Thơ
gởi Nữ Sĩ Từ Phước Hiền
Tôi dừng
gót ở Phổ Đà đã hơn hai mươi năm, đối với hàng Phật
tử tại gia, chưa từng tới lui giao thiệp. Gần đây, nhân
có thầy Phước Nghiêm lên núi thăm, trong vòng không đầy
tuần nhật, thầy nhiều phen qua chỗ thất tôi ở nói về
sự trinh tháo của nữ sĩ. Mỗi khi gợi đến việc ấy, thầy
lại tỏ vẻ bùi ngùi cảm động. Lúc đó tôi có tỏ bày
ý kiến: Nữ sĩ tuy trinh liệt đáng khen, nhưng tiếc vì không
biết đường lối tu hành. Nếu cơn nào rảnh tôi sẽ gửi
lời khuyên nhắc, lược giải về cương yếu của môn niệm
Phật, để cho người tùy sức phần bước vào con đường
Tịnh Độ. Nghiêm Sư nghe nói liền tán thành và hết lời
yêu cầu. Vì thế nên mới có bức thơ gửi cho nữ sĩ hôm
nay.
Phật Pháp
là pháp saün đủ nơi tâm của tất cả chúng sanh, người
xuất gia tại gia đều có thể thọ trì. Nhưng thân nữ có
nhiều chướng duyên nếu lìa quê đi xa, rất dễ bị người
lấn hiếp. Vậy nữ sĩ chỉ nên ở tại nhà giữ giới niệm
Phật, quyết chí cầu sanh Cực Lạc, không cần phải lìa quê
hương xuất gia làm Ni. Việc nghiên cứu khắp kinh giáo, đi
các nơi tham hỏi bậc minh sư là phần của người nam, nữ
giới bắt chước theo không tiện. Người nữ chỉ nên gắng
tu tịnh nghiệp, chuyên trì hiệu Phật, nếu có thể nhiếp
cả sáu căn, nối luôn tịnh niệm, tự nhiên hiện đời thân
chứng Tam Muội, khi lâm chung lo gì không chiếm phẩm cao? Dù
chưa chứng Tam Muội, cũng được dự vào hải hội, gần gũi
đức A Di Đà, rồi lần lần trở về tánh bản chân, tự
nhiên thông suốt vô biên giáo hải như tấm gương lớn soi
rõ muôn hình. Chừng ấy mặc ý cỡi thuyền đại nguyện,
không rời An Dưỡng, hiện thân ở cõi Ta Bà, cùng vô số
phương tiện độ thoát loài hữu tình, khiến cho đều đến
Liên bang chứng Vô Sanh Nhẫn. Ấy mới khỏi phụ với chí
quyết liệt tu trì ngày hôm nay, mới đáng gọi là hoa sen sanh
trong lửa, người nữ mà trượng phu đó!
Tu tịnh nghiệp,
điều căn bản là phải quyết lòng cầu sanh Tây Phương. Cho
nên pháp môn Tịnh Độ lấy Tín, Nguyện, Hạnh làm tông chỉ.
Tín
là phải tin cõi Ta Bà có vô lượng nỗi khổ, cõi Cực Lạc
sự an vui không cùng! Nỗi khổ ở Ta Bà đại ước có
tám thứ: sanh, già, bệnh, chết, thương xa lìa, oán gặp gỡ,
cầu không toại ý, và năm ấm lẫy lừng. (Năm ấm lẫy lừng
là chúng sanh đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức, khởi
hoặc gây nghiệp như lửa cháy hừng). Sự vui ở Cực Lạc,
nói về thân thì hóa sanh trong hoa sen, tuyệt không già, bệnh,
chết, thuần là người nam; cho đến danh từ ác đạo hãy
còn chẳng nghe, huống chi có thật? Nếu về cảnh thì vàng
ròng làm đất, bảy báu làm ao, hàng cây cao ngất trời, lầu
các giữa chừng không, và sự ăn mặc thọ dụng, khi tưởng
đến đều được hóa hiện vừa ý, không phải như ở cõi
nầy do sức người tạo tác mà thành. Ở Cực Lạc, Phật
A Di Đà tướng đẹp vô biên, một khi trông thấy từ dung,
liền chứng Pháp Nhẫn, đức Quán Âm Thế Chí cùng Thanh Tịnh
Hải Hội phóng ánh sáng trong sạch, đồng nói pháp mầu. Thế
nên, tuy là hàng phàm phu dẫy đầy nghiệp lực, nếu phát
lòng tín nguyện tha thiết, sẽ được nhờ Phật nhiếp thọ.
