Thơ
đáp một Cư Sĩ ở Dõng Giang
Sắc dục
là chứng bệnh chung của người đời. Chẳng những hạng
người trung, hạ bị nó làm mê, mà bậc thượng căn nếu
không kiêng sợ giữ gìn, cũng khó khỏi mang hại. Xưa nay biết
bao trang tuấn kiệt có thiên tư làm thánh hiền, chỉ vì phá
không nổi lớp cửa ấy, trở thành kẻ hèn ngu bất tiếu!
Vô số loài hữu tình cũng vì đó mà sa đọa vào tam đồ.
Trong Kinh Lăng Nghiêm, đức Phật bảo ngài A Nan: ỏNếu chúng
sanh ở sáu đường trong các thế giới, dứt được lòng dâm,
thì không còn bị xoay vần theo vòng sống, chết. Ngươi tu
Tam Muội, vì cầu ra khỏi trần lao, nếu chẳng trừ lòng dâm,
tất không thể nào giải thoát.õ Với người học đạo, vấn
đề trọng đại là sự sống chết, nếu không mau thống trừ
căn bệnh kia, làm sao lìa nỗi khổ luân hồi? Như pháp môn
niệm Phật tuy là đới nghiệp vãng sanh, song nếu đem lòng
dâm cố kết, tất sẽ cách ngăn với Phật, đạo cảm ứng
khó giao thông. Muốn dứt mối họa ấy, không chi hơn khi thấy
tất cả người nữ, đều tưởng là thân thuộc, oan gia và
nhơ nhớp.
Tưởng như
thân thuộc là thế nào? Khi thấy người người nữ tuổi
cao thì tưởng là mẹ, lớn hơn mình tưởng là chị, nhỏ
hơn tưởng là em, nhỏ hơn nữa, nên tưởng là con. Người
lòng dục dù mạnh, quyết không dám đối với mẹ, chị, em
và con, sanh niệm bất chánh. Đó là dùng luân lý ngăn dục
tâm khiến cho không phát khởi.
Tưởng như
oan gia là thế nào? Người đời, theo tình thường khi thấy
sắc đẹp liền động lòng luyến ái. Do tâm mê nhiễm ấy,
nên đọa vào ác đạo nhiều kiếp chịu khổ không được
thoát ly. Thế thì vẻ kiều mị đẹp tươi, sánh với cọp,
sói, rắn rít cùng các thứ thuốc độc, còn hại gấp trăm
ngàn lần! Đối với mối oan gia rất lớn ấy, còn quyến
luyến ưa thích, há chẳng phải là ngu mê quá lắm ư?
Tưởng nhơ
nhớp là thế nào? Sắc đẹp chỉ là một lớp da mỏng bên
ngoài. Nếu banh lớp da ấy ra, thì dẫy đầy những xương,
thịt, máu, mủ, đờm, dãi, phẩn uế, hôi tanh nhơ nhớp không
ai muốn nhìn! Những thứ không đáng ưa đó, chỉ vì một
làn da mỏng giấu che, làm cho người lầm sanh lòng yêu mến.
Như chiếc bình đẹp đựng đồ hôi nhơ, không ai cầm lấy
để ngắm, xem. Lớp da của mỹ nhân chẳng khác chi chiếc
bình đẹp kia, trong ấy nhơ nhớp còn hơn phẩn, đâu nên chỉ
ưa thích bề ngoài, quên hẳn bề trong, lầm sanh vọng tưởng
ư? Nếu không răn dè sợ hãi, thống trừ tập tánh ấy, tất
bị vẻ đẹp mỏng manh phỉnh gạt, mũi tên ấy sẽ ghim sâu
vào xương tủy, làm sao tự nhổ ra? Lúc bình thường đã như
thế, mà muốn sau khi chết chẳng đọa vào bào thai, việc
ấy không thể có. Nhưng vào bào thai người còn khá, vào thai
loài súc thú mới ra thế nào? Thử suy nghĩ kỹ điều nầy,
tâm thần tự nhiên kinh động sợ hãi! Song, muốn cho khi thấy
cảnh không khởi lòng nhiễm, trước phải thường tưởng
ba điều trên, thì lúc đối cảnh mới khỏi bị lay chuyển.
Bằng chẳng thế, dù không thấy cảnh, ý vẫn mơ tưởng triền
miên, cũng vẫn bị tập khí dâm dục ràng buộc. Cho nên, đối
với nữ sắc phải xét nhận thấu đáo, quét sạch tập quán
dục nhiễm, mới có phần tự do.
Mỗi ngày,
ngoài chức phận của mình, cư sĩ gắng chuyên tâm niệm Phật
và đem hết lòng thành kính tha thiết sám hối tội nghiệp
từ vô thỉ đến nay. Như thế, lâu ngày sẽ có sự lợi ích
không thể nghĩ bàn mà chính mình không tự biết. Kinh Pháp
Hoa nói: ỏNếu có chúng sanh nào nhiều dâm dục, thường niệm
cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát, sẽ được lìa dụcõ, cho đến
nhiều giận hờn, ngu si cũng như vậy. Thế thì biết, nếu
chí thành niệm thánh hiệu đức A Di Đà, tất cũng được
tiêu trừ ba món hoặc: tham, giận, mê. Lại, hiện nay là thời
buổi nhiều hoạn nạn, ngoài giờ niệm Phật, nên niệm thêm
thánh hiệu đức Quán Âm. Như thế, sẽ được sự chuyển
biến rất mầu nhiệm trong âm thầm, mới khỏi cảnh khi túc
nghiệp hiện ra không phương trốn tránh. Phải tìm xem những
sách: giới dâm, nhân quả, báo ứng, xa lìa bạn bè du đãng
thì tâm hạnh mới được chánh đáng, vững vàng và tịnh
nghiệp mới có thể thành tựu.
Cố gắng!
Cố gắng!
Thơ
đáp hai Cư Sĩ Ngạn Như, Dật Như
Xem thơ, thấy
nhị vị tỏ ý phiền muộn vì việc đời buộc ràng, không
biết làm sao được giải thoát. Mọi người đều có bổn
phận, duyên sự tuy nhiều nhưng nếu tâm điềm nhiên không
chuyển theo cảnh, thì đương lúc bận buộc cũng được giải
thoát an nhàn. Cảnh trạng ấy như đài gương soi hình, hình
đến không trở ngăn, hình đi chẳng lưu luyến. Nếu không
hiểu nghĩa này, dù cho bỏ hết việc đời, nơi tâm cũng còn
vương vấn, rộn ràng chẳng yên. Người học Phật biết an
theo phận mình, giữ tròn nhiệm vụ, thì dù có tiếp xúc muôn
duyên, mỗi ngày vẫn thung dung ngoài cảnh vật. Đó chính là
nghĩa ỏmột lòng không trụ, muôn cảnh đều nhànõ vậy.
Đến như
niệm Phật, rất cần ở sự thoát ly vòng sống chết. Đã
vì việc ấy tất đối với nỗi khổ luân hồi tự sanh chán
nản, với sự vui Cực Lạc tự sanh mến ưa. Thế là trong
một niệm đủ cả hai điều tín nguyện. Thêm vào đó lòng
chí thành khẩn thiết như con nhớ mẹ, thì sức Phật, sức
Pháp và sức công đức tín nguyện của tâm mình, ba pháp đều
vẹn toàn. Lực dụng ấy ví như vầng nhật giữa trời, dù
có tuyết sương dầy đặc, không mấy chốc cũng tự rã tan.
Người mới niệm Phật chưa đến lúc thân chứng Tam Muội,
làm sao khỏi có vọng niệm? Nhưng nếu biết đem tâm soi vào
trong, không theo vọng cảnh, cũng đã quí lắm rồi! Ví như
hai chiến trận đối nhau, cần phải giữ thành lũy mình cho
chắc, đừng để bên nghịch xâm phạm, phòng khi quân giặc
kéo qua liền đón lại đánh. Lúc ấy phải đem binh chánh giác
bao vây bốn bên, khiến cho đối phương không đường tẩu
thoát, phải chịu quy hàng. Điều cần yếu là vị chủ soái
phải thường thường tỉnh táo đừng biếng trễ, hôn trầm.
Nếu phạm hai lỗi ấy, chẳng những không phá được giặc,
trở lại bị giặc tiêu diệt. Cho nên người niệm Phật nếu
không biết nhiếp tâm, thì càng niệm càng sanh vọng tưởng.
Nếu có thể nhiếp tâm, vọng niệm sẽ lần lần yếu bớt,
cho đến khi tiêu tán không còn. Nên người xưa có lời kệ:
Học đạo
dường như giữ cấm thành,
Ngày phòng
sáu giặc, tối tinh chuyên.
Tướng,
quân, chủ soái đều theo lịnh,
Chẳng
động đao thương nước được yên.
Thơ
đáp Cư Sĩ Bao Sư Hiền
Hỏa hoạn
ở Ôn Châu nghe qua thê thảm! Tai trời nạn nước thật không
biết đâu là cùng! Cảnh khổ ấy đủ làm bằng chứng cho
lời kệ: ỏBa cõi không an, dường như nhà lửaõ trong Kinh
Pháp Hoa, và cũng là một duyên nhắc nhở rất thiết cho sự
tín, nguyện, niệm Phật cầu sanh về Cực Lạc.
Niệm Phật
chẳng quy nhất, do bởi không tha thiết đối với việc sống
chết luân hồi. Nếu tưởng mình bị nước cuốn lửa thiêu
không ai cứu vớt, hoặc đang ở vào giờ phút lâm chung sắp
đọa địa ngục, thì tâm tự quy nhất, chẳng cần phải tìm
phương pháp chi nhiệm mầu. Vì thế, trong kinh thường nói:
ỏNên nghĩ sự khổ nơi địa ngục, phát lòng Bồ Đề.õ
Đây là lời chỉ dạy rất thiết yếu của đấng đại giác
Thế Tôn, tiếc vì người đời không chịu thật tâm tưởng
nghĩ đến. Sự khổ nơi địa ngục sánh với thảm họa nước
lửa, còn gấp không lường, không ngằn lần đau đớn hơn!
