-
Chương
IV-2
-
Mâu
Tử và Lý hoặc Luận
Cuộc
đời và tên tuổi Mâu Tử
Trong phần mở đầu Lý hoặc luân,
Mâu Tử có nói ít nhiều về quá trình học tập và chuyển
hướng theo Phật giáo của mình, đồng thời trình bày lý
do tại sao mình lại viết Lý hoặc luận. Phần này các nhà
nghiên cứu thường gọi là phần tự truyện.
Phân tích phần này sẽ cho chúng
ta những cột mốc niên đại khá chính xác về cuộc đời
của Mâu Tử, và từo đó của Lý hoặc luận. Bắt đầu giới
thiệu, Mâu Tử viết:
"Mâu Tử đã đọc kinh truyện Chư
Tử, sách không kể lớn nhỏ, không sách gì là không thích.
Tuy không ưa binh pháp, mà vẫn đọc nó. Tuy đọc sách thần
tiên bất tử, ông dẹp đi không tin, cho là dối trá.
Thời ấy, sau khi Linh đế băng hà,
thiên hạ nhiễu loạn, chỉ có Giao Châu tạm yên. Người lạ
phương Bắc đều đến để ở, phần lớn luyện phép tích
cốc trường sinh cuả thần tiên. Người bấy giờ phần nhiều
là kẻ có học. Mâu Tử thường đem năm kinh vặn hỏi. Đạo
gia thuật sĩ không ai dám đáp, ví ông với Mạnh Kha cự Dương
Chu Mặc Địch.
Trước thời ấy, Mâu Tử đem mẹ
tránh nạn ở Giao Chỉ. Năm 26 tuổi về Thương Ngô cưới
vợ. Thái thú nghe tiếng học giỏi, đến thăm và mời làm
quan. Bấy giờ tuổi mới lớn, chỉ ham việc học, lại thấy
đời loạn, không có ý làm quan, nên rốt cuộc không đến.
Lúc ấy, các châu quận nghi nhau, cách trở không thông, thái
thú cho ông học rộng biết nhiều, sai đi Kinh Châu dâng lễ.
Mâu Tử cho vinh trước dễ nhượng, nhưng sứ mệnh khó từ.
Bèn chuẩn bị lên đường, thì gặp lúc Châu mục ưu văn
đãi sỹ, bổ làm quan. Ông lại cáo bệnh, không đến.
Ngưòi em Châu mục làm thái thú
Dự Chương bị trung lang tướng Trước Dung giết. Bấy giờ
Châu Mục sai kỵ đô úy Lưu Ngan đem binh đến đó, nhưng sợ
cõi ngoài nghi ngờ, quân không tiến được. Châu mục mới
mời Mâu Tử, nói: "Em tôi bị nghịch tặc ám hại, nỗi đau
cốt nhục uất phát tim gan, phải sai kỵ đô uý Lưu đi, sợ
cõi ngoài nghi nan, người đi không thông. Ngài văn võ gồm
đủ, có tài chuyên đối. Nay muốn dẹp bỏ, mượn đường
Linh Lăng Quế Dương để cho thông lộ, thì thế nào?". Mâu
Tử nói: "Chịu nghĩa, thụ ân đãi ngộ lâu ngày, liệt sĩ
quên mình, hứa chắc đi được" Bèn chuẩn bị ra đi, thì
gặp mẹ mất bất ngờ, nên không đi được.
Lâu rồi, rút lui nghĩ: "Mình vì
giỏi biết mà được giao sứ mạng. Đời nay nhiễu nhương,
chẳng phải lúc làm rõ mình". Rồi than: "Lão Tử dứt thánh
bỏ trí, tu thân giữ chân, vạn vậwt không ngăn chí ông, thiên
hạ không đổi niềm vui ở ông, thiên tử không được bề
tôi, chư hầu không được người bạn. Nên gọi là quí".
Do thế ông dốc chí vào đạo Phật
gồm ngâm Lão Tử năm ngàn chữ, ngậm huyền diệu làm rượu
ngon, chơi năm kinh làm đàn sáo. Bọn thế tục phần nhiều
cho là không phải, bảo là bỏ năm kinh mà theo đạo khác.
Muốn không phải đạo, mà muốn im thì không thể, nên đã
lấy bút mực, gọn dẫn lời thánh hiền để chứng giải,
đề tên Mâu Tử Lý hoặc luận"
Qua những lời tự sự vừa dịch
ta thấy trong số các nhân vật liên hệ với cuộc đời cuả
ông, Mâu Tử nêu rõ tên hai người; đó là trung lang tướng
Trức Dung_1, và kỵ đô úy Lưu Ngạn. Về trung lang Trức Dung,
đây là một nhân vật lịch sử có tiếng tăm thời Hán mạt.
Tiểu sử của Trức Dung hiện được ghi kèm trong truyện Đào
Khiêm của Ngô chí 4 tờ 2a10-b8. Hai bản tiểu sử này chủ
yếu thống nhất với nhau, nhưng so ra bản của Ngô Chí đầy
đủ chi tiết hơn, nên chúng tôi cho dịch lại ở đây để
tìm hiểu về Trức Dung.
"Trức Dung người Đan Dương, ban
đầu họp chúng được mấy trăm người, đến dựa vào Châu
Mục Từ Châu Đào Khiêm. Khiêm sai coi vận tào Quảng lăng
Bành Thành, bèn phóng túng tự do giết hại, ngồi quyết đoán
việc bỏ hay thu thuế ba quận, để tự đem vào cho mình. Rồi
dựng lớn chùa Phật, lấy đông đúc làm người, vàng ròng
thếp mình, mặc dùng gấm màu, treo mâm đồng chín từng, dưới
làm lầu đôi có bao lơon, có thể chứa tới hơn ba nghìn nguời.
Tất cả từng buổi đọc kinh Phật, khiến người trong quận
mình và các quận bên có ai thích Phật giáo, cho phép đến
theo đạo, tha hết các phu dịch khác để lôi kéo họ. Nhờ
vậy, xa gần, trước sau, người đến hơn năm nghìn hộ người.
Mỗi lễ tắm Phật, thì phần nhiều dọn cơm rượu, trải
chiếu giữa đường, dài mấy chục dặm. Người dân đến
xem và tới ăn cả vạn người, phí tổn kể cả ức. Tào
công đánh Đào Khiêm, đất từ dạo động. Dung đem trai gái
một vạn khẩu, ngựa ba nghìn con, chạy đến Quảng Lăng.
Thái thú Quảng Lăng là Triệu Dục lấy khách lễ đối đãi.
Trước đó, tướng Bành Thành là Tiết Lễ bị Đào Khiêm
ép qua đóng Mạt Lăng. Dung lợi dụng dân chúng Quảng Lăng
nhân say rượu giết Dục, thả lính cướp sạch, nhân đó
chở đi, qua giết Lễ, rồi sau giết Hạc.
Sau câu cuối "giết Hạo" này, Hậu
Hán thơ thêm: "Vào chiếm thành của Hạo, sau bị thứ sử
Dương Châu Lưu Do đánh phát, chạy vào trong núi, bị người
ta giết" Chi tiết này Ngô chí 4 tờ 2a3-10 truyện Lưu Do nói
rõ hơn: "Tôn Sách vượt sông về đông, đánh Trương Anh và
Phàn Năng v.v... Lưu Do chạy tới Đan Đồ, rồi qua sông về
nam giữ Dự Chương, đóng ở Bành Trạch, Trức Dung đến trước,
giết thái thú Chu Hạo, vào ở trong quận. Do tiến quân đánh
Dung, bị Dung đánh bại, lại tập hợp các huyện minh đánh
Dug, Dung bại, chạy vào núi, bị dân giết".
Việc Lưu Do chạy về giữ Dự Chương,
Hán ký của Viên Hoằng do Bùi Tùng Chi dẫn trong Ngô chí 4
tờ 2a3-6 nói: "Lưu Do sắp chạy qua Cối Kê. Hứa Tử Tương
nói: "Cối Kê giàu có, là chỗ Sách tham. Hơn nữa, nó nằm
kẹt ở góc biển, không thể đến được. Không chỉ bằng
Dự Chương, bắc giáp đất Dự, tây tiếp Kinh Châu, nếu thu
được quan dân, sai sứ cống hiến thì có thể liên lạc vào
Tào Duyên châu. Tuy có Viên Công Lộ nằm cách ở giữa, nhưng
người này sài lang, không thể tồn tại lâu. Túc hạ lại
nhận lệnh vua, Mạnh Đức và Cảnh Thăg tất phải đến cứu"
Do làm theo".
Khi đến Dự Chương, đóng tại
Bành Trạch, theo Hiến đế xuân thu, của Viên Việp, mà Bùi
Tùng Chi dẫn trong Ngô chí 4 2a7-8 thì "nằm đó Do đồn Bành
Trạch, lại sai Dung giúp Hạo đánh Gia Cát Huyền do Lưu Biểu
dùng, Hứa Tử tương bảo Do: "Trức Dung ra quân, không quan
tâm đến chính nghĩa, Chu Văn Minh khéo suỵ sự thành thật
để tin người. Nên sai lén đề phòng". Dung đến, quả giết
Hạo, thay nắm việc quận".
Giang biểu truyện do Bùi Tùng Chi
dẫn trong truyện Tôn Sách cuả Ngô chí 4 8a4-10 kể rõ hơn
quan hệ Tôn Sách, Lưu Do, Trức Dung, và Tiết Lễ như sau: "Sách
vượt sông đánh doanh Ngưu Chữ của Do, lấy sạch kho lương
gạo chiến cụ. Năm ấy là năm Hưng Bình thứ 1 (195). Bấy
giờ tướng Bành Thành là Tiết Lễ, tướng Hạ Bì là Trức
Dung, dựa Do làm minh chúa. Lễ cứu thành Mạt Lăng, Dung đồn
huyện nam. Sách trước đến đánh Dung. Dung ra quân giao chiến.
Sách chém được 500 thủ cấp. Dung bèn đóng cửa không dám
hành động. Sách nhân đó vượt sông đánh Lễ. Lễ bỗng
bỏ chạy. Nhưng Phàn Năng, Vu Mỹ v.v... lại tập hợp lính,
tập kích, đoạt lại đồn Ngưu chữ, Sách nghe trở về, đánh
phá được Năng v.v.. Bắt được trai gái hơn vạn người,
lại trở xuống đánh Dung, bị tên bắn trúng thương bắp
vế, không thể cỡi ngựa, nhân đó tự trở về doanh Ngưu
Chữ. Hoặc có kẻ phản báo Dung: "Chàng Tôn bị tên đã chết".
Dung rất mừng, liền sai tướng đi nghe ngóng Sách. Sách sai
bộ kỵ mấy trăm khiêu chiến, đặt mai phục ở sau. Giặc
ra đánh, gươm dao chưa chạm nhau thì giả bỏ chạy. Giặc
đuổi theo vào trong chỗ mai phục, bèn đánh lớn, chém hơn
một ngàn thủ cấp. Sách nhân đó đi đến dưới doanh của
Dung, ra lệnh cho tả hữu hô lớn: "Chàng Tôn cuối cùng thế
nào rồi?". Giặc do thế kinh sợ, ban đêm trốn đi. Dung nghe
Sách vẫn còn, càng xây dựng hào sâu, luỹ cao, sửa soạn
đê giữ. Sách cho thế chỗ đất chỗ Dung đồn hiểm trở,
vững chắc, bèn bỏ đi đánh một tướng khác của Do ở Hải
Lăng, rồi chuyển qua đánh Hồ Thục, Giang Thừa đều hạ
cả".
Qua những tư liệu vừa dẫn, ta
thấy trự truyện của Mâu Tử nói tới "người em cuả Châu
Mục làm thái thú Dự Chương, bị trung lang tướng Trức Dung
giết", thì người em này không ai khác hơn là Chu Hạo. Truyện
Chu Tuấn trong Hậu Hán thơ 101 tờ 11a10-11 xác nhận Hạo là
con của Tuấn "cũng có tài hạnh là quan tới thái thú Dự
Chương" Hiến đế Xuân thu ghi thêm tên Chu Văn Minh. Văn Minh
như vậy là tự của Hạo. Tạ thị Hậu Hán thơ bổ đi 5
nhận xét: "(Hạo) đức hạnh thuần tốt, văn học xuất sắc".
Thế thì Trúc Dung giết Chu Hạo
vào thời điểm nào? Truyện Gia Cát Lượng trong Thục chí
5 tờ 1a 6-12 viết: "Lượng sớm mồ côi, tùng phụ Huyền được
Viên Thuật bổ làm thái thú Dự Chương. Huyền đem Lưọng
và em Lượng là Quân đến chỗ làm quan. Gặp lúc triều Hán
lại chọn Chu Hạo thay Huyền, Huyền vốn có quen biết cũ
với Kinh Châu mục Lưu Biểu, đến dựa vào Biểu". Ở đây,
Bùi Tùng Chi dẫn Hiến đế xuân thu nói: "Trước đó thái
thú Dự Chương là Châu Thuật bệnh chết. Lưu Biểu dâng sớ
cử Gia Cát Huyền làm thái thú Dự Chương đóng ở Nam Xương.
Triều Hán nghe Châu Thuật chết, sai Chu Hạo thay Huyền. Hạo
theo thái thú Dương Châu Lưu Do xin lính đánh Huyền. Huyền
rút về đóng Tây thành. Hạo vào Nam Xương. Tháng giêng năm
Kiến An thứ 2 (197) dân Tây Thành phản, giết Huyền, đưa
đầu đến Do".
Vậy, theo Giang biểu truyện, Tôn
Sách vượt sôgn đánh Lưu Do vào năm Hưng Bình thứ 2 (195),
Lưu Do mới chạy đến Dự Chương, vì ngoài lời khuyên của
Hứa Tử Tương còn có liên hệ với Chu Hạo, khi Hạo xin Do
quân để đánh Gia Cát Huyền. Việc xin quân này chắc chắn
phải xảy ra trước khi Tôn Sách vượt sông vào năm Sách vượt
sông đánh Do, cho nên Do không thể đưa quân chi viện cho Hạo,
vậy Hạo phải xin Do vào khoảng năm 193-194, nhân đó, Do sai
Trức Dung đem quân đến giúp Chu Hạo. Nhưng khi tới, Dung đã
giết Hạo và nắm lấy quân Dự Chương. Chính vì thế mà
Ngô chi viết khi Lưu Do "qua sông về nam giữ Dự Chương đóng
Bành trạch, Trức Dung đã đến trước, giết thái thú Chu
Hạo vào ở trong quận".
Việc Trúc Dung giết Chu Hạo chắc
phải xảy ra trước năm 195. Nhưng Trức Dung xuất thân là
cấp dưói của Đào Khiêm. Truyện của Dung dẫn trên nói khi
Tào Tháo đến đánh Khiêm, Dung đã "đem trai gái một vạn
khẩu, ngựa chín con, chạy đến Quảng Lăng". Bản kỷ của
Tào Tháo trong Ngụy chí 1 tờ 7a3 và 7a12 ghi Tào Tháo đem quân
đánh Khiêm 2 lần. Một lần vào mùa thu năm Sơ Bình thứ 4
(193) và một vào mùa hè năm Hưng Bình thứ 1 (194). Truyện
Đào Khiêm cũng trong Ngụy chí 8 tờ 7a 10-9a9 nói "Năm đó Khiêm
bệnh chết, thọ 63 tuổi". Thế thì, Trức Dung có đến thờ
Lưu Do làm minh chúa cùng với Tiết Lễ, như Giang biểu truyện
đã ghi, việc này ít lắm cũng phải xảy ra vào mùa thu năm
193 và mùa hè năm 194, khi Tào Tháo bắt đầu đánh Từ châu
và Đào Khiêm chết, nếu không phải từ mùa hè năm 194 trở
đi_1.