Khi đã vãng sanh về cõi kia, thì nghiệp ác phiền não đều
tiêu tan, trí huệ công đức đều tròn đủ. Tin được như
thế mới gọi là lòng tin chân thật. Như muốn được biết
rõ hơn, nên xem kỹ kinh: A Di Đà, Vô Lượng Thọ và Quán Vô
Lượng Thọ. Những kinh nầy chuyên nói về duyên khởi sự
lý của Tông Tịnh Độ, cũng gọi là Tịnh Độ Tam Kinh. Ngoài
ra các Kinh Đại Thừa phần nhiều đều có nói về Tịnh Độ.
Như Kinh Hoa Nghiêm là khi đức Như Lai mới thành Chánh Giác,
vì các bậc Pháp Thân Đại Sĩ ở bốn mươi mốt vị, xứng
tánh nói ngay pháp Nhất Thừa mầu nhiệm. Sau rốt, lúc ngài
Thiện Tài đi tham hỏi khắp các phương tri thức, chỗ chứng
bằng chư Phật, Phổ Hiền Bồ Tát lại vì nói mười đại
nguyện vương, khuyên ngài Thiện Tài và hải chúng trong cõi
Hoa Tạng hồi hướng cầu sanh về thế giới Cực Lạc, để
mau tròn đầy quả Phật. Trong Quán Kinh, chương Hạ Phẩm Hạ
Sanh có nói: ỏHạng người phạm tội ngũ nghịch thập ác,
làm đủ các việc không lành, khi sắp chết tướng địa ngục
hiện, được bậc thiện tri thức khuyên bảo niệm Phật,
kẻ ấy vâng lời niệm chưa đầy mười câu, liền thấy Hóa
Phật đưa tay tiếp dẫn vãng sanh.õ Kinh Đại Tập dạy: ỏĐời
mạt pháp ức ức người tu hành nhưng ít có kẻ ngộ đạo,
chỉ nương theo môn Niệm Phật mới được thoát luân hồi.õ
Thế thì biết pháp niệm Phật là con đường đồng tu của
thượng thánh hạ phàm. Với pháp nầy, kẻ ngu người trí
đều có thể làm theo, cách hành trì dễ mà thành công cao,
dùng sức ít song hiệu quả mau lẹ. Bởi môn Tịnh Độ chuyên
nhờ Phật lực nên sự lợi ích rất lớn, vượt hơn tất
cả giáo pháp thông thường. Người xưa nói: ỏTu các môn
khác như con kiến bò lên núi cao, niệm Phật vãng sanh như
thuyền buồm xuôi theo gió nước.õ Lời này có thể gọi là
sự so sánh rất xác đáng, rõ ràng.
Nếu muốn
nghiên cứu nên xem bộ Yếu Giải Kinh A Di Đà của Ngẫu Ích
Đại Sư trứ thuật. Bộ nầy diễn tả sự lý đến chỗ
cực điểm, là lời chú giải rất hay rất xác, đứng vào
bậc nhất từ khi Phật nói kinh ấy đến giờ, dù cho Cổ
Phật tái hiện ra đời chú giải lại cũng không hơn được.
Vậy nữ sĩ chớ nên khinh thường, phải triệt để tin theo.
