THƯ VIỆN HOA SEN  

[SEARCH]   [ENGLISH]   [VISCII FONT]
c
HOME KINH ÐIỂN GIỚI LUẬT LUẬN GIẢI  PHẬT HỌC   THIỀN NGUYÊN THỦY   THIỀN TỔ SƯ  NIỆM PHẬT  SỬ PHẬT GIÁO   PHÁP LUẬN  TỰ ÐIỂN PHẬT HỌC DINH DƯỠNG CHAY  TRUYỆN NGẮN  DIỄN ÐÀN PHẬT PHÁP INDEX TÁC GIẢ 
c
c
Tựa
Thư Trả Lời:
Cư Sĩ Đặng Bá Thành
Cư Sĩ Đặng Tân An
Cư Sĩ Cao Thiệu Lân
Cư Sĩ Trần Tích Châu
Cư Sĩ Lâm Giới Sanh
Một vị Cư Sĩ ở Vĩnh Gia
Cư Sĩ Bộc Đại Phàm
Cư Sĩ Vệ Cẩm Châu
Cư Sĩ ở Vĩnh Gia
Nữ Sĩ Từ Phước Hiền
Đế Nhàn Pháp Sư
Một Cư Sĩ ở Vĩnh Gia
Thơ đáp một Cư Sĩ
Cư Sĩ Trần Huệ Siêu
Ly Ẩn Tẩu
Cư Sĩ Phạm Cổ Nông
Cư Sĩ Ngô Hi Chân
Cư Sĩ Lưu Trí Không
Cư Sĩ Châu Trí Mậu
Cư Sĩ Uông Võ Mộc
Một Cư Sĩ ở Ninh Ba
Nhạc Tiên Kiều
Cư Sĩ Trương Vân Lôi
Cư Sĩ Tạ Dung Thoát
Cư Sĩ Tạ Thành Minh
Cư Sĩ Mã Khế Tây
Cư Sĩ ở Dõng Giang
Cư Sĩ Ngạn Như, Dật Như
Cư Sĩ Bao Sư Hiền
Pháp Hải Đại Sư
Cư Sĩ Hoàng Hàm Chi
Cư Sĩ Hà Huệ Chiêu
Cư Sĩ Úc Trí Lãng
Một vị Cư Sĩ
Cư Sĩ Châu Mạnh Do
Cư Sĩ Cừu Bội Khanh
Một vị Tỳ Kheo Ni
Cư Sĩ Phạm Cổ Nông
Mới phát tâm học Phật
Cư Sĩ Châu Tụng Nghiêu
Cư Sĩ Dương Đức Quan
Cư Sĩ Phật Điển
Cư Sĩ Hoàng Tụng Bình
Cư Sĩ Trạch Phạm
Cư Sĩ Khúc Thiên Dương
Thơ phúc đáp khắp nơi
Vườn Thơ Tịnh Độ
Lời Bạt
Mấy Lời Bày Tỏ
Tịnh Độ Pháp Nghi
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c

 

c
LÁ THƠ TỊNH ÐỘ
Ấn Quang Ðại Sư 
Việt Dịch: Hòa Thượng Thiền Tâm 
Tịnh Liên Đồ Thư Quán, Irvine USA 1998
Lời Bạt