Hơn nữa, khi Lưu Do được bổ làm
thứ sử Dương Châu, thì châu lỵ ở Thọ Xuân đã bị Viên
Thuật chiếm. Cho nên, theo truyện Tôn Sách trong Ngô chí 1 tờ
7b5-11, Do đã vượt sông qua đóng ở Khúc A. Truyện Lưu Do
ở Ngô chí 4 tờ 1b11-12 nói cậu của Sách là Ngô Cảnh và
anh chú bác Tôn Bí đã đón Bí là người của Viên Thuật
bèn đuổi đi. Cảnh, Bí rút về Lịch Dương. Do sai Phàn Năng,
Vu My, Trần Hoành đóng ở Giang Tân (Hay Giang Biên), Trương
Anh đóng ở Dương Lợi khẩu. Cảnh và Bí đánh Phàn Năng,
Trương Anh cả năm hơn vẫng không thắng. Cho đến năm 195,
Tôn Sách vượt sông đánh dẹp Năng và Anh, Lưu Do mới qua
Dự Chương. Vậy Chu Hạo nếu đến xin quân của Do, cũng phải
đến lúc Do đang đóng ở Khúc A, tức trước năm 195. Có thể
việc xin quân đã xảy ra năm 193 và chắc chắn năm 194 Trức
Dung đã được Lưu Do gởi qua giúp cho Hạo. Và Dung đã giết
Hạo vào năm 194 này, để đến năm 195 khi Lưu Do chạy đến
Dự Chương, thì Hạo đã chết, và Do phải đem quân trừng
phạt Dung.
Khi nghe tin Trức Dung giết Chu Hạo
ở Dự Chương châu mục Giao Châu vì "nỗi đau cốt nhục"
đã "sai kỵ đô uý Lưu Ngạn đem binh đến đó. Nhưng sợ
cõi ngoài nghi ngờ, quân không đến được, nên châu mục
mới mời Mâu Tử, nói: "Em tôi bị bọn nghịch tặc giết,
nỗi đau cốt nhục dằn vặt tâm can, nay sắp sai Lưu Kỵ đô
úy đi, lại sợ cõi ngoài nghi nan, người đi không thông. Ngài
văn võ gồm đủ, có tài đối đáp, nay muốn dẹp bỏ nghi
ngờ, để mượn đường thông lộ qua Linh Lăng, Quế Dương
ngài nghĩ thế nào?" Mâu Tử đã hứa đi
Nhân vật kỵ đô uý Lưu Ngạn là
người thứ hai, mà Lý hoặc Luận nêu rõ tên. Truyện Tiết
Tôn trong Ngô chí 8 tờ 7b7-10, khi ghi lại lá sớ của Tôn viết
cho Tôn Quyền về việc chọn người gởi qua cai trị Giao Châu,
có đoạn: "Lại cố thứ sử Chu Phù đất Cối Kê phần lớn
dùng ngưòi cùng quê là bọn Ngu Bào, Lưu Ngạn, phân làm trưởng
lại, xâm lược bá tánh, ép thuế lên dân. Một con cá vàng,
thâu thuế gạo một hộc. Bá tánh oán phản, giặc núi cùng
nổi lên, đánh châu phá quận. Phù chạy vào biển, lưu lạc
chết mất".
Như thế, kỵ đô uý Lưu Ngạn là
một thuộc hạ cuả thứ sử Giao Châu Chu Phù. Chu Phù do vậy
là anh cùng cha của Chu Hạo và là con của Chu Tuấn. Truyện
Tuấn trong Hậu hán thơ 101 tờ 7b1-9 nói năm Quang Hòa thứ
1 (178) Tuấn được bổ làm thứ sử Giao Châu, và ghi Hạo
là con cuả Tuấn, nhưng không ghi Phù.
Truyện Tôn giả trong Hậu Hán thơ
6/1 tờ 14a1-b1 nói: "Năm Trung Bình thứ nhất (184) đồn binh
Giao Chỉ nhân bắt thứ sử và thái thú Hiệp Phố, tự xưng
Thiên Trụ tướng quân, Linh đế ra lệnh đặc biệt cho ba
phủ tỉnh tuyển quan có năng lực. Hữu ty đề cử Tôn làm
thứ sử Giao Chỉ".
Truyện Sĩ Nhiếp trong Ngô chí 4
tờ 7a5-11 chép: "Em (Nhiếp) là Nhất trước làm đốc bưu của
quận. Thứ sử Đinh Cung được gọi về kinh đô, Nhất hầu
hạ đưa tiễn ân cần. Cung cảm động. Đến khi chia tay, gọi
bảo: "Thứ sử nếu được đãi làm tam công, thì sẽ bổ
niệm cho". Sau Cung làm tư đồ, bèn bổ nhiệm Nhất. Nhất
vừa đến, Cung đã miễn quan. Hoàng Uyển thấy Cung làm tư
đồ, đãi ngộ Nhất rất có lễ. Đổng Trác làm loạn, Nhất
trốn về quê. Thứ sử Giao Châu Chu Phù bị giặc mọi giết.
Châu quận nhiễu loạn, Nhiếp dâng biểu xin cho Nhất giữ
thái thú Hiệp phố, em kế Từ văn lịnh Vỹ giữ thái thú
Cửu Chân, và em Vỹ là Vũ giữ thái thú Hải Nam.
Vậy, Chu Tuấn được bổ làm thứ
sử Giao Châu năm 178, thì người kế nhiệm là Giả Tôn rồi
Đinh Cung. Và Đinh Cung làm thứ sử cho khoảng tới năm 187,
thì ông trở về Lạc Dương làm tư đồ. Sau Cung chắc hẳn
phải là Chu Phù. Dẫu sao đi nữa, cho đến năm 193-194, Chu
Phù đang làm châu mục Giao Châu. Nên khi được tin Chu Hạo
bị Trức Dung giết, Chu Phù vì lý do cốt nhục đã cử Lưu
Ngạn đem quân đi trả thù. Nhưng do đường sá cách trở,
Chu Phù đã nhờ đến Mâu Tử, một con người "văn võ kiêm
bị, là có tài ăn nói".
Mâu Tử đồng ý giúp Chu Phù và
chuẩn bị ra đi, thì gặp lúc mẹ mất nên chuyến đi không
thành. Việc Chu Phù nhờ Mâu Tử như vậy phải xảy ra trong
khoảng những năm 194-195. Năm 195 này cũng chắc chắn là năm
mất của mẹ Mâu Tử. Sau biến cố mẹ mất này, Mâu Tử
lâu rồi rút lui nghĩ: "Mình vì giỏi giang, hiểu biết, mà
bị sai khiến. Nay đời nhiễu nhương, chẳng phải lúc làm
rõ mình". Rồi than: "Lão Tử dứt thánh bỏ trí, tu thân giữ
chân, vạn vật không ngăn chi mình, thiên hạ không đổi niềm
vui mình, thiên tử không có được bề tôi, chư hầu không
có được người bạn, nên mới gọi là quí". Từ đó, ông
dốc chí học Phật, nghiền ngẫm thêm Lão Tử và ngũ kinh.
Khi ông dốc trí như thế, "bọn thế tục phần lớn cho ông
bỏ năm kinh, mà theo đạo khác". Cho nên, ông đã viết Lý
hoặc luận để trả lời.
Rõ ràng, việc viết Lý hoặc luận
xảy ra không lâu sau đám tang của mẹ Mâu Tử, có thể vào
khoảng năm 198, vì Mâu Tử với tư cách một người con có
hiếu chắc chắn phải dành 3 năm cư tang cho mẹ mình. Cho nên,
khi tự truyện viết: "Lâu rồi rút nghĩ (cửu chi thối niệm),
chữ "lâu" trong câu ấy hẳn để chỉ thời gian cư tang vừa
nói. Sự thực, đúng theo tập tục thời đó, mà ta thấy qua
trường hợp của Ngu Phiên ở Ngô chí 12 tờ 1a8-9, Mâu Tử
phải dành một thời gian mặc áo tang cho mẹ mình. Vì thế,
hẳn không có việc viết sách tranh luận với người khác,
trong lúc cư tang. Do vậy, Lý hoặc luận khó mà ra đời trước
năm 198 vừa nói được.
Tất nhiên, không phải đến khi
mẹ mất, Mâu Tử mới biết Phật giáo. Ông đã biết Phật
giáo từ trước, và biến cố ấy tạo cơ hội cho ông "dốc
chí vào đạo Phật", sau khi đã quyết định là thời buổi
nhiễu nhương không ra làm quan nữa. Cứ vào tự truyện, Mâu
Tử là người hiếu học, "sách không kể lớn nhỏ, không
gì là không đọc", đọc cả sách quân sự và thuật thần
tiên trường sinh bất tử. Đối với thuật thần tiên này,
điều 31 của chính Lý hoặc luận ghi lại lời tự thuật
của Mâu Tử nói: "Tôi lúc chưa hiếu đạo lớn, cũng thường
học phép tịch cốc có mấy ngàn trăm thuật, thực hành thì
không hiệu nghiệm làm theo thì không kết quả, nên tôi bỏ.
Xem ba ông thầy tôi theo học, mỗi ông hoặc tự xưng 700, 500,
300 tuổi. Nhưng tôi theo họ học chưa đầy 3 năm, thì mỗi
một ông đã tự chết. Sở dĩ như vậy là do tuyệt cốc không
ăn, mà lại đi ăn trăm thứ trái cây, nhậu thịt nướng thì
nhiều mâm, uống rượu thì nhiều vò. Tinh thần hỗn loạn,
cốc khí không đủ, mắt tai lầm lạc, dâm bậy không cấm.
Tôi hỏi lý do vì sao, thì được đáp: "Lão Tử bảo bớt
đi lại bớt, cho đến vô vi, trò phải ngày một bớt". Nhưng
tôi thấy ngày chỉ một thêm chứ không bớt. Vì thế, họ
mỗi người không đến tuổi tri thiên mạng (50 tuổi) mà đã
chết. Vả lại, Nghiêu Thuấn Châu Khổng không một ai có thể
sống đến trăm tuổi. Thế mà, đời sau ngu hoặc lại muốn
ăn uống tịch cốc để tìm tuổi thọ vô cùng. Thương thay!".
Thế thì, trước khi "hiểu" Phật
giáo, Mâu Tử đã từng học sách thần tiên, tịch cốc thần
tiên bất tử 3 năm. Thời điểm xảy ra việc học này chắc
chắn phải trước năm 26 tuổi, khi Mâu Tử trở về Thương
Ngô lấy vợ. Phần tự truyện viết: "Thời ấy sau khi Linh
đế băng hà, thiên hạ nhiễu loạn, chỉ Giao Châu tạm yên.
Người tài phương bắc đều đến để ở, phần lớn học
phép tịch cốc trường sinh cuả thần tiên. Người bấy giờ
phần đông là có học. Mâu Tử thường đem năm kinh lại hỏi.
Đạo gia thuật sĩ không ai dám trả lời, sánh ông với Mạnh
Kha cự Dương Chu Mặc Địch. Trước thời ấy, Mâu Tử đem
mẹ qua lánh nạn ở Giao Chỉ. Năm 26 tuổi về Thương Ngô
cưới vợ".
Hán Linh đế băng hà vào năm Trung
Bình thứ 6 (189). Vào năm này xảy ra một loạt các biến cố,
đó là loạn Thập thường thị, dẫn đến cái chết của
Hà Tiến, rồi Đổng Trác vào kinh đô, sau đó tư đồ Vưong
Doãn nhờ Điêu Thuyền giết Đổng Trác năm 192, và sự xuất
hiện trên vũ đài chính trị Trung Quốc 3 nhân vật sau này
thành lập 3 triều đại kinh chống nhau, đó là Tào tháo, Lưu
Bị và Tôn Quyền. Đây là thời mà Mâu Tử gọi là "thiên
hạ nhiễu loạn" Thời này, những người tài (dị nhân) phương
bắc đổ dồn về sống ở Giao Chỉ. Tiểu sử của Sỹ Nhiếp
trong Ngô chí 4 tờ 7a12-13 viết: "Nhiếp tính khí khoan hậu,
khiêm hư hạ sĩ, sĩ nhân Trung Quốc đến dựa tị nạn kể
cả số trăm". Trong số này có những người đã làm nên sự
nghiệp lớn ở Trung Quốc như Tiết Tôn, Hứa Tinh, Hứa Từ
v.v... Điểm đặc biệt họ là những ngưòi có học và qua
nước ta lại "học thuật thần tiên trường sinh bất tử".
Bản thân Mâu Tử "khi chưa hiểu
đạo lớn" (Phật giáo) cũng từng bỏ ba năm học phép tịch
cốc. Và Thần tiên truyện của Cát Hồng, mà Bùi Tùng Chi
dẫn trong Ngô chí 4 tờ 7b11-12 truyện Sĩ Nhiếp kể: "Nhiếp
thường bệnh, chết đã 3 ngày. Tiên nhân Đổng Phụng đem
co một viên thuốc, lấy nưóc ngậm uống, dở cổ lên lắc
lắc. Uống một lúc, thì mở mắt động tay, nhan sắc dần
dần phục hồi. Nửa ngày thì có thể đứng lên ngồi xuống.
Bốn ngày thì nói năng lại được, rồi trở nên bình thuờng.
Phụng, tự là Quân Dị, người Hầu Quan".
Thần Tiên truyện 6 hiện còn rõ
thêm: "Sĩ Nhiếp được sống, nhân đó đứng dậy tạ ơn
nói: "Rất đội ơn lớn, biết lấy gì đền đáp". Bèn dựng
cho Phụng một tòa lầu trong sân. Như vậy hơn 1 năm, Phụng
từ biệt Nhiếp mà đi. Nhiếp khóc lóc giữ lại không được...
Phụng chết Nhiếp lấy hòm tẩn liệm đem chôn. Bảy ngày
sau, phá quách mở hòm xem, chỉ còn một giải lụa, một mặt
vẽ hình người, một mặt viết chữ đỏ làm bùa".
Đổng Phụng, ngưòi Hầu Quan, tức
huyện Mân Hầu, tỉnh Phúc Kiến bây giờ, đã sang sống ở
nước ta, để chữa bệnh cho Sĩ Nhiếp và sau đó được Sĩ
Nhiếp chôn cất lúc chết. Trong khi còn ở Trung Quốc, Phụng
đã từng dạy dỗ cho Bạch Hòa, như truyện Bạch Hòa trong
Thần tiên truyện 7 chép. Tam động châu nang 1 nói rõ thêm:
"Can quan người Bắc Hải mắc ung thư mấy chục năm, ông bán
thuốc không thể chữa lành, thấy trong chợ một ông bán thuốc,
họ Bạch, tên Hòa. Can quân đến hỏi; Ông nói: "Bệnh anh
có thể chữa. Anh nếu muốn được lành, ngày mai lúc gà gáy,
đến gặp dưới cây lan lớn phía bắc cầu lớn, ta sẽ dạy
anh". Ngày mai gà gáy, Can quân đến chỗ hẹn, thì ông Bạch
đã ở đó trước, giận nói: "Không muốn lành bệnh ư, sao
lại đến sau?". Lại hẹn nửa đêm ngày mai. Do thế, Can quân
lúc mặt trời lặn đến chỗ hẹn. Chốc lát ông đến, đem
Tố thư 2 quyển trao cho Can quân.. Can quân vái hai vái nhận
sách. Ông Bạch lại nói: "Anh trở về chép sách này thành
150 quyển". Can quân nghĩ được ý ông Bạch, trong để trị
thân dưỡng tánh, ngoài để tiêu tai cứu bệnh, không ai là
không chữa lành..."
Tiên uyển biên châu quyển trung
do Vương Tùng Niên đời Hậu đường (thế kỷ thứ X) dưới
mục thiên sư chánh nhất Can Cát Thái bình cũng kể lại truyện
Can Cát được Thái bình kinh. Nhưng câu "Về chép sách này
thành 150 quyển", thì nó sửa thành "Về chép sách này thành
170 quyển". Và thêm câu: "Đến nay có núi Thái Bình và khe
Can ở đó".
Chí lâm của Ngu Hỷ do Bùi Tùng
Chi dẫn trong Ngô chí 1 tờ 12a12 nói: "Xưa thời Thuận đế,
Cung Sùng đất Lang nha đến kinh đô dâng Thần thơ do thầy
mình là Vu Cát được ở Tuyền thủy của Khúc Dương, giấy
trắng bìa soon, gọi là Thái Bình thanh lĩnh đạo phàm trăm
Hác Vương, Thiên Thất vì tật bệnh, cảm tới Lão quân dạy
180 giới cùng Thái bình kinh một trăm bảy mươi thiên".Thiên
Thất đây là viết lầm cuả Can Thất, mà Hỗn nguyên thánh
kỷ 7 của Tạ Thủ Hạo đời Nam Tống nói: "Can Thát, sau đổi
tên là Cát_1. Truyện Cùng Sùng cuả Thần tiên truyện 10 chép:
"Thiên tiên trao cho Cát Thái bình kinh 10 bộ lụa xanh chữ đỏ".