Về Kinh Vô Lượng Thọ, có lời chú sớ của Huệ Viễn Pháp
Sư đời Tùy, văn nghĩa rất rõ ràng. Kinh Quán Vô Lượng Thọ
thì có bộ Tứ Thiệp Sớ của Thiện Đạo Hòa Thượng. Ngài
Thiện Đạo muốn lợi khắp ba căn nên phần nhiều phát huy
về sự tướng. Sau chương Thượng Phẩm Thượng Sanh, Ngài
chỉ rõ sự hơn kém của hai lối tu chuyên và tạp, lại bảo
phải sanh lòng tin bền chắc, dù đức Thích Ca hoặc chư Phật
hiện thân dạy bỏ môn Tịnh Độ tu theo các pháp khác, cũng
không dời đổi chí nguyện. Lời trên đây có thể gọi là
cây kim chỉ nam của người tu tịnh nghiệp. Đến như bộ
Quán Kinh Sớ Diệu Tông Sao của bên Thiên Thai Tông thì nghĩa
quá viên dung mầu nhiệm, người căn cơ trung, hạ khó được
lợi ích, vẫn không bằng bộ Tứ Thiệp Sớ lợi khắp ba
căn. Đã biết những nghĩa lý trên đây, cần y theo đó tin
chắc. Chỗ chính mình hiểu đến thì tin đã đành, dù chỗ
mình chưa hiểu đến cũng vẫn tin. Phải biết pháp môn Tịnh
Độ do nơi kim khẩu của Phật nói ra, chớ nên đem sự suy
lường không thấu đáo của tình phàm mà sanh lòng nghi hoặc.
Tin như thế mới gọi là chân tín.
Đã tin chắc
rồi, cần phải phát nguyện lìa cõi Ta Bà như tù nhân mong
ra khỏi ngục, nguyện sanh về Cực Lạc như viễn khách nhớ
quê xưa. Nếu chưa được sanh Tịnh Độ, dù có ai đem ngôi
báu của Thiên Vương dâng cho, cũng xem là nhân duyên đọa
lạc, không móng một niệm ưa thích. Cho đến việc: đời
sau đổi thân nữ ra nam, tuổi trẻ xuất gia, nghe một hiểu
ngàn, được đại tổng trì, cũng nên xem đó là đường lối
tu hành quanh quẩn, không sanh lòng mong ước, chỉ muốn khi
lâm chung được Phật tiếp dẫn về Tây Phương mà thôi. Khi
được vãng sanh, tất sẽ thoát vòng sanh tử, vượt cảnh
phàm vào cõi thánh, ở hàng bất thoái, chứng quả Vô Sanh.
Chừng ấy nhìn lại mới biết ngôi vua ở cõi trời, người,
cho đến việc tái sanh xuất gia làm tăng, là sự nhọc nhằn
nhiều kiếp, không biết chừng nào mới được giải thoát.
Rồi so sánh lại, thấy những điều ấy đối với phẩm sen
của mình ngày nay, không khác nào lửa đóm cùng vầng nhật
rạng và con kiến bò lên núi Thái Sơn! Cho nên, người tu Tịnh
Độ quyết không nên cầu phước báo ở cõi trời, người,
và đời sau trở lại xuất gia làm tăng. Nếu có mảy may những
niệm ấy, tức không phải tin sâu nguyện thiết, ngăn cách
với lời từ thệ của đức A Di Đà, không được cảm ứng
và nhờ Phật tiếp dẫn. Thật đáng thương lắm! Đáng tiếc
lắm! Nỡ đem hạnh mầu không thể nghĩ bàn, cầu lấy quả
vui hữu lậu để khi hưởng hết phước rồi lại bị sa đọa,
theo giòng hoặc nghiệp, chịu sự khổ vô cùng ư? Trong vị
đề hồ nếu để thuốc độc, chất ngon ngọt ấy sẽ giết
người; tu Tịnh Độ mà không khéo dụng tâm thì sự tai hại
cũng y như thế! Vậy phải dứt tuyệt những niệm lỗi lầm
như trên, mới có thể hoàn toàn thọ dụng sự lợi ích của
môn Tịnh Độ.
