngay sự thần hóa, giúp nhau làm lạnh lòng. Rằng, thánh
nhân thấu lẽ rõ tình, cho đến vật mạng, có cái không được
nhằm chỗ thì giống như đem nhét xuống rãnh. Nay đem thuyết
bất diệt để dối lừa, đem chuyện thành Phật để gạt
gẫm khiến cạo đầu, quần áo vàng đỏ, thiêu thân, đốt
ngón tay, không chịu gánh lấy công việc trời dành cho để
nuôi dưỡng cái đạo cha mẹ, chồng vợ và cha con. Từ ngày
Phật Pháp đã đến, Từ ông Sa trở về tây 36 nước cuối
cùng nói kịp Trung Hoa, ở chót mối dây ấy có tới hàng ức
triệu người vậy. Đông đi Tây khương hoặc được, chứ
thánh hiền và những người như Do Dự, Kim Nhật Thiền, Đắc
Lai sắp sinh mà không được sinh là nhiều vậy. Giả sử Phật
pháp là không thật, thì sự thảm khốc cuả việc nhận người
vào nơi hào lũy há có thể nói xiết. Và nếu kinh điển là
quyền giáo thì chúng còn hiệp với đạo gì, mà nói là chúng
muốn đem sự lừa dối quả chính để trị bọn dân cương
cường hung bạo của ngoại quốc? Rằng, bọn hung bạo, ước
nhút chúng dùng lấy ba chương, trao thưởng thấy Phật, chúng
còn không tin sợ, huống nữa là lại đem ra những lời dạy
về tức sắc bản vô, nê hoàn pháp thân, thập nhị nhân duyên,
vi trần kiếp số, đáng để mà trị chúng sao? Nhập lấy
những lời