Thơ
khuyên người mới phát tâm học Phật
1
Tôi thường
nói: Muốn được sự thật ích của Phật Pháp, phải tìm
nơi lòng kính sợ. Có một phần cung kính, tiêu một phần
tội nghiệp, thêm một phần phước huệ. Có mười phần cung
kính, tiêu mười phần tội nghiệp, thêm mười phần phước
huệ. Nếu không mảy may cung kính, thì sự tụng kinh niệm
Phật tuy chẳng phải hoàn toàn không lợi ích, nhưng do tội
khinh lờn ấy, trước phải bị nhiều kiếp đọa vào tam đồ.
Đến khi tội hết, mới nương thân nơi nhân lành ấy, lại
được nghe pháp tu hành, ăn chay niệm Phật, cầu về Tây Phương
để thoát đường sanh tử? Nếu hiện đời nầy hết lòng
thành kính, thì hiện đời có thể nương sức từ của Phật
đới nghiệp vãng sanh. Và một phen được vãng sanh, thì vượt
phàm vào thánh, thoát khỏi luân hồi, hằng xa lìa các sự
khổ, chỉ thuần hưởng những điều vui.
2
Con người
tu phước và tạo nghiệp, tóm lại chẳng qua ba nghiệp sáu
căn. Sáu căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Năm căn trước
thuộc về thân nghiệp, một ý căn sau thuộc về tâm, tức
là ý nghiệp. Ba nghiệp là nghiệp thân, khẩu, và ý.
Thân nghiệp
có ba: sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Ba việc nầy tội rất
nặng, người học Phật phải để tâm gìn giữ. Về phần
sát sanh: phàm là động vật, tất đều biết tham sống sợ
chết, ta không nên giết hại, nếu giết mà ăn thịt thì sẽ
kết thành nghiệp sát, đời sau phải bị nó giết lại. Vậy
người Phật tử nên ăn chay và yêu tiếc sanh mạng. Về phần
trộm cắp: chẳng luận vật lớn nhỏ của người khác, ta
không nên lấy khi người không cho. Trộm vật nhỏ thì mất
nhân cách mình, trộm vật lớn thì hại thân mạng người.
Trộm đồ vật người xem dường như có lợi, nhưng thật
ra chính mình bị giảm phước thọ, có khi mất tánh mạng,
so với của trộm được, sự tổn thất lại càng nhiều hơn
bội phần. Nếu dùng mưu kế lấy, hoặc dùng thế lực ép
bức lấy, hay thầm lén mà lấy, đều thuộc về trộm cắp.
Người trộm cắp, tất sanh con lưu đãng, trái lại kẻ liêm
khiết thì sanh con hiền lương, đây là nhân quả nhất định
theo lý thiên nhiên vậy. Về phần tà dâm: nếu chẳng phải
thê thiếp của mình, thì không luận kẻ sang hèn, đều không
được cùng nhau làm điều tà dâm. Tà dâm là việc trái ngược
nhơn luân, chính là đem thân người mà làm hạnh súc sanh,
hiện đời đã như thế, kiếp sau khó khỏi đọa vào súc
loại. Người đời cho việc con gái lang chạ là điều sỉ
hổ, nhưng đâu nghĩ rằng con trai tà dâm nào có khác chi? Kẻ
tà dâm tất sanh con không trinh khiết, có ai lại muốn cho con
cái mình không trinh khiết ư? Ấy cũng bởi chính mình trước
đã làm việc đó, con cái thọ bẩm khí chất của mình, quyết
khó được trinh chánh. Lại nữa, chẳng những không được
dâm theo ngoại sắc, mà vợ chồng chung chạ với nhau cũng
phải có hạn chế; nếu chẳng thế thì con người dễ bị
suy tàn hoặc phải chết non. Kẻ tham việc phòng thất rất
khó sanh con, dù sanh cũng khó nên người, và dù cho được
nên người cũng là kẻ yếu đuối không thành tựu việc chi.
Tình đời cho hành dâm là vui, đâu biết vui trong giây phút,
khổ đến trọn đời, có khi còn di hại cho con cháu nữa!
Ba điều trên đây không làm thì thân nghiệp lành, làm thì
thân nghiệp ác.
Khẩu nghiệp
có bốn: nói dối, nói trau chuốt, nói đôi chiều, nói hung
ác. Nói dối là nói lời không thành thật, lời đã không
thành thật thì tâm cũng không thành thật, do đó nhân cách
bị tổn thất rất nhiều. Nói trau chuốt là nói lời phù
phiếm hoa tình, khiến cho người sanh ra tâm niệm dâm đãng.
Những thanh thiếu niên còn non dại nghe lời ấy lâu, nếu
không tà dâm cho mất nhân cách, thì cũng làm việc thủ dâm
để hại sắc thân. Kẻ nói lời có hại cho người như thế,
dù không tà dâm cũng phải bị đọa vào đại địa ngục,
từ trong địa ngục ra, hoặc làm giống cái trong loài súc
vật. Nếu sanh trong loài người, sẽ làm hạng gái lầu xanh,
ban sơ còn tuổi trẻ sắc đẹp cũng chưa mấy khổ, lần lần
nọc độc phong tình phát ra, sự khổ sở sẽ không cùng. Đã
có miệng khéo nói năng, sao chẳng vì người chỉ đường
hạnh phúc, lại thốt chi những lời tà vạy trau chuốt để
gây họa cho chính mình và kẻ khác ư? Nói đôi chiều là nói
khiêu khích thọc mách sự phải quấy của đôi bên, nhỏ thì
lầm lạc người, lớn thì hư nhà hại nước. Nói hung ác
là nói lời ác độc như gươm đao, khiến cho người khó nhẫn
chịu sanh ra buồn khổ. Bốn điều nầy không làm thì khẩu
nghiệp lành, làm thì khẩu nghiệp ác.
Ý nghiệp
có ba: tham dục, giận hờn và ngu si. Tham dục là đối với
tiền tài, ruộng đất, đồ vật v.v... đều muốn cho về
nơi mình, dù được nhiều vẫn còn thấy ít. Giận hờn là:
không luận mình phải hay quấy, nếu có ai không thuận theo
bổn ý, liền phát sanh giận dữ, dù kẻ khác dùng lẽ phải
khuyên bảo cũng chẳng nghe theo. Ngu si là chẳng phải tuyệt
nhiên không biết việc chi. Chính như kẻ đọc hết sách thế
gian, văn từ qua mắt liền thông thuộc, miệng mở thành thi
bài, mà không tin lý nhân quả ba đời cùng sự luân hồi sáu
nẻo, cho rằng người chết thì mất, không có đời sau v.v...
đều gọi là ngu si. Những sự hiểu biết như thế làm cho
hư nước hại dân còn quá hơn nạn nước lụt, thú dữ. Ba
điều nầy không làm thì ý nghiệp lành, làm thì ý nghiệp
ác. Người ba nghiệp thân, khẩu, ý đều lành, khi tụng kinh
niệm Phật, công đức lớn hơn kẻ ba nghiệp ác gấp trăm
ngàn lần.
3
Người học
Phật cần phải giữ lòng tốt, nói lời tốt và làm việc
tốt. Giữ lòng tốt là không nên khởi những tâm niệm ác,
trái chánh lý, có hại cho mình và người. Nếu tâm niệm ấy
thoạt nổi lên, phải lập tức sanh lòng hổ thẹn sám hối,
khiến cho nó liền tiêu diệt. Lại phải giữ gìn những tâm
niệm: hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, có lợi
vật lợi người. Đối với điều lành, sức mình có thể
làm được việc chi, nên thiết thật mà làm; nếu không làm
được thì cũng nên thường tâm niệm. Nói lời tốt là nói
lời có ích cho người và vật, chớ không phải nói xu phụ
cốt để cho người vui vẻ vừa lòng là lời tốt đâu. Đây
chính là nói những lời răn dạy con cái, khuyên người làm
lành, lánh dữ, giữ trọn nhơn luân, gắng tu phước huệ.
Làm việc tốt là phải thật hành việc hiếu thảo cha mẹ,
cung kính sư trưởng, hòa thuận anh em, khuyến hóa mọi người.
Và với những việc lễ sám, niệm Phật, tụng kinh, thân tâm
phải chí thành cung kính.
4
Người học
Phật, ban đêm không nên ở trần, mặc quần đùi mà ngủ.
Vì một Phật tử lúc nào cũng phải gìn lòng như đối trước
Phật. Đến bữa cơm không nên ăn quá độ, thức ăn dù ngon,
hạp miệng cũng chỉ nên ăn tám chín phần mà thôi. Nếu ăn
đủ mười phần thì kẻ khác bị thiếu, mà tạng phủ mình
cũng thọ thương. Phước đức của phàm phu đâu có bao nhiêu,
nếu thường ăn như thế, thọ lộc phải giảm. Vả lại khi
ăn quá nhiều, thân tâm mờ mệt, nếu thực phẩm không tiêu,
tất ra hơi dưới. Việc nầy rất không thanh nhã, tội lỗi
rất to. Như sự đốt hương ở điện Phật chẳng qua là để
tiêu biểu lòng cung kính, xét lại mùi thơm đâu có bao nhiêu?
Nếu ăn quá no để cho ra hơi dưới... mùi hôi thúi xông đến
Tam Bảo, thì đời sau tất phải bị quả báo làm loài giòi.
Vậy muốn tránh lỗi ấy, tốt hơn là nên ăn cho có điều
độ. Thảng như bao tử yếu bị chứng hàn, món ăn khó tiêu,
cảm thấy muốn ra hơi dưới, thì nên bước ra ngoài, đến
chỗ trống cho ra, đợi khi hơi tan lại đi vào trong. Nếu có
việc không ra ngoài được, thì phải dùng sức nén lại, giây
phút hơi sẽ tiêu tan ở trong bụng. Có kẻ cho rằng làm như
thế e sanh ra bệnh, lời nầy không nên nghe theo, vì nếu giữ
một chút vệ sinh không đáng vào đâu mà để cho ra hơi dưới
nơi điện Phật, nhà tăng, thì khổ báo của tội lỗi còn
nặng gấp hơn muôn phần. Trong giới luật của Phật chế,
chưa nói đến việc nầy, có lẽ người xưa thân thể mạnh
khỏe, không tham ăn, chẳng có điều bất nhã ấy, nên Phật
chưa nói, nếu như có, tất Phật đã nói ra rồi! Vậy chớ
cho rằng Phật không chế giới ngăn cấm điều ấy, mà tùy
ý cho ra hơi dưới. Làm như thế là tự rước lấy sự đọa
lạc, chừng ấy Phật muốn cứu độ cũng không biết làm
sao? Thuở xưa đức Khổng Tử lấy tư cách bậc thánh nhân
đến chầu vị quốc quân phàm phu, khi còn ở dưới thềm
sắp muốn bước vào triều, đã nén nhẹ hơi thở, huống
chi lúc đối trước mặt vua? Cho nên, sách Luận Ngữ nói:
ỏSo vạt áo bước lên đền, thân mình cúi xuống, nhẹ hơi
dường như không thở.õ Chúng ta là phàm phu đầy nghiệp lực,
đang lúc ở nơi điện Phật, một đấng trời trong hàng trời,
thánh trong hàng thánh, là chỗ Tam Bảo đầy đủ mà không
để tâm thúc liễm, mặc ý cho ra hơi hôi thúi nơi dưới,
tội lỗi ấy lớn biết chừng bao? Xin chớ cho rằng tôi nói
ra đây việc không thanh nhã, tôi chẳng ngại gì mang tiếng
không thanh nhã, chỉ sợ cho những kẻ thô suất lầm gây ra
nhân đọa lạc làm loài giòi tửa đó thôi.