Đã tin sâu
nguyện thiết, lại cần phải chấp trì sáu chữ hồng danh
ỏNam Mô A Di Đà Phật.õ Không luận lúc đi, đứng, ngồi,
nằm, nói, nín, động, tịnh, mặc áo, ăn cơm, cho đến khi
đại tiểu tiện, đều giữ chắc sáu chữ ấy nơi tâm (hoặc
trì bốn chữ cũng được). Phải gắng làm sao cho mỗi niệm
đều hiện tiền, toàn Phật là tâm, tâm Phật như một, niệm
cho đến chỗ chí cực quên cả trần tình. Chừng ấy lòng
không, Phật hiện, đương đời có thể thân chứng Niệm Phật
Tam Muội, đến khi lâm chung sanh về Thượng Phẩm. Tu trì như
thế có thể gọi là dùng hết công năng vậy. Đến như trong
công việc hằng ngày, có mảy may điều lành và các công đức
tụng kinh lễ Phật, đều đem hồi hướng vãng sanh. Như thế
thì tất cả hành môn đều là trợ hạnh của Tịnh Độ,
như gom cát bụi thành đất, họp sông ngòi thành biển, sự
sâu rộng sẽ vô cùng. Lại cần phải phát lòng Bồ Đề,
thề độ chúng sanh, đem công tu hồi hướng bốn ân ba cõi
và loài hữu tình trong pháp giới. Đó là rộng kết pháp duyên
với tất cả chúng sanh, như lửa thêm dầu, mạ được mưa,
làm cho thắng hạnh Đại Thừa của mình sớm mau thành tựu.
Nếu không biết nghĩa nầy thì thành ra kiến chấp tự lợi
của phàm phu, Nhị Thừa, tuy tu hạnh mầu, cảm quả rất thấp
kém. Dù rằng trong sự niệm Phật, tất cả thời, tất cả
chỗ đều không ngại, nhưng cũng phải thường giữ lòng kính
sợ, lại phải trọng tượng Phật như Phật sống, xem Kinh
Phật lời Tổ như Phật, Tổ đối trước mình thuyết pháp,
không dám có chút khinh mạn nghi ngờ. Lúc bình thường niệm
Phật hoặc thầm hay ra tiếng tùy ý, song những khi nằm ngủ,
đại tiểu tiện, tắm gội, rửa chân và đi ngang qua chỗ
không nghiêm sạch, đều phải niệm thầm, nếu ra tiếng tức
là không cung kính. Nên biết, niệm thầm công đức cũng đồng
như niệm ra tiếng. Tôi thường nói: muốn được sự lợi
ích thiết thật trong Phật Pháp, phải tìm nơi lòng cung kính,
có một phần cung kính thì tiêu một phần tội nghiệp, thêm
một phần phước huệ; có mười phần cung kính, tiêu mười
phần tội nghiệp, thêm mười phần phước huệ. Nếu không
cung kính, tuy cũng gieo viễn nhân, nhưng ác quả của tội khinh
lờn thật chẳng thể tưởng nghĩ! Người tại gia đời nay
trong khi đọc Kinh Phật đều phạm bệnh này, nên với kẻ
hữu duyên, tôi thường nhắc đi nhắc lại mãi.
Niệm Phật
cần phải nhiếp tâm niệm do tâm khởi, tiếng từ miệng ra,
mỗi câu mỗi chữ đều rành rẽ, rõ ràng. Lại phải lắng
tai nghe kỹ, in câu niệm Phật vào tâm. Nếu nhiếp nhĩ căn
thì các căn kia không còn buông chạy theo bên ngoài, mới có
thể mau được nhất tâm bất loạn. Đại Thế Chí Bồ Tát
bảo: ỏNhiếp cả sáu căn, tịnh niệm nối luôn, được Tam
Ma Địa, đây là bậc nhấtõ, chính là ý này. Đức Văn Thù
nói: ỏNghe vào, nghe tánh mình. Tánh thành đạo vô thượngõ,
cũng đồng một nghĩa trên đây. Rất không nên cho phép Trì
Danh là cạn cợt, rồi tu theo các phép: Quán Tưởng, Quán Tượng,
Thật Tướng. Trong bốn phép niệm Phật chỉ có môn Trì Danh
là rất hợp cơ, nếu giữ đến một lòng không loạn, thì
lý mầu thật tướng toàn thể lộ bày, cảnh lạ Tây Phương
hiện ra rõ rệt. Cho nên tức nơi Trì Danh mà chứng được
thật tướng, không cần quán tưởng cũng thấy Tây Phương;
một pháp Trì Danh chính là cửa mầu vào đạo, con đường
thẳng tắt đến quả Bồ Đề. Người đời nay phần nhiều
không hiểu về giáo lý của phép Quán, nếu tu theo Quán Tưởng,
Thật Tướng, hoặc có khi bị ma dựa vào. Vậy tốt hơn là
nên lựa hạnh dễ tu, cũng cảm được quả nhiệm mầu, đừng
học khéo thành vụng, cầu siêu trở lại bị đọa, thì đáng
tiếc lắm!
