Lời
Bạt
Trong quyển
nầy, ta thấy Ấn Quang Pháp Sư, về cách khuyến hóa, chỉ
dùng lời lẽ bình thường chân thật, mà điểm cốt yếu
duy ở một chữ thành. Người học đạo biết đặt chân từ
chỗ bình thật đi vào, thì không còn vọng cầu xa xôi; có
chí thành khẩn thiết tất dễ cảm thông với Phật. Sự huyền
diệu của đạo chính là ở chỗ đó. Cho nên thuở xưa, một
vị Tổ Sư đã bảo: ỏTâm bình thường là đạo.õ Nhưng,
trên đường giải thoát, các tông khác tuy cũng dùng tâm bình
thường thanh tịnh làm căn bản, song chỉ nương ở tự lực,
riêng môn Tịnh Độ đã chuyên dùng tự lực lại kiêm chú
trọng về tha lực. Như bên tông Thiền tuy tham cứu câu niệm
Phật, nhưng chỉ dùng đó để ngăn làn sóng vọng tưởng,
trở về tâm thanh tịnh; bên tông Mật như phái Lạt Ma giáo
ở Tây Tạng, cũng có người chuyên trì danh hiệu của một
đức Phật, một bậc Bồ Tát hay một vị thần, song họ chỉ
xem đó là một câu chú, hoặc một đấng ủng hộ mà thôi.
Tuy nhiên, nếu đem so sánh, ta thấy bên Mật có điểm thắng
hơn bên Thiền, vì bên Mật trong khi tu niệm đã biết giữ
ba nghiệp thanh tịnh (tam mật tương ưng) để tiêu trừ vọng
tưởng đồng thời lại dùng công đức, năng lực của chân
ngôn hay hiệu Phật, giúp sức phá tan hoặc nghiệp, để mau
chứng quả Bồ Đề. Nhưng đó là những lối tu hành của
bậc thượng căn, hơn nữa chúng sanh từ kiếp vô thỉ đến
nay gây nên nghiệp chướng vô lượng vô biên, dù có tu được,
cũng khó hy vọng trong một đời phá hết phiền hoặc, thoát
đường sanh tử. Và một khi nghiệp hoặc còn chừng một mảy
tơ, cũng bị luân hồi, mà đã luân hồi tất dễ quên mất
túc căn, bị trần cảnh mê mờ lôi cuốn vào trong lục đạo!
Khác hơn thế, môn Tịnh Độ bậc căn cơ thượng, trung, hạ
đều có thể tu; cách tu chỉ dùng tâm thanh tịnh làm nền
tảng, rồi từ nơi đó khởi công năng chí thành khẩn thiết
niệm danh hiệu Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nếu đủ lòng tín
nguyện trì danh, không luận người đã dứt hết phiền não,
dù cho kẻ nghiệp nặng như biển cả non cao, trong một đời
cũng được Phật tiếp dẫn sanh về Tịnh Độ. Khi niệm Phật
chí thành, trong ấy có ba năng lực: sức Phật, sức Pháp và
sức công đức không thể nghĩ bàn của tự tâm. Sức Phật
là được Phật phóng quang nhiếp thọ, thường thường hộ
trì. Sức Pháp là hồng danh A Di Đà vẫn đầy đủ muôn đức,
chí thành niệm một câu tất sẽ tiêu tội nặng sanh tử trong
tám mươi ức kiếp, phước huệ tăng thêm. Sức công đức
của tự tâm là tâm ta có đủ mười pháp giới, trong khi ta
niệm Phật thành khẩn, thì pháp giới ác bị tiêu ngưng, pháp
giới lành biến chuyển lớn mãi cho đến khi thành thục, kết
quả lúc mạng chung sẽ hóa sanh trong liên bào nơi cõi Tây
Phương. Ở đây, ta cần nên phân biệt có hai lối niệm Phật
tương tợ như Tịnh Độ mà không phải thuộc về tông Tịnh
Độ: 1/ Niệm Phật tương tục mong đàn áp vọng tưởng chứng
ngộ bản tâm, không cầu vãng sanh, giống như tông Thiền.