5
Người học
Phật, sớm mai thức dậy và sau khi đại tiểu tiện đều
phải rửa tay. Khi dùng tay gãi nơi thân, chà dưới chân cùng
rờ các chỗ không sạch khác, đều cũng phải rửa. Dù tháng
nóng nực, cũng không nên tự do mở nút áo để phơi ngực
hoặc vén quần bày bắp vế. Tùy tiện khạc đàm hỉ mũi
là một việc rất tổn phước. Chẳng những ở trong Phật
điện,
Tăng đường, không được hỉ nhổ, mà bên ngoài điện đường
chỗ đất sạch sẽ cũng không nên làm việc ấy, vì nơi đất
sạch mà bị khạc nhổ, thì liền hiện ra tướng dơ. Có người
thô tháo không kiêng dè, cứ hỉ nhổ bừa trong phòng, trên
đất, nơi tường, thành ra trong nhà chỗ nào cũng có đàm
dãi. Kẻ ấy cho rằng khạc đàm là được thông trệ và bỏ
chất nhơ ra ngoài, nhưng không dè mỗi ngày thường nhổ như
thế thì bao nhiêu tinh hoa của chất ăn uống đều biến thành
đàm, nhiều ngày sẽ sanh ra bệnh. Trong thân người có gì
tinh sạch, tốt hơn là nên nuốt đi, lâu ngày sẽ không còn
đàm nữa. Đây là phương pháp dùng đàm trừ đàm rất thần
diệu. Nếu không nuốt được thì nên nhổ vào khăn tay, phải
hành động cho khéo đừng để người thấy. Nhưng việc nầy
cũng nhọc công và không sạch, chẳng bằng nuốt đi, đã không
nhọc nhằn lại không bày ra sự nhơ nhớp; hơn nữa còn dứt
được bệnh đàm. Vài điều trên đây, dường như không đáng
nói, có kẻ lại cho rằng nhỏ nhặt không mấy để tâm. Nhưng
người học Phật phải giữ tư cách lễ nghi và biết sợ
tội, nếu chẳng thế thì thành ra kẻ thô tháo sỗ sàng, hiện
đời phước giảm tội thêm, kiếp sau phải bị đọa lạc.
6
Người học
Phật, một cử động đều phải lưu tâm. Trong khi niệm Phật,
cần phải chí thành, nếu có lúc thấy nơi lòng sanh ra bi cảm
đó là tướng căn lành phát hiện. Tuy nhiên, cũng cần phải
dè dặt, đừng để cho nguồn bi cảm thường thường phát
lộ, nếu chẳng thế tất sẽ bị loài ma bi thương nhập vào.
Phàm có việc chi vừa ý cũng không nên quá vui mừng, vui mừng
quá độ sẽ bị loài ma hoan hỷ ám nhập. Khi niệm Phật,
mí mắt phải sụp xuống và không nên quá dùng tinh thần khiến
cho tâm hỏa bừng lên. Những lúc cảm thấy trên đỉnh đầu
tê rần ngứa nhức, đó là hiện tượng dùng tinh thần chuyên
chú nhiều, cần phải điều độ cho vừa chừng. Khi niệm
ra tiếng, không nên dùng sức lắm, phải ngừa sự mang bệnh.
Lần chuỗi mà niệm có thể trừ chứng biếng trễ, nhưng
khi ngồi yên không nên lần, lần thì tay động tâm thần mỏi
nhọc không an, lâu ngày tất mang bệnh.
7
Người học
Phật, khi xem kinh luận và các sách vở, chẳng nên quá vội
vàng, vội vàng thì tâm thần rối loạn không yên, rất khó
hiểu được ý thú. Đời nay, nhiều người có đôi chút thông
minh, khi được một bộ kinh sách liền quên ăn bỏ ngủ, xem
một lần cho hết. Qua đến lần thứ hai thì không còn hứng
thú xem nữa, dù có xem cũng như trạng thái phờ phạc mất
thần. Hạng người nầy khó làm thành tựu việc chi, vậy
phải gắng răn giữ. Ông Tô Đông Pha nói: ỏSách xưa chẳng
chán trăm lần đọc. Đọc kỹ suy cùng ý vị sâu!õ Đức
Khổng Tử là bực thánh nhân, mà còn đọc Kinh Dịch nhiều
phen, đến nỗi dây sách ba lần mòn đứt. Tư chất như Ngài,
văn từ qua mắt liền thông thuộc, tại sao lại cần phải
xem văn mà đọc? Nên biết xem văn có chỗ rất hay, bởi đọc
thuộc lòng phần nhiều là sự làu thông ngoài miệng, xem văn
thì dễ biết ý thú mỗi chữ mỗi câu. Vậy chúng ta lấy
đó làm gương, đừng một mặt ưa đọc thuộc lòng để tỏ
ra mình là người thông minh nhớ giỏi...
Thơ
đáp Cư Sĩ Châu Tụng Nghiêu
(Phụ
Nguyên Thơ)
Nay đệ tử
có một nghi vấn, cầu xin lão Pháp Sư từ bi chỉ bảo:
Đệ tử
ăn chay niệm Phật đã nhiều năm, nghe dạy rằng: Những người
tin tưởng Phật, sẽ được chư Phật trong mười phương ba
đời hộ niệm, các vị Thiên Long Bát Bộ, Đại Lực Thần
Vương thường theo hộ trì, nghiệp ác đời trước lần lần
tiêu trừ, dù có oan gia đối đầu cũng không thể làm hại.
Mấy điều trên đây căn cứ trong Kinh Phật, quyết không phải
là lời nói suông. Nhưng vào khoảng tháng ba nầy, nhân tiếp
được tin tức của người bà con từ Thượng Hải gửi về,
khiến đệ tử vô cùng ngạc nhiên! Theo tin ấy cho biết: Bà
Trương Thái Thái là người rất tin Phật, ăn chay đã hơn
hai mươi năm, thường đến Cư Sĩ Lâm nghe giảng kinh pháp.
Bà ấy hiền hậu nhân đức, ưa làm lành, gặp ai cũng đều
khuyên ăn chay niệm Phật. Không ngờ một hôm đang đi trên
lộ để đem đồ ăn chay cho một vị sư huynh, bà bị xe cán
chết. Lúc ấy vì không có ai nhìn, nên nhân viên tuần phòng
chở đi, đến ba ngày sau con cháu hay được mới xin đem về
chôn cất. Đệ tử nghe tin ấy trong lòng kinh ngạc phi thường,
đến nay vẫn còn nghi ngờ chưa hiểu. Việc nầy nếu người
trong Phật học hội nghe được, chắc cũng bàng hoàng không
an. Cho nên đệ tử dâng lên bức thơ nầy, cầu xin lão Pháp
Sư chỉ dạy, nói rõ nguyên do vì sao bà họ Trương lại bị
cái chết thảm khốc như thế. Và kết cuộc, bà có được
vãng sanh về Tây Phương hay chăng?
Xin lão
Pháp Sư mở lời minh huấn để cho nhiều người yên tâm niệm
Phật. Ân đức ấy đệ tử cảm bội không cùng!
Tiếp được
thơ, biết ngươi đối với đạo lý Phật Pháp còn chưa hiểu
rõ. Chúng ta từ vô thỉ đến nay, đã tạo nghiệp ác vô lượng
vô biên! Kinh Hoa Nghiêm nói: ỏGiả sử nghiệp ác có thể
tướng, mười phương hư không chẳng dung chứa hết.õ Nên
biết sự tu trì của hành nhơn, nếu quả chí thành không dối,
thì có thể chuyển trọng báo, hậu báo thành hiện báo, khinh
báo. Người phàm mắt thịt chỉ thấy sự kiết hung trước
mắt, đâu biết được việc nhân quả đời trước và đời
sau.
Bà họ Trương
ấy nhiều năm tinh tu, một sớm chết thảm, hoặc giả do sự
khổ đó mà tiêu được ác báo tam đồ, sanh về cõi Thiên.
Nếu trong hiện đời bà tin sâu nguyện thiết thì cũng có
thể sanh về Tây Phương. Nhưng chúng ta đã không có tha tâm
đạo nhãn, nên không dám ức đoán quyết chắc bà có được
vãng sanh cùng chăng? Việc có thể quyết định là: làm lành
tất được quả lành, làm dữ phải mang ác báo. Nếu làm
lành mà bị quả dữ, đó là quả báo của nghiệp ác đời
trước, chẳng phải quả báo của nghiệp lành đời nầy.
Các ngươi thấy bà lão bị sự chết khổ như thế, liền
nghĩ lầm rằng việc lành không đáng làm, bởi làm lành không
được phước, nên mới sợ hãi nghi ngờ. Sự nhận thức
đó đâu có khác gì người chưa nghe hiểu Phật Pháp? Nếu
người đã tin chắc lời của Phật, quyết không vì việc
ấy mà lộ ra vẻ sửng sốt kinh hoàng. Bởi việc nhân quả
trùng điệp không cùng, có khi nhân nầy chưa trả, quả nọ
đã chín mùi, ví như gieo giống sớm thì gặt sớm, lại như
thiếu nợ, chủ nợ mạnh lôi kéo trước tiên.
Thuở xưa,
có người một đời làm lành, khi lâm chung lại bị chết
thảm để trả xong nghiệp trước, đời sau lại được phú
quí vinh hoa. Như đời Tống một vị tăng ở chùa A Dục Vương
muốn trùng tu tòa điện tháp thờ Xá Lợi nghĩ rằng Cần
Thân Vương có thế lực, mới đến quyên mộ. Chẳng dè kết
quả số tiền quyên không được bao nhiêu, bổn nguyện không
thành, vị tăng buồn bã, lấy búa chặt tay trước đền Xá
Lợi, máu ra nhiều liền chết. Cùng trong lúc ấy, Cần Thân
Vương sanh ra một đứa con. Từ khi mới lọt lòng, đứa bé
thường khóc mãi không thôi. Bà vú bế nó đi chơi, đến chỗ
treo bản đồ xây tháp Xá Lợi thì đứa bé không khóc, bồng
đi lại khóc to lên. Bà vú không biết làm sao, mới gỡ bản
đồ xuống thường cầm để trước mặt nó, từ đó đứa
bé không khóc nữa. Vương nghe chuyện ấy lấy làm lạ liền
sai người đến chùa A Dục hỏi thăm vị tăng khi trước,
mới hay ông chặt tay chết đúng vào ngày sanh của con mình.