Vân kíp thất thiêm 1 dưới điều Tam động kinh giáo bộ tứ
phụ viết về Thái bình kinh chính kinh ghi: "Quyển sổ nó hoặc
có chỗ không giống nhau. Nay giáp ất 10 bộ, hợp làm 170 quyển,
nay thì còn lưu hành. Theo Chính nhất kinh, nói: "Có Thái Bình
động cực một trăm bốn mươi quyển. Nay kinh này đã trôi
mất đến gần hết". Mạnh An Bài đời Lương viết Đạo
giáo nghĩa xu 2, sau câu vừa dẫn, nói thêm: "Đến thời Hán
Thuận đế, Cung Sùng đến kinh đô dâng thần thơ một trăm
mười quyển do thầy ông là Can Cát tìm được gọi là Thái
bình kinh. Vua không tin, kinh ấy bèn ẩn".
Vậy, tiên nhân Đổng Phụng sống
và chết ở nước ta đã có một liên hệ mật thiết với
Bạch Hòa, thầy của Can Cát. Và Can Cát là ngưòi truyền bá
thần thơ Thái Bình kinh 170 quyển. Giang biểu truyện do Bùi
Tùng Chi dẫn trong truyện Tôn Sách của Ngô chí 1 tờ 12a5-11
kể chuyện Sách giết Can Cát. Sứu thần ký cũng do Bùi Tùng
Chi dẫn trong Ngô chí 1 tờ 13b10-12 lại viết: "Sách đã giết
Vu Cát. Mỗi khi ngồi một mình thì phảng phất thấy Cát ở
bên phải bên trái mình, lòng rất ghét... Sau trị vết thương
mới lành, đem gương soi mình, thấy Cát trong gương, nhìn kỹ
thì không thấy. Như thế ba làn. Nhân đó vứt gương, kêu
lớn. Vết thương lại vỡ ra, chốc lát thì chết".
Tôn Sách chết tháng tư năm Kiến
An thứ 5 (200) Vậy Can Cát chắc cũng bị Sách giết vào năm
này. Cả Chí lâm lẫn Đạo giáo nghĩa xu 2 đều nói học trò
của Can Cát là Cung Sùng đem thần thơ Thái Bình kinh của Cát
hơn một trăm quyển dâng cho vua Thuận đế nhà Hán trong khoảng
những năm 130. Điều 29 của Lý hoặc luận cũng nhắc tới
"Thần thơ một trăm bảy chục quyển" Việc này chứng tỏ
một trong những văn kiện chính yếu của đạo giáo là Thái
bình kinh đã lưu hành rộng rãi ở nước ta, khi Mâu Tử viết
Lý hoặc Luận. Có thể chính Thái bình kinh là một trong các
"Sách thần tiên bất tử" mà Mâu Tử đọc và "dẹp đi mà
không tin, cho là dối trá".
Như thế, "Khi chưa hiểu đạo lớn",
Mâu Tử đã từng đọc sách vở đạo giáo và bỏ ra ba năm
luyện phép tịch cốc. Nhưng do không có hiệu quả, Mâu Tử
sau đó đi đến kết luận các sách vở ấy là "dối trá".
Tuy nhiên, phần lớn "Ngưòi tài" Trung Quốc sang tị nạn tại
nước ta lại theo học đạo đó. Cho nên Mâu Tử đã đem "năm
kinh" Nho giáo ra vặn hỏi. Đám "Đạo gia thuật sỹ" không
ai dám trả lời. Dầu vậy, cần chú ý là dù họ không trả
lời, không có nghĩa là họ khuất phục. Do đó, đến khi đã
theo Phật giáo và viết Lý và luận, Mâu Tử phải dành 9 trong
37 điều của tác phẩm ấy để kích bác đám "đạo gia thuật
sỹ" và những thuật "tịch cốc trường sinh bất tử" cuả
họ, biểu thị một mối quan tâm đặc biệt đối với học
thuyết và phương thức tu hành cuả đám ấy.
Sự kiện Mâu Tử đem "năm kinh"
ra vặn hỏi đám này chứng tỏ họ không những "người có
học" như Lý hoặc luận ghi, mà còn là những kẻ theo Nho giáo,
những sỹ nhân, như truyện Sĩ Nhiếp của Ngô chí đã chép.
Thời điểm xảy ra sự kiện ấy Mâu Tử nói là sau khi Hán
Linh để băng hà, tức sau năm 189, một thời điểm hoàn toàn
phù hợp với những tư liệu hiện có. Ngụy chí 1 tờ 36b9-11
dưới mục bản kỷ của Tào Tháo viết: "Trước đó Viên
Trung làm tướng đất hải thưòng muốn dùng luật trị Thái
Tổ. Hoàn Thiện nưóc Bái cũng khinh. Đến khi ở Duyện Châu,
Biên Nhượng đất Trần Lưu ăn nói nhiều lần rất đụng
chạm Thái Tổ. Bèn giết nhượng, tru di cả gia đình. Trung
và Thiện đều tị nạn ở Giao Châu. Thái Tổ sai sứ đến
thái thú Sỹ Nhiếp đều giết hết. Hoàn Thiện được đầu
thú, ra vái tạ trong sân, Thái Tổ bảo: "Quỳ mà được thoát
chết sao?". Bèn giết đi, Tào Tháo được bổ làm thứ sử
Duyện Châu năm Sơ Bình thứ nhất (190), Viên Trung và Hoàn
Thiện phải chạy đến nước ta năm đó.
Truyện Viên Trung trong Hậu Hán thơ
75 tờ 7a10-b4 chỉ nói: "Sau Tôn Sách phá Cối Kê, Trung v.v...
vượt biển về nam đến Giao Chỉ. Hiến đế đóng đô ở
Hứa, trưng làm vệ úy, chưa đến thì mất". Vậy, chưa hẳn
Trung đã đến khoảng năm 190 và bị Sĩ Nhiếp giết. Viên
Trung do thế đã sống ở nước ta một thời gian.
Nếu Hoàn Thiện không may mắn thì
Hoàn Việp may mắn hơn. Việp là chắt của Hoàn Vinh, thầy
học của Minh đế. Hậu Hán thơ 67 tờ 7b1-12 ghi truyện Việp:
"Việp từ là Văn Lâm, một tên là Nghiêm, rất giữ ý chí.
Cô ta là phu nhân của tư không Dương Tứ. Khi Loan (cha của
Việp) chết, cô đi điếu. Sắp đến (nhà) thì nghỉ ở quán
trọ, chỉnh đốn lại nhưĩng người đi theo, rồi sau mới
vào. Lòng Việp cho là không phải, đến cô hỏi thăm Việp
rốt cuộc không nói một lời, chỉ khóc lóc mà thôi. Tứ
Sai quân lính dâng đồ cúng, nhân ra huyện lấy chén dĩa. Việp
cự không nhận. Sau mỗi khi đến kinh, chưa từng đến ở
nhà họ Dương. Kiên trinh là thế. Khách khứa di theo đều
khâm phục chí hạnh của ông. Một bữa ăn không nhận ở
ngưòi khác. Làm quan đến quận công tào. Sau cử hiếu liên
hữu đạo phương chính mậu tài. Tam Công bổ ra làm quan, đều
không nhận. Trong khoảng Sơ Bình (190-193) thiên hạ loạn lạc,
lánh nạn Cối Kê, rồi vượt biển đến khách Giao Chỉ. Ngưòi
Việt thay đổi khí tiết ông, đến xóm làng không hay tranh
cãi. Ông bị ngưòi tù vu cáo, bèn chết ở ngục Hợp phố".
Hoàn Việp tuy mắn đến được
nước ta, nhưng cuối cùng cũng chết trong ngục Hợp phố.
Chỉ có Hứa Tinh là may mắn hơon. Truyện Hứa Tỉnh trong Thục
chí 8 tờ 195-b9 nói: "Linh đế băng hà, Đổng Trác nắm quyền",
Hứa Tỉnh cùng Châu Bí đề cử Hoàn Phúc làm châu mục Ký
Châu, Lưu Đại làm thứ sử Duyện Châu v.v... Khi đến nhậm
chức rồi, Phức cùng những người khác đem quân về đánh
Trác. Trác giận chém Bí. Hứa Tịnh cùng tùng huynh Hứa Dương
chạy đến thứ sử Dự Châu là Khổng Do. Do chết, lại qua
nhờ thứ sử Dương Châu Trần Vĩ. Vĩ chết, Hứa Tĩnh lại
đến chỗ quen biết trước là đô uý Ngô quận Hứa Công
và thái thú Cối Kê Vương Lãng. Tôn Sách vượt sông về đông,
họ đều chạy đến Giao Châu để tỵ nạn. Tỉnh ngồi trên
bờ, trước cho chở bà con thân sơ theo đi hết, rồi sau mới
theo đi. Đương thời ai thấy không ai là không khen ngợi. Khi
đến Giao Chỉ, thái thú Sĩ Nhiếp kính đãi nồng hậu. Viên
Huy đất Trần Quốc đã ngụ cư Giao Châu. Huy viết thư cho
thượng thơ lệnh Tuân Hoắc nói: "Hứa Văn Hưu anh tài vĩ
sĩ, trí lược đủ để gánh vác công việc, từ ngày lưu
lạc đến nay đã cùng đám sỹ phu theo nhau. Mỗi có hoạn
nạn thường trước giúp người, sau mới lo mình, cùng chín
họ trong ngoài chịu đói, rét, kỷ cương với đồng loại,
nhân thứ trắc ẩn, đều có kết quả, không thể đem một
hai việc nói hết được".
Tôn Sách vượt sông về đông năm
Hưng Bình thứ 2 (195) nên Hứa Tỉnh cũng phải chạy qua nước
ta năm ấy. Và chạy qua năm ấy không phải một mình Hứa
Tỉnh mà còn có Viên Bái, Đặng Tử Hiếu, Từ Nguyên Hiền
v.v... ngoài bà con thân thuộc của Tinh, như lá thư cuả Tinh
viết cho Tào Tháo năm 205 trong Thục chí 8 tờ 2a3-3b8 đã nói.
Điểm đáng ghi nhận là khi Tỉnh đến nước ta năm 195, thì
Viên Huy đã có mặt. Truyện Viên Hoán trong Ngụy chí 11 tờ
3b6-10, chỉ nói Huy gặp thiên hạ loạn, tỵ nạn Giao Châu
nhưng không nói năm nào. Bây giờ ta biết là phải trước
năm 195. Hẳn Huy qua một đợt với Hoàn Việp vào năm 190.
Ngoài Hứa Tỉnh, Viên Huy, Viên Bái...
Thục chí 12 tờ 4a5-b4 còn ghi: "Hứa Từ tự Nhân Đốc, người
Nam Dương, thờ Lưu Hy làm thầy, giỏi môn học họ Trịnh,
trị Dịch, Thượng thơ, Tam lễ, Mao thi, Luận ngữ. Trong khoảng
Kiến An (196-220) cùng Hứa Tỉnh v.v.. đều từ Giao Châu vào
Thục". Ngô Chí 8 tờ 4b8-10 lại chép: "Trình Bỉnh, từ Đức
Xu, người Nam Đốn, Nhử Nam, vốn thờ Trịnh Huyền, sau tỵ
nạn Giao Châu, cùng Lưu Hy khảo luận đại nghĩa,nên bác thông
năm kinh. Sĩ Nhiếp bổ làm trường sử. Tôn Quyền nghe tiếng
danh nho, dùng lễ trưng Bình, Binh đến, phái làm thái tử thái
phó" Cũng Ngô chí 8 tờ 6a7-4 chép thêm: "Tiết tôn, tự Kinh
Văn, người Trúc Ấp, Bái quận, nhỏ theo ngưòi bà con, ty
địa Giao Châu, theo Lưu Hy học, Sĩ Nhiếp đã theo Tôn Quyền,
mời Tôn làm ngũ quan trung lang, rồi thái thú Hợp Phố, Giao
Chỉ".
Thế thì, ngoài những người kể
trên, ta còn có ba người học trò cuả Lưu Hy là Hứa Từ,
Trình Bình và Tiết Tôn, và bản thân ngưòi thầy là Lưu Hy.
Trình Bình trở về Trung Quốc, chắc chắn trước năm Hoàng
Vũ thứ 4 (225) khi Tôn Quyền gả con gái của Chu Du cho Tôn
Đăng làm vợ, và Bỉnh với tư cách thái tử thái phó đã
răn dạy Đăng. Còn Tiết Tôn được triệu về Trung Quốc,
khi Sĩ Nhiếp về theo phe Tôn Quyền và năm Kiến An thứ 1 (21),
như truyện Sĩ Nhiếp cuả Ngô Chí 4 tờ 8a8 đã ghi. Về Hứa
Từ, vì theo Hứa Tinh lên Thục, mà Hứa Tinh năm Kiến An 16
(211) từ thái thú Ba quận chuyển làm thái thú Thục quận,
và năm Kiến An thứ 10 (205) đang còn ở Giao Châu viết thư
cho Tào Tháo cho nên, Hứa Từ phải rời Giao Chỉ vào khoảng
giữa những năm 205-210.
Do vậy, tuy ngày nay ta không biết
chính xác Lưu Hy qua tỵ nạn nước ta vào năom nào điều chắc
chắn là phải trước những năm 200 sdl. Nghiêm Khả Quân trong
Toà Hậu Hán văn 86 và Diệp Đức Huy sau đó trong Chấp Mạnh
Tử Lưu Hy chú đã nghiên cứu sự tích và công trình trước
tác của Hy khá tường tận. Đặc biệt là Diệp Đức Huy
đã viết Lưu Hy sự tích khảo và chép vào trong tác phẩm
vừa kể. Kết quả là Lưu Hy "trong khoảng Trung Bình Trưng
làm bác sĩ, đồng bổ làm An Nam thái thú, sau tránh giặc ở
Giao Châu, nên Trình Bình, Tiết Tôn, Hứa Từ cùng theo để
học. Hy chết vào năm Xích ô của nhà Ngô".
Niên hiệu Trung Bình của Hán Linh
để bắt đầu vào năm 184 đến 189. Nếu trong khoảng những
năm này Lưu Hy được trưng làm bác sĩ, thì việc tránh nạn
sang nước ta cũng có thể xảy ra să năm 189, tức như Mâu
Tử nói: "Sau khi Linh đế băng hà, thiên hạ nhiễu loạn, chỉ
Giao Châu tạm yên, người tài phương Bắc đều đến để
ở" Sự thật, ngay từ khi Linh đế đang sống, tức trước
năm 189, một số người Trung Quốc đã muốn đến tỵ nạn
Giao Châu. Truyện Lưu Yên trong Thục chí 1 tờ 1a9-12 đ4 chép:
"Yên thấy chính trị Linh đế suy khuyết, nhà vua nhiều nạn,
bèn kiến nghị nói thứ sử thái thú dùng tiền của hối
lộ để làm quan, nên cắt lột bá tánh, làm cho họ ly phản,
vậy nên chọn trọng thần tiếng tốt để làm mục bá, trấn
an đất nước. Yên bên trong xin làm châu mục Giao Chỉ, muốn
trán nạn đời". Rõ ràng, không chỉ sau năm 189, mà trước
đó những "dị nhân" phương Bắc đã tìm về nước ta. Và
sau năm ấy, dòng chảy "dị nhân" về phương nam càng dồn
dập hơn. Số "dị nhân" này đến nước ta, theo Mâu Tử, "phần
lớn thực hành thuật thần tiên tịch cốc trường sinh" Mâu
Tử đã dùng "Ngũ kinh" để vặn hỏi và họ đã "không dám
trả lời".
Trước năm 189, Mâu Tử nói ông
đem mẹ qua tỵ nạn ở Giao Chỉ, năm 26 tuổi về Thương Ngô
cưới vợ. Việc đem mẹ qua nước ta và việc trở về Thương
Ngô lấy vợ như thế chắc chắn xảy ra trước năm 189. Gỉả
như năm 189, ông về cưới vợ, thì Mâu Tử phải sinh vào
khoảng năm 165, tức năm Diên Hy thứ 7 đời Hán Hoàn Đế.
Tuy nhiên, vì Mâu Tử nói "trước thời đó", tức trước thời
Linh đế băng hà năm 189, nên có khả năng Mâu Tử phải sinh
vào khoảng những năm 160, tức Diên Hy thứ 2, và trở về
Thương Ngô cưới vợ khoảng năm 186. Lý do cho giả thiết
thời điểm này sẽ nói sau.