Quyển Tịnh
Độ Thập Yếu do Ngẫu Ích Đại Sư dùng mắt Kim Cang, lựa
lấy những đoạn hợp lý hợp cơ trong các kinh sách Tịnh
Độ mà làm thành, đáng liệt vào bậc nhất. Tịnh Độ Thánh
Hiền Lục ghi chép những hạnh nguyện trong nhân, công đức
trên quả của Phật A Di Đà cùng các vị Bồ Tát: Quán Âm,
Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ. Kế đó lại
ghi việc tự tu dạy người của các bậc Tổ Sư, thiện tri
thức, như ngài Huệ Viễn, Trí Giả, cùng những sự tích vãng
sanh của bốn chúng và hàng vua, quan, sĩ, thứ, phụ nữ, người
tội ác, loại súc sanh. Trong ấy có phụ vào những ngôn luận
thiết yếu, khiến cho người xem có chỗ nương tựa, không
còn nghi ngờ. Đọc quyển này, có thể lấy người xưa làm
thầy, mà gắng tu tịnh nghiệp, so với sự đi tham hỏi các
bậc tri thức, lại càng thân thiết hơn. Bộ Long Thơ Tịnh
Độ Văn phân loại về các môn tu trì, cạn lời khuyên tỏ,
khiến cho người dứt nghi sanh lòng tin, là một pho sách rất
hay để dẫn dắt kẻ sơ cơ. Ba thứ trên đây và Vô Lượng
Thọ Kinh Sớ, Quán Kinh Tứ Thiệp Sớ, cộng lại là năm, trước
kia tôi đã nói với thầy Phước Nghiêm thỉnh giùm gửi đến,
không biết nữ sĩ có được chăng? Nếu không, xin hồi âm,
tôi sẽ do nhà bưu cục gởi tặng. Được mấy thứ sách ấy,
có thể biết đủ các nghĩa tông Tịnh Độ, dù không xem khắp
các kinh cũng chẳng hại gì! Nếu không rõ pháp môn Tịnh Độ,
giả sử có hiểu sâu ba Tạng Kinh, ngộ suốt tự tâm chăng
nữa, muốn thoát vòng sanh tử, còn trải qua không biết bao
nhiêu đại kiếp mới làm tròn bổn nguyện. Niệm Phật như
thuốc A Dà Đà trị hết muôn bệnh, pháp môn kỳ diệu như
thế mà không biết, há chẳng đau tiếc lắm ư? Biết mà không
tu, và tu mà không chuyên tâm gắng chí, lại càng đáng đau
tiếc hơn nữa!
Người nữ
ra khỏi nhà có nhiều chướng duyên, huống chi thêm sự độ
dụng khó khăn, lại càng bất tiện. Nếu là người nam xuất
gia làm tăng, còn phải vào thiền đường học nghi tắc cho
biết quy củ nhà chùa, rồi đi du phương mới không trở ngại.
Chẳng thế thì cả mười phương tòng lâm, không ở chỗ nào
được. Việc thọ giới đối với nữ nhơn, như người gia
tư đầy đủ có thể tự chủ, cũng nên đi đến chùa xin
thọ, bằng không dư giả, hà tất phải cố định như thế!
Chỉ cần một lòng tha thiết chí thành, đối trước bàn Phật
sám hối bảy ngày, tự thệ xin thọ giới. Sám hối đến
ngày thứ bảy xong, quì trước Phật xướng rằng: ỏĐệ
tử là Phước Hiền thề thọ năm giới, làm mãn phần Ưu
Bà Di. (Ưu Bà Di dịch là Cận Sự Nữ, mãn phần là giữ trọn
năm giới). Thề suốt đời không giết hại, suốt đời không
trộm cắp, suốt đời không dâm dục, (nếu có gia đình thì
nói không tà dâm), suốt đời không nói dối, suốt đời không
uống rượu.õ Nói như thế ba lần, tức là đắc giới. Điều
cần yếu là phải hết lòng thọ trì, thì công đức sánh
với sự cầu chư tăng truyền giới cho vẫn không hơn kém.