Do nhân duyên đó, Thân Vương một mình đứng ra sửa lại
điện Xá Lợi. Đến khi đứa bé ấy được hai mươi tuổi,
nhằm lúc vua Ninh Tông băng, không có Thái Tử kế vị, mới
di chiếu lập con của Cần Thân Vương lên làm vua. Cậu bé
về sau được làm Hoàng Đế bốn mươi mốt năm, tức là
vua Lý Tông nhà Tống vậy.
Cái chết
của vị tăng cũng là cái chết thảm. Nếu không có sự khóc
mãi chẳng thôi và khi thấy bản đồ tháp Xá Lợi liền nín
lặng, thì đâu ai biết được đứa bé là thân sau của vị
tăng đã chết thảm kia? Việc nầy chép ở tập A Dục Vương
Sơn Chí, mà trong năm Quang Tự thứ hai mươi mốt, tôi nhân
đi lễ tháp Xá Lợi vài mươi ngày, đã được xem qua. Người
rõ lý mặc dù cảnh ngộ thế nào, cũng quyết không nghi nhân
quả sai lầm, lời Phật hư dối. Kẻ không rõ lý, chấp chặt
một khuôn khổ, chẳng biết có nhân quả phức tạp, cho nên
sanh lòng nghi nan, truy ra đều do không có chánh kiến. Như chỗ
ngươi nói: người niệm Phật có Tam Bảo gia bị, long thiên
hộ trì, đó vẫn là lẽ nhất định không còn sai lầm. Nhưng
đối với việc chuyển quả báo nặng đời sau thành quả
báo nhẹ đời nầy, ngươi còn chưa rõ biết, nên không khỏi
có sự nghi ngờ bàn bạc không hợp lý kia. Thuở xưa, ở Tây
Vức, Giới Hiền Luận Sư là bậc đạo đức cao trong một
thời, tiếng đồn vang khắp bốn xứ Thiên Trúc. Do vì túc
nghiệp, Luận Sư mang chứng bệnh dữ, đau đớn vô cùng, chịu
không kham, nên sắp muốn tự tận. Vừa trong đêm ấy, Luận
Sư nằm mơ thấy ba vị Bồ Tát: Văn Thù, Phổ Hiền, Quán
Thế Âm giáng lâm bảo rằng: ỏNgươi trong kiếp về trước,
nhiều đời làm vị quốc vương, bởi não hại chúng sanh,
nên sẽ phải bị lâu dài đọa vào ác đạo. Nhưng do đời
nay ngươi có công hoằng dương Phật Pháp nên chuyển lại
chịu sự khổ nhỏ ở nhân gian để tiêu trừ sự khổ lớn
nhiều kiếp nơi địa ngục. Vậy ngươi gắng nhẫn chịu,
chớ nên buồn rầu mà tính việc chi khác. Trong ba năm nữa,
ở xứ Đại Đường có vị tăng tên Huyền Trang, sẽ đến
đây thọ pháp với ngươi.õ Giới Hiền Luận Sư nghe rồi
liền rán chịu khổ sám hối lâu ngày bệnh lần lần thuyên
giảm. Qua ba năm sau, Huyền Trang đến chùa Na Lan Đà, Giới
Công bảo đệ tử nói trạng thái bệnh khổ của mình, chính
người thuật lại cũng nghẹn ngào rơi lệ. Bao nhiêu đó cũng
đủ biết sự khổ ấy là dường nào rồi! Nếu ba vị Bồ
Tát không nói rõ nhân duyên kiếp trước, người đời sẽ
bảo ngài Giới Hiền chẳng phải là bậc đạo đức cao tăng.
Hoặc có kẻ lại cho rằng: một vị đại tu hành mà còn bị
chứng bệnh thảm thế ấy, thì Phật Pháp có chi là linh nghiệm?
Tóm lại,
chỗ hiểu biết của các ngươi còn cạn, nên vừa thấy việc
chi hơi khác liền sanh lòng kinh nghi. Hành vi ấy có thể khiến
cho kẻ ít căn lành thối thất lòng đạo. Nếu thấy người
làm ác mà hiện đời được phước báo, chắc các ngươi
cũng khởi niệm hiểu lầm như thế. Nên biết đó chẳng qua
là sự chuyển biến của những lớp tiền nhân hậu quả phức
tạp không đồng, để đổi quả nặng đời sau làm quả nhẹ
hiện tại, hay chuyển quả nhẹ hiện tại thành quả nặng
đời sau mà thôi.
Thơ
đáp Cư Sĩ Dương Đức Quan
Về việc
ông Hoàng Hậu Giác, hiện tượng ấy rất có lợi ích cho
người học Phật. Sự kết quả được vãng sanh hay bị đọa
lạc của ông, hãy tạm gác qua một bên; nếu quả người
niệm Phật biết đến hiện tượng của ông lúc lâm chung,
quyết không dám hững hờ với con đường giải thoát.
Xem qua thành
tích, dường như ông là người có tâm chí thành. Nhưng nhìn
vào cảnh tượng hiện ra lúc lâm chung, ta xét thấy lúc bình
thời ông chưa thật tâm dụng công trong sự tu niệm. Hiện
tượng ấy phần nhiều là do những nghiệp bỏn sẻn tiền
của hoặc lời nói lầm hại mạng người xui khiến ra. (Bỏn
sẻn lời nói lầm hại mạng người là như mình biết chỗ
kia có giặc và biết nơi khác có thể trốn lánh được, mà
vì không lòng từ bi, ưa thấy người mang họa, nên không chịu
nói ra. Tâm hạnh ấy làm xúc động sự hờn giận của quỉ
thần, nên khiến cho khi lâm chung hiện ra cảnh tượng: nói
không được và ghét nghe tiếng niệm Phật). Lại nữa, sự
hiện ra tướng trạng một đôi giờ trăn trở không chịu
chết, để đợi đến khi những người trợ niệm đi rồi,
chưa bao lâu liền chết, hoàn toàn hợp với cảnh nghiệp của
kẻ bỏn sẻn tiền của cùng lời nói lầm hại mạng người.
Trạng thái ấy chứng tỏ dù không đọa vào loài ngạ quỉ,
cũng là khí phần của ngạ quỉ. Một vị nào đó căn cứ
nơi sức trợ niệm bằng chú lực của cư sĩ Diệc Tử Tuấn
bảo rằng ông Giác được vãng sanh, song theo ý tôi: chú lực
tuy không thể nghĩ bàn, nhưng nếu nghiệp lực nặng cũng không
dễ gì được lợi ích. Nếu như ông Giác được vãng sanh,
tất phải có tướng trạng gì khác để chứng thật, vậy
cũng không nên ức đoán sai lầm. Có vị lại quả quyết rằng,
ông ấy đã đọa vào đường ngạ quỉ. Theo như hiện tượng
của ông Giác, thì lời nói sau nầy tợ hồ có chỗ y cứ.
Nhưng hoặc nhờ con cháu thành khẩn và các cư sĩ trợ niệm,
hoặc do chính ông ấy sám hối trong tâm, có thể tội của
ông được giảm khinh, không đến nỗi đọa ngay vào đường
ngạ quỉ.
Hiện thời,
việc đáng làm là con cái cùng quyến thuộc của người quá
vãng phải nghĩ đến sự khổ của vong nhân, phát lòng lợi
mình lợi người thay vì kẻ chết niệm Phật, cầu Phật thương
xót tiếp dẫn vãng sanh. Nếu lòng thành khẩn được đến
cùng thì sự vãng sanh có thể dự đoán, bởi lẽ cha con thiên
tánh quan hệ lẫn nhau, và tâm Phật có cảm tất liền ứng.
Như người trong quyến thuộc lơ lơ láo láo làm cho xong việc
thì vong nhân nghiệp chướng không tiêu và khó mong được
tiếp dẫn. Điều nầy quan hệ phi thường vì sai một ly lạc
đi ngàn dặm.
Việc trên
đây nhắc nhở cho ta biết người niệm Phật đối với mình
phải thiết thật sửa trừ tâm tánh xấu xa, với người phải
dùng phương tiện giúp đỡ. Những điều đáng nói, tuy kẻ
cùng ta có oán thù cũng phải vì họ nói, khiến cho kẻ ấy
sanh phước khỏi họa, lìa khổ được vui. Lúc bình thời
phải khăng khăng thiết thiết vì người nói việc luân hồi
nhân quả, niệm Phật vãng sanh. Lại nên dạy dỗ con cái,
vì nó lập nền tảng vững chắc an lành. Phải giữ làm sao
cho lời nói không mơ hồ, tâm như dây cung thẳng, việc làm
không trái lẽ trời, tấm lòng có thể phô trương cùng thần
quỉ. Được như thế thì khi lâm chung quyết không có hiện
tượng đáng thương xót kia. Và như thế thì ông Hoàng Hậu
Giác lại chính là bậc thầy khuyên dẫn của các người niệm
Phật; các vị nhờ ông mới được sự lợi ích lớn về
sau, mà ông cũng nhờ tâm lực của các vị, được hết tội,
sanh về Cực Lạc. Ấn Quang tôi nói đây chẳng phải là lời
bông lông, chính là một định luật không hề sai suyển. Như
có ai chẳng cho là phải, thì xin chất chánh với bậc cao minh
Pháp Sư, hoặc thỉnh vấn nơi bậc thần thông đại thánh....
Thơ
đáp Cư Sĩ Phật Điển
Tiếp được
thơ, biết cư sĩ tụng niệm tinh cần, lòng tôi rất vui đẹp!
Những bóng
đen theo cư sĩ nói, chẳng phải là bóng chư Phật, Bồ Tát,
cũng chẳng phải hình ảnh kẻ oan gia đối đầu. Vì nếu
Phật, Bồ Tát hiện thân, tất phải tỏ rõ có thể trông
thấy mặt mày; còn nếu là kẻ oan gia thì nó sẽ hiện ra
tướng ghê gớm đáng sợ. Mấy bóng ấy có lẽ là những
cô hồn hữu duyên từ kiếp trước, muốn nhờ sức tụng
kinh niệm Phật của cư sĩ để siêu sanh về cõi an lành. Vậy
sau thời khóa tụng hồi hướng, cư sĩ nên cầu nguyện luôn
cho các vong ấy được tiêu trừ ác nghiệp, thêm lớn căn
lành, nhờ sức từ của Phật vãng sanh về Tây Phương. Như
thế, các vong kia sẽ được lợi ích, không luống uổng một
phen khổ sở mong cầu.