Khi về Thương Ngô cưới vợ, Mâu
Tử kể tiếp là ông được "thái thú (Thương Ngô) nghe tiếng
ông học giỏi, mời đến thăm và bổ làm quan. Nhưng "lúc
ấy tuổi đang cường tráng, chí lãm việc học, lại thấy
đời loạn, Mâu Tử không có ý làm quan", nên Mâu Tử từ
chối không nhận. Tuy không nhận quan tước với thái thú Thương
Ngô, song khi ông này nhờ ông đi Kinh Châu "trí kỉnh", Mâu
Tử đã nhận lời. Truyện Sĩ Nhiếp trong Ngô Chí 4 tờ 7a13-8a10
ghi nhận quan hệ giữa Thương Ngô và Kinh Châu như sau:
"Chu Phù chết, Hậu Hán sai Trương
Tân làm thứ sử Giao Châu. Tan sau đó lại bị tướng của
mình là Khu Cảnh giết; châu mục Kinh Châu Lưu Biểu sai Lại
Cung đất Linh Lăng thay Tân. Lúc ấy, thái thú Thương Ngô Sứ
Hoàng chết, Biểu lại sai Ngô Cự thay Hoàng, cùng Cung đi đến.
Nhà Hán nghe Trương Tân chết, ban tí thơ cho Nhiếp nói: "Giao
Châu đất xa, nam tiếp sông biển, ăn trên không tuyên, nghĩa
dưới ùn tắc, biết nghịch tặc Lưu Biểu lại sai Lại Cung
dòm ngó đất Nam. Nay cho Nhiếp làm Tuy nam trung lang tướng,
tổng đốc bảy quận, giữ thái thú Giao Chỉ như cũ". Sau
Nhiếp lại sai Trương Văn dâng cống đến kinh đô. Lúc ấy
thiên hạ tán loạn, đường sá cắt đứt, mà Nhiếp không
bỏ chức cống, nên đặc biệt lại hạ chiếu phái làm An
viễn tướng quân, phong Long độ đình hầu. Sau Cự với Cung
mất lòng nhau. Cự đem quân đuổi Cung. Cung chạy về Linh lăng.
Năm Kiến An 15 (210) Tôn Quyền sai Bộ Chất làm thứ sử Giao
Châu. Chất đến, Nhiếp đem anh em vâng nhận sự điều khiển,
nhưng Ngô Cự có dị tâm, Chất chém Cự".
Qua lời sớ của Tiết Tôn và truyện
Sĩ Nhiếp dẫn trước, ta biết Chu Phù đã sử dụng đám "hương
nhân" của mình là Ngu Bảo và Lưu Ngạn di "Xâm ngược bá
tánh", nên bị nhân dân ta, mà Trần Thọ gọi là "giặc mọi"
(di tặc) giết. Giết vào năm nào? Chắc chắn là sau năm 194,
năm Chu Hạo bị Trức Dung giết và Chu Phù nhờ Mâu Tử đi
mở đường. Chu Phù cô thế bị giết khoảng năm 195 trở
đi cho đến 197.
Sau khi Phù bị giết, triều Hán
cử Trương Tân qua làm thứ sử. Giang biểu truyện do Bùi Tùng
Chi dẫn trong Ngô Chí 1 tờ 12a 5-11 nói: "Bấy giờ có đạo
sĩ Vu Cát đất Lang Nha, ngụ cư phương đông, đi lại Ngô
Hội, lập tịnh xá, đốt hương, đọc sách đạo, chế làm
nước bùa (phù thủy) để trị bịnh. Người Ngô Hội phần
nhiều thờ ông. Sách thường ở trên lầu cửa thành quận,
tập họp khách khứa các tướng. Cát bèn ăm mặc xum xoe, chống
gậy nhỏ_1 sơn vẽ gọi là gậy người tiên, đi qua dưới
cửa. Khách khứa các tường hai phần ba xuống lầu đón lạy.
Quan chướng tân cấm la, cũng không thể ngăn. Sách liền hạ
lệnh bắt Cát. những người thờ Cát sai vợ và con gái vào
gặp mẹ Sách xin cứu Cát. Bà mẹ gọi Sách nói: "Vu tiên sinh
giúp quân làm phước, chữa giúp tướng sĩ, không nên giết".
Sách nói: "Tên này yêu vọng, có thể huyễn hoặc lòng người,
xa khiến các tướng không còn quan tâm đến lễ nghĩa vua tôi,
đều bỏ Sách, xuống lầu lạy nó, không thể không trừ nó".
Các tướng lại liên danh trình bày sự việc xin tha Sách nói:
"Xưa Trương Tân đất Nam Dương làm thứ sử Giao Châu, vứt
điển huấn thánh trước, bỏ pháp luật nhà Hán, thường
mặc áo đỏ, bịt đầu, đánh đàn, đốt hương, đọc sách
đạo tà tục, bảo để giúp giáo hóa, cuối cùng bị mọi
nam giết. Điều đó rất vô ích, các vị chỉ chưa hiểu thôi.
Nay tên này đả ở trong sách cũ, đừng tốn thêm giấy bút
với nó". Liền lôi ra chém, treo đầu ở chợ. Những người
thờ Cát vẫn không nói là chết, mà bảo là thi giải, rồi
cúng vái cầu phước."
Ngu Hỷ viết Chí Lân dẫn trong Ngô
chí 1 tờ 12b1-3 đã nhận xét: "Hỷ khảo cứu Hoàn Vương chết
ngày 4 tháng 4 năm Kiến An thứ năm (200). Lúc ấy Tào, Viên
đánh nhau chưa có thắng bại. Cứ thơ của Hạ Hầu Nguyên
Nhượng viết cho Thạch Uy Tắc sau khi phá Viên Thiệu, thơ
nói: "Đem Trường Sa trao cho Tôn Bí, lấy Linh Quế làm cơ nghiệp
cho Trương Tân". Điều này là chỉ Hoàn Vương mất trước,
Trương Tân chết sau, không được nhượng, nói vì ý Tân chết".
Bùi Tùng Chí trong Ngô Chí 1 tờ
12b3-4 nói rõ ra là Giang biểu truyện sai, khi bảo Trương Tân
chết trước Tôn Sách: "Theo Giao Quảng nhị châu xuân thu do
đại trung chính Quảng Châu Vương Phạm dâng lên vào năm Thái
Khương thứ 8 (287), thì Kiến An năm thứ 6 (201) Trương Tân
còn làm châu mục Giao Châu. Giang biểu truyện sai, như Chí
lâm đã nói".
Fukui_1 bình luận về báo cáo cuả
Giang biểu truyện, dẫn thêm Địa lý chí hạ của Tấn thơ
15 nói Trương Tân làm thứ sử Giao Châu năm Kiến An thứ 8
(203), mà Hồ Tam Tỉnh đã tán đồng khi chú thích Tư trị
thông giám 66, rồi kết luận: "Trương Tân làm thứ sử Giao
Châu trong khoảng năm Kiến An thứ 6 (201), còn năm Chu Phù bị
giết là trước năm Kiến An thứ 5 (200)". Điểm đáng ngạc
nhiên là trong khi nhận ra nhân vật, mà Tôn Sách dẫn ra trên,
dứt khoát không phải Trương Tân, vì Tân còn làm thứ sử
Giao Châu sau khi Sách chết, thế mà Fukui vẫn bình luận tiếp
về lối sống "vứt điển huấn thánh trưóc, bỏ pháp luật
Hán gia, thường mặc áo đỏ gạch, bịt đầu, đánh đàn,
đốt hương, đọc sách tà đạo tà tục" là của Trương Tân,
mà không tìm thử xem ngưòi sống lối sống đó là ai.
Theo chúng tôi, thứ nhất, ngoài
chứng cứ cuả Chí lâm, Giao Quảng nhị châu xuân thu và Tấn
thơ địa lý chí, xác nhận Trương Tân còn làm thứ sử Giao
Châu sau khi Tôn Sách chết vào năm 200, ta còn có lá thư của
Hứa Tinh viết cho Tào Tháo vào năm 205, mà truyện Hứa Tỉnh
trong Thục Chí 8 tờ 203-3b7 đã chép lại, nói: "Đường đời
gai góc, họa loạn cùng hợp, khủng khiếp lén sống, tự trốn
mọi rợ, thanh hết mười năm.. Lại có Trương Tử Vân xưa
ở kinh đô, chí phò vương thất, nay tuy đến cõi hoang, không
được tham dự bản triều, thì cũng là phiên trấn cuả quốc
gia, ngoại viện cuả túc hạ...". Sau câu vừa dẫn, Bùi Tùng
Chi chua: "Tử Vân, tên Tân, ngưòi Nam Dương, làm thứ sử Giao
Châu. Xem Ngô chí".
Vậy, sau khi Hứa Tinh đến Giao Châu
năm 195 và ở đó "thành hết mười năm", mới viết thư cho
Tào Tháo, và trong thư có nhắc đến vai trò của Trương Tân
đang còn sống đối với Tháo, thì rõ ràng đến năm 205, khi
lá thơ viết, Trương Tân đang còn là thứ sử Giao Châu. Như
thế, nhân vật mà Tôn Sách nêu ra trong lời nói của ông trong
Giang biểu truyện dứt khoát không phải là Trương Tân đất
Nam Dương. Ấy thì, ngưòi đó là ai?
Đây là điểm thứ hai chúng tôi
muốn đề cập tới. Thật ra, người đó không ai xa lạ hơn
là Chu Phù. Đáng lẽ, Giang biểu truyện phải viết Cối Kê
Chu Phù, thay vì Nam Dương Trương Tân, mới hợp với cái chết
của Tôn Sách vào năm 200. Lý do cho chúng tôi nghĩ nhân vật
ấy là Chu Phù gồm hai yếu tố. Một là Hậu Hán thơ im lặn
không nói tới quan hệ của Chu Phù với Chu Tuấn và Chu Hạo.
Đây là một hình thức bào hiếm mà bút pháp viết sử Trung
Quốc thường vận dụng đối với các nhân vật mà người
viết sử có những vấn đề không tán thành. Mà trong trường
hợp này nếu lối sống "vứt điển huấn thánh trước, bỏ
pháp luật Hán gia" quả là của Chu Phù, thì Chu Phù tất nhiên
phải chịu một hình phạt tức cho quên lãng vào lịch sử
bằng cách không được nhắc tới. Hai là quan hệ của Chu
Phù với Mâu Tử. VÀo năm 194. Mâu Tử lúc ấy đã là một
Phật tử thành tín. Sau khi Trức Dung giết Chu Hạo, Chu Phù
đã nhờ Mâu Tử, một Phật tử, giúp mình đi trả thù cái
chết của Chu Hạo. Quan hệ này phải nói không những có tính
chính trị, mà còn có tính tôn giáo nữa, vào lúc ấy. Ta có
trường hợp Trức Dung quan hệ với Triệu Dục của Quảng
Lăng và Tiết Lễ cuả Bành Thành. Viết Dụ nghi luận vào
cuối thế kỷ thứ IV, mà Tăng Hựu chép lại trong Xuất tam
tạng ký tập 5 ĐTK 2145 tờ 41b-11. Tăng Duệ đã nhắc tới
việc "Hán mạt Ngụy sơ, hai tướng Quảng Lăng và Bành Thành
xuất gia".
Bản thân Trức Dung là một Phật
tử nhiệt thành. Trong thời gian làm đốc vận tào ba quận
Quảng Lăng, Bành Thành và Hạ Bì, Trức Dung đã cho xây chùa
lớn, đúc tượng cao và gầy dựng một phong trào Phật giáo
mạnh mẽ, không những ở Hạ Bì, mà các quận ở bên cạnh,
như truyện Trức Dung dẫn trênn đã nói. Khi Tào Tháo đánh
Đaò Khiêm vào năm 193, Dung rút quân về Quảng Lăng. Tướng
Quảng Lăng là Triệu Dục đã đón tiếp Dung nồng hậu.
Truyện Trương Chiêu trong Ngô chí
7 tờ 1a6-b8 nói: "Trương Chiêu, tự Tử Bố, người Bành Thành,
nhỏ hiếu học, giỏi chữ lệ, theo Bạch Hầu Tử Am học
Tả thị xuân thu, rộng xem các sách, cùng Triệu Dục đất
Lang Nha, Vương Lãng đất Đông Hải, đều nổi tiếng bạn
tốt... Thứ sử Đaò Khiêm cử mậu tài, Chiêu không ứng.
Khiêm cho là khinh mình, nên Chiêu bị bắt, Dục hết mình tìm
cách cứu, Chiêu mới được miễn".
Triệu Dực cùng các danh nho Trương
Chiêu (155-235), Vương Lăng (?-229) làm bạn, do thế xuất thân
cũng là một nhà nho, và đã có cơ hội cứu Trương Chiêu
khỏi hình phạt của Đào Khiêm. Điều này chứng tỏ Dục
ra làm quan với Đào Khiêm tương đối sớm. Đến năm 193 Tào
Tháo tấn công Đào Khiêm, Dục đã làm thái thú Quảng Lăng,
để đón tiếp Trức Dung, lúc Dung rút quân tới. Tuy cuối
cùng Dung đã giết Dục, việc Dung tìm tới Dục biểu thị
một quan hệ mật thiết giữa họ đã được thiết lập từ
trước. Quan hệ này là quan hệ chính trị, nhưng không loại
trừ khả năng tôn giáo. Bản thân Trức Dung, như đã thấy,
là một Phật tử nhiệt thành. Bây giờ qua Dụ nghi luận ta
biết Quảng Lăng tướng Triệu Dục "xuất gia". Quan hệ giữa
họ như vậy mang nặng dấu ấn Phật giáo.
Tất nhiên, Triệu Dục không "xuất
gia", theo kiểu Nghiêm Phật Điều, người Trung Quốc đầu
tiên được lịch sử Phật giáo Trung Quốc xác nhận là "xuất
gia". Trái lại, ông "xuất gia" theo kiểu Giang biểu truyện
mô tả về Chu Phù nói trên theo lời của Tôn Sách, đó là
"vứt điển huấn của thánh trước, bỏ pháp luật của Hán
gia, mặc áo đỏ, bịt đầu, đánh đàn, đốt hương, đọc
sách
đạo tà tục, bao để giúp giáo hóa". Ý nghĩa chữ "xuất
gia" đã được mở rộng và qui chiếu theo một số tiêu chuẩn
mới: Thứ nhất là khước từ những tư tưởng khuôn phép
cũ, biểu thị ở đây bằng việc "vứt điển huấn cuả thánh
trước, bỏ pháp luật cuả Hán gia". Và thứ hai là chấp nhận
những tư tưởng lối sống mới, thể hiện bằng việc "mặc
áo đỏ, bịt đầu, đánh đàn, đốt hương, đọc sách đạo
tà tục".
Sự kiện "mặc áo đỏ, bịt đầu"
này đối với người Trung Quốc là một truyện lạ, như truyện
Lưu Bằng của Thần tiên truyên 5 đã ghi: "Điện hạ có chuyện
lạ (quái), rồi có mấy mươi người áo đỏ bịt tóc". Và
chỉ có những ngưòi "lập dị" mới làm như truyện Hướng
Hú cuả Hậu Hán thơ 111 tờ 19a7-8 đã nói: "Lại giống như
kẻ cuồng, thích cắt tóc, bịt đầu" là không đúng với
"phép tắc nhà Hán" và chỉ "cuồng sanh" mới làm. Trong khi
đó, ở nước ta điều 11 của Lý hoặc luận nói: "Nay sa môn
cạo tóc đầu, mặc áo đỏ, thấy người không có lễ nghi
qui đứng, không có dung mạo đoan trang, sai trái với phép mạo
phục, sai với cách ăn mặc vậy".
Đó là về hình thức lối sống.
Còn về tư tưởng, thì "đánh đàn, đốt hương, đọc sách
đạo tà tục". Sách đạo tà tục (tà tục đạo thơ) nói
ở đây không chỉ và không có nghĩa là kinh sách đạo giáo,
mà chỉ kinh sách Phật giáo. Hậu Hán thơ 118 tờ 18b6-7 trong
phần Tây Vực truyện khi bình luận về kinh Phật đã nói:
"(Kinh Phật) làm rõ lời dạy lắng lòng cởi lụy, làm rõ
tôn chỉ về không hữu gồm sai, thuộc dòng sách đạo" (đạo
thơ chi lưu). Vậy "đọc sách tà tục" đây chính là đọc
sách kinh Phật giáo.