Tưởng đến lửa thiêu nước cuốn thì sợ hãi, nghĩ đến
địa ngục lại thờ ơ đó là người trí lực kém tối không
thể quan sát rõ ràng sự khổ. Giả sử được một phen tận
mắt trông thấy cảnh ấy, chắc bất giác lông tóc dựng đứng,
xương lóng đều rung, không tự kiềm chế được.
Thơ
đáp Pháp Hải Đại Sư
Hơn mười
năm nay, tòa hạ tìm thầy học đạo để mưu sự lợi ích
cho mình và người, đó là điều đáng khen ngợi. Nay lại
buông bỏ muôn duyên, một lòng niệm Phật, lấy quả giác
làm nhân địa tu hành, có thể sẽ thân chứng Tam Muội và
chiếm được phẩm cao. Nếu tòa hạ phát lòng quả quyết
thì sự mong cầu tất nhiên thành tựu. Nhưng người đời
niệm Phật tuy nhiều, song chứng Tam Muội rất ít, vì chưa
buông được muôn duyên giữ một niệm, nên tâm cùng Phật
khó dung hợp nhau. Tòa hạ đã thiết thật giữ sạch thân
tâm, lẽ nào lại không có chỗ sở đắc? Nhưng trong thơ về
mấy điểm: ỏtỏ lòng thấy tánh, thoát ly sự sống chết
và bằng cứ chứng đạo đến tayõ, cần phải đôi chút phân
biệt.
Nếu tu theo
giáo lý thông thường, dù được tỏ lòng thấy tánh, cũng
còn cách xa với sự thoát ly sống chết luân hồi, vì cảnh
giới ấy thuộc về ngộ chớ không phải chứng. Người đời
nay ngộ đạo còn rất ít, huống nữa là chứng ư? Chứng
đạo thì hoặc nghiệp mới hết sạch, gốc sanh tử đã dứt,
không còn cảm quả luân hồi. Bậc Tu Đà Hoàn bảy lần sanh
lên trời, bảy lần trở lại nhân gian, mới tiêu hết hai
món hoặc kiến, tư, chứng quả A La Hán. Ngài Thiên Thai thị
hiện ở ngũ phẩm, ngài Nam Nhạc ở ngôi Thập Tín; các bậc
Đại Sĩ ấy còn ẩn thật đức của mình, tự bảo chỉ được
địa vị nội, ngoại phàm, thì đâu phải dễ dàng khi muốn
nói chứng đạo? Song đây là ước theo giáo lý thông thường
để luận sự khó khăn về chứng đạo trong hiện đời. Nếu
cứ theo môn Tịnh Độ là pháp đặc biệt của đức Như Lai
lập ra, thì trên từ bậc Đẳng Giác dưới đến hạng tội
nặng A Tỳ, như đủ tín nguyện, đều được nương sức
từ của Phật sanh về Cực Lạc. Khi đã vãng sanh, tất sự
tỏ ngộ cùng chứng đạo dễ dàng như lượm cỏ. Một điều
hơi khác, tòa hạ chuyên tâm niệm Phật, không đề cập đến
sự vãng sanh trong lúc lâm chung, lại nói có thể nắm chắc
bằng cứ chứng đạo. Nói rằng chứng đạo cũng được,
sao lại bảo: bằng cứ đến tay? Nếu bằng cứ đến tay thì
không cần luận, thảng như không đến mới liệu làm sao?
Xét qua ý tứ trong lời nói ấy, dường như tòa hạ chỉ niệm
Phật suông, không phát lòng tín nguyện cầu sanh Cực Lạc.
Đó là lối dùng sự niệm Phật làm câu thoại đầu của
nhà tu Thiền, không đúng với tông chỉ Tín Nguyện Hạnh trong
môn Tịnh Độ. Niệm Phật không tín nguyện so với phép tu
Thiền tham câu thoại đầu tuy công đức lớn hơn, nhưng nếu
hoặc nghiệp vẫn còn, tất không được giải thoát. Lại
bởi không tín nguyện, nên không thể nương nhờ sức Phật
tiếp độ, vẫn là pháp môn tự lực thông thường, rất khó
chứng đạo. Chớ cho sự tín nguyện cầu sanh là thấp kém,
vì trên hội Hoa Nghiêm, hải chúng trong cõi Hoa Tạng đều
dùng mười đại nguyện vương để hồi hướng vãng sanh.
Hơn nữa, các bậc Bồ Tát, Tổ Sư trong tông Tịnh Độ đều
bảo phải phát lòng tín nguyện cầu sanh Cực Lạc. Sao Tòa
hạ lại lập riêng môn đình không theo thánh quy của Phật,
Tổ như thế? Và, người đã suốt tháng, suốt năm, suốt
đời niệm Phật, đâu nên không tu hạnh Lễ Kỉnh? Trong mười
đại nguyện vương, Lễ Kỉnh đứng đầu, tòa hạ bỏ việc
gì còn có thể được, quyết không nên bỏ sự lễ Phật.
Nếu chẳng lễ Phật chắc khó cảm thông, vì lẽ thân ưa
an ổn, tất thiếu trợ duyên để triển đạt hết lòng thành.
Theo phép chuyên tu của ngài Thiện Đạo thì thân chuyên lễ,
miệng chuyên xưng, ý chuyên niệm, niệm cùng cực tự nhiên
ngoài tâm không Phật, tâm Phật như nhau.
Sự chứng
đạo ấy, các lối tu chứng về tự lực không thể sánh kịp.
Về việc này, người xưa đã thí dụ như tên dân hèn kém
nương bánh xe báu của Luân Vương, một ngày có thể dạo
khắp bốn châu lớn. Vậy tòa hạ không nên đem pháp môn Niệm
Phật rất đặc biệt, tu theo đường lối tự lực về quán
hạnh thông thường. Ấn Quang tuy hèn ngu, thật chẳng dám hứa
nhận việc ấy. Nếu tòa hạ có thể dùng lòng trong sạch
không nhiễm mảy trần, phát ba tâm mà niệm Phật, thì hiện
đời sẽ thân chứng Tam Muội, sau khi mạng chung liền sanh
về thượng phẩm. Như thế, Ấn Quang xin vòng tay trước để
chúc mừng.
Kẻ ngu ngàn
việc, dùng được một điều, mong tòa hạ xét lại.
Thơ
đáp Cư Sĩ Hoàng Hàm Chi
Tiếp được
thơ, không xiết vui mừng! Tôn phu nhân kiếp trước có nhiều
căn lành, nên mới có cảm đến các hạ giúp cho được vãng
sanh, và bảo con cháu trong nhà vì người niệm Phật lâu ngày
để truy tiến. Như thế chẳng những người chết được
lợi ích, mà bao nhiêu kẻ trợ duyên cũng trồng sâu căn lành.
Ấy mới gọi là thật lòng thương xót, khác hơn tập quán
mê lầm của người đời, khi thân nhân bất hạnh liền sát
sanh để cúng tế, khiến cho vong linh kẻ chết bị câu trệ
nơi u đồ. Việc của Tôn phu nhân như thế là vẹn toàn, nhưng
còn Thái phu nhân tuổi đã tám mươi ba, các hạ nên khuyên
người sanh lòng tín nguyện niệm Phật. Song với người tuổi
đã cao, sự tu hành lại đang ở vào bước đầu, năng lực
của thân và tâm đều kém yếu, sợ e không thể niệm được
trọn ngày. Trước kia, tôi muốn đặt ra pháp thức để trợ
niệm trong lúc hiện tiền cho những người như thế, nhưng
nghĩ mãi chưa được. Một hôm, nhân thấy quan Trấn Thủ Vương
Duyệt Sơn đem mẹ và quyến thuộc đông đảo lên núi để
chiêm bái, tôi bỗng tìm được một cách trợ niệm rất hay.
Phương pháp ấy tôi đã lược thuật cho Vương Trấn Thủ,
nay cũng xin vì các hạ tỏ bày:
Quyến thuộc
của các hạ, về phần nam đều có chức nghiệp riêng, về
phần nữ như dâu, con gái cho đến kẻ nhũ mẫu thì không
việc chi cần yếu lắm. Các hạ nên bảo mấy người ấy
thay nhau ở bên Thái phu nhân, cao tiếng niệm Phật mỗi phiên
độ nửa giờ. Mỗi ngày cứ luân phiên như thế đừng cho
tiếng niệm hở dứt. Thái phu nhân có thể niệm theo vẫn
tốt, bằng không chỉ khuyên người nhiếp tâm nghe kỹ, thì
cũng được thường không rời Phật. Những người trợ niệm
chẳng mấy gì phí sức, bởi mỗi ngày bất quá chỉ một
đôi phiên là nhiều, lại gieo được nhân lành giải thoát
nữa. Các hạ nên mượn phương pháp ấy để làm tròn hiếu
đạo, dù Thái phu nhân thọ hơn trăm tuổi, cũng cứ giữ tiếp
tục y như thế, thì lợi ích không thể nghĩ bàn. Và, khi gặp
những người có tín tâm muốn thành tựu sự vãng sanh cho
cha mẹ, đều nên đem cách thức này chỉ bảo. Các hạ mắc
rộn ràng vì việc quốc chánh, không thể định thời niệm
giúp, nhưng nếu có lúc nào rỗi rảnh, cũng nên niệm một
phiên để nêu gương, khiến cho con cháu tinh tấn vui mừng.