Người tu
hành tâm phải có chủ tể, khi thấy cảnh giới xấu không
nên sợ hãi, thấy cảnh giới tốt cũng không nên vui mừng.
Được như thế thì các cảnh giới trải qua đều là những
thắng duyên trợ đạo. Nếu tâm không chủ định thì các
cảnh đều là chướng duyên. Lại, người tu hành phải lấy
sự cung kính chí thành làm gốc, lấy từ bi khiêm tốn làm
lòng. Như thế thì dù tâm hạnh chưa được hoàn toàn cùng
Phật hợp nhau, cũng không đến nỗi trái với tâm hạnh của
Phật, có thể gọi là người chơn tu, là đệ tử Phật.
Thơ
đáp Cư Sĩ Hoàng Tụng Bình
Bệnh do thân
sanh, thân do nghiệp sanh, muốn cho bệnh mau lành, các hạ nên
tha thiết sám hối để tiêu trừ túc nghiệp. Với việc phòng
thất, cũng phải tự răn cấm thì bệnh mới khỏi tăng thêm.
Bất luận bệnh gì, nếu không răn chừa sự vợ chồng chung
chạ, tất nhiên khó được lành.
Hàng ngoại
đạo rất nhiều có đến trăm ngàn phái, nhưng cách dụng
công của họ đều không ngoài việc vận khí luyện đơn.
Bên ngoại đạo dù có bảo người xem kinh niệm Phật, cũng
là việc bề ngoài, chính họ cũng không cho đó là đạo. Khi
truyền giáo, các ngoại đạo thường lựa vào lúc ban đêm,
đóng kín các cửa lớn cửa sổ, bên ngoài phái người qua
lại canh tuần, chỉ để một người thọ giáo vào thất.
Trước khi được điểm đạo, người thọ giáo phải phát
lời thề rất độc địa thảm ác. Nếu kẻ nào trái với
lời dạy bảo của họ, sẽ phải chịu kết quả của lời
thề ấy. Khi phát thệ rồi, họ lại chỉ khiếu điểm huyệt
hoặc ở đầu, ở mặt, ở thân. Những huyệt nơi thân cần
phải cởi áo mới chỉ điểm được. Việc làm như thế thật
là một bức sáo để mê hoặc người. Họ lại thêm rằng
một phen truyền qua, không tu cũng có thể đắc quả. Giả
sử bỏ hẳn những việc chỉ điểm bí mật cùng phát lời
thề, mà đem công bố rõ ràng ra cho mọi người tự do lựa
chọn, tất hạng ấy không còn căn cứ đứng vững. Trong Phật
Pháp không có việc bí mật truyền lén nhau, cũng không dạy
người phát lời thề độc ác, kẻ nào tin thì theo, không
tin thì thôi.
Các hạ đã
niệm Phật mà còn sợ lạc vào ngoại đạo, ấy cũng bởi
chính mình không phân minh sự tà chánh giữa đôi bên, chỉ
bắt chước theo người phát sanh tín tâm, thật ra chưa có
lòng tin chân thật. Nếu có lòng tin chân thật thì chỉ gắng
sức tu trì, cần gì phải lo ngoại đạo đông nhiều và sợ
mình đi lạc lối? Các hạ đã tự nhận có nhiều túc nghiệp
nên mang bệnh dữ, thế thì cần phải ăn chay niệm Phật và
vì những oan gia đời trước mà làm việc siêu độ. Nói siêu
độ đây, cũng không cần phải thỉnh tăng chúng làm Phật
sự, chỉ tự mình thành thật khẩn thiết niệm Phật và niệm
Quán Âm mà thôi. Các hạ chớ nên nghĩ rằng; chỉ niệm một
đức Phật, một vị Bồ Tát sợ e không lành bệnh. Nên biết
niệm Phật là pháp rất tròn mau thẳng tắt trong Phật Pháp,
sự lợi ích vượt hơn tất cả pháp môn. Nếu có sai biệt
là do tâm mình chí thành cùng không chí thành, chẳng phải
pháp có linh nghiệm hoặc không linh nghiệm.
Thơ
đáp Cư Sĩ Trạch Phạm
Hàng phụ
nhân khi sanh sản, nên niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, vì đức
Quán Âm tâm cứu khổ rất ân cần. Lúc ấy phải ra tiếng
niệm to lên, không nên niệm thầm, vì niệm thầm năng lực
đã yếu, sự cảm thông cũng kém. Hơn nữa, trong khi dùng sức
cho đứa con ra, nếu niệm thầm tất phải tổn hơi mang bệnh.
Chẳng những sản phụ tự mình niệm lớn, mà những người
giúp đỡ trong phòng sanh cũng niệm to lên. Và hàng quyến thuộc
tuy ở nơi nhà, song cũng phải vì sản phụ niệm danh hiệu
Bồ Tát cầu nguyện giúp.
Rất không
nên cho rằng: khi sanh sản lõa lồ không sạch, niệm sợ có
tội. Nên biết, lý tuy hữu định, nhưng sự phải tùy cơ,
chỉ căn cứ theo sự mà luận lý, chẳng nên chấp riêng bên
lý để luận bàn. Ví như khi con cái té vào hầm phẩn hoặc
nơi nước, lửa, kêu cha mẹ cầu cứu, cha mẹ liền chạy
tới kéo lên, không khi nào ngại rằng con mình thân thể chẳng
sạch, áo mũ không chỉnh tề, mà không chịu cứu vớt để
mặc cho nó chết. Lòng từ bi của Bồ Tát còn thâm thiết
hơn cha mẹ đối với con vô lượng muôn ngàn lần. Đang lúc
chúng sanh bị khổ, cầu cứu, Bồ Tát chỉ có niệm cứu khổ,
tuyệt không có niệm so chấp về thân hình. Vả lại việc
sanh sản dĩ nhiên phải như thế, là lúc quan hệ đến mạng
căn, không thuộc vào trường hợp có thể tỏ bày sự nghiêm
kính sạch sẽ, thế thì còn chấp chi sự nghiêm sạch cùng
không? Nếu ở trường hợp làm được mà không làm, thì thật
là có tội. Trái lại, trong cảnh ngộ không thể tỏ bày tướng
cung kính, thì chỉ nên luận sự quy hướng, chí thành nơi
tâm, không nên chấp những lễ mạo nghi thức trên hình tích.
Bồ Tát không sự khổ nào chẳng cứu vớt, không tai nạn
nào chẳng giúp đỡ xót thương, đâu có lý đối với hàng
sản phụ mà bỏ sót ư? Dù trong kinh không nói rõ về việc
nầy, ta cũng phải cứ theo lý suy hiểu tâm cứu khổ, để
dứt sự khổ nạn lớn cho nhân sanh, và làm thỏa mãn lòng
từ bi của Bồ Tát. Huống chi trong Kinh Dược Sư, Phật đã
từng bảo người nữ nên niệm danh hiệu đức Dược Sư Như
Lai trong khi sanh sản ư? Kinh văn ấy nói: ỏHoặc có người
nữ đang khi sanh sản chịu nhiều sự khổ, nếu có thể chí
tâm xưng danh lạy khen cung kính cúng dường đức Như Lai kia,
(xưng danh thì sản phụ có thể làm được, còn lạy khen cung
kính cúng dường là thuộc về việc người thân quyến làm
thay thế) thì các sự khổ đều trừ. Đứa con sanh ra thân
phần đầy đủ, hình sắc đoan chính, lợi căn thông minh,
an ổn ít bệnh, người trông thấy đều vui mừng, sản phụ
không bị loài phi nhân cướp đoạt tinh khí...õ Thế thì biết,
khi sanh sản niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát chẳng những không
tội, mà mẹ con được an toàn, đã gieo trồng căn lành, lại
có lợi ích lớn. Niệm Phật Dược Sư đã như thế, thì niệm
Quán Thế Âm Bồ Tát cũng như vậy. Hàng sản phụ niệm đã
được lợi ích như trên, thì các người khác suy ra có thể
biết.
Ở tỉnh
Hồ Nam, vợ chồng cư sĩ Mã Thuấn Khanh và năm người con
đều là đệ tử quy y của tôi. Năm Dân Quốc thứ 18, Mã
có gởi thơ cho tôi thưa rằng: vợ y sanh năm đứa con gái,
khi sanh hai lần trước còn bình an, đến lần thứ ba thì bị
huyết băng; lần thứ tư, thứ năm lại càng nhiều hơn nữa.
Nay người vợ lại sắp sanh, thảng như có huyết băng, chắc
là khó sống, cầu xin tôi chỉ bày phương pháp cứu tế và
vì đứa trẻ còn trong thai dự đặt pháp danh. Tôi liền bảo
vợ chồng phải chí thành niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, dù khi
sanh sản lõa lồ không sạch cũng vẫn cứ niệm, lại phải
niệm ra tiếng không nên niệm thầm. Khi thơ tôi gởi đến,
vợ chồng xem rồi vâng lời, người vợ qua ngày sau thì sanh,
khi sanh cũng vẫn niệm, rốt cuộc mẹ con đều được mạnh
khỏe bình yên. Sau khi vợ sanh, Mã liền hồi âm cho tôi biết;
sự kết quả tốt đẹp ngoài ý định, Bồ Tát thật là đấng
đại từ đại bi.