Như thế, khi đọc kinh Chu Phù đã
"mặc áo đỏ, bịt đầu, đánh đàn, đốt hương", thì về
ngoại hình, thực không khác gì một nhà sư. Có lẽ, lúc kinh
Phật mới truyền vào Viễn Đông những thế kỷ đầu dương
lịch, việc ăn mặc lúc đọc kinh của những người tại
gia cũng như xuất giả không khác nhau lắm. Chính vì vậy,
Dụ nghi luận mới nói tới sự xuất gia cuả Triệu Dục và
Tiết Lễ.
Việc thế Chu Phù vào nhân vật
Trương Tân của câu nói Tôn Sách dẫn trên, như vậy, không
những phù hợp với thời điểm Tôn Sách chết, mà còn hoàn
toàn được lý giải qua quan hệ của Chu Phù với Mâu Tử
do Lý hoặc Luận ghi lại. Tôn Sách mất năm 200, mà Giao Quảng
nhị châu xuân thu của Vương Phạm lại nói năm 201 "Trương
Tân còn làm thứ sử Giao Châu". Thế thì Trương Tân đã làm
thứ sử Giao Châu trước năm 201, tức ít lắm là vào năm
Tôn Sách mất, nếu không là sớm hơn.
Theo chúng tôi, Trương Tân qua làm
thứ sử Giao Châu sớm hơn nhiều, có thể là vào năm 197,
sau khi Chu Phù bị "mọi man" giết vào khoảng năm ấy, như
đã giả thiết ở trên. Giả thiết này là dựa trên câu nói
cuả Tôn Sách trong Giang biểu truyện dẫn trước. Sách nói:
"Xưa Trương Tân đến Nam Dương làm thứ sử Giao Châu, vứt
điển huấn của thánh trước, bỏ pháp luật của Hán gia..."
Bây giờ ta đã biết: "Nam Dương Trương Tân" là một chép
lộn của "Cối Kê Chu Phù", thì việc Chu Phù chết phải xảy
ra trước năm Tôn Sách mất một thời gian đáng kể, để
cho Tôn Sách dùng chữ "xưa" (tích), khi đề cập đến Chu Phù.
Và ta cũng biết Chu Phù không thể mất trước năm 195, khi
Chu Hạo bị Trức Dung giết và Chu Phù đã yêu cầu Mâu Tử
giúp đỡ. Vậy, nếu Tôn Sách mất vào năm 200, thì năm 197
có khả năng là thời điểm Chu Phù bị giết, để ba năm
sau đó, khi kể lại sự kiện Chu Phù, Tôn Sách đã dùng chữ
"xưa" (tích).
Chu Phù mất năm 197, Trương Tân
qua làm thứ sử thế, cho đến ít lắm là năm 205, khi Hứa
Tinh viết thư giới thiệu Tân với Tào Tháo, như đã thấy.
Đồng thời, Tân phải mất trước năm 208, năm Lưu Biểu mất,
như truyện Lưu Biểu trong Hậu Hán thơ 104 hạ tờ 10a8-9 và
Ngụy chí 6 tờ 12b2 đã ghi, để cho Lưu Biểu cử Lại Cung
làm thứ sử Giao Châu thay Tân và Ngô Cự làm thứ sử Thương
Ngô thay Sử Hoàng. Năm Kiến An thứ 13 (208) Lưu Bị ở với
Lưu Biểu khuyên Biểu đánh Hứa. Biểu không nghe. Tào Tháo
lại dẫn quân nam chinh thì Biểu mất, nhân đó lấy được
Kinh Châu.
Giang biểu truyện do Bùi Tùng Chi
dẫn trong truyện Lưu Bị cuả Thục chí 1 tờ 6a12-b4 nói: "(Khi
Biểu mất) Tôn Quyền sai Lỗ Túc đi điếu Lưu Biểu, thăm
hai con Biểu, cùng lệnh kết liên với Lưu Bị. Túc chưa đến,
mà Tào Công đã vượt qua Hán Tân. Túc cố tiến về trước
để gặp Bị ở Đương Dương, nhân nói ý của Quyền, bàn
sự thế thiên hạ, tỏ lòng ân cần, đồng thời hỏi Bị:
"Dự châu nay muốn đi đâu?". Bị đáp: "Vì có quen với thái
thú Thương Ngô, Ngô Thần, nên muốn đi đến đó". Túc nói:
"Tôn Thảo lặc thông minh nhân huệ, kính hiền đãi sỹ, anh
hào Giang Biểu đều về qui phục, đã chiếm sáu quận, quân
giỏi, lương nhiều đủ để dựng việc. Nay vì ngài đưa
kế thì không còn gì hơn là sai ngưòi phúc tâm, khiến tự
liên kết với phía đông, tôn trọng sự liên hòa, cùng cứu
cơ nghiệp mấy đời. Còn nói muốn đến Ngô Thần, thì Thần
là một người tầm thường làm việc tại một quận xa, sắp
bị người ta thôn tính, há đủ để dựa vào ư?" Bị rất
mừng, tiến đến ở Ngạc huyện, liền sai Gia Cát Lượng
theo Túc đến Tôn Quyền thề kết đồng minh".
Rõ ràng, Ngô Thần mà Lưu Bị muốn
đến nương tựa ở đây, là Ngô Cự của truyện Sĩ Nhiếp
của Ngô chí dẫn trước, như Thục chí quyển nhị khảo chứng
tờ 1b2-3 đã nhận ra. Và năm mất của Lưu Biểu phải là
năm Kiến an 13 (208), chứ không phải 12, như truyện Lưu Bị
ở đây đã có. Vậy, Lưu Biểu mất năm 208 và Trương Tân
còn sống tới năm 205, thì việc Trương Tân và Sử Hoàng mất
chắc phải vào năm 206 và Lại Cung cùng Ngô Cự xuống thế
năm 207. Để năm sau khi Lưu Biểu mất, Lưu Bị đã có ý đến
ở nhờ Ngô Cự, lúc ấy đã thay Sử Hoàng làm thái thú Thương
Ngô.
Vậy thì, nếu Mâu Tử về Thương
Ngô cưới vợ vào khoảng những năm 186, thời điểm đó Sử
Hoàng đã làm thái thú thương Ngô chưa? Câu hỏi này ta hiện
không thể trả lời dứt khoát. Tuy nhiên, giống như trường
hợp Sĩ Nhiếp làm thái thú Giao Chỉ hơn 40 năm, tức từ khoảng
năm 180 đến năm Hoàng Vũ thứ 5 (226), ta có thể giả thiết
Sử Hoàng cũng làm thái thú Thương Ngô trong khoảng từ 180
đến khi mất khoảng 207. Nếu chấp nhận giả thiết này,
thì vị thái thú muốn mời Mâu Tử làm quan ở Thương Ngô,
không ai khác hơn là Sử Hoàng.
Chúng tôi phải nêu lên giả thiết
vì lá thư do Hứa Tih viết cho Tào Tháo trong truyện Hứa Tịnh
cho Thục chí 8 tờ 2a12-b3 nói là năn Hứa Tinh chạy qua nước
ta có ghé lại Nam Hải, nghe tin Tháo phò vua Hán bèn "Vừa buồn
vừa vui, liền với Viên Bái, Từ Nguyên Hiền lại cùng chuẩn
bị, tính lên Kinh Châu phía bắc. Gặp lúc các huyện Thương
Ngô, mọi Việt nổi lên như ong, châu phủ đổ nhào, đường
sá cắt đứt, Nguyên Hiền bị hại, già trẻ đều bị giết.
Tinh lần theo bờ mé, 500 dặm hơn, lại gặp đau ốm, bác gái
mất mạng cùng với những người đi theo và vợ con, một
lúc chết sạch. Lại phải bồng bế nhau, đi về phía trước
thì đến quận này" (tức Giao Chỉ). Vậy ngay năm 195, ở Thương
Ngô đã xảy ra cuộc khởi nghĩa của những người Việt,
"lật nhào châu phủ", thì không biết thái thú lúc ấy Sử
Hoàng hay một người khác nữa. Nay cứ tạm cho là Sử Hoàng
vẫ làm thái thú_1.
Sau khi Mâu Tử từ chối làm quan,
Sử Hoàng lại nhờ Mâu Tử đi Kinh Châu để "trí kinh". Truyện
Lưu Biểu trong Ngụy chí 6 tờ 12a1-b2 nói Lưu Biểu làm thứ
sử Kinh Châu từ năm 190.
Hiến đế kỷ trong Hậu Hán thơ
9 tờ 2b13 đều nói thái thú Trường Sa Tôn Kiên giết thứ
sử Kinh Châu Vương Duệ vào mùa đông năm Sơ Bình thứ nhất
(190), trong khi truyện Lưu Biểu cũng của Hậu Hán thơ 104 hạ
tờ 7a13-8a2 lại nói: "Năm Sơ bình thứ nhất thái thú Trường
Sa Tôn Kiên giết thứ sử Kinh Châu Vương Duệ, chiếu thư
lấy Biểu làm thứ sử Kinh Châu". Truyện Biểu trong Ngụy
chí 12 tờ 12a1 cũng nói thế. Truyện Sĩ Nhiếp trong Ngô chí
4 tờ 7a13-8a10 lại cho biết thêm Lưu Biểu đã từng có ý
đồ riêng đối với Giao Châu, để sau này khi Trương Tân
chết vào khoảng năm 205, Biểu đã cử Lại Cung đến thế
Tân làm thứ sử, dẫn tới việc Tào Tháo coi Biểu là một
tên "nghịch tặc".
Trước đây, vì ý đồ và hành
động dòm ngó của Lưu Biểu, cộng thêm với việc coi câu
nói của Tôn Sách trong Giang biểu truyện về Trương Tân chứ
không phải về Chu Phù, Fukui_2 đã giải thích sự kiện thái
thú Thương Ngô nhờ Mâu Tử đi "trí kinh" Kinh Châu, chính là
đi "trí kinh" Lưu Biểu. Giải thích này không phải là không
có những khó khăn của nó. Lý do là vi phần tự truyện của
Lý hoặc luận nói việc Mâu Tử trở về Thương Ngô lấy
vợ và được thái thú nhờ đi "trí kinh" Kinh Châu là phải
xảy ra "trước lúc đó" (tiên thị thời), tức trước lúc
Linh đế băng hà. Linh đế băng hà vào ngày Bính Thìn tháng
tư năm Trung Bình thứ 6 (189). Vậy nếu Mâu Tử có được
nhờ đi trí kinh Kinh Châu, thì cũng phải được nhờ vào khoảng
trước năm 189. Mà năm này Vương Duệ chắc chắn phải còn
làm thứ sử Kinh Châu, vì Duệ đến tháng 10 năm Sơ Bình thứ
nhất (190), tức hơn một năm sau mới bị Tôn Kiên giết. Cho
nên, không thể có chuyện Mâu Tử được nhờ đi Kinh Châu
để "trí kinh" Lưu Biểu. Khi Biểu tới nhận chức, tình hình
Kinh Châu cực kỳ rối loạn, đến nỗi "Biểu không thể đến
được, bèn một ngựa vào Kinh Thành, cho mời Bằng Việt ngưòi
Nam Quận, Thái Mạo người Tương Dương, cùng đến định
mưu kế hoạch", như truyện Biểu trong Hậu Hán thơ 104 hạ
tờ 8a3-5 đã ghi. Phải trải qua hơn 8 năm, sau khi đã dẹp
bọn giặc Tôn, giết Tôn Kiên và Trương Sa Trương Tiện đem
ba quận Linh Lăng, Quế Dương phản, Biểu sai lính đánh vây,
phá Tiện, bình định được, do thế mở đất rộng ra, nam
tiếp với Ngũ Lĩnh, bắc cứ Hán Xuyên, đất đai mấy ngàn
dặm, quân đội mười vạn hơn.
Thế có nghĩa phải đến năm 198,
tức hơn 8 năm sau khi nhậm chức, Kinh Châu của Lưu Biểu mới
ổn định. Và đặc biệt vào những năm đầu, nhất là năm
190, khi mới đến, tình hình quá phức tạp đến nỗi Biểu
phải "đơn mã" vào Nghi Thành, thì việc "Trí kinh Lưu Biểu"
do thái thú Thương Ngô nhờ Mâu Tử không thể nào xảy ra
được. Chính vì thế, việc đi "trí kinh" này, một mặt phải
xảy ra trước năm 189, như tự truyện của Lý hoặc luận
đã ghi, và mặt khác nhân vật được "trí kinh" không phải
là Lưu Biểu, mà là Vương Duệ. Dẫu sao đi nữa, Mâu Tử
đã không đi trí kinh Kinh Châu, và sau khi cưới vợ ở Thương
Ngô đã đem vợ trở về Giao Chỉ để ở với mẹ mình.
Việc đem vợ trở về nay hẳn đã
diễn ra trước những năm 189. Đây là thời điển bùng nổ
hiện tượng các "dị nhân phương Bắc" đổ về nước ta
để tránh nạn và đua nhau "thực hành thuật thần tiên tịch
cốc trường sinh" đến nỗi Mâu Tử phải đóng vai Mạnh Kha
chống lại phong trào học tập học thuật ấy như ta sẽ thấy
ở dưới đây. Đó đồng thời cũng là lúc Chu Phù tiếp xúc
với Mâu Tử, dẫn tới việc nhờ vả Mâu Tử sau này trong
vụ Chu Hạo bị Trức Dung giết ở Dự Chương. Thế Chu Phù
đến làm thứ sử nước ta lúc nào?
Hậu Hán thơ 63 tờ 1a6-6b5 có chép
lại truyện của một người tên Chu Phù. Nhưng Chu Phù đây
là đại tư không Chu Phù thời Lưu Tú, chứ không phải là
Chu Phù làm thứ sử nước ta. Lá sớ của Tiết Tôn trong Ngô
chí 8 tờ 7b7-10 ngược lại có ghi tên một Chu Phù làm thứ
sử Giao Châu, gốc người Cối Kê và có những "hương nhân"
như Ngu Bào, Lưu Ngạn, Lưu Ngạn này, phần tự truyện của
Lý hoặc luận có nhắc tới như kỵ đô uý Lưu Ngan và được
Giao Châu mục giao cho nhiệm vụ mang quân qua Dự Chương đánh
trả trung lang tướng Trức Dung để trả thù cho việc Dung
đã giết "Người em của Châu mục" (Mục đệ) lúc ấy đang
làm thái thú Dự Chương.
Chuyện của Trức Dung trong Hậu
Hán thơ 103 tờ 11a3-12 và trong Ngô chí 4 tờ 2a 10-38 có chép
việc Dung giết "Quận thú Dự Chương Chu Hạo" Và việc này
phải xaỷ ra giữa những năm 193 và 194. Lý do là vì truyện
Đào Khiêm trong Hậu Hán thơ 103 tờ 10b7-11a3 nói: "Năm Sơ Bình
thứ 4 (193) Tào Tháo đánh Khiêm, phá huyện Phó Dương của
Bành Thành. Khiêm lui giữ Diệm, Tháo đánh không thể thắng,
bèn trở về đi qua đánh lấy Thủ Lự, Thư Lăng, Hạ Khưu,
đều giết hết, phàm giết trai gái mấy chục vạn người,
gà chó không còn. Sông Tứ vì thế không chảy (...) Hưng Binh
năm thứ nhất (194) Tào Tháo lại đánh Khiêm, lược định
Lang Nha, Đông Hải các huyện, Khiêm sợ không thoát, muốn
chạy về Đan Dương (...). Năm đó Khiêm bệnh chết".
Trong khi đó, truyện Trước Dung
lại chépl: "Đến khi Tào Tháo đánh Khiêm, vùng Từ không yên,
Dung bèn đem trai gái vạn người, ngựa ba nghìn con, chạy đến
Quảng Lăng. Thái Thú Quảng Lăng Triệu Dục dùng tân lễ đãi
Dung. Dung ham lợi của cải của Quảng Lăng, bèn thừa lúc
say rượu giết Dục, thả lính cướp hết, nhân đó qua sông
chạy về ở Dự Chương, giết quận thú Chu Hạo, vào chiếm
lấy thành. Sau bị thứ sử Dương Châu Lưu Do đánh bại. Dung
chạy vào trong núi, bi người ta giết".
Truyện Do trong Hậu Hán thơ 106 tờ
14b8-11 nói: "Trong khoảng Hưng Bình Do làm chấn uy tướng quân
Dương Châu Mục. Bấy giờ Viên Thuật chiếm Hoài Nam Do bèn
dời đến ở Khúc A. Gặp lúc Trung Quốc tán loạn, sĩ phu
phần lớn chạy về nam. Do nhận tiếp đãi nuôi dưỡng, cùng
họ lo lắng, rất được tiếng khen. Viên Thuật sai Tôn Sách
đánh thắng Do. Do nhân thế chạy đến Dự chương, bệnh chết".