Theo ý tôi,
làm như thế có nhiều tiện lợi. Nên đem phương pháp này
viết thành một bài phụ vào đoạn cuối của quyển Văn Sao,
để cho những người có lòng báo hiếu không đến đỗi luống
than câu: ỏMuốn trả ơn sâu, trời cao không cùng!õ
Thơ
đáp Cư Sĩ Hà Huệ Chiêu
Được thơ,
biết ngươi túc căn rất sâu, hiện hạnh lại tinh thuần nên
mới có những cảnh tượng lạ ấy. Nhưng người đời nay
phần nhiều hay ưa danh vọng, có được nửa phần một phần,
liền nói đến trăm ngàn muôn phần. Như trong quyển ký lục
của vị cư sĩ nọ, những cảnh giới của y đều do tự ý
vẽ vời ra khác hẳn với sự thật. Ngươi đã không nói dối,
nhưng e hoặc khi có tập quán đó thì lầm lỗi rất nhiều!
Đức Phật đem tội nói dối liệt vào trong năm giới căn
bản, chính là để phòng ngừa mối tệ ấy. Như về việc
thường, không thấy nghe nói thấy nghe, tội hãy còn nhẹ.
Nếu cố ý muốn xây dựng lâu các giữa hư không, dối nói
những cảnh giới nhiệm mầu, chưa chứng đắc bảo rằng
chứng đắc, tức là đại vọng ngữ, tội này nặng hơn giết,
trộm, dâm trăm ngàn muôn ức lần. Người đã phạm, nếu
không hết sức sám hối, tất sẽ bị đọa vào ngục A Tỳ,
vì lời nói ấy làm cho chúng sanh nghi lầm, có thể phá hoại
Phật Pháp. Vậy ngươi cần phải thận trọng với những cảnh
đã thấy, chớ nên nói thêm bớt một mảy ly. Nếu thêm bớt
tức là có lỗi, vì bậc tri thức chưa chứng được tha tâm
đạo nhãn, chỉ dùng lời nói làm bằng cớ để phán đoán
mà thôi. Đem những cảnh giới như thế tỏ với bậc trí
thức để cầu quyết trạch sự chơn, giả, chánh, tà, thì
không lỗi. Nếu không vì việc chứng minh quyết trạch, ý
muốn tự khoe cũng có lỗi. Lại, chỉ nên tỏ cùng bậc tri
thức cầu xin chứng minh, ngoài ra chớ nên nói với ai, nếu
lộ bày thì có hại, vì về sau không còn được thấy cảnh
giới ấy nữa. Đây là điều quan hệ thứ nhất của người
tu hành, mà trong Thai giáo thường nói đến. Cho nên người
niệm Phật đời nay phần nhiều hay bị ma dựa, đều do dùng
tâm vọng động mong được những cảnh lạ thường. Đừng
nói cảnh ấy là ma, dù có thắng cảnh, nếu sanh lòng vui mừng
tham trước cũng bị tổn hại, huống chi vị tất quả thật
là thắng cảnh ư? Nếu người có công hàm dưỡng, dứt hẳn
tâm vọng động, khi thấy các cảnh giới, không vui mừng,
tham trước, sợ hãi, nghi ngờ, thì dù gặp ma cảnh cũng được
lợi ích, nói gì là cảnh nhiệm mầu? Sở dĩ được như thế,
là bởi không bị ma chuyển nên có thể tiến triển thêm.
Những điều trên đây ta ít hay đem nói với người, nay nhân
vì ngươi có việc ấy nên phải dẫn bày chỉ rõ.
Trước tiên,
ngươi lễ Phật, bỗng thấy tượng Quán Âm Đại Sĩ hiện
ra là không đích xác. Nếu quả đúng cảnh Phật thì không
đến đỗi nhân khi suy nghĩ: ỏTượng cùng Quán Kinh không
hợpõ, liền ẩn hình. Nhưng do đó lòng tin của ngươi càng
tha thiết, thì cũng là nhân duyên tốt. Song chẳng nên thường
muốn thấy hình tượng, chỉ thành tâm lễ bái mà thôi. Như
thế mới khỏi lo có sự rủi ro khác.
Khi ngươi
sắp ngủ, thấy trước mắt có ánh sáng trắng và lúc lễ
Phật, thấy hình Phật đứng lơ lửng giữa hư không, tuy thuộc
về cảnh tốt, song chớ nên tham trước mong cầu, vì nếu
thế, về sau cảnh ấy không còn hiện nữa. Xem căn tánh của
ngươi dường như kiếp trước đã từng tu tập thiền định,
nên mới thường có những tướng ấy. Đời nhà Minh, ông
Ngu Thuần Hi tịnh tu ở núi Thiên Mục, chỗ tử quan của Cao
Phong Diệu Thiền Sư thuở xưa, lâu ngày tự biết việc quá
khứ vị lai, hay nói trước những cơn mưa nắng và sự họa
phước của người. Liên Trì Đại Sư nghe được việc ấy,
gửi thơ cực lực bài xích, cho rằng đó là lưới ma. Thuần
Hi tỉnh ngộ, quả nhiên về sau không còn đoán trước được
nữa. Cho nên người học đạo phải để tâm lo việc lớn,
nếu chẳng thế tất sẽ bị việc nhỏ làm tổn hại. Đừng
nói chi những cảnh giới ấy, dù cho được ngũ thông cũng
phải gác bỏ bên ngoài, mới có thể chứng lậu tận thông.
Nếu một bề tham trước thì công phu khó tiến, hoặc có khi
thối lui, điều nầy cần phải biết.
Ngươi nằm
mơ thấy vào điện Phật, nhớ hai câu kinh, cũng thuộc về
cảnh lành. Song hai câu ấy nghĩa lý rất rõ ràng không chi
khó. ỏPhản hư y giác lộ. Quy chơn ngộ thường khôngõ (Bỏ
giả theo đường giác. Về chơn ngộ thường không), là ý
nói: Chúng sanh vì nhận lầm sự vật giữa đời đều có
thật, nên mới mê man xoay vần trong nẻo luân hồi. Nếu có
thể quán sát biết sự vật đương thể vốn không, thì liền
ra khỏi lối mê, nương theo đường giác, trở về bản tánh,
ngộ được lý thật tướng, chơn không, chơn thường. Hai
câu ấy chưa thấy ở đâu, cũng có khi đó là câu văn đã
ghi nhớ đời trước, chưa chắc chính thực văn kinh. Muốn
phân biệt ma cảnh hay thánh cảnh, phải xét lại cảnh ấy
xem có hợp với lời dạy trong kinh chăng? Và như quả là thánh
cảnh, thì khiến cho người khi trông thấy tâm liền thanh tịnh,
không vọng động chấp trước; nếu là ma cảnh thì tâm liền
vọng động chấp trước không được thanh tịnh. Lại nữa,
quang minh của Phật tuy sáng ngời song không làm xót con mắt,
nếu không đúng thế, tức là ma trá hình. Khi Phật hiện,
dùng lý: ỏcác tướng hữu vi, đều là giả dốiõ mà gạn,
thì càng hiện rõ. Nếu ma trá hiện, dùng lý ấy xét gạn
thì liền ẩn hình. Đây là phương châm rất vững chắc để
khán nghiệm sự chơn giả vậy. Ban đêm, ngươi thấy ánh sáng
trắng và cảnh trong ngời giữa hư không đó là do tâm thanh
tịnh hiện ra, đâu nên cho là tướng pháp giới tịch chiếu
không hai? Nếu nghĩ như thế là đem phàm lạm thánh, tội lỗi
chẳng ít. Người tu tịnh nghiệp như chẳng lấy các cảnh
giới làm mong cầu, thì cũng không có hiện cảnh chi nhiều.
Nếu trong lòng chuyên muốn thấy cảnh, tất cảnh giới hiện
ra phức tạp. Lúc ấy, như không khéo dụng tâm, hoặc có khi
bị tổn hại, phải để ý nhớ kỹ điều này.
Pháp môn
Tịnh Độ dùng Tín, Nguyện, Hạnh làm tông. Có tín nguyện,
không luận công hạnh nhiều ít, cạn sâu, đều được vãng
sanh. Không tín nguyện, dù cho tu đến cảnh quên cả năng sở,
thoát hẳn căn trần, cũng khó hy vọng được về Cực Lạc.
Bởi vì, nếu quả chứng được thật lý của cảnh ấy, có
thể dùng tự lực để thoát sanh tử, thì không cần luận.
Như chỉ có công phu dẹp trừ vọng chấp tỏ thấy lý ấy,
chưa được thật chứng, tất nhiên khó vãng sanh khi thiếu
Tín Nguyện. Nhà tham thiền khi bàn luận Tịnh Độ, đều bỏ
tín nguyện đem về tông thiền. Như y theo đó mà tu, cũng có
thể khai ngộ, nhưng nói đến sự thoát sanh tử, e cho mộng
tưởng không thành, bởi vì chưa dứt hoặc nghiệp. Nên biết
phàm phu được về Tịnh Độ, đều do lòng tín nguyện cảm
Phật, nên nương nhờ từ lực, đới nghiệp vãng sanh. Nếu
không phát tín nguyện, lại dẫn câu niệm Phật đem về tự
tâm, thì làm sao cảm được Phật? Đạo cảm ứng đã không
hợp, tất chúng sanh cùng Phật riêng cách, dùng môn hoành siêu
làm pháp thụ xuất, sự lợi ích cạn mà tổn thất lại sâu.
Lợi ích, là tu y theo nhà Thiền nói, cũng có thể tỏ ngộ;
tổn thất, là bỏ tín nguyện nên không được tiếp dẫn
vãng sanh. Vì thế người chơn thật tu Tịnh Độ không dùng
được lời khai thị của nhà tu Thiền, bởi pháp môn và tông
chỉ đều riêng khác.
Vậy ngươi
nên xét kỹ lại. Như chẳng cho lời ta là phải, thì cứ thỉnh
cầu nơi bậc đại thông gia, hoặc may có thể hợp với tâm
chí của ngươi. Về việc ấy, Ấn Quang này vẫn không chấp
trước chi cả.