Trong quyển nầy, ta thấy Ấn Quang Pháp Sư, về cách khuyến hóa, chỉ dùng lời lẽ bình thường chân thật, mà điểm cốt yếu duy ở một chữ thành. Người học đạo biết đặt chân từ chỗ bình thật đi vào, thì không còn vọng cầu xa xôi; có chí thành khẩn thiết tất dễ cảm thông với Phật. Sự huyền diệu của đạo chính là ở chỗ đó. Cho nên thuở xưa, một vị Tổ Sư đã bảo: ỏTâm bình thường là đạo.õ Nhưng, trên đường giải thoát, các tông khác tuy cũng dùng tâm bình thường thanh tịnh làm căn bản, song chỉ nương ở tự lực, riêng môn Tịnh Độ đã chuyên dùng tự lực lại kiêm chú trọng về tha lực. Như bên tông Thiền tuy tham cứu câu niệm Phật, nhưng chỉ dùng đó để ngăn làn sóng vọng tưởng, trở về tâm thanh tịnh; bên tông Mật như phái Lạt Ma giáo ở Tây Tạng, cũng có người chuyên trì danh hiệu của một đức Phật, một bậc Bồ Tát hay một vị thần, song họ chỉ xem đó là một câu chú, hoặc một đấng ủng hộ mà thôi. Tuy nhiên, nếu đem so sánh, ta thấy bên Mật có điểm thắng hơn bên Thiền, vì bên Mật trong khi tu niệm đã biết giữ ba nghiệp thanh tịnh (tam mật tương ưng) để tiêu trừ vọng tưởng đồng thời lại dùng công đức, năng lực của chân ngôn hay hiệu Phật, giúp sức phá tan hoặc nghiệp, để mau chứng quả Bồ Đề. Nhưng đó là những lối tu hành của bậc thượng căn, hơn nữa chúng sanh từ kiếp vô thỉ đến nay gây nên nghiệp chướng vô lượng vô biên, dù có tu được, cũng khó hy vọng trong một đời phá hết phiền hoặc, thoát đường sanh tử. Và một khi nghiệp hoặc còn chừng một mảy tơ, cũng bị luân hồi, mà đã luân hồi tất dễ quên mất túc căn, bị trần cảnh mê mờ lôi cuốn vào trong lục đạo! Khác hơn thế, môn Tịnh Độ bậc căn cơ thượng, trung, hạ đều có thể tu; cách tu chỉ dùng tâm thanh tịnh làm nền tảng, rồi từ nơi đó khởi công năng chí thành khẩn thiết niệm danh hiệu Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nếu đủ lòng tín nguyện trì danh, không luận người đã dứt hết phiền não, dù cho kẻ nghiệp nặng như biển cả non cao, trong một đời cũng được Phật tiếp dẫn sanh về Tịnh Độ. Khi niệm Phật chí thành, trong ấy có ba năng lực: sức Phật, sức Pháp và sức công đức không thể nghĩ bàn của tự tâm. Sức Phật là được Phật phóng quang nhiếp thọ, thường thường hộ trì. Sức Pháp là hồng danh A Di Đà vẫn đầy đủ muôn đức, chí thành niệm một câu tất sẽ tiêu tội nặng sanh tử trong tám mươi ức kiếp, phước huệ tăng thêm. Sức công đức của tự tâm là tâm ta có đủ mười pháp giới, trong khi ta niệm Phật thành khẩn, thì pháp giới ác bị tiêu ngưng, pháp giới lành biến chuyển lớn mãi cho đến khi thành thục, kết quả lúc mạng chung sẽ hóa sanh trong liên bào nơi cõi Tây Phương. Ở đây, ta cần nên phân biệt có hai lối niệm Phật tương tợ như Tịnh Độ mà không phải thuộc về tông Tịnh Độ: 1/ Niệm Phật tương tục mong đàn áp vọng tưởng chứng ngộ bản tâm, không cầu vãng sanh, giống như tông Thiền. 2/ Niệm Phật như trì một câu thần chú, mong Phật ủng hộ cho xa lìa ma chướng, tiêu hoặc nghiệp, hiện đời phước huệ tăng thêm, mà không cầu vãng sanh, giống như tông Mật. Niệm Phật như thế là lạc với đường lối của Tịnh Tông, chỉ được kết quả nhỏ mà mất sự lợi ích lớn. Nếu người biết trì niệm hiệu như giữ gìn bổn mạng, chỉ tha thiết cầu sanh Tây Phương, thì tuy không cầu dứt phiền não mà phiền não tự tiêu, không cầu sanh phước huệ mà phước huệ tự nhiên thêm lớn, cho đến không cầu chứng ngộ mà hoặc sớm hoặc chầy cũng được chứng ngộ; kết quả trong một đời sẽ thoát vòng luân chuyển, lên vị Bất Thối nơi cõi bảo liên. Thế thì chỉ thành tâm niệm Phật cầu vãng sanh, trong ấy đã có đủ Thiền và Mật rồi. Cho nên Ấn Quang Đại Sư thường nói: ỏPháp môn Tịnh Độ thống nhiếp cả Thiền, Giáo, Luật, cao siêu hơn Thiền, Giáo, Luật.õ