Truyện Do trong Ngô Chí 4 tờ 2a3-10 nói chi ly hơn: "Tôn Sách
vượt sông về đông, đánh Trương Anh và Phàn Năng v.v... Lưu
Do tới Đan Đồ, rồi qua sôg về nam giữ Dự Chương, đóng
ở Bành Trạch. Trức Dung đến trước, giết thái thú Chu Hạo,
vào ở trong quận. Do tiến quân đánh Dung, bị Dung đánh bại,
lại tập hợp các huyện thuộc quyền mình đánh Dung. Dung
bại, chạy vào núi, bị dân giết"
Còn Hậu Hán thơ 9 tờ 5b10 dưới
mục năm Hưng Bình thứ nhất (194) viết: "Năm đó thứ sử
Dương Châu Lưu Do cùng với tướng Viên Thuật là Tôn Sách
đánh ở Khúc A, quân Do Bại tích, Tôn Sách chiếm cứ Sơn
Đông".
Bùi Tùng Chi lại dẫn Giang biểu
truyện chú thích truyện Tôn Sách, nói Sách "Vượt sông" đánh
Lưu Do vào năm Hưng Bình thứ 2 (195). Điều này có nghĩa là
Do đến Dự Chương không thể chậm hơn 195. Chính tại Dự
Chương này, Do hẳn đã đánh Trức Dung. Do thế, Trức Dung
có thể bị đánh và sau chết năm 195. Cho nên, việc Dung đánh
Chu Hạo không thể xảy ra chậm hơn năm 195 và có khả năng
xảy ra vào năm 194, vì đó là năm Tào Tháo đánh Đào Khiêm
tại hai quận Bành Thành và Hạ Bì do Dung cai trị. Từ âý
Dung chạy qua Quảng Lăng giết Triệu Dục, rồi đến Dự Chương
giết Chu Hạo. Việc Hạo chết phải xảy ra như thế vào khoảng
năm 194 đã gây cho Chu Phù "nỗi đau cốt nhục, uất phát tim
gan", khiến Phù phải sai kỵ đô uý Lưu Ngạn đen quân trả
thù và nhờ Mâu Tử đi mở đường.
Vào khoảng những năm 193-195 Chu
Phù đã có mặt tại nước ta với tư cách châu mục. Thế
Phù đến nước ta lúc nào? Năm 178, cha của Chu Phù là Chu
Tuấn đã được cử làm thứ sử Giao Chỉ để đánh dẹp
cuộc khởi nghĩa của Lương Long. Đến năm 184 Giả Tôn lại
được cử làm thứ sử để đánh dẹp cuộc khởi nghĩa cuả
Trụ Thiên tướng quân. Đó là theo truyện của Chu Tuấn và
Giả Tôn trong Hậu Hán thơ 101 tờ 7b1-9 và 61 tờ 14a1-b1. Ba
năm sau, Giả Tôn được gọi về, tức năm 186. Cứ truyện
Sĩ Nhiếp trong Ngô Chí 4 tờ 7a5-11 nói thì em Sĩ Nhiếp là
Sĩ Nhất đã quen biết Đình Cung khi Cung làm thứ sử Giao Chỉ.
Cứ Linh đế kỷ của Hậu Hán thơ 8 tờ 11b2 và 12b8, tháng
5 năm Trung Bình thứ 4 (187) Đinh Cung làm tư không, tháng 8 năm
sau (188) cung được cử làm tư đồ. Như thế, nếu Cung có
làm thứ sử Giao Chỉ, thì cũng chỉ làm trong một thời gian
ngắn, tức khoảng giữa năm 186 đến giữa năm 187.
Chính trong thời gian ấy, cũng theo
truyện của Giả Tôn đã xảy ra một cuộc "sa thải thứ sử
hai ngàn thạch, lại chọn các quan lại trong sạch có khả
năng". Hẳn qua cuộc thanh lọc này, Chu Phù như một thành phần
quan lại trẻ đã được đề bạt làm thứ sử Giao chỉ.
Hơn nữa, đó cũng là thời điểm cha của Phù là Chu Tuấn
đang có uy tín lớn do những chiến công trong việc đánh dẹp
cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân và các cuộc khởi nghĩa khác như
Trương Phi Yến, Trương Bạch Kỵ v.v... Đến lúc Đổng Trác
nắm quyền vào tháng 8 năm Trung Bình thứ 6 (189), sau cuộc
nổi loạn Thập thưòng thị của Trương Nhượng Đoàn Khuê,
Chu Tuấn đã được Trác mời làm phó tướng quốc cho Trác,
nhưng Tuấn từ chối. Đào Khiêm, Khổng Dung và những người
khác đã tôn Tuấn làm thái sư để đánh Trác. Chưa thực
hiện, thì Vương Doãn đã giết Trác vào tháng tư năm Sơ Bình
thứ 3 (192). Tháng 5 sau (193) Chu Tuấn được trưng bày làm
thái uý. Tháng 7 năm Hưng Bình thứ nhất (194) miễn làm thái
uý, trao lại cho Dương Bưu, Tuấn được chiếu cùng Dương
Bưu và 10 người khác đi hòa giải Lý Thôi Quách PHiếm. Năm
đó Tuấn mất.
Vậy Chu Phù hẳn đã đến làm thứ
sử nước ta khoảng năm 187 trở đi, cho Đinh Cung về Lạc
Dương làm tư không. Điểm đáng nói là truyện Chu Tuấn trong
Hậu Hán thơ 101 tờ 11a10-11, sau khi Chu Tuấn mất đã viết:
"Con Hạo cũng có tài hạnh, làm quan đến thái thú Dự chương".
Thế phải chăng Chu Phù không phải là con của Chu Tuấn? Tất
nhiên, việc Phạm Việp không kể tên Chu Phù vào những người
con của Tuấn không có nghĩa Phù không phải là con Tuấn, mà
chỉ phản ảnh một quan điểm đánh giá lịch sử đối với
từng nhân vật như chính Việp đã chủ trương trong lời Tư
tự của mình là "dĩ văn truyền ý" Ý của Phạm Việp thế
nào, để dẫn đến việc loại bỏ tên Chu Phù, chúng ta ngày
nay khó có thể biết được.
Nhưng cứ vào câu nói của Tôn Sách
dẫn trước về sự kiện Phù "vứt điển huấn của tiền
thánh, bỏ pháp luật của Hán gia, thường mặc áo đỏ, bịt
đầu, đánh đàn, đốt hương, đọc sách đạo tà tục", ta
có thể đoán ra một phần nào. Đó là việc Phù đã chối
bỏ toàn bộ hệ ý thức, mà ông có chức năng phải đại
diện, để đi theo Phật giáo, và quan hệ thân thiết với
những phần tử, mà "đám thế tục" cho là "quay lưng với
năm kinh, mà đi theo đạo khác", như là Phật tử Mâu Tử.
Một khi đã thế, có thể trong quan điểm của Việp, Phù không
còn xứng đáng để ghi vào sử sách Trung Quốc, đặc biệt
ghi vào bản tên những người con của một danh tướng như
Chu Tuấn, mà Việp bình luận là "đem thao lược cuả thượng
tướng, nhân đánh dẹp vào lúc thảng thốt, đến khi công
thành quân thắng, tiếng uy đồn thiên hạ..." (Hậu Hán thơ
tờ 11a 12-b1)
Như thế, Chu Phù sang làm thứ tử
Giao Châu khoảng những năm 187-188. Năm sau khi đem vợ từ Thương
Ngô về Giao Chỉ, Mâu Tử đã gặp Chu Phù, một con người
"ưu văn xử sĩ" biết trân trọng chất xám nhân tài và có
ý mời Mâu Tử làm quan. Một lần nữa ông lấy cớ bệnh
tật, mà không ra (xưng tật bất khởi). Tuy nhiên, một quan
hệ tốt đẹp đã được duy trì giữa hai người. Và quan
hệ này đã trở nên gắn bó hơn, khi Phù thực hiện việc
"vứt điển huấn của tiền thánh, bỏ pháp luật của Hán
gia" để đọc sách "đạo tà tục" của Phật giáo, để đi
theo Phật giáo và sống đời sống cuả một Phật tử. Chính
việc ấy của Chu Phù đã tạo môi trường thuận lợi cho
mối quan hệ mật thiết giữa hai ngưòi, mà sau đó Mâu Tử
phải thú nhận là đã diễn ra trong một thời gian dài (bị
mạt phục dịch, kiến ngộ nhật cửu).
Thời gian dài này có thể đôi ba
năm hay hơn nữa, Mâu Tử tuy không ra làm quan, Chu Phù vẫn
đãi ngộ một cách trọng hậu. Điều này có nghĩa dù không
công khai cộng tác, Mâu Tử vẫn có quan hệ với Phù. Quan
hệ này do thế phải dựa trên một cơ sở riêng tư, cơ sở
niềm tin Phật giáo, mà cả hai người đều chia sẻ. Cho nên,
khoảng những năm 193, 194, khi em mình là Chu Hạo bị Trức
Dung giết ở Dự Chương, Chu Phù liền sai kỵ đô úy Lưu Ngạn
đến đó, song sợ cõi ngoài nghi nhau, binh không được tiến.
Châu mục bèn mời Mâu Tử nói: "Em ruột bị nghịch tặc giết
hại, nỗi đau cốt nhục, uất phát tim gan, phải sai Lưu Đô
úy đi nhưng sợ cõi ngoài nghi ngờ, người đi không thông.
Ngài văn võ gồm đủ, có tài chuyên đối phó. Nay muốn giúp
nhau, mượn đường Linh Lăng Quế Dương, lộ trình được
thông suốt (Ngài nghĩ) thế nào?" Mâu Tử trả lời: "Chịu
nhờ ơn nghĩa, đãi ngộ lâu ngày, liệt sĩ quên mình, hẹn
dứt khoát ra đi". Thế là dù không làm quan với Chu Phù, khi
Phù có việc nhờ vả, Mâu Tử đã nồng nhiệt đáp ứng.
Sự tình này cho phép ta giả thiết Mâu Tử và Chu Phù đã
có những quan hệ thân tình đặc biệt, vượt ra ngoài quan
hệ bình thường cấp trên cấp dưới. Không những thế, Chu
Phù đánh giá cao khả năng của Mâu Tử, một người "văn
võ kiêm bị, có tài chuyên đối". Và thực tế, việc Mâu
Tử đem mẹ từ Thương Ngô xuống ty thế ở nước ta, rồi
về Thương Ngô lấy vợ, chứng tỏ ông là người có khả
năng như thế. Cho nên, việc mượn đường để dẫn quân
đi, trong tình hình các địa phương châu quận nghi ngờ nhau,
Chu Phù tất phải chọn một nhân vật tầm cỡ "văn võ kiêm
bị, có tài chuyên đối" mới thực hiện chu toàn nhiệm vụ,
Phù đã chọn Mâu Tử và mời (thỉnh) ông.
Quả vậy, con đường từ nước
ta đi lên phía bắc Trung Quốc, khoan nói tới tình hình chính
trị bất ổn "châu quận nghi nan" thời Chu Phù, đã đưa ra
không ít khó khăn cho những ai không thông thuộc nó. Truyện
Trịnh Hoằng trong Hậu Hán thơ 63 tờ 12b11-13a3 nói: "Năm Kiến
Sơ thứ 8 (83) Hoằng sai Trịnh Chúng làm đại tư nông. Ngày
trước bảy quận Giao Chỉ cống hiến, chuyển vận đều do
Đông dã vượt biển mà đến, sóng gió gian hiểm, chết chìm
nối nhau. Hoằng tâu mở đường núi Linh Lăng Quế Dương,
do thế suốt thông, đến nay trở thành thường lộ". Con đường
Linh Lăng Quế Dương, mà Chu Phù nhờ Mâu Tử đi mượn, chính
là con đường này. Tuy gọi là "suốt thông" (di thông) và "thường
lộ", nó không phải không đầy hiểm nguy và trắc trở.
Chỉ cần đọc lại truyện Hứa
Tinh trong Thục chí 9 tờ 2a12-b3, chúng ta không cần đợi lâu
để thấy thực tế đó xảy ra ngay vào thời Mâu Tử. Hứa
Tinh kể sau khi Vương Lăng thât thủ ở Cối Kê vào năm 195,
Hứa Tinh đã cùng gia đình thân thuộc với một số bạn bè
như Viên Bái, Từ Nguyên Hiền xuống thuyền chạy về nam.
Đến Quảng Châu, được tin Tào Tháo phò Hiến Đế, Tinh bèn
tìm đường trở về bắc. Đến Thương Ngô, gặp "mọi Việt"
(di Việt) khởi nghĩa đánh Thương Ngô. Một số thân thuộc
và bạn bè bị mất mạng. Tinh bấy giờ mới tìm đường
xuôi về Nam, đến nước ta. Rõ ràng con đường lên phía Bắc
không phải bình thường chút nào, vào thời Mâu Tử. Nó không
phải là một "thường lộ" như Phạm Việp đã nhận xét vào
thời mình, mà đầy bất trắc và hiểm nguy chết người.
Ngay hai chục năm sau khi Trịnh Hoằng
mở đường, vào năm Nguyên Hưng thứ 1 (106) trưởng huyện
Lâm Vũ là Đường Khương, nhân việc "lệ cũ Nam Hải dâng
long nhãn, lệ chi, 10 dặm đặt một trí, 5 dặm đặt một
hầu, đi lại hiểm trở, người chết nối nhau dọc đường.
Bấy giờ trưởng huyện Lâm Vũ là Đường Khương, người
Nhữ Nam, có huyện mình tiếp giáp với Nam Hải, bèn dâng thơ
bày tỏ tình trạng, vua xuống chiếu, nói: "Vật quí lạ nước
xa vốn để dâng cúng tôn miếu. Nếu có thương hại, há đó
là gốc thương dân. Ra lệnh thái quan không được nhận đồ
dâng". Đó là theo Hậu Hán thơ 4 tờ 15b8-b1 do Phạm Việp ghi
lại.
Chú thích đoạn văn vừa dẫn ở
tờ 15a1-5, Lý Hiền đã cho dẫn Hậu Hán thơ của Tạ Thừa
nói càng rõ hơn: "Đường Khương tự là Bá Du, giao việc công,
bổ làm trưởng huyện Lâm Vũ. Huyện tiếp Giao Châu. Xưa dâng
long nhãn, lệ chi và đồ tươi sống. Dâng rồi, ngày đêm
chạy ngựa chuyển đưa, đến nỗi có người gặp cọp sói
độc hại gục ngã tử vong không dứt. Con đường đi qua Lâm
Vũ. Khương bèn dâng thơ can vua nói: "Thần nghe trên không lấy
việc nếm mùi ngon làm đức, dưới không đem việc dâng thức
ngon làm công. Nên thiên tử ăn thì thịt bê là cao nhất, không
lấy quả hạt làm quí. Nép thấy bảy quận Giao Chỉ dâng
long nhãn tươi v.v... thì chim sợ, gió nổi. Đất đai nam châu,
trùng độc thú dữ không hết ở dọc đường đến nỗi xúc
phạm, gây hại chết chóc. Người chết rồi thì không thể
sống lại, nhưng kẻ sắp chết thì có thể cứu được. Hai
món ấy (tức long nhãn và lệ chi) dâng lên đền thì vua chưa
chắc dài năm thêm thọ" Vua nghe theo.
Ngay trong giai đoạn đang còn tương
đối ổn định như thế, và chỉ cách thời gian Trịnh Hoằng
mở đường mới 20 năm, mà con đường Quế Dương Linh Lăng
đi từ nước ta đã gây ra không biết bao nhiêu chết chóc
kinh hoàng, đến nỗi một ngưòi huyện trưởng có lương tri
như Đường Khương phải viết thư xin bỏ lệ cống long nhãn
lệ chi của Giao Chỉ. Huống nữa là đến giữa những năm
193-195, khi toàn bộ đất nước Trung Quốc đang kinh qua một
loạt các bạo loạn và khởi nghĩa khắp nơi. Từ Viên Thiệu,
Viên Thuật, Tào Tháo phía Bắc, đến Tôn Sách, Tôn Quyền
phía Nam, Trương Hổ, Hàn Toại, Mã Đằng, Mã Siêu và Lưu
Bị phía tây. Trung Quốc đang sục sôi trong biến động.