Thơ
đáp Cư Sĩ Úc Trí Lãng
Về việc
của Phước Tuấn, nếu khi còn sống cho đến lúc chết, quả
có những sự thật y theo lời ngươi nói, thì quyết định
được vãng sanh. Thuở bình thời, Phước Tuấn đã nhận rõ
sắc thân là huyễn, điều ấy rất có lợi ích. Bởi người
nữ thường hay yêu mến thân giả dối, ưa đua đòi theo sự
điểm trang, nay đã không có niệm ấy, tự nhiên đối với
môn Tịnh Độ dễ được tương ưng. Khi lâm chung gầy yếu
và bệnh khổ, đó là nghiệp chướng trong nhiều kiếp, do
công siêng tu tịnh nghiệp nên phát hiện để chuyển hậu
báo làm hiện báo, đổi quả nặng thành nhẹ thế thôi. Ngươi
bảo: bởi tu trì tinh tiến nên thân thể ngày một yếu gầy,
lời ấy không đúng, lại thêm có lỗi khiến cho những người
lòng tin cạn cợt nhân đó biếng trễ sự tu hành. Phải biết
người niệm Phật quyết định có thể tiêu trừ nghiệp chướng,
nếu
nghiệp hiện, đó là đổi ác báo sẽ đọa tam đồ thành
cơn bệnh khổ hiện tại để trả cho xong. Kinh Kim Cang nói:
Người thọ trì kinh nầy do bị khinh rẻ nên dứt được sự
khổ nhiều kiếp trong tam đồ. Thế thì nhân Phước Tuấn
sắp sanh Tây Phương nên hiện ra sự khổ nhỏ ấy để tiêu
trừ ác báo từ vô lượng kiếp đến nay, thật là điều
hân hạnh rất lớn. Ngươi chớ nên học theo những người
kém hiểu biết, cho rằng: Nhân tu trì mà thành bệnh rồi chết.
Người niệm Phật thuở bình thường có tín nguyện chơn thiết,
không một ai chẳng được vãng sanh. Phước Tuấn lúc lâm
chung chánh niệm rõ ràng, có những tướng trạng hỏi han,
đảnh lễ, sau khi chết thân thể mềm dịu, sạch sẽ, nhan
sắc như sống, thì đâu nên nhìn vào công tu cạn cợt mà
nghi ngờ? Theo lời nguyện của đức A Di Đà, chí tâm trong
mười niệm cũng được độ, huống chi Phước Tuấn tinh tiến
tu trì đã ba năm, lại còn nghi ngại gì? Duy những người
ý chí thấp kém, tuy thường niệm Phật song chẳng cầu vãng
sanh, chỉ mong phước báo nhân thiên; hạng ấy dù trót đời
tu hành cũng chỉ hưởng được si phước nơi kiếp sau mà
thôi. Nếu kẻ có chánh tín, tự biết dùng lòng tín nguyện
cảm Phật, quyết được sức từ bi nhiếp thọ, đạo cảm
ứng thông nhau, sẽ nương Phật lực đới nghiệp sanh về
Cực Lạc. Thế thì cần chi hỏi thấy Phật cùng không, mới
có thể phán đoán?
Người niệm
Phật trước khi lâm chung, như có thể tự tắm gội thay y
phục thì rất tốt. Nếu không tự làm được thì thôi, người
ngoài quyết chẳng nên thay thế dự bị tắm gội đổi y phục,
vì có thể khiến cho kẻ sắp chết khó nhẫn sự đau đớn
đến mất chánh niệm. Ngươi chớ vì việc Phước Tuấn chưa
kịp mặc pháp y và ngồi kiết già mà tiếc buồn. Phải biết
lúc ấy chỉ nên đồng thanh niệm Phật để giúp sức, quyết
không được bày vẽ việc gì khác. Nếu một mặt ưa phô
bày, tất thành ra cảnh té giếng bị đá rơi theo, rất có
hại cho sự vãng sanh. Điều này phải ghi nhớ kỹ.
Lệnh từ
tuổi cũng đã cao, nếu ta chẳng nói rõ sự lầm lạc trên
đây, e lần sau ngươi dùng lòng hiếu thảo trở lại làm ngại
sự vãng sanh của mẹ, khiến cho người nhiều kiếp bị luân
hồi không được giải thoát. Vậy chỉ nên trọng sự thật,
chớ khoe hình thức bên ngoài. Lời ký lục của ngươi, văn
nghĩa xem cũng gọn, không cần phải nhờ người viết thành
bài để truyền bá, vì đó cũng thuộc về việc phù phiếm
của thế gian. Ngươi chỉ nên sách tấn mình và quyến thuộc
cố gắng niệm Phật, để được đồng sanh Tây Phương là
tốt. Sớm chiều trong hai thời khóa, ta cũng đọc danh hiệu
của Phước Tuấn hồi hướng trong một thất, để cho trọn
nghĩa thầy trò. Phước Tuấn vãng sanh phen này, có thể gọi
là chẳng sống suông chết uổng, rất hân hạnh! Đến như
việc y theo lời di chúc, lấy xương tán mạt làm hoàn để
thí cho loài thủy tộc, cũng là điều tốt, nhưng lưu ý cẩn
thận hơn. Phải đem xương nghiền thành phấn; dùng rây lụa
nhỏ rây lọc, làm như bột nhuyễn mới được. Nếu thô tháo
nghiền sơ qua, rồi hòa với bột làm hoàn, e cho loài cá nhỏ
ăn vào phải bị nghẹn vướng. Ta sợ ngươi làm không kỹ,
nên ta phải dặn trước.
Thơ
đáp một vị Cư Sĩ
Bệnh cùng
ma đều do túc nghiệp gây ra. Ngươi chỉ tha thiết chí thành
niệm Phật, tự nhiên bệnh sẽ lành, ma cũng xa lánh. Nếu
ngươi niệm không chí thành, hoặc khởi những niệm tà dâm
bất chánh, thì tâm trạng chìm trong cảnh tối tăm, tất khó
khỏi bị ma quỉ khuấy nhiễu. Sau mỗi thời niệm Phật, ngươi
nên hồi hướng cầu cho tất cả oan gia đời trước đều
được nhờ công đức ấy sanh về cõi lành. Ngoài ra, không
nên nghĩ tưởng gì khác. Ma có la lối khuấy nhiễu, chớ kinh
sợ; không khuấy nhiễu cũng chẳng được sanh tâm vui mừng,
chỉ nên chí thành khẩn thiết niệm Phật mà thôi. Như thế
tự nhiên nghiệp chướng sẽ lần tiêu và phước huệ thêm
lớn.
Đến như
sự duyệt kinh, chớ nên bắt chước theo thói tệ cẩu thả
không cung kính của người đời nay, mà phải xem như Phật,
Tổ, thánh hiền giáng lâm, mới có thật ích. Ngươi giữ được
như thế, thì tấm lòng sẽ quang minh chánh đại, ma quỉ tà
thần kia không còn chỗ dung thân. Nếu tâm ngươi trước đã
tà vạy, tất chiêu cảm đến loài tà, đâu có thể khiến
được ma quỉ lánh xa không khuấy nhiễu.
Về tha tâm
thông, quỉ thần tuy có, song nhỏ hẹp và cạn gần. Nếu là
bậc nghiệp hết tình không, thì cõi lòng như gương sáng trên
đài, muôn hình đều hiện rõ. Ngươi không chí tâm niệm Phật
mà muốn tìm hiểu chân tướng của việc ấy, đâu biết đó
là gieo hột giống ma! Như gương báu sở dĩ có công năng chiếu
suốt xa gần, là vì tự thể nó trong sáng không vướng một
điểm bụi. Tấm lòng của ngươi bị nghiệp hoặc ngăn che,
mà muốn được công dụng như thế, có khác nào như gương
mờ lại bị bụi lấp, làm sao phát ánh sáng? Dù có, cũng
là yêu quang, không phải ánh sáng chân thật.
Nhưng thôi,
hãy gác việc ấy lại. Với hiện cảnh của ngươi, phải
chí tâm niệm Phật như bị nạn nước lửa, như cứu cháy
đầu, thì tất cả ma nghiệp đều tiêu.
Thơ
đáp Cư Sĩ Châu Mạnh Do (1 - 10)
1
Từ thân
của ngươi tuổi đã cao, đối với pháp môn Tịnh Độ chưa
có thể nhận chân mà tu trì. Nên thường đem nỗi khổ trong
sáu nẻo luân hồi, sự vui ở cõi Cực Lạc và những lẽ
siêu thăng khó, sa đọa rất dễ, giảng nói cho người nghe.
Nếu chẳng được về Tây Phương, đừng nói là ở cõi người
không đủ trông cậy, dù sanh lên cõi trời hưởng sự vui
vẻ lâu dài, một khi phước lực đã hết, vẫn trở lại
đọa xuống nhân gian và ba đường ác mà chịu khổ. Nếu
không biết Phật Pháp thì cũng đành vậy, nay đã được hiểu
Phật Pháp đâu nên đem sự lợi ích lớn lao ấy nhường cho
người? Và đâu nỡ tự mình cam chịu chìm nổi mãi trong biển
khổ luân hồi, không mong ngày giải thoát ư? Ngươi nên thường
giảng nói như thế, may ra có thể khiến cho lệnh từ phát
được căn lành đời trước, tin chịu tu hành. Bồ Tát ra
đời độ sanh đều thuận theo cơ nghi, trước tùy sở dục
mà dắt dẫn, sau khiến cho vào trí Phật. Nếu ngươi có thể
gắng tu hiếu đạo và đem pháp môn Tịnh Độ khuyên dẫn
trong hàng quyến thuộc cùng tất cả người hữu duyên, để
đồng làm bạn tốt nơi Liên Trì, thì công đức lớn lắm?