2/ Niệm Phật như trì một câu thần chú, mong Phật ủng hộ
cho xa lìa ma chướng, tiêu hoặc nghiệp, hiện đời phước
huệ tăng thêm, mà không cầu vãng sanh, giống như tông Mật.
Niệm Phật như thế là lạc với đường lối của Tịnh Tông,
chỉ được kết quả nhỏ mà mất sự lợi ích lớn. Nếu
người biết trì niệm hiệu như giữ gìn bổn mạng, chỉ
tha thiết cầu sanh Tây Phương, thì tuy không cầu dứt phiền
não mà phiền não tự tiêu, không cầu sanh phước huệ mà
phước huệ tự nhiên thêm lớn, cho đến không cầu chứng
ngộ mà hoặc sớm hoặc chầy cũng được chứng ngộ; kết
quả trong một đời sẽ thoát vòng luân chuyển, lên vị Bất
Thối nơi cõi bảo liên. Thế thì chỉ thành tâm niệm Phật
cầu vãng sanh, trong ấy đã có đủ Thiền và Mật rồi. Cho
nên Ấn Quang Đại Sư thường nói: ỏPháp môn Tịnh Độ thống
nhiếp cả Thiền, Giáo, Luật, cao siêu hơn Thiền, Giáo, Luật.õ
Môn Niệm
Phật xem giản dị mà có công năng rất huyền diệu như thế,
nên một hạng người học Phật vì nhận thức không thấu
đáo, sanh tâm tự cao, bài báng, khinh thường. Bởi thế, có
kẻ dẫn câu niệm Phật đem về lý tánh, cho lời nói trong
các kinh Tịnh Độ là tượng trưng. Lại có một hạng người
nhiều chủng tử ngoại đạo, đem sáu chữ niệm Phật bố
khắp chi thể, hoặc hợp câu niệm Phật với phép luyện khí
cho đi tuần hoàn trong châu thân, hoặc dùng câu niệm Phật
tụ hỏa nơi ấn đường. Họ lại lầm cho đó là quí báu,
chỉ mật thọ nhau trong phòng kín không dám tuyên dương, sợ
e lạm truyền. Sự lầm lạc ấy khiến cho nhiều người mang
chứng lớn bụng, mờ mắt, đau đầu, kết cuộc chỉ có tổn
hại không được lợi ích. Nên biết pháp môn Tịnh Độ chính
do đức Thích Ca Mâu Ni nói ra, sáu phương chư Phật đều khen
ngợi; các bậc Đại Bồ Tát, Đại Tổ Sư như đức Văn Thù,
Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ đều tuân giữ; các Kinh Đại
Thừa như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Đại Bảo Tích, Đại Bát Nhã
đều tuyên dương. Kẻ ngoại đạo vì tà kiến, hủy báng
môn Tịnh Độ, vẫn không đáng nói; hàng Phật tử nếu sanh
tâm tự cao hủy báng, tức là vô tình hủy báng ngôi Tam Bảo,
ngăn lấp con đường giác ngộ của mọi người. Tại sao thế?
Vì môn Tịnh Độ là cửa mầu giải thoát duy nhất, yên ổn
nhất của chúng sanh đời mạt pháp; chính đức Phật đã
từng có lời huyền ký thuở xưa.
Trên đây,
không phải tôi cố ý phân biệt môn Tịnh Độ giữa các tông
phái, hay thiếu mỹ cảm với những kẻ đã lầm lạc, mà
chính vì tưởng niệm ân sâu của Phật, muốn cho mọi người
đồng được lợi ích đó thôi. Tuy nhiên, trên đường đạo,
sở thích của mỗi người có khác nhau, khúc nhạc hương quê
chưa dễ cảm được lòng du khách! Xem quyển nầy, ai có mến
Ấn Quang Pháp Sư, cũng nên theo Ngài mà đọc bài ca quy khứ:
Phải nên
phát nguyện, nguyện vãng sanh,
Đất
khách sơn khê mặc người luyến?
Tự không
muốn về, về sẽ được,
Quê xưa
trăng gió có ai tranh?