Lại, một
đệ tử quy y của tôi, vài năm trước ở tỉnh Tứ Xuyên,
nhân đến thăm người bạn, nghe trong nhà có đàn bà rên khóc
bi thương, liền hỏi duyên cớ. Người bạn tỏ thật vợ
y chuyển bụng muốn sanh đã hai ngày mà sanh không được,
sợ e khó sống. Đệ tử tôi bảo: ỏNên khuyên chị mau niệm
thánh hiệu Quán Âm, còn anh phải lập bàn trước nhà, đốt
hương quì niệm cầu Bồ Tát cứu độ.õ Người bạn nhất
nhất y theo lời. Kết quả, trong giây phút vợ y sanh được,
khi sanh cũng không tự biết, đến chừng nghe tiếng đứa trẻ
khóc mới hay mình đã sanh. Sau khi ấy, sản phụ thuật lại
rằng: ỏLúc tôi muốn sanh, thấy có người dùng vải nịt
chặt dưới hạ thể nên sanh không được. Đến khi niệm
thánh hiệu Quán Âm thì thấy miếng vải sút ra, đứa bé lọt
lòng hồi nào không tự biết.õ
Thế thì
biết, người nữ khi sanh sản niệm Quán Thế Âm Bồ Tát thật
có lợi ích vô cùng. Vì đang lúc ấy, hoặc do trong mình đã
đau yếu saün, hoặc do oan gia đời trước theo ám hại, sản
phụ ở vào hoàn cảnh thập tử nhất sanh; nếu không tha thiết
chí thành cầu Bồ Tát cứu độ, tất mẹ con khó được an
toàn. Ấn Quang tôi, từ mùa thu năm Dân Quốc thứ 15 trở đi,
khi bộ Tăng Quảng Văn Sao đã in rồi, bất luận văn tự gì,
đều không giữ bản thảo để khỏi sự hao tốn về ấn
phí. Gần đây, nhân biết rõ cái tệ chấp nhất của phụ
nhân trong khi sanh sản, nên tôi thường đem việc lợi hại
ấy nói với tất cả mọi người, mong cho kia đây truyền
nhau, để dự cứu sự khổ sở cùng tánh mạng của sản phụ
và sanh nhi. Nếu có ai không lượng xét, cho rằng tôi ưa nói
việc đàn bà sanh sản, riêng tôi cũng không lấy chi làm ngại,
chỉ mong cho mọi người đều sanh lòng chánh tín, bỏ sự
cố chấp, được khỏi tai họa mà thôi.
Đáp
20 câu hỏi của Cư Sĩ Khúc Thiên Dương
1. Hỏi: Đệ
tử tin đạo Phật, nguyên nhân do nghiên cứu thuật thôi miên.
Thuở trước, đệ tử nghe lời tục nói: ỏTu trời chín kiếp,
tu Phật mười đờiõ, hằng nghĩ rằng mười đời quá lâu
xa, e nửa chừng lỡ dở mà uổng phí công trước. Nếu sớm
biết niệm Phật một đời được giải thoát, thì đệ tử
đã thật hành lâu rồi. Nay nhìn lại mình đã hai mươi bảy
tuổi, nghĩ tự hối phát tâm trễ muộn!
Đáp: Lời
tục ngữ ấy do những kẻ không hiểu Phật Pháp nói sai. Người
hiểu Phật Pháp không bao giờ thốt ra lời ấy. Niệm Phật
một đời được giải thoát là do lòng tin sâu nguyện thiết,
quyết định cầu khi lâm chung sanh về Tây Phương, nên nhờ
sức Phật tiếp dẫn lên ngôi Bất Thối. Nếu không nhờ Phật
lực mà muốn thoát sanh tử, e cho ngàn muôn kiếp cũng không
được, huống nữa là mười đời!
2. Hỏi: Theo
chỗ đệ tử tin hiểu: ỏcó tịnh tâm mới thành Phậtõ,
cũng như người học thôi miên trước phải trầm tịnh rồi
sau mới có những hiện tượng không thể nghĩ bàn?
Đáp: Dùng
tâm thanh tịnh niệm Phật quán Phật thì dễ cùng Phật tương
ưng. Nếu thêm vào đó lòng tín nguyện chơn thiệt, tất sẽ
được vãng sanh, rồi lần lượt tiến tu cho đến khi thành
Phật. Đừng hiểu lầm rằng, đời nay tịnh tâm, liền được
thành Phật.
3. Hỏi: Về
sự nương nhờ sức Phật, theo chỗ hiểu của đệ tử; như
nhà thôi miên tự thôi miên lấy mình, so lại khó hơn để
cho người khác thôi miên. Tự lực không bằng tha lực có
phải giống như thế chăng?
Đáp: Tất
cả pháp môn khác đều nương nhờ sức mình để dứt hoặc
chứng chơn, như người què chân tự đi, mỗi ngày khó được
trăm dặm. Pháp môn Tịnh Độ nương sức từ của Phật, nên
có thể đới nghiệp vãng sanh, như người què kia nương theo
luân bảo của Chuyển Luân Thánh Vương, một ngày đi khắp
bốn châu thiên hạ. Đem việc thôi miên để so sánh chứng
minh rất không hợp lý.
4. Hỏi: Miệng
niệm Phật, tâm tưởng Phật, sự tưởng ấy có đồng với
pháp quán thứ tám trong Quán Kinh chăng?
Đáp: Chỉ
nên tha thiết nhớ Phật thôi. Còn về quán tưởng nên y theo
pháp quán thứ mười ba mà dụng công. Nhưng cảnh Phật tinh
tế, tâm phàm thô phù, sợ e quán khó thành tựu, có khi dụng
tâm không đúng, lại khởi ra các việc ma.
5. Hỏi: Như
lúc nguy cấp, không thể trong một lúc gồm tụng các thần
chú, vậy nên ứng dụng phương pháp gì?
Đáp: Gặp
tai nạn rất nguy cấp, chỉ nên niệm thánh hiệu Quán Thế
Âm. Như thế đã đỡ phí tâm lực lại cảm ứng rất lẹ
làng.
6. Hỏi: Chuyên
niệm danh Phật, hiệu lực so với sự trì chú thế nào?
Đáp: Phật
hiệu cùng chú công đức đồng nhau, duy cần phải chí thành
mới được cảm cách. Nếu trong tâm trước có một niệm
xem khinh hiệu Phật, tất không được sự lợi ích chân thật.
Lỗi ấy do tâm không chí thiết và nghi ngờ.
7. Hỏi: Phật
Di Đà tự tánh, cõi Tịnh Độ duy tâm cùng với cõi tịnh
và Phật ở Tây Phương là hai hay một?
Đáp: Có
tịnh độ duy tâm mới sanh về Tây Phương Tịnh Độ. Nếu
tâm mình không tịnh thì đâu có thể vãng sanh. Dù cho kẻ
tội nghịch ác dùng mười niệm được vãng sanh cũng phải
do tịnh tâm niệm Phật mới cảm sanh về cõi tịnh phương
Tây. Người đời phần nhiều cho rằng: đã duy tâm thì không
tịnh độ. Đó là sự hiểu biết của hàng ma ngoại. Thứ
tà kiến tợ phải mà quấy ấy chiếm hơn phân nửa, khiến
cho người niệm Phật không được thật ích.
Do đức Di
Đà tự tánh, nên hành giả cần phải niệm Phật Di Đà Tây
Phương cầu được vãng sanh, để lần lượt tiến tu thân
chứng Phật Di Đà tự tánh. Nếu chỉ chấp riêng Phật Di
Đà tự tánh mà không niệm đức Di Đà Tây Phương, dù cho
được chân thật tỏ ngộ cũng chưa thể thoát ngay đường
sanh tử, huống chi kẻ thốt ra lời ấy phần nhiều là hạng
tự thị nói suông ư?
Đến như
vấn đề đồng dị: Một mà hai là trước khi chưa thành Phật,
hai mà một là sau khi đã thành Phật.
8. Hỏi: Câu
ỏSanh thì quyết định sanh, về thì thật không vềõ là ý
gì?
Đáp: ỏSanh
thì quyết định sanhõ là nói ước về sự, ỏvề thì thật
không vềõ là nói ước về lý. Nhưng, kẻ chưa thông sự
lý, chỉ nên y theo sự tướng mà niệm Phật cho già giặn
là được. Chẳng thế thì thành ra lỗi chấp lý bỏ sự của
hàng ma ngoại.
9. Hỏi: Có
người niệm Phật khi lâm chung bỗng nói: ỏCõi Tịnh Độ
ở tại góc sân trước nhà.õ Thế thì cõi nầy tức là Tịnh
Độ chăng?
Đáp: Đó
chính là cảnh phát hiện của duy tâm tịnh độ. Nhưng tịnh
độ duy tâm của người kia là cảnh giới riêng của kẻ ấy,
ngoài ra đều là duy tâm uế độ. Vậy đâu nên căn cứ theo
chỗ thấy riêng của một người mà quyết đoán.
10. Hỏi:
Tụng kinh có phải để cho chính mình vui theo mùi đạo, chán
việc hồng trần, hay có tác dụng gì khác?
Đáp: Ngươi
tụng kinh chỉ biết cầu sự vui riêng cho mình. Rất tiếc
vô biên nghĩa mầu nhiệm bị ngươi xem không đáng giá một
đồng tiền!
11. Hỏi:
ỏHiểu nghĩa thứ nhấtõ là ý nói gì?
Đáp: ỏHiểu
nghĩa thứ nhấtõ là ngộ suốt lý mầu thật tướng, tự
tánh duy tâm.
12. Hỏi:
Phật dạy tu quán chính là lập giáo cho chúng sanh bị sự
khổ bức bách trong đời ngũ trược về sau. Nếu y theo thuyết
phát hiện thiên nhãn thông của thuật thôi miên, thì muốn
thấy cõi Cực Lạc cũng không phải là việc khó. Thế thì
thuật thôi miên cũng là một nhu yếu trong sự niệm Phật,
tại sao nhiều vị bảo tu quán là khó, không muốn khuyên mọi
người thật hành?
Đáp: Thôi
miên chỉ là năng lực nhỏ của huyễn thuật, đâu phải chính
thật thiên nhãn thông? Những vị quả thật có thiên nhãn
đâu chịu vì người làm công việc thôi miên? Nay ngươi đã
học Phật, chỉ nên chuyên chí học Phật. Muốn hiển hiện
cõi Cực Lạc, nên duy tâm tịnh thì trong một niệm sẽ thấy.
Ví như lau gương, lau cho cùng cực tự nhiên phát quang. Nếu
dùng thuật thôi miên muốn hiển hiện, thì tự tâm trước
đã không tịnh, niệm cũng không quy nhất, ví như đem phấn
trắng thoa trên gương muốn được phát ánh sáng, không ngờ
lại làm cho gương tối thêm.
13. Hỏi:
Tu quán pháp là quán, là tưởng, hay dụng cả quán tưởng.
Và quán tưởng nên lấy cảnh gần hay xa?
Đáp: Hai
chữ quán tưởng đâu nên chia làm hai, nhiếp tâm mà tưởng
tức là quán. Ngươi cho là hai thì thành ra chỉ biết có một
cái mười mà không biết hai cái năm. Lại quán tưởng đâu
nên phân biệt xa gần!
14. Hỏi:
Tu môn quán ban đầu, nên nhất tâm tưởng mặt trời hay cần
phải mặc trì danh hiệu?
Đáp: Quán
cùng trì danh vẫn là một việc. Ngươi cho rằng khi quán tưởng
thì không thể trì danh và không nên trì danh ư?
15. Hỏi:
Lúc ngồi thì tu quán, còn các thời khác thì trì danh, sự
kiêm tu như thế so với sự chuyên tu một pháp, bên nào hơn
kém?