2
Người đời
khi có bệnh hoặc gặp những sự nguy hiểm tai nạn, thường
thường không biết niệm Phật làm lành, lại lầm lạc muốn
cầu cứu với quỉ thần. Do đó nên giết hại sanh mạng gây
thêm tội nghiệp, thật rất đáng thương! Bệnh khổ cùng
những tai họa, phần nhiều đều do nghiệp đời trước gây
ra; nếu niệm Phật, sám hối, làm lành, thì tội chướng sẽ
tiêu, bệnh được mau mạnh. Loại quỉ thần kia chính họ
hãy còn ở trong biển nghiệp, đâu có thể khiến cho người
tiêu nghiệp? Dù cho hạng chánh thần có oai lực lớn chăng
nữa, oai lực ấy so với thần lực của Phật, Bồ Tát chẳng
khác chi lửa đom đóm sánh cùng ánh sáng mặt trời! Người
Phật tử không chịu nương tựa Phật, Bồ Tát, trở lại
cầu cứu với quỉ thần, đó là tà kiến.
Tất cả
chúng sanh đều là cha mẹ đời quá khứ và chư Phật đời
vị lai, nên thương xót hộ trì. Chớ noi theo tập tục sai
lầm, mặc ý giết hại, rồi bảo rằng: phải cần có thức
ngon bảo để phụng dưỡng song thân mới là đạo hiếu. Người
chưa hiểu Phật Pháp, không biết sự lý luân hồi, nên mê
mờ lầm lạc chẳng nói làm chi. Nếu kẻ đã nghe Phật Pháp,
mà còn giết hại cha mẹ đời trước để phụng dưỡng cha
mẹ đời nầy và dùng huyết nhục làm nhu cầu cho sự tang
tế, chẳng những không phải hiếu thuận, lại chính là ngỗ
nghịch vậy. Cho nên những bậc thông đạt, khi nghe được
nghĩa chân thật của đạo Phật, đều không chịu làm theo
quyền pháp ở đời, bởi pháp quyền tạm ấy do chiều thuận
theo mê tình của thế gian mà lập, không phải là đạo lý
thông suốt nhân quả ba đời của Như Lai. Nếu các người
muốn nhận thức sâu hơn, hãy xem những bài ỏgiới sátõ
trong quyển Văn Sao của ta sẽ tự rõ.
3
Người niệm
Phật khi có bệnh, phải một lòng đợi chết, nếu thọ mạng
chưa dứt, sẽ được an lành. Vì khi buông cả toàn thân mà
niệm Phật, thì nghiệp chướng tiêu rất mau, nghiệp tiêu
tất nhiên bệnh được lành mạnh. Nếu chẳng buông bỏ muôn
duyên, chỉ mong mau lành mạnh, thảng như bệnh không hết,
thì phần vãng sanh sẽ phải mất, bởi vì không có tâm nguyện
cầu sanh. Như không hiểu rõ đạo lý này, đâu có thể nhờ
từ lực của Phật tiếp dẫn ư? Về bệnh căn của lệnh
từ, các ngươi nên khuyên người buông bỏ tất cả để cầu
vãng sanh. Như thọ mạng chưa dứt, thì cầu vãng sanh trái
lại mau bình phục, vì do dùng tâm chí thành, nên được nhờ
sức Phật gia bị.
Ngươi nên
đem lời lẽ trên đây mà khuyên nhủ từ thân, đừng học
theo thường tình, nói những điều không lợi ích.
4
Tiếp được
thơ, biết lệnh từ chưa thật phát tâm cầu sanh Cực Lạc.
Hiện thời người còn đang trong cơn bệnh, thôi hãy tạm hoãn
đừng đề cập đến việc ấy. Chỉ nên khuyên người chí
thành niệm Phật, để được nhờ từ lực gia bị, khiến
cho thân tâm an vui. Đợi đến khi lệnh từ khỏe lại rồi,
sẽ dùng lời lẽ khéo léo dẫn giải rành rẽ, làm cho người
thật phát tâm cầu sanh thì mới có lợi ích. Nhờ ngươi chuyển
lời cùng lệnh từ, nói ta thăm người được an lành. Và
nên nói lại rằng: ta khuyên người buông cả muôn duyên một
lòng niệm Phật, đó là điều cần yếu để tự cứu độ.
Ngoài ra việc chi khác, để phần con cháu lo, nếu còn nghĩ
tưởng đến, tức là có hại cho công phu niệm Phật của
mình vậy.
5
Châu Quần
Tranh xem rõ:
Lệnh từ
hiện đang có bệnh, quyết không nên đi vắng trong lúc người
chưa lành. Nhưng ta xem tình trạng, e người chẳng hưởng thọ
được lâu. Vậy phải dùng Mạnh Do và Trí Chiêu mỗi ngày
thay phiên nhau ở bên giường bệnh mà niệm Phật, khiến cho
người niệm theo, nếu không thể niệm thì khuyên người yên
lặng lắng nghe cũng được. Làm như thế, nếu lệnh từ thọ
mạng đã hết, quyết định sẽ vãng sanh, như số phần chưa
mãn, cũng được tiêu trừ nghiệp chướng thêm lớn căn lành.
Về phần
ngươi, nên đổi ý định lên núi Phổ Đà bằng cách vâng
theo lời ta mà thực hành là tốt hơn. Như thế mới lưỡng
toàn không hại. Hiện thời từ thân của ngươi bệnh chưa
mạnh, rất không nên phát tâm nguyện xuất gia, nếu phát thì
đối với đời và đạo đều thành trái nghịch. Người sắp
mạng chung, như được trợ niệm, chắc có phần vãng sanh;
nếu thiếu trợ niệm, hoặc dùng sự khóc lóc làm phát động
những niệm tình ái giận hờn, thì khó khỏi đọa lạc. Điều
này rất quan hệ, nguy hiểm, nên nhớ kỹ. Nếu ngươi có thành
tựu sự vãng sanh cho mẹ, đó cũng là chánh nhân tịnh nghiệp
của chư Phật trong ba đời. Và đó chính là làm Phật sự
giữa trần lao, công đức ấy sánh với việc làm tầm thường,
muôn phần rộng lớn. Phải bàn tính với Mạnh Do, thực hành
phương pháp trợ niệm, và khuyên lệnh từ nên nghe theo những
lời của ta. Đến như việc vì mẹ giảng giải Phật Pháp,
vẫn là điều rất hay, nhưng sự định tỉnh cùng an ủi cũng
nên nhiều phần để ý.
6
Lệnh từ
phát nguyện gởi tiền cho ta để tùy ý làm các việc công
đức và giúp phần ấn loát bộ Văn Sao. Theo ý ta, làm việc
công đức phải lấy sự mở mang trí thức của người làm
điều cần yếu, nên ta định đem số tiền ấy in quyển Quán
Âm Tụng để phổ biến khắp xa gần. Việc nầy có mục đích
khiến cho mọi người được biết đức Quán Âm Đại Sĩ
là đấng nương tựa của chúng sanh trong pháp giới. Đại
Sĩ tùy loại hiện thân, tìm tiếng cứu khổ, và phụ giúp
đức A Di Đà tiếp dẫn người niệm Phật sanh về Cực Lạc.
Hiện nay nhân loại đang ở trong đường hoạn nạn, không
biết phương pháp chi phòng ngừa, nếu mọi người được
xem quyển sách ấy, sẽ cảm ân đức của Đại Sĩ, muốn
nhờ oai lực của Ngài để thoát khỏi tai họa. Và, một khi
đã phát tâm tín ngưỡng nương tựa nơi Đại Sĩ, tất sẽ
giữ lòng từ thiện sửa lỗi làm lành, để mong cho được
cảm thông với Ngài mà nhờ sự chở che giúp đỡ. Cõi đời
chẳng yên, vì lòng người hiểm ác, nếu mọi người đều
ngưỡng mộ đức từ bi của Đại Sĩ thì thế giới lần
lần chuyển ra cảnh vui vẻ thanh bình. Cho nên quyển sách này
nếu được lưu thông, sự lợi ích sẽ vô cùng, sánh với
các loại sách hữu ích tạm thời, thật cách nhau rất xa.
Hơn nữa lệnh từ cũng nương nhờ công đức ấy, tiêu tội
nghiệp, thêm phước huệ, khi sống được an vui, lúc chết
sanh về Cực Lạc. Đến như quyển Văn Sao, mọi người xem
rồi phát tâm làm lành niệm Phật rất nhiều, ở đây không
thể nói hết.
7
Lệnh từ
vì sao bệnh không được lành? Âu là do túc nghiệp gây ra,
khiến đổi quả nặng thành nhẹ, chuyển hậu báo làm hiện
báo, để trả cho xong tất cả đó chăng? Thuở xưa, Huyền
Trang Pháp Sư khi lâm chung cũng bị chút ít bệnh khổ, Ngài
nghi ngờ cho những kinh mình phiên dịch hoặc có chỗ sai lầm.
Đang khi suy nghĩ như thế, thoạt thấy một vị Bồ Tát an
ủi rằng: ỏDo sự khổ nhỏ nầy, tội báo kiếp trước của
ông đều được tiêu diệt, chớ đem lòng hoài nghi.õ Vậy
ngươi hãy đem duyên sự này an ủi lệnh từ, khuyên người
nên vui mừng, chớ sanh lòng buồn giận. Như thế, quyết định
có thể nhờ Phật gia bị, thọ mạng chưa dứt sẽ mau an lành,
số phần đã mãn được sanh về Cực Lạc. Con người trong
cơn bệnh khổ, nên tưởng thối lui một bước, sẽ thấy
an vui không cùng! Gần đây binh lửa liên miên, chúng ta may
mắn chưa gặp tai nạn ấy, dù bị bệnh khổ còn có thể
nhân đó tự thức tỉnh để tìm đường giải thoát. Trong
trường hợp ấy chỉ nên cảm khích chuyên tu, tự nhiên sẽ
được lợi ích. Thế chẳng hơn là oán trời trách người
để gây thêm tội nghiệp cho mình ư? Nên khuyên thân mẫu
ngươi đừng ôm lòng oán trách, gắng định tâm niệm Phật
thì nghiệp tiêu mau như tuyết gặp nước sôi.