Người
Bạn Sen,
Liên Du Thích
Thiền Tâm
Mấy
Lời Bày Tỏ
Trong các
hành môn của đức Phật đã chỉ dạy, môn nào cũng có pháp
nghi riêng biệt, từ cách thờ cúng, lễ bái, trì tụng, sám
hối, phát nguyện v.v... Như Mật Tông lại còn sự lập đàn,
kiết ấn nữa.
Riêng về
tông Tịnh Độ, tôi thấy có nhiều người không biết nghi
thức hành trì cho đúng pháp. Lại có những vị không hiểu
nghĩa chữ Hán, thành ra khi trì tụng chỉ đọc suông theo thông
lệ, khó phát lòng thành khẩn, không thể chuyển hướng tâm
niệm của mình y như lời văn. Nghĩ vì dòng đời cứ mãi
trôi qua, người sau càng ngày lại càng ít am hiểu văn từ
Hán Việt, nên theo lời yêu cầu của một số đông, tôi soạn
dịch nghi thức tu Tịnh Độ ra Việt văn để giúp bạn đồng
tu.
Về pháp
nghi Tịnh Độ, có ba bậc: thượng, trung, hạ. Để không quá
đơn giản và khỏi phiền toái, tôi căn cứ theo pháp nghi của
ngài Từ Vân trong Tịnh Độ Thập Yếu, soạn dịch nghi thức
theo bậc trung. Về cách trì danh, vẫn có nhiều đường lối,
theo chỗ kinh nghiệm và so với thời cơ, tôi chọn pháp Thập
Niệm Ký Số.
Về pháp
nghi Tịnh Độ, thuở xưa chia làm năm môn, tôi ước kết lại
thành ba môn: lễ bái, trì tụng và phát nguyện hồi hướng.
Vả lại, pháp môn Tịnh Độ có chuyên tu và kiêm tu; có vị
chuyên niệm Phật, có vị lại kiêm tụng kinh, trì chú, sám
hối hoặc tham thiền. Theo Ấn Quang Pháp Sư, thì người tu
tịnh nghiệp phải lấy sự niệm Phật làm phần chính, mấy
món kia làm phần phụ, phần chính cố nhiên phải giữ cho
nhiều hơn. Riêng về tụng kinh, trì chú, nếu dùng để giúp
cho phần niệm Phật và chí tâm hồi hướng, cầu vãng sanh,
cũng có thể gọi là chuyên tu.
Trên pháp
môn trì danh, sự hơn kém thật ra không phải ở nơi nghi thức,
mà ở chỗ: âm thanh rành rõ hay lờ mờ, tâm niệm thành khẩn
hay thờ ơ tán loạn, công trì tụng sâu nhiều hay cạn ít.
Nếu người biết tu thì một lượt chiêm lễ, một câu xưng
danh, công đức cũng hơn kẻ không biết tu rất nhiều. Tuy
nhiên, nếu không có pháp nghi cho đúng, thì công đức hành
trì thì cũng khó phát huy đến chỗ viên mãn. Và vì thế tôi
mới soạn ra nghi thức nầy.
Xưa và nay
cách nhau, chúng sanh căn cơ sở thích đều sai khác, tôi không
dám gọi việc làm nầy là hợp với mọi người, cũng không
dám cho nghi thức đây là hơn những pháp nghi đã có, chỉ
tùy chỗ mong cầu mà lạo thảo viết ra vậy thôi.
Liên Du
Thích Thiền Tâm
Tịnh
Độ Pháp Nghi
(của Từ
Vân Sám Chủ, Tuân Thức Đại Sư)
1. Môn Lễ
Bái
(Trước khi
trì tụng, nên súc miệng, rửa mặt, rửa tay sạch sẽ, rồi
mặc áo tràng, đốt hương, kế chắp tay đứng trước bàn
Phật đọc bài kệ tán Phật, tiếp theo lễ bái).
Từ bi
thệ độ khắp quần sanh
Hỷ xả
cứu an chúng hữu tình
Tướng
tốt trang nghiêm thân rực rỡ,
Nay con
đảnh lễ chí tâm thành.
(Cùng đứng
xướng lễ)
( Chí tâm
đảnh lễ - Nam Mô Tận Hư Không, Khắp Pháp Giới, Mười Phương
Ba Đời, Tất Cả Chư Phật.