Đáp: Những
tâm trầm tịnh thuần túy, muốn kiêm hay chuyên tu về quán
tưởng hoặc trì danh, cũng đều tốt. Như chẳng thế thì
chuyên trì danh có phần yên ổn hơn, vì người tâm chí phù
bạc rộn ràng mà tu quán tất sanh nhiều ma chướng.
16. Hỏi:
Khi quán tưởng thấy cõi Cực Lạc, đó là cảnh thật hay
hiện tượng giả?
Đáp: Quán
tưởng thấy cõi Cực Lạc là duy tâm hiện ra, nếu cho rằng
giả, đó là kẻ ở ngoài cửa.
17. Hỏi:
Quán thấy cõi Cực Lạc lại có thể nghe pháp, đó có phải
là thiên nhãn thông và thiên nhĩ thông chăng?
Đáp: Đó
là do sức quán xui khiến, nếu thiên nhãn thiên nhĩ dù không
quán cũng có thể thấy nghe.
18. Hỏi:
Có kẻ nói: ỏThấy Phật là Phật tự tâm, không phải Phật
Tây Phương.õ Thế thì khi vãng sanh, Phật tự tâm hiện hay
là đức A Di Đà đến tiếp dẫn?
Đáp: Khi
lâm chung thấy Phật là do tự tâm chiêu cảm, không nên đem
về tự tâm mà cho rằng không có Phật Tây Phương đến tiếp
dẫn.
19. Hỏi:
Vãng sanh về bậc thượng, dường như không phải là vị vãng
sanh của kẻ tu quán. Chẳng biết vị vãng sanh của kẻ tu
quán như thế nào?
Đáp: Phẩm
vị vãng sanh sai khác muôn ngàn, trong kinh chỉ lấy chín phẩm
để gồm nhiếp. Ngươi do đâu mà đoán thượng phẩm không
phải là vị vãng sanh của kẻ tu quán? Nên biết căn tánh
chúng sanh không đồng, cũng như trong một pháp tu mà có cao
thấp khác xa. Vậy không nên khăng khăng luận riêng về bên
pháp, bởi đó còn do tâm lực của mỗi người. Như đức
Văn Thù, Phổ Hiền, ngươi cho rằng hai vị ấy không dùng
quán pháp sao?
20. Hỏi:
Pháp ký số niệm Phật, hơi thở vào niệm sáu câu, hơi thở
ra niệm bốn câu, có phải thế chăng? Đã ký số và niệm
Phật, lại cần nên tưởng Phật chăng?
Đáp: Niệm
Phật Ký Số do từ một đến ba, từ bốn đến sáu, từ bảy
đến mười, đâu có quy định vào hơi thở? Ngươi là người
học phép luyện đơn vận khí, nên vừa thấy một hai chữ
giống với phép ấy, liền cho đó là công phu của bên kia.
Pháp Niệm Phật Ký Số vì những kẻ khó ngăn tâm vọng mà
lập ra. Nếu có thể niệm, ghi nhớ và nghe rõ ràng như thế,
quyết định tâm sẽ lần lần điều phục. Trong ấy ai cho
ngươi thêm hai chữ ỏtưởng Phậtõ vào? Đây vẫn là pháp
niệm tùy tiện, không nên luận theo hơi thở. Nếu thở ra
vào quá lâu, tất sẽ mang bệnh tổn hơi. Điều này cần phải
lưu tâm và hiểu rõ.
Một
bức thơ phúc đáp khắp nơi
Lời văn
tuy quê thật, nhưng nghĩa lý vẫn căn cứ trong kinh. Nếu có
ai y theo đây mà làm, sự lợi ích sẽ rộng lớn vô cùng!
Ấn
Quang Pháp Sư
1
Pháp môn
Tịnh Độ trùm khắp cả ba căn, gồm thâu hàng lợi độn,
là đại pháp của đức Như Lai, để mở phương tiện cho
tất cả thánh phàm đều được giải thoát sanh tử, lên ngôi
Bất Thối ngay trong hiện đời. Với pháp mầu nhiệm đặc
biệt nầy mà không tin không tu, thật là đáng thương, đáng
tiếc!!
Pháp môn
Tịnh Độ lấy tín, nguyện, hạnh làm tông chỉ.
Tín là ta
phải tin cõi Ta Bà có vô lượng sự khổ; tin cõi Cực Lạc
có vô lượng điều vui; tin ta là phàm phu đầy nghiệp lực,
quyết không thể nương cậy vào sức mình để dứt hoặc
chứng chơn, thoát sanh tử ngay trong hiện đời; tin Phật A
Di Đà có lời thề nguyền rộng lớn, nếu chúng sanh nào niệm
danh hiệu Ngài, cầu về nước Ngài, khi mạng chung sẽ được
Ngài tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc.
Nguyện là
ta nên nguyện mau ra khỏi thế giới nầy, nguyện sớm sanh
về cõi vui kia.
Hạnh là
ta phải chí thành khẩn thiết niệm câu Nam Mô A Di Đà Phật,
mỗi thời mỗi khắc đừng để tạm quên, tùy theo hoàn cảnh
gấp hoãn lập một khóa trình, sớm tối lễ bái trì tụng
trước bàn Phật. Ngoài thời khóa tụng, những khi đi đứng
nằm ngồi và làm những công việc không dụng tâm, đều nên
niệm Phật. Lúc ngủ nghỉ phải niệm thầm, không nên ra tiếng
và chỉ niệm bốn chữ A Di Đà Phật để dễ nhiếp tâm.
Lại, những khi y phục không chỉnh tề, hoặc giặt rửa, tắm
gội, đại tiểu tiện, cho đến lúc đi ngang qua chỗ không
sạch sẽ, cũng đều phải niệm thầm. Chí tâm niệm thầm,
công đức cũng đồng như niệm ra tiếng. Trong những lúc ấy
nếu niệm ra tiếng thì chẳng hợp nghi thức và có lỗi không
cung kính. Không luận niệm lớn tiếng, nhỏ tiếng, niệm Kim
Cang hoặc niệm thầm, đều phải trong tâm ghi nhớ rành rẽ
rõ ràng, miệng niệm rành rẽ rõ ràng và hai tai nghe rành rẽ
rõ ràng. Niệm như thế thì tâm không còn dong ruổi theo cảnh
ngoài, vọng tưởng lần dứt, câu niệm Phật lần thuần,
công đức rất lớn.
2
Người niệm
Phật phải hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, tâm
từ bi không giết hại, tu mười nghiệp lành (Thân không sát
sanh, trộm cướp, tà dâm; miệng không nói dối, nói thêu dệt,
nói đôi chiều, nói hung ác; ý không tham dục, giận hờn,
ngu si, tà kiến). Lại cần phải: cha lành, con thảo, anh em
thương kính, chồng vợ thuận hòa, chủ nhân, tớ trung, mỗi
người đều giữ tròn bổn phận. Ta chỉ nên làm hết nhiệm
vụ mình, đừng so đo phiền trách người khác đối với mình
có trọn cùng không. Nếu người nào đối với gia đình xã
hội làm tròn thiên chức, đó là người lành. Người lành
mà niệm Phật thì dễ có cơ cảm, quyết định khi lâm chung
được Phật tiếp dẫn sanh về Tây Phương vì tâm hạnh hợp
với Phật. Trái lại, những ai miệng tuy niệm Phật, song lòng
không nhiễm đạo, đối với cha mẹ, anh em, vợ chồng, con
cái, bạn bè làng xóm không tròn bổn phận, thì tâm hạnh
trái với Phật, khó được vãng sanh. Tại sao thế? Bởi người
ấy tâm không điềm tịnh thuần hòa, tự sanh ra mối não phiền
chướng ngại, nên khó được cảm thông với Phật, đó cũng
là lẽ tất nhiên.
3
Người niệm
Phật nên khuyên thân bằng quyến thuộc và tất cả đồng
nhân đều niệm Nam Mô A Di Đà Phật và Nam Mô Quán Thế Âm
Bồ Tát. (Mỗi ngày như niệm Phật 1.000 câu thì niệm Quán
Âm 500 câu, niệm Phật 10.000 câu thì niệm Quán Âm 5.000 câu.
Niệm nhiều ít so theo đây mà gia giảm). Ta đã tìm được
con đường giải thoát yên ổn, lại nỡ nào để cho đấng
sanh thành, người quyến thuộc cùng tất cả đồng nhân mất
sự lợi ích lớn, chìm trong biển khổ ư? Huống chi giữa
cõi đời nhiều hoạn nạn, khó tránh sự hiểm nguy như hiện
nay, nếu có thể thường niệm Phật và Quán Âm, tất sẽ
được lượng từ bi ủng hộ, gặp dữ hóa lành. Giả sử
không tai nạn mà chí tâm trì niệm, cũng sẽ được nghiệp
tiêu trí sáng, chướng hết phước nhiều. Hơn nữa, khuyên
người niệm Phật cầu sanh Tây Phương, tức là thành tựu
kẻ phàm phu làm Phật, công đức rất lớn, đem công đức
ấy hồi hướng vãng sanh tất sẽ mãn nguyện.
4
Người niệm
Phật khi tụng kinh, trì chú, lễ bái, sám hối, cứu tai nạn,
giúp kẻ nghèo, tất cả công đức lành đều phải hồi hướng
vãng sanh Tây Phương, không nên cầu hưởng phước báo ở
cõi trời, cõi người, trong hiện tại hoặc đời sau. Nếu
có tâm niệm ấy thì mất phần vãng sanh và phải bị chìm
đắm trong biển luân hồi khổ não. Nên biết, hưởng phước
càng nhiều tất gây nghiệp càng lớn, qua một đời sau nữa
quyết khó khỏi đọa vào đường địa ngục, ngạ quỉ, súc
sanh. Chừng ấy muốn trở lại làm thân người, được nghe
pháp hiện đời giải thoát của môn Tịnh Độ, còn khó hơn
lên trời. Phật dạy chúng sanh niệm Phật cầu về Tây Phương,
là vì chúng sanh mà giải quyết vấn đề sanh tử ngay trong
hiện kiếp. Nếu chỉ cầu đời sau hưởng phước báo ở
cõi nhân thiên tức là trái với lời Phật dạy, như đem hạt
bảo châu vô giá đổi lấy một thẻ đường để ăn, há
chẳng đáng tiếc lắm ư? Kẻ tối tăm niệm Phật không cầu
vãng sanh mà cầu hưởng phước báo, cũng như đây không khác.
5
Người niệm
Phật không nên tập theo lối tham cứu của nhà tu thiền. Vì
kẻ tu thiền hầu hết đều không chú trọng về việc tín
nguyện vãng sanh. Dù có niệm Phật, họ chỉ chú trọng vào
câu ỏNiệm Phật đó là ai?õ để cầu khai ngộ mà thôi.