Môn Niệm Phật xem giản dị mà có công năng rất huyền diệu như thế, nên một hạng người học Phật vì nhận thức không thấu đáo, sanh tâm tự cao, bài báng, khinh thường. Bởi thế, có kẻ dẫn câu niệm Phật đem về lý tánh, cho lời nói trong các kinh Tịnh Độ là tượng trưng. Lại có một hạng người nhiều chủng tử ngoại đạo, đem sáu chữ niệm Phật bố khắp chi thể, hoặc hợp câu niệm Phật với phép luyện khí cho đi tuần hoàn trong châu thân, hoặc dùng câu niệm Phật tụ hỏa nơi ấn đường. Họ lại lầm cho đó là quí báu, chỉ mật thọ nhau trong phòng kín không dám tuyên dương, sợ e lạm truyền. Sự lầm lạc ấy khiến cho nhiều người mang chứng lớn bụng, mờ mắt, đau đầu, kết cuộc chỉ có tổn hại không được lợi ích. Nên biết pháp môn Tịnh Độ chính do đức Thích Ca Mâu Ni nói ra, sáu phương chư Phật đều khen ngợi; các bậc Đại Bồ Tát, Đại Tổ Sư như đức Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ đều tuân giữ; các Kinh Đại Thừa như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Đại Bảo Tích, Đại Bát Nhã đều tuyên dương. Kẻ ngoại đạo vì tà kiến, hủy báng môn Tịnh Độ, vẫn không đáng nói; hàng Phật tử nếu sanh tâm tự cao hủy báng, tức là vô tình hủy báng ngôi Tam Bảo, ngăn lấp con đường giác ngộ của mọi người. Tại sao thế? Vì môn Tịnh Độ là cửa mầu giải thoát duy nhất, yên ổn nhất của chúng sanh đời mạt pháp; chính đức Phật đã từng có lời huyền ký thuở xưa.

Trên đây, không phải tôi cố ý phân biệt môn Tịnh Độ giữa các tông phái, hay thiếu mỹ cảm với những kẻ đã lầm lạc, mà chính vì tưởng niệm ân sâu của Phật, muốn cho mọi người đồng được lợi ích đó thôi. Tuy nhiên, trên đường đạo, sở thích của mỗi người có khác nhau, khúc nhạc hương quê chưa dễ cảm được lòng du khách! Xem quyển nầy, ai có mến Ấn Quang Pháp Sư, cũng nên theo Ngài mà đọc bài ca quy khứ:

Phải nên phát nguyện, nguyện vãng sanh,
Đất khách sơn khê mặc người luyến?
Tự không muốn về, về sẽ được,
Quê xưa trăng gió có ai tranh?

Người Bạn Sen,

Liên Du Thích Thiền Tâm

Mấy Lời Bày Tỏ

Trong các hành môn của đức Phật đã chỉ dạy, môn nào cũng có pháp nghi riêng biệt, từ cách thờ cúng, lễ bái, trì tụng, sám hối, phát nguyện v.v... Như Mật Tông lại còn sự lập đàn, kiết ấn nữa.

Riêng về tông Tịnh Độ, tôi thấy có nhiều người không biết nghi thức hành trì cho đúng pháp. Lại có những vị không hiểu nghĩa chữ Hán, thành ra khi trì tụng chỉ đọc suông theo thông lệ, khó phát lòng thành khẩn, không thể chuyển hướng tâm niệm của mình y như lời văn. Nghĩ vì dòng đời cứ mãi trôi qua, người sau càng ngày lại càng ít am hiểu văn từ Hán Việt, nên theo lời yêu cầu của một số đông, tôi soạn dịch nghi thức tu Tịnh Độ ra Việt văn để giúp bạn đồng tu.

Về pháp nghi Tịnh Độ, có ba bậc: thượng, trung, hạ. Để không quá đơn giản và khỏi phiền toái, tôi căn cứ theo pháp nghi của ngài Từ Vân trong Tịnh Độ Thập Yếu, soạn dịch nghi thức theo bậc trung. Về cách trì danh, vẫn có nhiều đường lối, theo chỗ kinh nghiệm và so với thời cơ, tôi chọn pháp Thập Niệm Ký Số.