Ta từ khi
trở về núi, mỗi ngày trong thời khóa tụng đều có hồi
hướng cầu nguyện Tam Bảo gia bị cho lệnh từ, nếu thọ
mạng chưa dứt, được mau an lành, như số phần đã mãn,
sớm sanh về Tịnh Độ.
8
Tiếp được
thơ, biết lệnh từ đã niệm Phật vãng sanh vào ngày mùng
hai. Là đệ tử Phật, các ngươi phải y theo Phật Pháp khiến
cho thần thức của từ thân được lợi lạc, chẳng nên quá
buồn thương, thành ra kẻ còn người mất đều luống vô
ích. Đến như việc tang tế phải dùng toàn đồ chay, chớ
nên tùy theo tập tục. Dù có những người không hiểu Phật
Pháp, bài xích nói là sai quấy, cũng mặc cho họ chê cười.
Trong đám táng không nên quá phô trương bày vẽ, và làm Phật
sự chỉ nên niệm Phật mà thôi. Anh em ngươi phải đốc xuất
người nhà đều khẩn thiết niệm Phật, thì thần thức của
lệnh từ, cả trong gia quyến, cho đến bà con bè bạn, sẽ
được sự lợi ích, chân thật. Nếu tài lực có dư, cũng
nên làm các điều công đức; như sự độ dụng vừa đủ,
chỉ lo xong việc táng là được. Chớ nên làm quá long trọng,
để rồi sau phải thiếu thốn là điều không hay.
9
Được thơ,
thấy lệnh từ khi lâm chung rất tốt. Đó âu cũng là sự
hiệu nghiệm do căn lành bản nguyện của người, và công
trợ niệm của anh em ngươi cùng trong quyến thuộc. Thuở bình
sanh, con người có thể che giấu các việc, duy lúc sắp chết
quyết không thể giả dối. Lệnh từ đã không lòng ái luyến,
có sắc vui tươi ngồi yên mà qua đời, nếu tịnh nghiệp
chẳng thành thục, đâu được như thế ư? Mong anh em ngươi
và toàn gia quyến nên niệm Phật để truy tiến. Như thế
chẳng những thân mẫu các ngươi được lợi ích, mà công
đức niệm Phật của chính mình lại càng lớn thêm. Đức
Phật đã dạy: ỏKhi tụng kinh, trì chú, niệm Phật hoặc
làm các công đức, nên hồi hướng cho pháp giới chúng sanh.õ
Lúc bình thời còn vì chúng sanh không can thiệp chi đến mình
mà hồi hướng, huống chi mẹ mất đâu nỡ chẳng hết lòng
niệm Phật cầu nguyện cho người ư? Nếu có thể vì chúng
sanh hồi hướng, tức là hợp với thệ nguyện bồ đề của
chư Phật, như đem một giọt nước gieo vào biển thì giọt
nước ấy đồng sự sâu rộng như biển cả. Như chưa được
dung hợp cùng biển, đừng nói một giọt nước, dù cho sông
dài hồ rộng, đối với biển vẫn cách biệt như đất với
trời. Thế thì, khi đem công đức hồi thí cho cha mẹ và tất
cả chúng sanh, chính là bồi cội phước cho mình. Biết được
nghĩa này, người hiếu thảo lòng hiếu càng tăng thêm, kẻ
kém hiếu tâm cũng phát lòng thảo thuận.
Thỉnh chúng
tăng tụng niệm trong bảy tuần thất, việc ấy rất tốt,
nhưng khi đó anh em các ngươi cũng phải có người đồng tụng
niệm theo. Những phụ nữ trong nhà bất tất phải theo thứ
lớp đứng sau chư tăng mà tụng niệm, vì e lâu ngày thân
thiện nhau, sẽ gây mối hiềm nghi cho người ngoài. Hàng phụ
nữ nếu có tụng niệm, nên ở sau màn hoặc lập riêng một
chỗ khác, các cửa ra vào hai bên đều không thấy nhau. Đó
là nêu khuôn phép và mở thông nghi thức cho người trong hương
ấp. Nếu thờ ơ không phân giới hạn, kẻ khác sẽ bắt chước
theo, về sau sanh mối tệ. Cách lập pháp của người xưa,
dù bậc thượng thượng cũng lấy pháp thức của kẻ hạ
hạ mà làm phạm vi, nên không có sự tệ hại. Nếu các ngươi
có thể y như thế vì mẹ niệm Phật, lại kiêm ấn thí các
quyển Quán Âm Tụng, Văn Sao, thì chẳng những khiến cho từ
thân phẩm sen thêm cao, mà ông bà cho đến thân phụ các ngươi
cũng được đồng nhờ pháp lợi, siêu sanh Cực Lạc. Mấy
điều ta nói vẫn căn cứ đúng theo tình lý, không phải là
những lời bông lông cốt để vừa lòng đẹp ý các ngươi
đâu!
10
Về phép
hỏa táng, thuở đời Đường, Tống, Phật Pháp còn thạnh,
người tại gia phần nhiều cũng có dùng. Nhưng hiện thời,
nên theo thông tục mà chôn cất, vì e có chấp nê sanh ra nhiều
điều nghị luận. Thật ra thì thiêu hóa thi hài mau tiêu tan
hơn, và qua bốn mươi chín ngày thiêu hóa lại càng ổn tiện.
Còn chôn cất, hoặc khi lâu năm hài cốt bị bộc lộ. Tang
chế ba năm không làm lễ nhạc, điều ấy vẫn nên tuân giữ.
Đời nay luân thường hiếu đạo bị gác bỏ một bên, phép
tắc giữ gìn trong kỳ tang chế còn đáng chi để luận bàn?!
Tuy nhiên, cũng nên nương theo lễ giáo xưa châm chước mà
làm, đừng vội sửa đổi hoặc quá nê chấp. Cách dò thăm
hơi nóng để nhận định thần thức thác sanh về cõi nào,
thật đáng y cứ. Nhưng ta sợ những kẻ không biết, cứ mãi
thăm dò, nên ý nói: ỏngười đủ tín nguyện, khi lâm chung
chánh niệm rõ ràng, thì có thể vãng sanh, chẳng cần phải
y theo một lệ, lấy sự lạnh nóng làm bằng cứ.õ Điều
này cần nên để ý, vì nếu cứ rờ thăm hơi nóng, e phát
động đến tâm luyến ái, giận hờn của người sắp chết,
làm cho hỏng mất sự vãng sanh.
Những thuyết
ỏthai sanh, nghi thànhõ trong Kinh Đại Bảo Tích, nơi pháp hội
của đức Vô Lượng Thọ Như Lai nói, là chỉ cho người niệm
Phật đọa vào lỗi hối hận, nghi ngờ. Đây chính là ước
theo nghĩa bị ngăn che, cách ngại, mà lập tên ỏthai sanh,
nghi thànhõ, vì bị ở trong hoa sen năm trăm năm không được
thấy Phật nghe pháp, chớ đâu phải có sự thật? Sao lại
cứ chấp chặt theo chữ mà giải nghĩa, cho rằng hạng người
ấy không thuộc vào chín phẩm sen? Nên biết ở Tây Phương
không có thai sanh cũng không thành quách, đó là ước theo nghĩa:
không được liền ra khỏi liên bào, bị cách ngăn với Phật,
để thí dụ cho thai và thành thế thôi? Bởi ngươi chấp định
danh từ nên mới cho là ngoài chín phẩm, nếu quả vậy thì
bậc hạ trung cùng hạ hạ bị ngăn cách sáu kiếp và mười
hai kiếp thai và thành lại càng dầy đặc biết bao nhiêu?
Mười hai kiếp kia còn thuộc về chín phẩm, huống nữa là
chỉ có năm trăm năm đó ư? Sao ngươi không xem tiếp tám chữ:
ỏở trong hoa sen không được xuất hiện...õ hoa sen ấy không
liệt vào sen chín phẩm hay sao?
Phật Pháp
nghĩa rộng vô cùng, nếu chấp định thì không việc sanh việc,
thành ra phí hết bút mực thôi. Đó đều bởi tự mình để
chân vào trong thành nghi, thành ấy còn dầy hơn ngục Thiết
Vi nữa. Nếu hiểu biết rõ ràng, tự nhiên cõi đất lặng
chìm, ngục Thiết Vi tiêu tan mất cả. Thầy Mạnh Tử nói:
ỏDùng ý nghịch chí, đó gọi là đượcõ; chữ nghịch đây
cũng là nghi thành. Nếu biết nghịch tức là ý nghĩa nghinh
hiệp, thì nghi thành sẽ rã tan. Một hạng người vì cố chấp,
nên tuy giảng nói, trọn ngày vẫn ở trong vòng mâu thuẫn.
Đó là bởi căn bệnh chấp trước chưa tiêu, thành ra khó
được sự lợi ích thiết thực.
Thơ
đáp Cư Sĩ Cừu Bội Khanh (1 - 2)
1
Sự nóng
giận như thế là do tập tánh từ kiếp trước. Nay các hạ
đã biết nó chỉ vô ích, lại thêm có hại, thì đối với
tất cả việc trái ý đều nên dùng độ lượng rộng rãi
như trời biển mà bao dung. Đó là phương pháp dùng lòng quảng
đại để chuyển biến tánh hẹp hòi. Nếu không đối trị
thì tập tánh giận hờn càng ngày càng tăng thêm, sự tai hại
không phải ít.