(1 lễ, 1
tiếng chuông)
( Chí tâm
đảnh lễ - Nam Mô Tận Hư Không, Khắp Pháp Giới, Mười Phương
Ba Đời, Tất Cả Tôn Pháp.
(1 lễ, 1
tiếng chuông)
( Chí tâm
đảnh lễ - Nam Mô Tận Hư Không, Khắp Pháp Giới, Mười Phương
Ba Đời, Tất Cả Hiền Thánh Tăng. (1 lễ, 1 tiếng chuông)
( Chí tâm
đảnh lễ - Nam Mô Ta Bà Giáo Chủ, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật. (1 lễ, 1 tiếng chuông)
( Chí tâm
đảnh lễ - Nam Mô Thường Tịch Quang Tịnh Độ, A Di Đà Như
Lai, Pháp Thân Mầu Thanh Tịnh, Khắp Pháp Giới Chư Phật. (1
lễ, 1 tiếng chuông)
( Chí tâm
đảnh lễ - Nam Mô Thật Báo Trang Nghiêm Độ, A Di Đà Như
Lai, Thân Tướng Hải Vi Trần, Khắp Pháp Giới Chư Phật. (1
lễ, 1 tiếng chuông)
( Chí tâm
đảnh lễ - Nam Mô Phương Tiện Thánh Cư Độ, A Di Đà Như
Lai, Thân Trang Nghiêm Giải Thoát, Khắp Pháp Giới Chư Phật.
(1 lễ, 1
tiếng chuông)
( Chí tâm
đảnh lễ - Nam Mô Cõi Cực Lạc Phương Tây, A Di Đà Như Lai,
Thân Căn Giới Đại Thừa, Khắp Pháp giới Chư Phật. (1 lễ,
1 tiếng chuông)
( Chí tâm
đảnh lễ - Nam Mô Cõi Cực Lạc Phương Tây, A Di Đà Như Lai,
Thân Hóa Đến Mười Phương, Khắp Pháp Giới Chư Phật. (1
lễ, 1 tiếng chuông)
( Chí tâm
đảnh lễ - Nam Mô Cõi Cực Lạc Phương Tây, Quán Thế Âm
Bồ Tát Thân Tử Kim Muôn Ức, Khắp Pháp Giới Bồ Tát. (1
lễ, 1 tiếng chuông)
( Chí tâm
đảnh lễ - Nam Mô Cõi Cực Lạc Phương Tây, Đại Thế Chí
Bồ Tát, Thân Trí Sáng Vô Biên, Khắp Pháp Giới Bồ Tát. (1
lễ, 1 tiếng chuông)
( Chí tâm
đảnh lễ - Nam Mô Cõi Cực Lạc Phương Tây, Thanh Tịnh Đại
Hải Chúng, Thân Phước Trí Trang Nghiêm, Khắp Pháp Giới Thánh
Chúng. (1 lễ, 1 tiếng chuông)
2. Môn
Trì Tụng
(Ngồi bán
dà hoặc kiết dà; chắp tay niệm Phật)
Tịnh Pháp
Giới Chân Ngôn
Án lam,
xóa ha. (7 lần)
Tịnh Tam
Nghiệp Chân Ngôn
Án, sa
phạ bà phạ, thuật đà sa phạ, đạt mạ sa phạ, bà phạ
thuật độ hám. (3 lần)
Hương
Tán
Hương
thơm giăng bủa,
Thánh
đức tỏ tường,
Bồ đề
tâm rộng khó suy lường,
Tùy chỗ
phóng hào quang
Lành tốt
phi thường,
Kính lễ
Pháp trung vương.
Nam Mô
Hương Vân Cái Bồ Tát. (3 lần)
(Nếu người
tụng kinh, thì đọc bài kệ khai kinh, tiếp theo tụng thứ
kinh mà mình thích; người trì chú Chuẩn Đề, tụng theo nghi
chú Chuẩn Đề; người chỉ chuyên niệm Phật, đọc bài kệ
tán Phật A Di Đà rồi niệm Phật. Dù tụng kinh hay trì chú
chi, khi xong đều tiếp theo niệm Phật y như sau. Trong đây,
theo phần đông, tôi viết ra nghi thức trì chú Đại Bi và
niệm Phật).