Về pháp nghi Tịnh Độ, thuở xưa chia làm năm môn, tôi ước kết lại thành ba môn: lễ bái, trì tụng và phát nguyện hồi hướng. Vả lại, pháp môn Tịnh Độ có chuyên tu và kiêm tu; có vị chuyên niệm Phật, có vị lại kiêm tụng kinh, trì chú, sám hối hoặc tham thiền. Theo Ấn Quang Pháp Sư, thì người tu tịnh nghiệp phải lấy sự niệm Phật làm phần chính, mấy món kia làm phần phụ, phần chính cố nhiên phải giữ cho nhiều hơn. Riêng về tụng kinh, trì chú, nếu dùng để giúp cho phần niệm Phật và chí tâm hồi hướng, cầu vãng sanh, cũng có thể gọi là chuyên tu.

Trên pháp môn trì danh, sự hơn kém thật ra không phải ở nơi nghi thức, mà ở chỗ: âm thanh rành rõ hay lờ mờ, tâm niệm thành khẩn hay thờ ơ tán loạn, công trì tụng sâu nhiều hay cạn ít. Nếu người biết tu thì một lượt chiêm lễ, một câu xưng danh, công đức cũng hơn kẻ không biết tu rất nhiều. Tuy nhiên, nếu không có pháp nghi cho đúng, thì công đức hành trì thì cũng khó phát huy đến chỗ viên mãn. Và vì thế tôi mới soạn ra nghi thức nầy.

Xưa và nay cách nhau, chúng sanh căn cơ sở thích đều sai khác, tôi không dám gọi việc làm nầy là hợp với mọi người, cũng không dám cho nghi thức đây là hơn những pháp nghi đã có, chỉ tùy chỗ mong cầu mà lạo thảo viết ra vậy thôi.
 

Liên Du Thích Thiền Tâm
Tịnh Độ Pháp Nghi
(của Từ Vân Sám Chủ, Tuân Thức Đại Sư)

1. Môn Lễ Bái

(Trước khi trì tụng, nên súc miệng, rửa mặt, rửa tay sạch sẽ, rồi mặc áo tràng, đốt hương, kế chắp tay đứng trước bàn Phật đọc bài kệ tán Phật, tiếp theo lễ bái).

Từ bi thệ độ khắp quần sanh
Hỷ xả cứu an chúng hữu tình
Tướng tốt trang nghiêm thân rực rỡ,
Nay con đảnh lễ chí tâm thành.

(Cùng đứng xướng lễ)

( Chí tâm đảnh lễ - Nam Mô Tận Hư Không, Khắp Pháp Giới, Mười Phương Ba Đời, Tất Cả Chư Phật.

(1 lễ, 1 tiếng chuông)

( Chí tâm đảnh lễ - Nam Mô Tận Hư Không, Khắp Pháp Giới, Mười Phương Ba Đời, Tất Cả Tôn Pháp.

(1 lễ, 1 tiếng chuông)

( Chí tâm đảnh lễ - Nam Mô Tận Hư Không, Khắp Pháp Giới, Mười Phương Ba Đời, Tất Cả Hiền Thánh Tăng. (1 lễ, 1 tiếng chuông)

( Chí tâm đảnh lễ - Nam Mô Ta Bà Giáo Chủ, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ, 1 tiếng chuông)

( Chí tâm đảnh lễ - Nam Mô Thường Tịch Quang Tịnh Độ, A Di Đà Như Lai, Pháp Thân Mầu Thanh Tịnh, Khắp Pháp Giới Chư Phật. (1 lễ, 1 tiếng chuông)

( Chí tâm đảnh lễ - Nam Mô Thật Báo Trang Nghiêm Độ, A Di Đà Như Lai, Thân Tướng Hải Vi Trần, Khắp Pháp Giới Chư Phật. (1 lễ, 1 tiếng chuông)

( Chí tâm đảnh lễ - Nam Mô Phương Tiện Thánh Cư Độ, A Di Đà Như Lai, Thân Trang Nghiêm Giải Thoát, Khắp Pháp Giới Chư Phật.

(1 lễ, 1 tiếng chuông)

( Chí tâm đảnh lễ - Nam Mô Cõi Cực Lạc Phương Tây, A Di Đà Như Lai, Thân Căn Giới Đại Thừa, Khắp Pháp giới Chư Phật. (1 lễ, 1 tiếng chuông)

( Chí tâm đảnh lễ - Nam Mô Cõi Cực Lạc Phương Tây, A Di Đà Như Lai, Thân Hóa Đến Mười Phương, Khắp Pháp Giới Chư Phật. (1 lễ, 1 tiếng chuông)