Đến như
niệm Phật, phải tùy nơi tinh thần sức khỏe của mình mà
niệm ra tiếng lớn, nhỏ, niệm thầm, hoặc niệm theo lối
Kim Cang (chỉ sẽ động môi, niệm có tiếng nhưng người ngoài
không nghe được), sao lại quá dùng sức để cho mang bệnh
ư? Tâm quá mãnh liệt ấy cũng còn lỗi dục tốc đó! Nay
đã không niệm ra tiếng được, cũng có thể niệm thầm trong
tâm, sao lại chỉ hạn có mười niệm? Vả lại, khi bệnh
nằm nơi giường, tấm lòng đâu thể vắng lặng như hư không,
nếu tưởng nghĩ việc khác, thôi thà tốt hơn là chí tâm
niệm Phật! Nên đem việc cần yếu giao phó cho người nhà,
thường tưởng rằng mình sắp chết, sắp đọa địa ngục,
trong lòng tuyệt không vướng vít một điều gì. Rồi dùng
tâm thanh tịnh ấy tưởng nhớ tượng Phật, thầm niệm danh
hiệu, và kiêm tưởng niệm thánh tượng cùng danh hiệu đức
Quán Âm. Quả được như thế, quyết định nghiệp chướng
sẽ tiêu trừ, căn lành thêm lớn, tật bệnh mau thuyên và
thân tâm yên ổn. Căn bệnh của các hạ vẫn thuộc về túc
nghiệp, bởi duyên niệm Phật mãnh liệt nên phát hiện, không
phải hoàn toàn do quá dùng sức mà có ra. Giả sử không gặp
nhân duyên niệm Phật quá sức ấy, nó cũng sẽ phát hiện
bằng một nhân duyên khác. Giữa đời, người không niệm
Phật rất nhiều, đâu phải tất cả đều không đau yếu,
suốt đời mạnh khỏe đó ư? Hiểu rõ điều nầy, sẽ chẳng
còn nhận lầm cho rằng niệm Phật thành bệnh, kết cuộc
chỉ có tổn hại không được lợi ích.
Ấn Quang
cùng các hạ chưa gặp mặt nhau lần nào mà có những lời
thành thật chí thiết hôm nay vì xem các hạ như người thân
thuộc. Bởi kẻ tu hành vẫn thể theo lòng từ bi của Phật,
muốn cho người hữu duyên đều được vãng sanh ngay trong
hiện đời. Pháp môn niệm Phật, nếu các hạ chưa tường
tất, mỗi ngày nên xem qua vài thiên Văn sao để làm sự dẫn
đạo cho đường tu. Thế mới không uổng một phen tri ngộ
nhau trong thơ từ qua lại.
2
Các hạ đã
tin nơi tôi, nên làm y theo lời tôi mới có thật ích. Chẳng
thế thì tuy có tín tâm, chỉ gieo nhân lành về sau mà thôi.
Chúng ta ở trong vòng sống chết luân hồi trải qua nhiều
kiếp, gây nên nghiệp ác vô lượng vô biên. Nếu chỉ nương
sức tu trì của mình, mong dứt hết phiền não, hoặc nghiệp
để thoát nẻo luân hồi, việc ấy còn khó hơn lên trời.
Như có thể tin pháp môn Tịnh Độ của đức Phật chỉ dạy,
dùng lòng tín nguyện chơn thiết niệm danh hiệu Phật A Di
Đà cầu sanh Tây Phương, thì không luận nghiệp lực lớn,
nhỏ, đều được nương nhờ từ lực vãng sanh Cực Lạc.
Ví như một hột cát nhỏ để vào nước liền chìm, trái
lại, tảng đá dù nặng ngàn muôn cân, được chở trên chiếc
thuyền to, cũng có thể đem đi nơi khác. Tảng đá là dụ
cho nghiệp lực sâu nặng của chúng sanh, thuyền to là dụ
cho từ lực rộng lớn của đức A Di Đà. Nếu không niệm
Phật, chỉ nương sức tu trì của mình để thoát sanh tử,
phải đợi đến địa vị nghiệp dứt tình không mới được.
Chẳng thế thì dù có dứt được phiền hoặc chỉ còn như
một sợi tơ, cũng không thể giải thoát. Đó là dụ cho hột
cát tuy rất nhỏ, nếu không có vật gì chở, khi để vào
nước tất phải bị chìm. Các hạ nên sanh lòng tin, niệm
Phật cầu sanh về Tây Phương đừng khởi những tư tưởng
gì khác. Quả được như thế, thì tuổi thọ chưa hết bệnh
sẽ mau lành, vì công đức chí thành niệm Phật, có thể dứt
trừ ác nghiệp đời trước, như vầng hồng đã hiện, sương
tuyết liền tan. Nếu số phần đã mãn, tất được vãng sanh,
vì do tâm niệm chuyên nhất nên đạo cảm ứng giao thông,
nhờ Phật xót thương tiếp dẫn. Như các hạ tin hiểu thấu
đáo những lời trên đây, thì sống cũng được nhiều an
vui, chết cũng được lợi ích hơn.
Lòng nóng
giận là tập tánh từ kiếp trước, muốn đối trị, nên
tưởng như mình đã chết. Thế thì mặc ai bôi hương thoa
lọ, nơi ta nào có can gì? Dù gặp những cảnh trái lòng đến
đâu nữa, cũng cứ tưởng rằng mình đã chết, tự nhiên
tánh giận hờn không thể nổi lên. Đây là món ỏcam lồ
pháp thủyõ của đức Như Lai truyền dạy, để rửa hết
kết nghiệp của tất cả chúng sanh. Nay tôi vì các hạ thuật
lại, không phải tự tôi đặt điều ức thuyết. Nếu không
niệm Phật cầu về Tây Phương, tuy sanh lên chỗ cực tôn
quí như trời Phi Phi Tưởng, khi phước báo đã hết, vẫn
bị luân chuyển trong sáu đường. Như dùng hết lòng thành
khẩn niệm Phật, dù sắp đọa vào địa ngục A Tỳ, cũng
có thể nhờ Phật tiếp dẫn. Vậy muôn lần xin chớ tự coi
là thấp kém, cho rằng mình nghiệp nặng e không được vãng
sanh. Nếu cố giữ quan niệm ấy thì quyết định chẳng được
sanh Tây Phương, vì bởi thiếu sự tín nguyện chơn thiết
nên không do đâu để cảm đến Phật.
Quán Thế
Âm Bồ Tát thành Phật đã từ lâu, chỉ vì lòng từ bi sâu
thiết nên hiện thân trong chín pháp giới, dùng đủ phương
tiện để độ thoát chúng sanh. (Chín pháp giới: Bồ Tát,
Duyên Giác, Thanh Văn, trời, người, A Tu La, súc sanh, ngạ quỉ,
địa ngục). Riêng về pháp giới cõi người, Bồ Tát lại
hiện nhiều thân sai khác, hoặc làm vua, quan, hoặc làm thường
dân ẩn dật, hoặc làm phụ nữ, hoặc làm kẻ ăn xin... không
nhất định. Vị chân tượng của Bồ Tát tốt đẹp nhiệm
mầu, người đời không thể hình dung được, nên khi vẽ
ra phần nhiều giống với người nữ, chớ chẳng phải Bồ
Tát nguyên là nữ thân. Nếu muốn cúng dường, nên đến đường
Bắc Kinh, xóm Trường Khang, chỗ lưu thông Kinh Phật, thỉnh
bức tượng Tây Phương Tam Thánh thứ bản đá, mua khung kính
đem lồng vào. Như thế là vẹn toàn, vì có đủ đức Phật
A Di Đà, Quán Âm và Thế Chí. Nơi phòng ngủ nếu không được
tinh khiết, nên đem tượng Phật thờ ở tịnh thất, mỗi
ngày qua lạy và chiêm ngưỡng một đôi lần, thì trong tâm
có thể ghi nhớ!
Niệm Phật
tuy quí ở sự thanh khiết, nhưng với người bệnh có nhiều
điều không thuận tiện, chỉ đem hết lòng thành niệm thầm
hoặc ra tiếng, công đức cũng đồng nhau. Vì đức Phật vẫn
rộng lòng thương xót, như cha mẹ đối với con. Khi con có
bệnh không đem những nghi thức bình thường quở trách, mà
còn xoa rờ thân thể gội rửa chỗ hôi nhơ. Nếu khi con bệnh
đã mạnh, mà còn bắt cha mẹ hầu hạ như khi đau yếu, đó
là trái phép, trời đất sẽ không dung. Vậy các hạ không
nên cho rằng nằm nơi giường bệnh niệm Phật thầm là có
tội lỗi. Người mạnh khỏe khi nằm nghỉ còn nên niệm thầm,
huống chi là người bệnh ư?
Thơ
khuyên dạy một vị Tỳ Kheo Ni
Đêm ngày
thấm thoắt, mùa tiết đổi dời, thời gian chuyển biến âm
thầm, không giây phút nào dừng nghỉ! Có phải tạo vật hiện
ra tướng lưỡi rộng dài, diễn nói pháp mầu, cho chúng sanh
nhận thấy kiếp người vô thường, vinh hoa giả tạm, mau
tìm đường giải thoát để khỏi bị trầm luân đó ư? Ngươi
đã chán mùi phú quí, tìm học đạo mầu, phải gắng sức
chuyên tu, chớ nên lần lựa qua ngày, vì mạng người chỉ
mong manh trong hơi thở. Nên xét tự thân tuy là ngũ chướng,
song tâm tánh vẫn đủ ba đức niết bàn, mà cố rửa sạch
tập tánh người nữ và chuyên trì thánh hiệu đức A Di Đà.