Nam Mô
Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
Kính lạy
Quán Âm chủ Đại Bi,
Sức nguyện
rộng sâu, thân tướng đẹp,
Ngàn mắt
quang minh khắp chiếu soi,
Ngàn tay
trang nghiêm, khắp nâng đỡ.
Nơi tâm
vô vi khởi lòng bi,
Trong thể
chân thật tuyên lời mật.
Mau cho
đầy đủ những mong cầu,
Hay khiến
dứt trừ nhiều tội nghiệp.
Thiên
Long các thánh đều từ hộ,
Trăm ngàn
tam muội đã huân tu.
Thân thọ
trì là quang minh tràng,
Tâm thọ
trì là thần thông tạng.
Rửa sạch
trần lao khơi bể nguyện.
Mở môn
phương tiện đến bồ đề.
Nay con
khen ngợi thệ quy y.
Nguyện
chỗ mong cầu được thành tựu.
Nam Mô
Quán Thế Âm Bồ Tát
(đọc tha
thiết 10 lần)
Thiên Thủ
Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni
Nam mô
hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế,
thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà
da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na
đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị gia, bà
lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.
Nam mô
na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu
du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà tát đa, na ma
bà già ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê,
lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa. Tát
bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng. Cu lô cu lô
yết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế. Ma ha phạt xà
da đế. Đà ra đà ra, địa rị ni. Thất Phật ra da. Dá ra
dá ra, mạ mạ phạt ma ra. Mục đế lệ, y hê y hê, thất na
thất na, a ra sâm Phật ra xá lị, phạt sa phạt sâm. Phật
ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra,
tất rị tất rị, tô rô tô rô. Bồ đề dạ, bồ đề dạ,
bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa
rị sắt ni na. Ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha.
Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ,
ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra
tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà
ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất
đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma
bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na, đá
ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ,
ta bà ha. Án, tất điện đô, mạn đà ra bạt đà dạ, ta bà
ha.
(Tụng chú
nầy 7 hoặc 21 biến, tụng xong quì gối chắp tay đọc):
Đệ tử
(pháp danh) một lòng sám hối:
Về trước
con tạo nhiều nghiệp ác,
Đều
do vô thỉ tham, giận, mê.
Từ thân
miệng ý mà sanh ra,
Nay con
xin sám hối tất cả.
Con nguyện
thân tâm thường tinh tấn.
Chướng
duyên trong ngoài đều tiêu trừ.
Lâm chung
chánh niệm về Tây Phương,
Mãn nguyện
Bồ Đề độ hàm thức.
Nam Mô
Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm
Tự Tại
Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
(Vẫn quỳ
tiếp đọc):
Thân Phật
Di Đà vàng rực rỡ,
Tuyệt
vời xinh đẹp tướng trang nghiêm.
Non năm
tòa xoay chuyển bạch hào,
Nước
bốn bể trong ngần mắt biếc.
Trong ánh
sáng hóa vô số Phật,
Các hóa
Bồ Tát cũng không lường.
Nguyện
lành bốn tám độ hàm linh,
Chín phẩm
sen vàng sanh Cực Lạc.
Nam Mô
Tây Phương Cực Lạc Thế Giới,
Đại
Từ Đại Bi, A Di Đà Phật.
(Đứng lên
đi nhiễu quanh bàn Phật, vừa niệm hồng danh; đi ba vòng hoặc
nhiều vòng rồi trở lại ngồi. Nên niệm ra tiếng nho nhỏ
theo pháp Thập Niệm Ký Số lấy 10 câu làm một đơn vị,
chia làm hai đoạn, mỗi đoạn 5 câu; cứ hết 10 câu lần qua
hột chuỗi. Khi niệm đủ số hạn định, đến trước bàn
Phật, xưng danh hiệu Tứ Thánh và đọc bài văn phát nguyện
hồi hướng).