( Chí tâm đảnh lễ - Nam Mô Cõi Cực Lạc Phương Tây, Quán Thế Âm Bồ Tát Thân Tử Kim Muôn Ức, Khắp Pháp Giới Bồ Tát. (1 lễ, 1 tiếng chuông)

( Chí tâm đảnh lễ - Nam Mô Cõi Cực Lạc Phương Tây, Đại Thế Chí Bồ Tát, Thân Trí Sáng Vô Biên, Khắp Pháp Giới Bồ Tát. (1 lễ, 1 tiếng chuông)

( Chí tâm đảnh lễ - Nam Mô Cõi Cực Lạc Phương Tây, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng, Thân Phước Trí Trang Nghiêm, Khắp Pháp Giới Thánh Chúng. (1 lễ, 1 tiếng chuông)

 
2. Môn Trì Tụng
 
 

(Ngồi bán dà hoặc kiết dà; chắp tay niệm Phật)

Tịnh Pháp Giới Chân Ngôn

Án lam, xóa ha. (7 lần)

Tịnh Tam Nghiệp Chân Ngôn

Án, sa phạ bà phạ, thuật đà sa phạ, đạt mạ sa phạ, bà phạ thuật độ hám. (3 lần)

Hương Tán

Hương thơm giăng bủa,
Thánh đức tỏ tường,
Bồ đề tâm rộng khó suy lường,
Tùy chỗ phóng hào quang
Lành tốt phi thường,
Kính lễ Pháp trung vương.
Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát. (3 lần)

(Nếu người tụng kinh, thì đọc bài kệ khai kinh, tiếp theo tụng thứ kinh mà mình thích; người trì chú Chuẩn Đề, tụng theo nghi chú Chuẩn Đề; người chỉ chuyên niệm Phật, đọc bài kệ tán Phật A Di Đà rồi niệm Phật. Dù tụng kinh hay trì chú chi, khi xong đều tiếp theo niệm Phật y như sau. Trong đây, theo phần đông, tôi viết ra nghi thức trì chú Đại Bi và niệm Phật).

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)

Kính lạy Quán Âm chủ Đại Bi,
Sức nguyện rộng sâu, thân tướng đẹp,
Ngàn mắt quang minh khắp chiếu soi,
Ngàn tay trang nghiêm, khắp nâng đỡ.
Nơi tâm vô vi khởi lòng bi,
Trong thể chân thật tuyên lời mật.
Mau cho đầy đủ những mong cầu,
Hay khiến dứt trừ nhiều tội nghiệp.
Thiên Long các thánh đều từ hộ,
Trăm ngàn tam muội đã huân tu.
Thân thọ trì là quang minh tràng,
Tâm thọ trì là thần thông tạng.
Rửa sạch trần lao khơi bể nguyện.
Mở môn phương tiện đến bồ đề.
Nay con khen ngợi thệ quy y.
Nguyện chỗ mong cầu được thành tựu.
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát
(đọc tha thiết 10 lần)
 
 

Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị gia, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.

Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà tát đa, na ma bà già ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng. Cu lô cu lô yết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra, địa rị ni. Thất Phật ra da. Dá ra dá ra, mạ mạ phạt ma ra. Mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lị, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô. Bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na. Ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na, đá ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án, tất điện đô, mạn đà ra bạt đà dạ, ta bà ha.

(Tụng chú nầy 7 hoặc 21 biến, tụng xong quì gối chắp tay đọc):

Đệ tử (pháp danh) một lòng sám hối:
Về trước con tạo nhiều nghiệp ác,
Đều do vô thỉ tham, giận, mê.
Từ thân miệng ý mà sanh ra,
Nay con xin sám hối tất cả.
Con nguyện thân tâm thường tinh tấn.
Chướng duyên trong ngoài đều tiêu trừ.
Lâm chung chánh niệm về Tây Phương,
Mãn nguyện Bồ Đề độ hàm thức.
Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm
Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
(Vẫn quỳ tiếp đọc):

Thân Phật Di Đà vàng rực rỡ,
Tuyệt vời xinh đẹp tướng trang nghiêm.
Non năm tòa xoay chuyển bạch hào,
Nước bốn bể trong ngần mắt biếc.
Trong ánh sáng hóa vô số Phật,
Các hóa Bồ Tát cũng không lường.
Nguyện lành bốn tám độ hàm linh,
Chín phẩm sen vàng sanh Cực Lạc.
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới,
Đại Từ Đại Bi, A Di Đà Phật.