Ta chỉ nên niệm Phật cầu sanh Tây Phương, khi được thấy
đức A Di Đà lo gì không khai ngộ? Nếu ở cõi này tu thiền,
như hoặc nghiệp dứt hết thì có thể thoát sanh tử; thảng
như hoặc nghiệp chưa dứt thì đã không thể cậy vào sức
mình để giải thoát, lại vì không tín nguyện nên không được
nương nhờ sức Phật ra khỏi luân hồi. Hai bên tự lực và
Phật lực đều không nhờ cậy được, người ấy đâu thể
nào thoát khỏi trần lao? Nên biết bậc pháp thân Bồ Tát
khi chưa thành Phật đều phải nhờ oai lực của Phật, huống
chi ta là phàm phu đầy nghiệp chướng mà ưa luận về sức
mình, không cầu sức Phật ư? Lời ấy tuy cao, song xét lại
hành vi thật là thấp kém! Sự hơn kém của Phật lực và
tự lực khác xa nhau như trời vực, nguyện đồng nhân nên
thể tất nghĩa nầy!
6
Người niệm
Phật không nên bắt chước kẻ ngu tối, làm những việc hoàn
thọ sanh, gởi kho. Bởi sự hoàn thọ sanh, trong Kinh Phật không
có nói, do người sau bày đặt ra. Còn gởi kho là muốn cho
mình khi chết rồi thành quỉ, nên mới sắm trước tiền của
đồ vật cho thân quỉ dùng. Đã có tâm niệm muốn làm quỉ
thì khó được vãng sanh. Như người nào chưa làm thì thôi,
nếu đã làm, phải bạch rõ trước bàn Phật như vầy: ỏĐệ
tử là... chỉ cầu vãng sanh, những đồ minh khố đã gởi
khi trước, xin đem chẩn tế cho cô hồn.õ Như thế mới không
chướng ngại cho sự sanh về cõi Phật.
Lại những
thứ kinh: Thọ Sanh, Huyết Bồn, Thái Dương, Thái Âm, Nhãn
Quang, Táo Vương, Thai Cốt, Phân Châu, Diệu Sa... đều là kinh
ngụy tạo, không phải kinh của Phật nói, không nên trì tụng.
Những kẻ quê tối, không chịu tụng Kinh Đại Thừa (như
các kinh: A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, Tâm
Kinh, Kim Cang, Pháp Hoa, Dược Sư, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Phổ
Hiền Hạnh Nguyện Phẩm v.v...) mà chỉ tin các thứ kinh ngụy
tạo ấy, muốn làm những việc hoàn thọ sanh, phá địa ngục,
phá huyết hồ, mới yên tâm. Nếu có người hiểu Phật Pháp
khuyên bảo nói đó là những kinh ngụy tạo, họ cũng không
nghe lời. Nên biết, làm các Phật sự, chỉ có niệm Phật
là công đức rộng lớn, nên đem số tiền hoàn thọ sanh,
phá địa ngục, phá huyết hồ ấy, thỉnh những vị tăng
chơn chánh niệm Phật cho, thì được lợi ích rất nhiều.
7
Người niệm
Phật nên ăn chay trường, như chưa được thế, thì giữ lục
trai hoặc thập trai, để lần lần bỏ hẳn các thứ thịt
của chúng sanh, mới là hợp lý. Lục trai là các ngày: mùng
8, 14, 15, 23, 29, 30; nếu thêm vào đó mấy ngày: mùng 1, 18,
24, 28 thì thành ngày thập trai. Những tháng thiếu, nên ăn
trước một ngày. Lại, tháng giêng, tháng năm, tháng chín là
ba trai nguyệt, nên ăn chay trường và làm các việc công đức.
Dù chưa ăn chay được, cũng nên mua thịt cá đã làm saün,
chớ sát sanh trong nhà. Nếu mỗi ngày sát sanh thì cái nhà
ấy đã thành lò sát sanh, là chỗ oan quỉ tụ hội, không
được an lành. Cho nên sát sanh trong nhà là điều rất cấm
kî.
8
Người niệm
Phật nên khuyên cha mẹ niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Muốn
cho cha mẹ khi lâm chung quyết định được vãng sanh, thì phải
dặn trước người quyến thuộc về cách trợ niệm và chớ
nên khóc lóc cùng bày vẽ những điều vô ích. Lại, lúc bình
thời phải vì cha mẹ giảng rõ sự lợi ích của môn niệm
Phật khiến cho song thân thường niệm không quên. Thế thì
chẳng những cha mẹ được lợi ích, mà quyến thuộc hiện
tại hoặc con cháu đời sau cũng được ảnh hưởng giải
thoát an lành. Về phương pháp trợ niệm khi lâm chung, không
luận già trẻ, đều phải làm đúng như thế.
9
Người nữ
khi sắp sanh thường bị đau khổ không kham, có khi vài ngày
sanh không được, hoặc chết vì sản nạn. Có người tuy sanh
được nhưng lại bị huyết băng và nhiều bệnh nguy hiểm.
Đứa con sanh ra thì bị các chứng cấp nạn, kinh phong v.v...
Cho nên, người nữ lúc sanh sản, nên chí thành khẩn thiết
niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Khi niệm cần phải to tiếng,
không nên niệm thầm, vì niệm thầm do tâm lực kém nên sức
cảm ứng cũng kém. Lại trong lúc ấy sản phụ đang dùng sức
sanh đứa bé ra, nếu niệm thầm thì nín ép hơi phải mang
bệnh. Nếu chí thành khẩn thiết mà niệm, quyết không có
sự đau đớn, khó sanh, huyết băng, đứa con sẽ khỏi bệnh
kinh phong, và các chứng nguy hiểm khác. Dù gặp trường hợp
khó sanh, có nguy hiểm đến tánh mạng, sản phụ cùng những
kẻ hộ sanh cũng phải đồng to tiếng niệm Quán Âm. Người
quyến thuộc tuy ở nơi khác, đều phải vì sản phụ niệm
giúp. Như thế, không đầy giây phút, sản phụ liền được
yên ổn mà sanh. Kẻ ngoại đạo không rõ lý nầy, chấp chặt
một việc cung kính, chẳng biết căn cứ theo sự mà luận
lý, khiến cho mấy bà lão niệm Phật xem sanh sản là việc
đáng sợ, cho đến dâu con của mình sanh cũng không dám qua
săn sóc, huống chi là niệm Quán Âm? Nên biết Bồ Tát lấy
sự cứu khổ làm lòng, lúc sanh sản, tuy lõa lồ không sạch,
nhưng đó là việc dĩ nhiên, không phải mình tự ý buông lung,
nên niệm đã không có tội lỗi, mà lại khiến cho mẹ con
sản phụ gieo trồng căn lành. Nghĩa nầy trong Kinh Dược Sư
đã có nói, không phải tự tôi đưa ra điều ức kiến. Ấn
Quang nầy chỉ là người đề xướng mà thôi.
10
Người nữ
từ mười hai, mười ba tuổi đến bốn mươi tám, bốn mươi
chín tuổi, đều có nguyệt kinh. Có kẻ bảo: trong lúc nguyệt
kinh, chẳng nên lễ bái trì tụng. Lời này rất không hợp
tình lý. Thời kỳ có kinh, mau thì hai ba ngày, lâu đến sáu
bảy ngày mới dứt; người tu trì cần phải niệm Phật không
xen hở, đâu nên vì một chút bệnh nhỏ thiên nhiên mà bỏ
lãng thời tu niệm ư? Khi có nguyệt kinh chỉ nên lễ bái ít
(lễ bái ít chớ chẳng phải tuyệt nhiên không lạy), còn
sự tụng kinh niệm Phật đều chiếu theo lệ thường. Nên
thường thay giặt vải dơ, phải rửa tay cho sạch sẽ, đừng
dùng tay dơ mà lần chuỗi, lật kinh và đốt hương. Trong Phật
Pháp, pháp pháp đều viên thông, hàng ngoại đạo chỉ chấp
một bên lý, người đời phần nhiều lại ưa tin lời ngoại
đạo, không rõ chánh lý Phật giáo, nên không được thấm
nhuần pháp lợi.
11
Quán Thế
Âm Bồ Tát thệ nguyện rộng sâu, tìm tiếng cứu khổ. Khi
gặp những tai nạn: đao binh, nước lửa, đói kém, cào cào,
ôn dịch, khô hạn, cướp bóc, oan gia, thú dữ, rắn độc,
ác quỉ, yêu mị, nghiệp binh, kẻ tiểu nhơn hãm hại v.v...
nếu phát tâm sửa lỗi làm lành, lợi mình lợi người, chí
thành khẩn thiết niệm Quán Thế Âm không xen hở, thì quyết
định sẽ được nhờ sức từ bi ủng hộ tránh khỏi tai
nguy. Nếu vẫn còn giữ lòng bất thiện, dù có xưng niệm,
chẳng qua là gieo chút căn lành về sau, không được sự cảm
ứng hiện tại, vì chư Phật, Bồ Tát thành tựu niệm lành
cho người, tuyệt không thành tựu niệm ác cho người. Như
không phát tâm sửa lỗi làm lành, lầm lạc muốn đem công
đức niệm Phật, Bồ Tát, để cầu cho việc ác của mình
thành tựu thì quyết không được cảm ứng. Rất không nên
phát tâm điên đảo ấy.
Đã niệm
Phật, cần phải giữ trọn nhơn luân, gìn lòng thành kính,
dứt các điều dữ, làm các việc lành, giữ lòng tốt, nói
lời tốt, làm việc tốt. Việc nào mình làm được thì thiết
thật mà làm, như không làm được cũng nên phát lòng lành
ấy, hoặc khuyên người có thế lực làm, hoặc thấy người
làm sanh tâm vui đẹp. Thốt lời khen ngợi việc lành cũng
thuộc về công đức của tâm và miệng. Nếu việc mình không
thể làm, khi thấy người khác làm được mà sanh lòng ganh
ghét, đó là tâm hạnh của kẻ tiểu nhơn. Như thế, quyết
định phải bị mất phước tổn thọ, không được kết quả
tốt, cần để ý răn chừa. Rất không nên giả mặt hiền
lương để mua danh chuốc lợi, tâm hạnh ấy quỉ thần đều
ghét, có thì mau cải, không thì nên cố gắng làm lành.