3. Môn Phát
Nguyện Hồi Hướng
Nam Mô
A Di Đà Phật. (niệm mau 10 hơi)
Nam Mô
Quán Thế Âm Bồ Tát. (10 câu)
Nam Mô
Đại Thế Chí Bồ Tát. (10 câu)
Nam Mô
Thanh Tịnh
Đại
Hải Chúng Bồ Tát (10 câu)
(Vẫn quì,
dùng tâm tiếng khẩn thiết đọc):
Một lòng
quy mạng,
Thế giới
Cực Lạc,
Phật
A Di Đà.
Xin đem
ánh tịnh,
Soi chiếu
thân con;
Dùng nguyện
từ bi,
Mà nhiếp
thọ con.
Nay con
chính niệm,
Xưng hiệu
Như Lai,
Vì đạo
Bồ Đề,
Cầu sanh
Tịnh Độ.
Xưa Phật
lập thệ:
Nếu chúng
sanh nào,
Muốn
về nước ta,
Hết lòng
tin ưa,
Xưng danh
hiệu ta,
Cho đến
mười niệm,
Như không
được sanh,
Ta không
thành Phậtõ.
Nay con
nguyện nương,
Nhân duyên
niệm Phật,
Được
vào biển thệ,
Của đức
Như Lai;
Nhờ sức
Từ Tôn,
Tiêu trừ
các tội,
Thêm lớn
căn lành.
Con nguyện
lâm chung,
Biết
ngày giờ trước,
Thân không
bệnh khổ,
Tâm không
tham luyến,
Ý không
điên đảo,
Như vào
thiền định.
Phật
cùng Thánh Chúng,
Tay bưng
đài vàng,
Đến
tiếp dẫn con.
Trong khoảng
sát na,
Con về
Cực Lạc,
Hoa nở
thấy Phật,
Được
nghe Phật thừa,
Tỏ thông
Phật huệ,
Độ khắp
chúng sanh,
Mãn Bồ
Đề nguyện.
Xin đem
công đức trì tụng nầy,
Hồi hướng
bốn ân và ba cõi.
Nguyện
khắp pháp giới các chúng sanh,
Đều
sanh Cực Lạc, thành Phật đạo.
Chí tâm đảnh
lễ - Tận Hư Không, Khắp Pháp Giới Mười Phương Ba Đời,
Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, Thường Trú Tam Bảo.
(1 lạy)
Chí tâm đảnh
lể - Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đại Trí
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Linh
Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 lạy)
Chí tâm đảnh
lễ - Cực Lạc Thế Giới, Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật,
Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Lực Đại Thế Chí Bồ
Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lạy)
Trích
Kinh A Di Đà
Từ đây
qua phương Tây mười muôn ức cõi Phật, có một thế giới
tên là Cực Lạc. Cõi kia có Phật, hiệu A Di Đà, hiện nay
đang thuyết pháp.
Nầy
Xá Lợi Phất! Vì sao nước kia kêu là Cực Lạc? Bởi chúng
sanh nước kia chỉ hưởng những điều vui, không có các việc
khổ, nên gọi là Cực Lạc.
Lại
nữa, nầy Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có bảy lớp
lan can, bảy lớp lưới giăng; bảy lớp hàng cây, đều làm
bằng bốn món báu, đoanh vây, giáp vòng. Thế cho nên nước
kia, gọi là nước Cực Lạc.
Lại
nữa, Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc, có ao bằng thất
bảo, tám thứ nước công đức, dẫy đầy trong đó; dưới
đáy ao, dùng ròng thứ cát bằng vàng lót đất. Đường đi
bốn bên thềm ao đắp thành bằng bốn chất báu là: kim ngân,
lưu ly, pha lê, trên có lầu các, cũng dùng kim, ngân, lưu ly,
pha lê, xà cừ, xích châu, mã não, để kiến trúc điểm tô
nhà lầu ấy.
Hoa sen
trong ao, lớn bằng bánh xe, sắc xanh hào quang xanh, sắc vàng
hào quang vàng, màu đỏ chiếu ánh đỏ, màu trắng tia sáng
trắng, nhiệm mầu thơm sạch.
Xá Lợi
Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm
như thế.
Sám
Phát Nguyện
Đệ
tử chúng con từ vô thỉ,
Gây
bao tội ác bởi lầm mê,
Đắm
trong sanh tử đã bao lần,
Nay
đến trước đài Vô Thượng Giác.