(Đứng lên đi nhiễu quanh bàn Phật, vừa niệm hồng danh; đi ba vòng hoặc nhiều vòng rồi trở lại ngồi. Nên niệm ra tiếng nho nhỏ theo pháp Thập Niệm Ký Số lấy 10 câu làm một đơn vị, chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu; cứ hết 10 câu lần qua hột chuỗi. Khi niệm đủ số hạn định, đến trước bàn Phật, xưng danh hiệu Tứ Thánh và đọc bài văn phát nguyện hồi hướng).

3. Môn Phát Nguyện Hồi Hướng







Nam Mô A Di Đà Phật. (niệm mau 10 hơi)
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. (10 câu)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (10 câu)
Nam Mô Thanh Tịnh
Đại Hải Chúng Bồ Tát (10 câu)

(Vẫn quì, dùng tâm tiếng khẩn thiết đọc):

Một lòng quy mạng,
Thế giới Cực Lạc,
Phật A Di Đà.
Xin đem ánh tịnh,
Soi chiếu thân con;
Dùng nguyện từ bi,
Mà nhiếp thọ con.
Nay con chính niệm,
Xưng hiệu Như Lai,
Vì đạo Bồ Đề,
Cầu sanh Tịnh Độ.
Xưa Phật lập thệ:
Nếu chúng sanh nào,
Muốn về nước ta,
Hết lòng tin ưa,
Xưng danh hiệu ta,
Cho đến mười niệm,
Như không được sanh,
Ta không thành Phậtõ.
Nay con nguyện nương,
Nhân duyên niệm Phật,
Được vào biển thệ,
Của đức Như Lai;
Nhờ sức Từ Tôn,
Tiêu trừ các tội,
Thêm lớn căn lành.
Con nguyện lâm chung,
Biết ngày giờ trước,
Thân không bệnh khổ,
Tâm không tham luyến,
Ý không điên đảo,
Như vào thiền định.
Phật cùng Thánh Chúng,
Tay bưng đài vàng,
Đến tiếp dẫn con.
Trong khoảng sát na,
Con về Cực Lạc,
Hoa nở thấy Phật,
Được nghe Phật thừa,
Tỏ thông Phật huệ,
Độ khắp chúng sanh,
Mãn Bồ Đề nguyện.
Xin đem công đức trì tụng nầy,
Hồi hướng bốn ân và ba cõi.
Nguyện khắp pháp giới các chúng sanh,
Đều sanh Cực Lạc, thành Phật đạo.
 

Chí tâm đảnh lễ - Tận Hư Không, Khắp Pháp Giới Mười Phương Ba Đời, Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, Thường Trú Tam Bảo. (1 lạy)

Chí tâm đảnh lể - Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ - Cực Lạc Thế Giới, Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lạy)

 
Trích Kinh A Di Đà


Từ đây qua phương Tây mười muôn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc. Cõi kia có Phật, hiệu A Di Đà, hiện nay đang thuyết pháp.

Nầy Xá Lợi Phất! Vì sao nước kia kêu là Cực Lạc? Bởi chúng sanh nước kia chỉ hưởng những điều vui, không có các việc khổ, nên gọi là Cực Lạc.

Lại nữa, nầy Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng; bảy lớp hàng cây, đều làm bằng bốn món báu, đoanh vây, giáp vòng. Thế cho nên nước kia, gọi là nước Cực Lạc.

Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc, có ao bằng thất bảo, tám thứ nước công đức, dẫy đầy trong đó; dưới đáy ao, dùng ròng thứ cát bằng vàng lót đất. Đường đi bốn bên thềm ao đắp thành bằng bốn chất báu là: kim ngân, lưu ly, pha lê, trên có lầu các, cũng dùng kim, ngân, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não, để kiến trúc điểm tô nhà lầu ấy.

Hoa sen trong ao, lớn bằng bánh xe, sắc xanh hào quang xanh, sắc vàng hào quang vàng, màu đỏ chiếu ánh đỏ, màu trắng tia sáng trắng, nhiệm mầu thơm sạch.

Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.
 