12
Có nhiều
người nữ vì không rõ chánh lý, hoặc bất hiếu với cha
mẹ chồng, khi dể chồng, quá cưng yêu chiều chuộng con, ngược
đãi tôi tớ, hoặc là mẹ ghẻ hiếp đáp hành hạ con riêng
của chồng. Những người ấy đâu biết rằng: hiếu thảo
với cha mẹ chồng, kính trọng chồng, dạy dỗ con cái, ra
ân huệ cùng hàng tôi tớ, an ủi nuôi dạy con riêng của chồng,
chính là đạo thánh hiền ở thế gian mà cũng là phép tắc
đầu tiên của đạo Phật. Nếu có đủ công đức ấy mà
tu Tịnh Độ, thì quyết định danh dự thêm nhiều, phước
thọ bền vững, khi mạng chung được Phật tiếp dẫn về
chín phẩm sen. Nên biết đã có nhân phải có quả, nếu ta
gieo nhân hiếu kỉnh từ ái, tự nhiên sẽ được quả hiếu
kỉnh từ ái. Vì người tức là vì mình, hại người còn
quá hơn hại mình, cho nên mỗi người đều phải làm tròn
bổn phận, Phật trời tất sẽ chứng tri.
13
Trẻ con khi
vừa khôn lớn, phải dạy cho chúng biết đạo lý hiếu, đễ,
trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ và việc ba đời nhân quả,
sáu nẻo luân hồi. Như thế là làm cho chúng hiểu tâm của
mình cùng tâm chư Phật, Bồ Tát, trời đất, quỉ thần, mỗi
hơi thở thông nhau. Nếu khởi một niệm bất chánh, làm một
việc không phải, thì các vị ấy thảy đều biết, như đối
trước gương sáng, hình ảnh tốt xấu hiện ra rõ ràng, không
che giấu được. Đã hiểu như thế, tất nhiên chúng sẽ sợ
hãi, gắng sức làm lành. Chẳng luận người nào, dù là con
cái tôi tớ trong nhà cũng không nên đánh đập mắng chửi
thô tháo. Phải tìm cách khuyến hóa, khiến cho chúng biết
phụng thờ bậc trên, nhường thuận kẻ dưới, kính trọng
giấy chữ, chẳng xài phá cơm gạo, quần áo, của tiền, yêu
tiếc sanh mạng loài trùng kiến, không ăn vặt vạnh để khỏi
mang bệnh. Nếu dạy được như thế, thì một ngày kia quyết
định chúng sẽ thành người lương thiện. Trái lại lúc con
cháu còn thơ ấu, cha mẹ chẳng chịu dạy dỗ, để mặc cho
chúng buông lung, khi lớn lên nếu chúng nó không là kẻ dung
ngu, cũng là hàng phỉ loại. Chừng ấy dù có ăn năn cũng
vô ích. Lời xưa nói: ỏGiáo phụ sơ lai, giáo tử anh hàiõ
(Dạy con dạy thuở còn thơ, dạy vợ dạy lúc ban sơ mới
về), tánh tình phần lớn là do ảnh hưởng của tập quán,
cho nên phải cẩn thận từ bước đầu tiên. Cá nhân là phần
tử của xã hội, trong thiên hạ bình yên hay loạn lạc, cội
nguồn đều do sự hiền lương hoặc bạo ác của con người.
Vậy những điều trên đây quan hệ, thiết yếu, không phải
tôi bàn luận chuyện vô ích, xa vời...
14
Ấn Quang
tôi năm nay đã quá già yếu, tinh thần mỗi ngày thêm suy kém,
không còn đủ sức để phúc đáp những bức thơ gởi đến.
Chỉ vì sự lưu thông thuận tiện, nên xa gần lầm nghe chút
hư danh, gởi thơ hỏi đạo quá nhiều. Nếu tôi không đáp,
vẫn tự hơi có phụ ý người gởi; như mỗi mỗi đều phúc
đáp, thật ra cũng không đủ tinh thần. Vì thế, tôi cho in
bức thơ dài nầy để phúc đáp cùng khắp. Trong đây, những
điều quan hệ về sự tu trì, cách lập thân xử thế, đạo
thờ cha mẹ, dạy con cái, tôi đều nói lược qua. Về sau,
ai đưa tin đến hỏi đạo, tôi đều dùng thơ nầy phúc đáp,
hoặc có vài điều đặc biệt, cũng chỉ nên thêm đôi hàng
nơi bức thơ gởi đến mà thôi. Như thế, để cho đạo niệm
đôi bên được thông nhau, mà tôi cũng đỡ bớt sự nhọc
mệt. Nếu vị nào muốn hiểu suốt kinh nghĩa, xin thưa hỏi
nơi các bậc Pháp Sư dựng cao tràng pháp, tông giáo kiêm thông.
Nhưng nên biết, dù thông suốt kinh pháp, cũng chưa chắc được
thoát sanh tử. Muốn thoát sanh tử luân hồi, phải chú trọng
nơi sự tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương!
Vườn
Thơ Tịnh Độ
Ta Bà cõi
nghiệp sự tung hoành,
Nói đến
Liên bang mộng cũng thanh,
Hơi thở
chẳng vào nghìn kiếp hận,
Tấc lòng
dám bỏ sáu thời danh?
Như gà ấp
trứng liền hơi ấm,
Tợ lửa
nung vàng luyện mới tinh
Một niệm
gốc tình trừ sạch hết,
Tánh chơn
lồ lộ khối viên minh.
CHÂU QUANG
CƯ SĨ
((
Cảnh yên,
người vắng, giữa thanh tiên,
Siêng giữ
thân tâm dám trễ kiên?
Chém đứt
niệm trần dây nghiệp rậm,
Phá tan ý
vọng núi mê cao.
Giọt châu
nhớ Phật, châu chưa dứt,
Mối tưởng
quy Tây, tưởng lại nhiều!
Những mến
đài sen hoa cánh ngọc,
Nghĩ cho tên
họ đã đều nêu.
Tháng hạ
ngày tàn tiết nóng sao!
Trong bầu
hỏa trạch chịu hừng thiêu.
Một vùng
cây biếc che lầu các,
Mười dặm
sen tươi chói họa kiều.
Mắt ngắm
trời Tây lòng ngớ ngẩn
Lệ theo tiếng
Phật dạ tiêu điều.
Bao giờ về
được ao trong mát?
Trần lụy
bao nhiêu sạch bấy nhiêu!
THỐN HƯƠNG
TRAI CHỦ
((
Lúc đi dễ
thuận niệm Di Đà,
Một Phật
tùy theo một bước qua.
Dưới gót
hằng thời chơi Tịnh Độ,
Trong tâm
mỗi niệm cách Ta Bà.
Dạo quanh
hoa liễu nhưng thường nhớ,
Lên xuống
non sông vẫn chẳng xa.
Đợi lúc
vãng sanh về Cực Lạc,
Mười phương
du ngoạn tự như mà!
Khi nằm niệm
Phật lặng âm thinh,
Hơi thở
nương theo giữ hiệu danh.
Một gối
gió thanh trong vạn dặm.
Nửa giường
trăng sáng khoảng ba canh.
Đã không
trần lụy tâm yên tịnh.
Duy có liên
hoa mộng dễ thành.
Giấc điệp
mơ màng chư Phật hiện,
Tỉnh ra còn
vẫn nhớ phân minh.
TĨNH AM PHÁP
SƯ
Đời người
trăm tuổi, ai trăm tuổi?
Chuyện cũ
quay nhìn, chuyện mộng mê!
Nghĩ khóc
đồng lưu đi lạc mất,
Lãng quên
cõi Tịnh chẳng lo về!
PHẠM KỲ
THIỀN SƯ
((
Đêm dài
dễ mộng về thôn cũ,
Năm hết
không quên phận lữ hành.
Mười vạn
ức đường quê Cực Lạc,
Tấc lòng
mang mển những thâu canh!
TƯ TỀ LÃO
NHƠN
((
Nói đến
vô thường mọi việc khinh,
Đói ăn khát
uống biếng kinh dinh.
Một lòng
chuyên hướng trời An Dưỡng.
ỏVạn thiện
đồng quiõ nhớ Vĩnh Minh!
Mãng tưởng
ngày về chửa đến ngày,
Bên trời
du tử mộng hồn bay!
Tỉnh mơ,
tiếng nhạn rơi đêm vắng,
Tin tức miền
Tây chậm vãng lai?
SỞ THẠCH
LÃO NHƠN
Tóc sương
thay mái đầu xanh,
Một đời
sự nghiệp nghĩ thành không hoa!
Soi bổn phận
Lánh đường
tà.
Âm thầm
thời tiết đổi.
Lặng lẽ
tháng ngày qua.
Kíp mau tìm
đến chơn thường lộ,
Dám chậm
chờ xem bịnh tử mà!
Cõi Phật
đâu xa cách?
Về chăng
chỉ tại ta!
Mỗi niệm
chỉ cần không thối chuyển.
Ao vàng đã
saün có Liên Hoa.
Thân tàn
về cõi báu,
Sen nở thấy
Di Đà!
LIÊN ẨN
THIỀN SƯ
((
Lầu quỳnh
cách biệt những năm xưa,
Lối cũ đường
xa bước trở về,
Tháng ngày
hờ hững,
Tóc điểm
hoa lê!
Lòng theo
bóng nguyệt trời tây xế,
Tai lắng
nghe chim tiếng nhớ quê
Lá thu rơi
rụng...
Tấc dạ
não nề!
Đỉnh trầm
xông đốt ngân hơi khánh,
Hướng cõi
Liên bang phát nguyện thề:
Ta Bà đã
chán chê...!
TRA AM THIỀN
SƯ
((
Ngày tháng
chim lồng quanh quẩn,
Thân người
bèo nước linh đinh
Trăm năm
tạm gởi kiếp phù sanh,
Há lại mơ
màng chẳng tỉnh?
Đem mối
trần duyên giũ sạch,
Đừng cho
mộng cảnh lưu đình.
Di Đà sáu
chữ ấy chơn kinh,
Đường lối
tu hành tiệp kỉnh!
Chẳng luận
sang, hèn, ngu, trí.
Không phân
già, trẻ, gái, trai.
Có tâm làm
được đấng Như Lai,
Lời thật
lưu truyền vẫn tại!
Sáu chữ
Di Đà rất dễ,
Một lòng
tưởng niệm đừng sai.
Thân nầy
thề chiếm tử kim đài,
Gắng giữ
niệm tâm chớ trái!
LINH THOẠI
THIỀN SƯ
Hơn sáu mươi
năm,
Thoáng dường
xuân mộng.
Tỉnh ra thôi
một giấc hoàng lương!
Phù hoa bóng
huyễn,
Có mấy phong
quang?
Nhìn xem đã
rõ...
Cắt mối
tơ vương,
Mặc kẻ
lao nhao chốn hí trường!
Lều tranh
núi biếc,
Bổn phận
lo lường
Tùy duyên
thong thả.
Rửa bát
đốt hương.
Đem tâm quy
hướng cõi thanh lương!
Mênh mang
biển nghiệp,
Đau khổ
bao dường!
Quay đầu
trông lại thấy thêm thương!
TRANG NGHIÊM
CƯ SĨ
Dịch
thuật
N.B.S