Chớ nên nghi rằng thọ giới như thế không đúng pháp, phải
biết cách thức trên đây là do theo thánh huấn của Như Lai
trong Kinh Phạm Võng. Ở Phổ Đà, mùa thu không có truyền giới,
chỉ truyền vào khoảng thượng tuần tháng giêng đến mười
chín tháng hai thôi. Nhưng rất mong nữ sĩ ở yên nơi nhà tu
tịnh nghiệp đừng bôn ba sương tuyết đến đây làm chi.
Nếu còn chấp trước không đổi ý, ấy là chẳng biết điều
hay dở, đã hại sự thanh tu của chính mình, lại phụ lời
thành thật của lão tăng nầy nữa. Tôi muốn cho nữ sĩ hiện
đời thành tựu đạo nghiệp, quyết không có ý chi làm ngăn
trở pháp duyên, xin nghĩ kỹ sẽ tự rõ. Đến như việc không
được xuất gia ý muốn quyên sinh, xét ra chí nguyện tuy có
mãnh liệt, nhưng tâm niệm ấy thật là si cuồng. Giữa thời
mạt pháp này, kẻ chơn tu rất ít, mấy ai là bậc hạnh giải
cao siêu kham làm thầy dẫn dắt cho người? Nữ sĩ chỉ biết
xuất gia làm ni là giải thoát, nhưng chưa rõ nhiều nỗi chướng
ngại của ni tăng. Và, cũng đừng tưởng rằng quyên sinh là
rảnh nợ đời đâu? Một khi chết rồi, thần thức sẽ bị
nghiệp lực dẫn dắt đi đầu thai, còn e do tâm niệm phẫn
uất ấy, bị sa đọa vào loài bàng sanh, muốn trở lại làm
thân người nữ cũng là việc cầu may khó được. Dù cho lại
được làm thân người nữ, hoặc thân nam, hay là thân vua
chúa cõi người, cõi trời, đâu có bảo đảm còn gặp Phật
Pháp mà tu hành? Và đâu chắc rằng ở trong Phật Pháp lại
hân hạnh gặp môn Tịnh Độ là một pháp hiện đời vượt
thoát vòng sanh tử? Dù có gặp được nữa, cũng đâu bằng
bây giờ cứ nhẫn nại yên sống mà tu trì, đợi đến khi
hết báo thân liền sanh về cõi Cực Lạc? Tôi đã cạn lời
khuyên nhắc, thử hỏi từ trước đến nay có ai vì nữ sĩ
chỉ rõ sự lợi hại ấy chăng? Nếu không y như lời lão
tăng, tức là phụ ơn dạy bảo, sự khổ về sau sẽ còn gấp
bội hơn ngày hôm nay nữa!
ỏĐường
đạo tuy bằng song khó dắt. Phải do nơi kẻ quyết lòng đi.õ
Vậy nghe cùng không, nữ sĩ tự nên suy xét. Xin nhờ đem những
lời trên đây chuyển lại cho trinh nữ Phước Liên được
biết.
Thơ
gởi Đế Nhàn Pháp Sư
Ấn Quang
từ lúc mới xuất gia liền tin pháp môn Tịnh Độ, nhưng vì
nghiệp chướng che lấp, trong hai mươi năm nay, ngày luống
qua ngày. Nghĩ những thẹn khi tự thấy miệng tuy niệm Phật,
song lòng không nhiễm đạo! Gần đây, nhờ ơn Pháp Sư khuyên
nhắc, xin thề không dám để phụ tấm lòng chiếu cố, xót
thương. Chỉ khổ nỗi hôn trầm, tán loạn thay nhau đánh đổ,
đạo lực không thêm được chút nào, lối cũ vẫn còn nguyên
dấu
cũ. Cho nên mỗi ngày tôi xem hơn mười tờ tịnh điển, mong
nương theo ngôn hạnh sáng suốt của người xưa để phát
lòng thẳng tấn.