Thường tưởng nghĩ cõi Ta Bà rất nên nhơ ác, miền Cực
Lạc chính là chốn gia hương, chớ mong phước báo hiện tại
hoặc đời sau, chỉ nguyện khi mạng chung được về Cực
Lạc. Nếu sớm chiều tha thiết, mỗi niệm không rời, niệm
đến công sức thuần thục, tự nhiên đạo cảm ứng thông
nhau, khi lâm chung chắc sẽ được toại nguyện. Lúc đã về
Tịnh Độ, tỏ ngộ lý vô sanh rồi, nhìn lại cõi Ta Bà, thấy
sự vinh hiển giàu sang chẳng khác nào ánh nắng, hoa không
và ngục tù, biển độc! Nhưng muốn đạt chí nguyện, điều
cần yếu là trước phải dứt trừ tập nhiễm mới dễ thành
tựu sự vãng sanh. Kinh Phật thường nói: ỏNgười giàu sang
khó học đạo, người nữ cũng khó học đạo.õ Bởi người
giàu sang phần nhiều hay quen tánh kiêu mạn, xa xí, ít chịu
nhún nhường để xét sửa mình và tiếp đãi người. Như
thế, đâu dễ dứt mối âu lo, xóa tan trần niệm, để cõi
lòng vắng mà cầu đạo ư? Người nữ thì ưa sửa soạn dung
nghi, thường đem lòng đố kî, đâu biết rằng dù cho hương
trời sắc nước, vẫn là túi phẩn đẫy nhơ; đã luyến huyễn
hình, làm sao ngộ đạo? Đức Như Lai vì trị những chứng
bệnh ấy, chỉ dạy phép quán Tứ Niệm Xứ, quán thân không
sạch, thọ là khổ, tâm vô thường và pháp vô ngã. Nếu thành
tựu phép quán nầy, thì lòng tập nhiễm luyến sắc thân,
cậy quyền thế, sẽ tiêu diệt như điểm tuyết giữa lò
hồng.
Ngươi dẫu
là người nữ dòng trâm anh đi xuất gia, cần phải trừ sạch
tập tánh kiêu xa, trang điểm, khiến cho không còn mảy may
nào, về sau mới có phần thoát khổ. Hiện nay chánh pháp suy
yếu, ma ngoại tung hoành, khó gặp được thầy hay bạn tốt,
phải tìm thầy bạn trong gương mẫu của người xưa. Nên
đọc kỹ những quyển: Tỳ Kheo Ni Truyện, Thiện Nữ Nhơn
Truyện, Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục,
mới tìm được những tấm gương sáng, không còn sợ lạc
vào đường tà. Gần đây tăng ni ít bậc thanh tu, phần nhiều
là kẻ không đúng phép, chẳng nên lạm thâu đồ chúng, để
tránh sự hư rối trong đạo Phật. Lại giữ mình theo thanh
quy, gắng sức tu tịnh nghiệp, làm sao cho khi sống thành người
khuôn mẫu, lúc thác dự hội Liên Trì. Như thế mới không
phụ chí vượt ra hầm lửa muôn tầm, mới chẳng uổng làm
con của Phật.
Phải cương
quyết cố gắng, chớ quên lời ta!
Thơ
đáp Cư Sĩ Phạm Cổ Nông
Trung ấm
tức là thần thức, chớ không phải thần thức hóa làm trung
ấm thân. Đây chính là linh hồn mà người thế tục đã thường
gọi. Cái thuyết trung ấm thân bảy ngày sống chết một lần
và qua bốn mươi chín ngày phải đi đầu thai, không nên nê
chấp. Nói trung ấm thân sống chết là chỉ cho trong tâm vô
minh của kẻ kia hiện ra tướng sanh diệt, đừng nên quá quê
thật, luận theo trạng thái sống chết của người đời.
Sự thọ
sanh của thân trung ấm nơi sáu đường ba cõi, mau thì chừng
trong khoảng khảy ngón tay, lâu hoặc bốn mươi chín ngày hay
nhiều hơn không nhất định. Những vong mới chết có thể
hiện thân trước người quen thuộc, hoặc cùng tiếp xúc nói
chuyện trong ban ngày hay ban đêm. Không phải chỉ riêng trung
ấm thân mới được như thế, mà người đã sanh về cõi
dữ, lành, đôi khi cũng có thể hiện hình cho bà con quen thuộc
thấy. Đây tuy là ý niệm của người ấy hiện ra, song kỳ
thật cơ quyền biến do tạo hóa thần kỳ sắp đặt, để
tỏ cho đời biết: người chết hồn chẳng tan mất và quả
báo lành dữ vẫn không sai. Nếu chẳng thế thì kẻ dương
gian không thể biết được việc âm ty, rồi do đó những
tà luận mù quáng phụ họa nổi lên, bảo rằng chết là mất,
không có nhân quả, đời sau, khiến cho người lành không gắng
công tu đức, kẻ ác lại càng hung hiểm tung hoành. Thế thì
dù có lời Phật dạy, lấy đâu để chứng minh, và ai chịu
tin nhận? Cho nên các sự hiện hình ấy đã chứng cho lời
Phật không sai, nhân quả có thật, người lành thấy thế
càng làm lành, mà kẻ dữ cũng bị tình lý đó chiết phục,
không đến nỗi mười phần quyết liệt. Trời đất quỉ
thần muốn cho người đời biết rõ việc ấy; nên mới có
những sự người chết hiện hình nơi dương gian, kẻ dương
gian xử đoán hình phạt dưới âm phủ, để phụ dực Phật
Pháp và giúp đạo trị an. Lúc nầy rất nhiệm mầu và sự
quan hệ cũng rất lớn. Những việc như thế, xưa nay sách
vở chép cũng nhiều, song đều chưa nói rõ cơ quyền biến
ấy do từ đâu, và có những gì quan hệ lợi ích?
Linh hồn
tuy lìa xác thân, nhưng vẫn còn có tình chấp về xác thân
y như cũ. Đã có tình chấp ấy, tất phải cần dùng đến
sự ăn mặc để tư dưỡng. Sở dĩ như thế, vì phàm phu nghiệp
chướng sâu nặng, chẳng biết ngũ uẩn vốn không, nên vẫn
cùng người đời không khác. Nếu là bậc đại trí huệ,
thì liền thoát thể không còn nương tựa vào đâu, các sự
khổ tiêu diệt, ngũ uẩn rỗng không, muôn đức trọn bày,
chơn thân hiển lộ. Cảnh giới của thân trung ấm dị đồng
không nhất định, nên sự thọ hưởng đều tùy theo tình
chấp của mỗi người. Như việc đốt giấy áo, đối với
người sống duy có quan niệm cấp cho áo, còn sự rộng hẹp
vắn dài, đâu có thể mỗi mỗi đều phù hợp. Nhưng do nơi
tình chấp của người sống và kẻ chết, nên những quần
áo ấy vẫn vừa vặn như thường. Điều nầy có thể chỉ
cho ta biết đại nghĩa: ỏTất cả các pháp đều do tâm chuyển
biến.õ
Người chết
rồi, khi còn chưa thọ sanh trong sáu đường gọi là trung ấm
thân. Nếu thọ sanh thì chẳng còn là trung ấm thân, và sự
dựa vào người mà nói việc khổ vui, đều là tác dụng của
thần thức. Sự đầu thai tất do thần thức cùng tinh huyết
cha mẹ hòa hợp, nên lúc người đàn bà có mang, thì thần
thức đã có trong thai. Nhưng tại sao đôi khi người mẹ chuyển
bụng, thấy có kẻ đi vào nhà rồi mới sanh? Đây là trường
hợp lúc cha mẹ giao cấu, có linh hồn khác đến thay thế
để thọ thai, đến khi cái thai đã thành, vong chánh mới đến,
vong thay thế liền đi. Trong bộ ỏDục Hải Hồi Cuồngõ quyển
thứ ba, trang 8, 9, 10, 11, 12 cũng có nghi vấn nầy mà nguyên
đáp không đúng lý; tôi xin vì cải chánh, sau các hạ nên
tìm tra lại sẽ rõ. Nguyên đáp trong ấy đưa ra tỷ dụ như
vầy: ỏVí như trứng gà, có trứng có trống, có trứng không
trống...õ Không khi nào thần thức vào thai mà giống như trứng
gà không trống. Bởi trứng không trống là trứng hư, không
thể nở ra con, còn trường hợp trên, người mẹ vẫn sanh
con như thường. Nay tôi lấy lý để biện minh, không sợ mang
lỗi tiếm việt, nên vì các hạ trình bày. Thuở xưa, bà mẹ
của ông Viên Trạch mang thai ba năm, có lẽ cũng thuộc về
tình trạng thay thế đã nói trên. Nhưng đây là ước theo
lối thông thường mà luận, phải biết nghiệp lực của chúng
sanh không thể nghĩ bàn! Như người tu tịnh nghiệp đã thành,
thân tuy chưa chết mà thần thức đã hiện nơi Tịnh Độ.
Và kẻ nghiệp ác nặng, thân còn nằm trên giường bệnh mà
linh hồn đã chịu hình phạt dưới cõi u minh. Thế thì mạng
tuy chưa dứt, thần thức đã đầu thai, đợi đến khi sắp
sanh, toàn phần tâm thức mới phụ vào thai thể, lý nầy chẳng
phải là không có, nhưng thông thường, sự thay thế thọ thai
vẫn nhiều hơn.
Trong ba cõi,
các pháp đều duy tâm hiện. Chúng sanh tuy mê chẳng biết,
nhưng chính chỗ nghiệp lực không thể nghĩ bàn ấy, là chỗ
tâm lực không thể nghĩ bàn, mà cũng là chỗ thần thông đạo
lực của chư Phật không thể nghĩ bàn vậy. Ấn Quang tôi,
hơn mười năm gần đây, vì sức mắt yếu không xem nhiều
được, nên không thể rộng dẫn kinh luận để chứng minh.
Tuy nhiên, lý ấy vẫn chân thật, chẳng phải tôi dám đưa
ra điều ức kiến, để rước lấy sự tội khiên. Sống chết
là việc lớn của chúng sanh, nhân quả là đại quyền trong
cơ giáo hóa. Mong rằng các hạ không tiếc lời văn quảng
trường thiệt, một phen đem việc nhân quả báo ứng giúp
cho mọi người đều chuyển phiền não sanh tử thành bồ đề
niết bàn. Như thế pháp môn cùng chúng sanh xiết bao hân hạnh!!