 

Sám Phát Nguyện

Đệ tử chúng con từ vô thỉ,
Gây bao tội ác bởi lầm mê,
Đắm trong sanh tử đã bao lần,
Nay đến trước đài Vô Thượng Giác.
Biển trần khổ lâu đời luân lạc.
Với sanh linh vô số điêu tàn,
Sống u hoài trong kiếp lầm than,
Con lạc lõng không nhìn phương hướng,
Đàn con dại từ lâu vất vưởng,
Hôm nay trông thấy đạo huy hoàng,
Xin hướng về núp bóng từ quang,
Lạy Phật Tổ soi đường dẫn bước,
Bao tội khổ trong đường ác trược,
Vì tham, sân, si, mạn gây nên,
Thì hôm nay giữ trọn lời nguyền.
Xin sám hối để lòng thanh thoát.
Trí huệ quang minh như nhật nguyệt
Từ bi vô lượng cứu quần sanh,
Ôi! Từ lâu ba chốn ngục hình,
Giam giữ mãi con nguyền ra khỏi,
Theo gót Ngài vượt qua khổ ải,
Nương thuyền từ vượt bể ái hà,
Nhớ lời Ngài: ỏBờ giác không xaõ,
Hành thập thiện cho đời tươi sáng,
Bỏ việc ác cho đời quang đãng,
Đem phúc lành gieo rắc phàm nhân,
Lời ngọc vàng ghi mãi bên lòng,
Con nguyện được sống đời rộng rãi,
Con niệm Phật để lòng nhớ mãi,
Hình bóng người cứu khổ chúng sanh,
Để theo Ngài trên bước đường lành,
Chúng con khổ, nguyền xin cứu khổ,
Chúng con khổ, nguyền xin tự độ,
Ngoài tham lam, sân hận ngập trời,
Phá si mê trí huệ tuyệt vời,
Con nhớ đức Di Đà lạc quốc.
Phật A Di Đà thân kim sắc,
Tướng tốt quang minh tự trang nghiêm.
Năm Tu Di uyển chuyển bạch hào,
Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc.
Trong hào quang hóa vô số Phật.
Vô số Bồ Tát hiện ở trong.
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh
Chín phẩm sen vàng lên giải thoát
Quy mạng lễ A Di Đà Phật
Ở phương Tây thế giới an lành
Con nay xin phát nguyện vãng sanh
Cúi xin đức Từ Bi tiếp độ.
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới,
Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. (3 lần)
 
 

Hồi Hướng


Nguyện đem công đức này
Trang nghiêm Phật tịnh độ
Thượng báo tứ trọng ân
Hạ tế tam đồ khổ
Nếu có ai thấy nghe
Đều phát bồ đề tâm
Khi mãn báo thân này
Sanh qua cõi Cực Lạc
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới
Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư
A Di Đà Phật

Quyển Lá Thơ Tịnh Độ này được ấn tống là do một số Phật tử tùy hỷ phát tâm đóng góp. Chúng tôi sẽ lần lượt ấn tống thêm những kinh sách có giá trị khác. Những quyển sau đây sẽ được đánh máy và in lại cho rõ ràng:

Niệm Phật Thập Yếu - Hòa Thượng Thiền Tâm
Quê Hương Cực Lạc - Hòa Thượng Thiền Tâm
Kinh A Di Đà Sớ Sao - Hòa Thượng Hành Trụ

Những kinh sách đã được ấn tống:

Tịnh Độ Quyết Nghi Luận - 1997
Lá Thơ Tịnh Độ - 1998

Quý vị đạo hữu muốn biết thêm chi tiết về kinh sách hoặc băng cassette ấn tống, xin liên lạc về địa chỉ sau đây:

Tịnh Liên Đồ Thư Quán
42 Boulder Creek Way
Irvine, CA 92602
(714) 573-0779
 

Quyển Lá Thơ Tịnh Độ có thể xem trên internet:
http://westernpureland.8m.com
 

Kinh sách ấn tống
miễn phí
 

This book
is not to be sold
FOR FREE DISTRIBUTION ONLY

Ðọc Thêm Bài "Phải Hiểu Rõ Sự Niệm Phật" 
nhân ngày giỗ thứ mười hai của tổ Ấn Quang, năm 1952 
Do Hòa Thượng Hư Vân Thuyết Giảng
   
 
 
[LINKS]  [PHẬT GIÁO THẾ GIỚI]  [NHẠC PHẬT GIÁO]  [PHÁP THOẠI]  [CHÙA VIỆT NAM]
E-MAIL: banbientap@thuvienhoasen.org