Cho nên, để thực hiện việc đưa
quân lên Dự Chương, nhằm trả thù cho Chu Hạo, Chu Phù phải
nhờ đến Mâu Tử. Trong khi Mâu Tử chuẩn bị lên đường,
thì mẹ mất. Thế là ông phải ở nhà chịu tang và cuộc
hành trình lên phía Bắc từ đó không thành. Sự thật, không
hẳn chỉ vì tang mẹ, mà Mâu Tử đành đình chỉ cuộc đi.
Thực tế, vào thời ông có những người có tang cha hay tang
mẹ, mà vẫn tiếp tục thi hành nhiệm vụ do tình hình chính
trị hay quân sự cấp bách đòi hỏi, chứ không ở nhà cư
tang. Ta có trường hợp điển hình Ngu Phiên, mà Ngô chí 12
tờ 1a8-9 đã ghi lại.
Ngu Phiên làm công tào cho Vương
Lãng ở Cối Kê. Khi Tôn Sách vựơt sông tiến đánh. Lăng
thất thủ xuống thuyền cùng bạn bè như Hứa Cống định
chạy về nam đến nước ta. Ngu Phiên dù cha vừa mất cũg
xuống thuyền đi theo, bàn với Lãng không nên chạy về Giao
Chỉ. Lãng nghe theo, lên phía bắc đầu quân với Tào Tháo.
Còn Ngu Phiên bèn trở về Diêu Du tiếp tục cư tang cha, rồi
sau này ra làm việc với Tôn Sách và Tôn Quyền. Điều này
rõ ràng chứng tỏ dù có tang cha hay mẹ, khi việc nước cấp
bách, người ta phải tạm lo việc nước trước, rồi sau mới
tính đến chuyện để tang. Cho nên, nếu công tác tiến quân
đi Dự Chương có tính cấp bách, hẳn Mâu Tử có thể tạm
thời hoãn việc cư tang, để thi hành nhiệm vụ mà Chu Phù
đã nhờ vả ông đã hứa với lời hứa: "Liệt sĩ quên mình,
hẹn dứt khoát ra đi" (Liệt sĩ vong thân, kỳ tất sinh hiện).
Song, khi xảy ra tang mẹ, tính cấp
bách của việc tiến quân đi Dự Chương có lẽ không còn
nữa, nên Mâu Tử quyết định ở nhà cư tang. Cuộc đi lên
phía Bắc do thế không thành. Lý do cho sự mất tính cấp bách
này, ngoài việc cư tang mẹ của Mâu Tử về mặt khách quan,
ta có thể truy ra ít nhất về hai biến cố, tác động trực
tiếp đến quyết định của Mâu Tử và Chu Phù chuẩn bị
xong quân đội và phương tiện, họ chắc đã nhận được
tin Trức Dung đã bị giết, nên không còn lý do chính đáng
để ra đi. Thứ hai, cũng trong khoảng năm 195 người Việt
ở Thương Ngô đã khởi nghĩa, chận đường về bắc của
Hứa Tinh. Tình hình Thương Ngô, cửa ngõ đi lên phía Bắc
không an toàn. Do thế, Mâu Tử có thêm lý do để đình chỉ.
Ngoài ra, về phía chủ quan của
bản thân Chu Phù, theo Tôn Sách ta biết Phù "cuối cùng bị
man di giết", như Giang biểu truyện nói, mà Bùi Tùng Chi dẫn
trong Ngô chí 1 tờ 12a5-11 và Lý Hiền dẫn trong Hậu Hán thơ
60 hạ tờ 19b11-20a3, song không biết tại sao truyện Sĩ Nhiếp
của Ngô chí 4 tờ 7a9 cũng nói Phù bị đánh "chạy vào biển"
nhưng không nói lý do. Lá sớ của Tiết Tôn trong Ngô chí 8
tờ 7b7-10 mới nói rõ cho biết Chu Phù tin dùng đám người
cùng quê với mình (hương nhân) như Lưu Ngạn sách nhiễu dân
chúng, đánh thuế quá cao. Do thế, dân chúng cuối cùng đã
nổi lên đánh đuổi Chu Phù phải chạy vào biển mà chết:
"Lại cố thứ sử Chu Phù đất Cối Kê phần nhiều dùng người
cùng quê là bọn Ngu Bào, Lưu Ngạn, phân làm trưởng lại,
xâm ngược bá tánh, ép thuế lân dân. Cá vàng một con, thâu
thuế gạo một hộc. Bá tánh oán phản, giặc núi cùng nổi
lên đánh phá châu quận. Phù chạy vào biển lưu lạc chết
mất".
Như vậy, bản thân Chu Phù lúc ở
nước ta vẫn có nhiều vấn đề, mà một trong đó là sự
tin dùng hương nhân của Phù và sự sách nhiễu của đám này.
Có thể là một trong những lý do tại sao Mâu Tử đã không
chịu ra làm quan với Chu Phù, dù Phù vẫn đối đãi trọng
hậu với Mâu Tử. Dẫu không làm việc với Phù, ông hẳn
đã tham mưu cho Phù nhiều việc, đặc biệt là việc "vứt
điển huấn của tiền thánh, bỏ pháp luật của Hán gia",
để đi theo Phật giáo của Phù. Sự việc này cho phép chúng
ta khẳng định chính quyền Chu Phù Sĩ Nhiếp trong khoảng những
năm 187-197 là một chính quyền độc lập thực sự Việt Nam
mang tính Phật giáo. Có thể nói đó là chính quyền Phật
giáo Việt Nam đầu tiên được thành lập. Nói là một chính
quyền Việt Nam, vì người đứng đầu chính quyền này, dù
thuộc Hán tộc, đã "bỏ pháp luật cuả Hán gia", do thế phải
dùng tới pháp luật của người Việt hay Việt Luật. Và là
một chính quyền mang tính chất Phật giáo, vì người đứng
đầu ấy đã "vứt điển huấn của tiền thánh" người Hán,
do thế tất phải dùng điển huấn của người Việt. Mà điển
huấn của người Việt lúc đó đã được hoá thân trong điển
huấn của Phật giáo. Dù chính quyền Chu Phù là một chính
quyền Việt Nam độc lập và Phật giáo như vậy, Mâu Tử
vẫn không ra phò trì. Lý do bây giờ đã rõ. Đó là sự có
mặt của đám hương nhân cuả Chu Phù, một đám hương nhân
chỉ biết đi sách nhiễu và gây bất mãn trong dân chúng bằng
sưu cao thuế nặng. Đám này vào khoảng năm 195, để có tiền
và lương cho việc chuẩn bị gởi quân đi Dự Chương, hẳn
đã đặt ra nhiều loại thuế, cụ thể là việc một con cá
chép lấy một hột gạo, mà Tiết Tôn đã nói tới, là một
thí dụ điển hình. Chính những loại thuế như thế này đã
gây phẩn nộ trong dân, dẫn cuối cùng tới việc đánh đuổi
không chỉ đám hương nhân này, mà cả Chu Phù nữa.
Điểm khá lý thú là trong khi Chu
Phù bị đánh đuổi, Sĩ Nhiếp với tư cách là thái thú của
quận Giao Chi vẫn tiếp tục công việc cai trị của mình,
coi như không có một sự biến gì xảy ra. Truyện Sĩ Nhiếp
trong Ngô chí 4 tờ 8b3-4 nói Nhiếp làm thái thú Giao Chỉ "hơn
bốn mươi năm" tức khoảng giữa những năm 185-226. Trong hơn
bốn mươi năm này, nó cũng nói tiếp "cương trường vô sự",
nghĩa là không có sự việc gì đáng kể đã xảy ra. Do thế,
việc đánh đuổi Chu Phù và đám hương nhân hẳn không phải
là một biến cố gì ghê gớm và chắc chắn có sự tham gia
của Nhiếp. Bởi nếu Nhiếp không tham gia, thì khi Chu Phù bị
đánh đuổi, chính quyền của Nhiếp tất không thể tồn tại.
Sự tình này cho phép ta rút ra một
kết luận khá lôi cuốn về các chính quyền thứ sử và thái
thú Trung Quốc ở nước ta, sau năm 43 sdl khi Hai Bà Trưng bị
đánh bại và trước khi Chu Phù Sĩ Nhiếp dựng nên một chính
quyền Việt Nam độc lập. Đó là sự tồn tại một hệ thống
chính quyền hai đâù, một đầu do các quan lại Trung Quốc
bổ nhiệm sang, và một đầu do chính các quan lại người
Việt nắm giữ. Hệ thống chính quyền do các quan lại người
Việt nắm giữ. Hệ thống chính quyền do các quan lại người
Việt nắm giữ đóng vai trò ngưòi đại diện và bảo vệ
thực sự quyền lợi cuả ngưòi Việt, còn hệ thống thứ
sử và thái thú Trung Quô1c chỉ đóng vai trò tượng trưng
cho quyền hành Trung Quốc. Và vai trò này trong thời gian từ
năm 43 đến năm 43 đến năm 190, tức 150 năm, các quan lại
Trung Quốc đã không thực hiện một cách nghiêm túc, như ta
sẽ thấy dưới đây, đến nỗi Tiết Tôn phải than là "trưởng
lại đặt ra, tuy có cũng như không".
Tới đây, ta thấy khi mất mẹ vào
khoảng năm 195 và cư tang với một thời gian lâu (cửu chi)
cho tới lúc Chu Phù bị đánh đuổi vào khoảng năm 197 và
cũng
là lúc Mâu Tử vừa cư tang mẹ xong. Mâu Tử đi đến một
quyết định là không bao giờ ra làm quan nữa. Quyết định
này được đưa ra qua một phân tích tỉ mỉ tìn hình chính
trị thời ông và một sự cân nhắc kỹ càng và những mặt
lợi hại. Mâu Tử viết: "Lâu (sauS) đó rút lui nghĩ rằng:
"Vì lý do thông giỏi, mà được giao sứ mạng, nay đời nhiễu
nhương, chẳng phải là lúc làm rõ mình". Bèn than nói: "Lão
Tử dứt thánh bỏ trí, sửa thân, giữ chân, muôn vật không
ngăn chí ông, thiên hạ không đổi niềm vui của ông, thiên
tử không được bề tôi, chư hầu không được kết bạn,
nên mới có thể quí". Do thế, ông dốc chí vào đạo Phật,
gồm nghiền ngẫm Lão Tử năm ngàn lời, ngậm huyền diệu
làm rượu ngon, chơi năm kinh làm đàn sáo. Bọn thế tục phần
nhiều cho không phải, cho ông quay lưng với năm kinh mà đi
theo đạo khác".
Viết như thế, phải chăng Mâu Tử
muốn nó sau ba năm cư tang mẹ xong, nhân lúc Chu Phù bị đánh
đuổi phải chạy vào biển, Mâu Tử mới "đi theo đạo khác",
mới đi theo Phật giáo? Nghĩa là, phải chăng Mâu Tử đi theo
Phật giáo vào khoảng năm 197? Tất nhiên là không phải. Năm
197 đấy là thời điểm ông "dốc chí vào đạo Phật" (nhuệ
chí ư Phật đạo) chứ không phải bắt đầu tin hiểu và
đi theo Phật giáo, như chính ông đã xác nhận. Vậy, ông bắt
đầu theo Phật giáo từ bao giờ và tại sao ông đi theo Phật
giáo? Đây là những câu hỏi khó trả lời nhất, đặc biệt
là trả lời một cách chính xác và có cơ sở, do tình hình
tư liệu hạn chế và thiếu thốn.
Tuy nhiên, nếu phân tích những gì
chính Mâu Tử ghi lại trong Lý hoặc luận, ta có thể biết
một phần nào câu trả lời cho những vấn nạn vừa nêu.
Mở đầu phần tự truyện, Mâu Tử nói:
"Mâu Tử đã học kinh truyện, chư
tử, sách không kể lớn nhỏ, không có gì là không ham. Tuy
không thích binh pháp, song vẫn đọc. Tuy đọc sách thần tiên
bất tử, dẹp mà không tin, cho là dối trá". Thế là khi viết
Lý hoặc luận, Mâu Tử đã đọc kinh truyện, chư tử cùng
binh pháp và sách thần tiên bất tử. Vậy, Mâu Tử bắt đầu
học kinh truyện, chư tử từ bao giờ?
Điều 14, 25 và 31 xác nhận là Mâu
Tử đã học kinh truyện, chư tử cũng như binh pháp thần tiên,
trướ khi ông biết đến Phật giáo. Điều 14 Mâu Tử viết:
"Chúng ta tuổi trẻ học đạo Nghiêu Thuấn Châau Khổng, mà
nay bỏ nó, lại học thuật mọi rợ, không lầm lắm sao? Chữ
"tuổi trẻ" dùng ở đây để chỉ dịch chữ "nhược quán"
của Mâu Tử. "Nhược quán" là "mũ yếu" . Theo Lễ ký con trai
20 tuổi làm lễ đội mũ, và mũ đây là thuộc dạng "mũ yếu".
Cho nên, nói "Nhược quán", học đạo Nghiêu Thuấn Châu Khổng,
Mâu Tử hẳn lúc đó đã 20 tuổi. Do đó, Mâu Tử viết thêm,
sau câu vừa dẫn: "Đó là dư ngữ của tôi lúc chưa hiểu
đạo lớn". Đạo lớn đây là Phật giáo. Vậy khoảng lúc
20 tuổi Mâu Tử biết đến sự có mặt của Phật giáo, những
vẫn chưa chấp nhận đi theo, thậm chí còn công kích là mọi
rợ là đằng khác.
Từ công kích, lại do thói ham đọc
sách, "sách không kể lớn nhỏ, không sách gì là không thích",
Mâu Tử tiến sâu vào việc tìm hiểu và đọc sách vở Phật
giáo, mới phát hiện một sự thật. Đó là Phật giáo không
phải là một đạo mọi rợ, mà còn là một thuật làm cho
con người "thấy rộng" (kiến bác) Điều 25 Mâu Tử viết:
"Thấy rộng có thuật không? Mâu Tử nói: Do kinh Phật.Tôi
khi chưa hiểu kinh Phật, lầm còn hơn ông nhiều. Tuy đọc
năm kinh, hợp lấy làm ha mà chưa nên quả. Đến khi tôi đã
xem học thuyết của kinh Phật, ngắm yếu lý của Lão Tử,
giữ tính điềm đạm, xét hạnh vô vi, rồi về trông sự
đời, như đến trời cao mà ngó xuống hang suối, lên Tung
Đại mà thấy gò đống vậy. Tôi từ nghe đạo đến nay,
như vén mây thấy mặt trời tỏ, cầm đuốc vào nhà tôi vậy".
Vậy là từ một quan điểm cho Phật
giáo là một "thuật của mọi rợ" (di dịch chi thuật), Mâu
Tử đã tìm hiểu và cuối cùng thấy còn hơn cả đạo Nghiêu
Thuấn Châu Khổng của Hoa Hạ nhiều. Trong thời gian chưa đi
theo Phật giaó này, Mâu Tử, ngoài việc học đạo Nghiêu Thuấn
Châu Khổng, còn tìm nghiên cứu thuật tịch cốc trường sinh
thần tiên. Điều 31 Mâu Tử viết: "Khi tôi chưa hiểu đạo
lớn, cũng thường học phép tịnh cốc. Phép tịnh cốc kể
ra ngàn trăm thuật, thực hành không có hiệu quả, làm không
có chứng nghiệm, nên tôi bỏ. Xem ba người thầy tôi theo
học, hoặc tự xưng bảy trăm, năm trăm, ba trăm tuổi. Nhưng
tôi theo họ học, chưa đầy ba năm, ai nấy đều chết hết.
Sở dĩ như thế là do nhịn gạo không ăn, mà đi ăn trăm quả.
Nhậu thịt thì nhiều mâm, uống rượu thì nghiêng vò, tinh
loạn thần mờ, hơi gạo không đủ, tai mắt lầm lạc, dâm
tà không kiêng. Tôi hỏi lý do vì sao. Đáp rằng: "Lão Tử
nói: bớt đi lại bớt, cho đến vô vi. Trò nên ngày bớt".
Nhưng tôi thấy thì ngày chỉ thêm, mà không bớt. Vì thế,
ai nấy đều không biết mệnh, mà đã chết".
Rõ ràng trước khi đến với Phật
giáo, Mâu Tử đã không những học đạo "Nghiêu Thuấn Châu
Khổng" mà còn học cả thuật thần tiên cuả đạo giáo. Ông
đọc "Thần thơ" 170 quyển của Can Cát, như điều 29 đã ghi,
và bỏ 3 năm thực hành phép tịch cốc trường sinh bất tử.