Biển
trần khổ lâu đời luân lạc.
Với
sanh linh vô số điêu tàn,
Sống
u hoài trong kiếp lầm than,
Con
lạc lõng không nhìn phương hướng,
Đàn
con dại từ lâu vất vưởng,
Hôm
nay trông thấy đạo huy hoàng,
Xin
hướng về núp bóng từ quang,
Lạy
Phật Tổ soi đường dẫn bước,
Bao
tội khổ trong đường ác trược,
Vì
tham, sân, si, mạn gây nên,
Thì
hôm nay giữ trọn lời nguyền.
Xin
sám hối để lòng thanh thoát.
Trí
huệ quang minh như nhật nguyệt
Từ
bi vô lượng cứu quần sanh,
Ôi!
Từ lâu ba chốn ngục hình,
Giam
giữ mãi con nguyền ra khỏi,
Theo
gót Ngài vượt qua khổ ải,
Nương
thuyền từ vượt bể ái hà,
Nhớ
lời Ngài: ỏBờ giác không xaõ,
Hành
thập thiện cho đời tươi sáng,
Bỏ
việc ác cho đời quang đãng,
Đem
phúc lành gieo rắc phàm nhân,
Lời
ngọc vàng ghi mãi bên lòng,
Con
nguyện được sống đời rộng rãi,
Con
niệm Phật để lòng nhớ mãi,
Hình
bóng người cứu khổ chúng sanh,
Để
theo Ngài trên bước đường lành,
Chúng
con khổ, nguyền xin cứu khổ,
Chúng
con khổ, nguyền xin tự độ,
Ngoài
tham lam, sân hận ngập trời,
Phá
si mê trí huệ tuyệt vời,
Con
nhớ đức Di Đà lạc quốc.
Phật
A Di Đà thân kim sắc,
Tướng
tốt quang minh tự trang nghiêm.
Năm
Tu Di uyển chuyển bạch hào,
Bốn
biển lớn trong ngần mắt biếc.
Trong
hào quang hóa vô số Phật.
Vô
số Bồ Tát hiện ở trong.
Bốn
mươi tám nguyện độ chúng sanh
Chín
phẩm sen vàng lên giải thoát
Quy
mạng lễ A Di Đà Phật
Ở
phương Tây thế giới an lành
Con
nay xin phát nguyện vãng sanh
Cúi
xin đức Từ Bi tiếp độ.
Nam
Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới,
Đại
Từ Đại Bi A Di Đà Phật. (3 lần)
Hồi
Hướng
Nguyện đem
công đức này
Trang nghiêm
Phật tịnh độ
Thượng
báo tứ trọng ân
Hạ tế
tam đồ khổ
Nếu có
ai thấy nghe
Đều phát
bồ đề tâm
Khi mãn báo
thân này
Sanh qua cõi
Cực Lạc
Nam
Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới
Đại
Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư
A Di Đà
Phật
Quyển
Lá Thơ Tịnh Độ này được ấn tống là do một số Phật
tử tùy hỷ phát tâm đóng góp. Chúng tôi sẽ lần lượt ấn
tống thêm những kinh sách có giá trị khác. Những quyển sau
đây sẽ được đánh máy và in lại cho rõ ràng:
Niệm Phật
Thập Yếu - Hòa Thượng Thiền Tâm
Quê Hương
Cực Lạc - Hòa Thượng Thiền Tâm
Kinh A
Di Đà Sớ Sao - Hòa Thượng Hành Trụ
Những
kinh sách đã được ấn tống:
Tịnh Độ
Quyết Nghi Luận - 1997
Lá Thơ
Tịnh Độ - 1998
Quý vị
đạo hữu muốn biết thêm chi tiết về kinh sách hoặc băng
cassette ấn tống, xin liên lạc về địa chỉ sau đây:
Tịnh
Liên Đồ Thư Quán
42 Boulder
Creek Way
Irvine,
CA 92602
(714) 573-0779
Quyển
Lá Thơ Tịnh Độ có thể xem trên internet:
http://westernpureland.8m.com
Kinh
sách ấn tống
miễn
phí
This
book
is
not to be sold
FOR
FREE DISTRIBUTION ONLY