Như thế, nếu vào tuổi "nhược quán", tức 20 tuổi, đã học
đạo Nghiêu Thuấn Châu Khổng, và ba năm dành cho phép tịch
cốc và đọc "Thần thơ" 170 quyển, thì có khả năng. Đây
là thời điểm ông chính thức theo Phật giáo, chứ không phải
thời điểm ông biết Phật giáo, mà tới thời ông đã phát
triển mạnh và bắt đầu thâm nhập vào cung đình.
Truyện Tương Giai của Hậu Hán
thơ 60 hạ tờ 14b8-19a4 chép lại lá sớ do Giai gởi lên cho
Hoàng đế vào năm Diên Hy thứ 9 (167) có đoạn viết: "Lại
nghe trong cung dựng miếu thờ Hoàng Lão Phù Đồ". Đạo đó
thanh hư quí chuộng vô vi, hiếu sinh ghét giết, bớt dục bỏ
xa xỉ. Nay bệ hạ ham muốn không bỏ, giết phạt quá lẽ,
đã trái với đạo ấy, há nhận được phước ư? Lại nói
Lão Tử đi vào mọi rợ mà thành Phù Đồ. Phù Đồ không
nghỉ ba đêm dưới cây dâu, vì không muốn lâu sinh ra tình
ân ái. Thiên thần đem gái đẹp gởi đến, Phù Đồ nói:"Đó
là túi da dầy máu". Bèn không thèm nhìn. Phù Đồ thủ nhất
như vậy, mới có thể thành đạo. Nay bệ hạ, gái dâm, bà
đẹp, vượt hết vẻ đẹp của thiên hạ, đồ ngon thức
ngọt, chót hết mùi của thiên hạ, thì làm sao mà muốn như
Hoàng Lão ư?
Điểm lôi cuốn của lá sớ không
chỉ nằm ở chỗ xác nhận tình trạng đang phát triển mạnh
mẽ của Phật giáo ở Trung Quốc, đang xâm nhập sâu vào đời
sống của cung đình của tầng lớp thượng lưu, nó còn chứa
đựng hai câu trích từ kinh Tử thập nhị chương, mà chính
Mâu Tử có nêu đích danh trong điều 21 Lý hoặc luận của
ông. Đó là "Phù Đồ không nghỉ ba đêm dưới cây dâu, vì
không muốn lâu sinh ra ân ái. Thiên thần đem gái đẹp gởi
đến, Phù Đồ nói: "Đó là túi dơ đầy máu". Bèn không thèm
nhìn. Câu về gái đẹp, ngay từ thời Lý Hiền (657-685) chú
thích Hậu Hán thơ, đã biết là một trích dẫn từ kinh Tứ
thập nhị chương, nên mới chua: "Kinh Tứ thập nhị chương:
thiên thần dâng gái ngọc cho Phật, Phật bảo: "Đó là túi
da đầy mọi thứ dơ".
Nhắc tới kinh Tứ thập nhị chương
ở đây gọi cho ta một nhận định khá thú vị về những
kinh sách Phật giáo, mà Mâu Tử có thể tiếp xúc và tìm hiểu,
trước khi trở thành một người Phật giáo. Tất nhiên, để
trở thành một Phật tử, Mâu Tử phải tìm đọc nhằm biết
Phật giáo là gì và tại sao có sự tồn tại của nó. Thực
tế, như đã thấy trên, điều 14 xác nhận là trong khi theo
học đạo Nghiêu Thuấn Châu Khổng, Mâu Tử đã biết đến
Phật giáo. Nhưng do quan điểm Khổng Mạnh hẹp hòi và kỳ
thị về việc "Lấy Hạ để biến Di", chứ chưa bao giờ có
việc "Lấy Di biến Hạ", Mâu Tử đã cho Phật giáo là một
thứ "thuật di địch" nên không đáng học tập.
Như vậy, trong giai đoạn đầu khi
mới tiếp xúc với kinh sách Phật giáo, Mâu Tử còn bị quan
điểm di địch lạc hậu của Khổng Mạnh khống chế. Dần
dà về sau, do thính ham đọc sách, ông đã thoát ly khỏi sự
khống chế của quan điểm di dịch sai lầm ấy và nhận chân
được sự đứng đắn cao siêu của giáo lý Phật giáo, vượt
lên trên những quan điểm Khổng Mạnh mang tính dân tộc hẹp
hòi chủ quan. Quá trình vươn lên và vượt qua sự khống chế
của Khổng Mạnh này chỉ có thể xảy ra sau ba năm theo học
phép tịch cốc trường sinh của thuật thần tiên. Mà việc
theo học thần tiên lúc đó đã trở thành một phong trào đang
rầm rộ phát triển hẳn dưới sự lèo lái của Đổng Phụng
với sự giúp đỡ ít nhiều để trả ơn của Sĩ Nhiếp do
việc cứu sống Nhiếp tại nước ta.
Điều này có nghĩa, nếu Mâu Tử
sinh vào khoảng năm 160, thì khoảng 178 đến 180 ông đã đem
mẹ ông qua nước ta lánh nạn, để vào những năm trước
sau 180 ông có dịp thấy được hào quang của đám thần tiên
qua con người của Đổng Phụng lúc ấy đang sống ở Giao
Châu. Từ đó, ông mới sẵn sàng dành ba năm của tuổi thanh
xuân mình cho việc theo đuổi thực hành phép tịch cốc. Nhưng
với cái chết của Phụng và "ba người thầy" của ông. Mâu
Tử nhận ra tính "yêu vọng" của cái "đạo bất tử", giác
ngộ được một sự thực là "con người đều phải chết,
không ai có thể tránh được" (điều 37), do Phật giáo đem
lại. Đây phải chăng là thời điểm Mâu Tử chính thức theo
Phật giáo, sau những năm tháng tiếp xúc và tìm hiểu.
Đó là một có thể, đặc biệt
nếu những nhận định trên của chúng ta về các hoạt động
của Đổng Phụng được chấp nhận và nếu ta nhớ tới một
biến cố Phật giáo có ý nghĩa lớn đang xảy ra ở Trung Quốc.
Đó là việc vua Hoàng đế "trong cung dựng miếu thờ Hoàng
Lão Phù Đồ", mà lá sớ viết năm Diên Hy thứ 9 (159) của
Tương Giai nói tới. Phât giáo bây giờ đang trên đường trở
thành một tôn giáo nhà nước qua sự tôn sùng công khai Phật
giáo của người đứng đầu nhà nước ấy là Hoàng đế
nhà Hán. Việc tôn sùng này tất nhiên phải tác động đến
các hoạt động Phật giáo như dịch kinh, làm chùa, tổ chức
lễ lược v.v... Cho nên, nếu những năm 181-183 Mâu Tử trở
thành một Phật Tử ở nước ta, thì không có gì đáng ngạc
nhiên lắm.
Thời gian sau khi theo Phật giáo này,
Mâu Tử chắc tiếp tục đọc các kinh sách Phật giáo, mà
chính ông ghi nhận là "quyển sổ kể tới vạn" (điều 5)
trong đó "quyển lớn vạn lời trở xuống, quyển nhỏ ngàn
lời trở lên" (điều 1). Những "cuốn kinh nhỏ" này có thể
là kinh A ly niệm di, Sát vi vương, Kính diện vương v.v....
và cuốn lớn có thể là Lục độ tập kinh, Tạp thí dụ
kinh, Cựu tạp thí dụ kinh, Tứ thập nhị chương kinh v.v...
Đặc biệt là cuốn Phật kinh chi yếu gồm 37 phẩm, mà Mâu
Tử có niềm tôn kính và mến yêu lạ thường, để sau này
khi viết Lý hoặc luận, ông đã lấy nó làm mẫu cùng với
Đạo đức kinh của Lão Tử.
Từ sau năm 185 đến khoảng 187,
ông trở về Thương Ngô cưới vợ. Đây phải nói là một
"mối tình thế kỷ", bởi vì chỉ với một mối tình như
thế, nó mới đủ sức mạnh thúc đẩy Mâu Tử vượt qua
một khoảng không gian vời vợi từ nước ta về Thương Ngô,
mà 10 năm sau Hứa Tinh trong lá thư viết cho Tào Tháo bảo là
"hơn 5 nghìn dặm" và "đường thủy bộ không có, trạm ngựa
cõi Giao dứt tuyệt", như Thục chí 8 tờ 2b3-5 đã ghi. Do thế,
nếu Mâu Tử chỉ lấy vợ để có con, thì đã không cần
phải trở về Thương Ngô làm gì. Nước ta thời ấy chắc
không thiếu con gái cho Mâu Tử lấy. Việc về Thương Ngô
vì vậy cho phép ta giả thiết Mâu Tử đã quen và yêu cô gái
Thương Ngô trước khi đem mẹ đến nước ta. Và hẳn đã
cùng cô hẹn ước thề nguyền.
Giả thiết này đưa ta đến ba nhận
định lôi cuốn sau. Thứ nhất, vì đã yêu thương hẹn ước
với một cô gái Thương Ngô, nên việc Mâu Tử đưa mẹ qua
nước ta không thể trước 18 tuổi được. Năm Mâu Tử đưa
mẹ xuống Giao Chỉ như thế có nghĩa là 178. Thứ hai, vì năm
178 này Mâu Tử chỉ đưa một mình mẹ xuống, điều ấy chứng
tỏ cha Mâu Tử mất hay đã ly khai khỏi gia đình Mâu Tử.
Thứ ba, để có thể tiến hanh cưới hỏi vợ mình ở Thương
Ngô, phía nhà Mâu Tử cũng như nhà người vợ tương lai phải
tối thiểu là khá giả về mặt kinh tế, nếu không nói là
có tiếng tăm ở địa phương. Sự thật, khi Mâu Tử mới
về Thương Ngô, thái thú Thương Ngô nghe tiếng sức học của
Mâu Tử, đã đến thăm và mời Mâu Tử ra làm quan. Sự kiện
này cho phép giả thiết gia đình Mâu Tử và có thể gia đình
bên vợ là những vọng tộc của đất Thương Ngô, đến nỗi
Mâu Tử chân ướt chân ráo từ Giao Chỉ tới đã có quan tâm
vừa thấy của thái thú.
Chính tại Thương Ngô, sau khi từ
chối ra làm quan, Mâu Tử được nhờ đi "trí kinh" Kinh Châu.
Người nhờ đây là thái thú Thương Ngô, chứ không thể là
thái thú Giao Chỉ Sĩ Nhiếp. Bởi vì thời gian này, tức khoảng
năm 184-187 Giả Tôn và Đinh Cung đang làm thứ sử nước ta
và Sỹ Nhiếp đang làm thái thú Giao Chỉ, thì bản thân Sĩ
Nhiếp chưa có yêu cầu khách quan gì để tri "trí kinh" Kinh
Châu cả. Trong khi đó, thái thú Thương Ngô lại có một yêu
cầu như thế, bởi vì Thương Ngô tiếp giáp với đất của
Kinh Châu là quận Quế Dương. Cho nên, để giữ cho quan hệ
trị an giữa hai địa phương được tốt đẹp, thái thú Thương
Ngô rõ ràng có một yêu cầu khách quan để đi "tri kinh" Kinh
Châu.
Tất nhiên Mâu Tử lên Thương Ngô
để cưới vợ. Vì thế, khi thái thú Thương Ngô nhờ ông
đi "trí kinh" Kinh Châu và ông đã nhận lời, thì điều này
không có nghĩa ông phải ra đi "trí kinh" từ Thương Ngô. Trái
lại, ông phải đem vợ mình về Giao Chỉ để ra mắt mẹ
và bà con ở Giao Chỉ. Chính trong khi đem vợ về Giao Chỉ
ở với mẹ mình, và chuẩn bị lên Thương Ngô lại để thực
hiện việc đi "trí kinh" Kinh Châu, Mâu Tử đã gặp Chu Phù
khoảng những năm 187-189. Một lần nữa, Mâu Tử lại được
Chu Phù mời ra làm quan. Vì từ chối không làm quan với Chu
Phù, lẽ dĩ nhiên Mâu Tử không thể thực hiện việc đi "trí
kinh" Kinh Châu được.
Dù không làm quan với Chu Phù, quan
hệ giữa Phù và Mâu Tử vẫn thắm thiết và diễn ra trong
một thời gian dài. Chữ mà Mâu Tử dùng để mô tả mối
quan hệ này là "bị mạt phục lịch, kiến ngộ nhật cửu".
Thế đã rõ, tuy không đáp lại lời mời làm quan, Mâu Tử
vẫn có những ơn nghĩa với Phù. Trong những ơn nghĩa qua lại
này nếu Mâu Tử "bị mạt phục lịch", thì hẳn Phù cũng
nhận được những sự giúp đỡ khác của Mâu Tử, trong đó
có cả việc giúp Phù "vứt điển huấn của tiền thánh, bỏ
pháp luật của Hán gia" và "đọc tà tục đạo thư". Nói cách
khác, Mâu Tử đã lôi kéo Phù vào các sinh hoạt Phật giáo
nước ta, tham gia các buổi thuyết giảng lễ lược v.v... Thông
qua đó thực hiện chức năng "trợ hóa" sẵn có của Phật
giáo, mà Tôn Sách bảo là chủ trương của Chu Phù đưa Chu
Phù đi theo một lối sống mới.
Không chỉ Chu Phù "vứt điển huấn
tiền thánh, bỏ pháp luật Hán gia" để chấp nhận lối sống,
mà Sĩ Nhiếp cũng thế. Truyện Sĩ Nhiếp của Ngô Chí 4 tờ
7a1-8b5 nói "Sỹ Nhiếp tự Uy Ngạn, người Quảng Tín, Thương
Ngô, Tổ tiên vốn người Mẫn Dương nước Lỗ, đến loạn
Vương Mãng, tỵ nạn Giao Châu, tới Nhiếp là sáu đời. Cha
là Tứ, thời Hoàng đế (147-167) làm thái thú Nhật Nam. Nhiếp
nhỏ du học ở kinh đô, thờ Lưu Tử Kỳ đất thư lang công
sự, từ quan vì tang cha là Tứ. Sau đó cử mậu tài, bổ Vu
Lịnh, đổi làm thái thú Giao Chỉ...".
Bản thân Sĩ Nhiếp như thế ngay
từ nhỏ đã du học tại Lạc Dương được đào luyện trong
nền giáo dục Trung Quốc tiêu chuẩn, chuyên giỏi về Tả
thị xuân thu. Viên Huy viết thư cho Tuân Hoắc, dẫn trong truyện
Sỹ Nhiếp của Ngô chí 4 tờ 7b1-7 nói: "Sĩ phù quân của Giao
Chỉ học vấn đã ưu bác, lại thành công về chính trị,
ở trong đại loạn, bảo toàn một quận hơn 20 năm, cương
trường vô sự, dân không thất nghiệp, những bọn lệ thuộc
đều được nhờ ân. Tuy Đậu Dung giữ chức Hà Tây, há hơn
được ư?
Việc quan chút rảnh, liền xem luyện
thơ truyện. Xuân thu Tả thị truyện, lại càng luyện lựa
tinh vi. Tôi nhiều lần đem những chỗ nghi trong Tả truyện
ra hỏi, đều được trả lời có cơ sở, ý tứ rất chắc
chắn. Còn Thượng thơ, ông gồm thông cổ và kim văn, ở Kinh
đô cãi nhau phải trái kịch liệt, nay ông muốn liệt kê trường
nghĩa của Tả thị và Thượng thư để dâng lên...".
Thế nhưng, Sĩ Nhiếp với anh em
mình có một lối sống khá xa lạ với tập tục truyền thống
Trung Quốc mà cũng truyện Sĩ Nhiếp của Ngô chí 4 tờ 7b7-10
đã ghi lại như sau: "Anh em Nhiếp đều là người hùng các
quận, làm tướng một châu, riêng ở vạn lý, uy tôn võ thượng.
Ra vào đánh chuông khánh, đầy đủ uy nghi, kèm sáo cổ xuý,
xe ngựa đầy đường. Nguời Hồ theo sát xe đốt hương, thường
có mấy mươi. Thê thiếp đi xe màn, tử đệ theo lính kỵ.
Đương thời quí trọng, chấn phục trăm mọi. Uý Đà cũng
không đủ hơn".
Trước đây, việc có "người Hồ
đi sát xe đốt hương" vừa thấy, Hồ Thích nghĩ những ngư