Pháp môn
Bảo Vương Tùy Tức, tôi thử dùng thì thấy vọng niệm không
còn sôi nổi như lúc trước, tưởng rằng lâu ngày chắc cũng
có lúc được nhìn cảnh mây tạnh trời trong. Tôi tra trong
Lạc Bang Văn Loại và Thánh hiền Lục đều thấy có chép
đoạn này, bỗng chợt hiểu phép Thập Niệm mượn hơi nhiếp
tâm của ngài Từ Vân là căn cứ ở nơi đây. Và, trong bộ
Liên Tông Bảo Giám cũng có nói đến nữa. Như thế đủ thấy
người xưa liệu biết cơ nghi đời mạt pháp, nếu phi phương
pháp nầy chắc khó nỗi gia công, nên đã dự lập ra trước.
Nhưng cổ nhơn ít ai đem môn Bảo Vương Tùy Tức để giáo
hóa, vì thuở trước căn tánh người còn sáng lẹ, một khi
phát lòng quả quyết, tự được nhất tâm. Đời nay, người
chướng nặng căn độn như tôi, e đến chết cũng không được
cảnh giới không loạn. Vì thế, tôi không dám giấu sự dở
riêng của mình, mong thỉnh ý nơi bậc cao minh; vậy có nên
thực hành cùng chăng, xin nhờ chỉ rõ? Tôi lại nghĩ: phép
này nhiếp cả Ngũ Đình Tâm Quán, nếu có thể theo hơi thở
mà niệm, tức là gồm đủ hai môn: Sổ Tức và Niệm Phật.
Nếu nhiếp tâm niệm Phật thì lòng tham nhiễm lần lần dứt
tuyệt, sân hận không còn lẫy lừng, khi hôn trầm tán loạn
đã lui, trí huệ liền hiện mà phá luôn cả si mê nữa. Pháp
môn nhiếp sáu căn của đức Thế Chí, theo ngu ý thì những
người niệm Phật lơ là hiện thời, dường như chẳng nên
dùng, vì nếu không lần chuỗi ghi số, họ sẽ trở thành
biếng trễ. Khác hơn thế, những ai quyết tâm niệm Phật,
nếu bỏ phép này, nhất định khó thành Tam Muội.
Pháp Sư nương
bản nguyện lợi sanh, tự mình tuy không dùng, nhưng cũng nên
vì người thí nghiệm, để dạy kẻ hậu lai. Phép nhiếp sáu
căn với bậc lợi cơ, trong một hai thất, quyết sẽ được
không loạn. Dù cho hạng ngu kém như tôi, nếu cố gia công
hoặc tám năm hay mười năm, tưởng may ra có thể được nhất
tâm.
Thơ
đáp một Cư Sĩ ở Vĩnh Gia
Người niệm
Phật chẳng phải không thể trì chú, nhưng cần nên phân chủ,
trợ cho rõ ràng, tự nhiên trợ cũng về chủ. Nếu lơ là
xem đồng như nhau thì chủ cũng không thành chủ nữa! Chú
Chuẩn Đề, Đại Bi đâu có hơn kém, nếu tâm chí thành, pháp
pháp đều linh, tâm không chí thành, pháp pháp không linh. Một
câu niệm Phật bao trùm đại tạng giáo, đầy đủ tất cả,
vẫn không thiếu sót pháp nào. Bậc thông tông thông giáo mới
có thể làm người chơn niệm Phật, và hạng ngu tối không
hiểu chi, chỉ biết thành thật vâng lời, cũng có thể làm
người chơn niệm Phật. Ngoài hai hạng này, chơn hay không
đều do nơi mình gắng sức, tự xét có thực hành đúng giáo
pháp cùng chăng? Đến như tu Tịnh Độ, đã có ý quyết định
không nghi, cần gì phải hỏi sự hiệu nghiệm của người
khác? Dù cho cả thế gian đều không hiệu nghiệm cũng chẳng
sanh một niệm nghi ngờ vì lời thành thật của Phật, Tổ
có thể đủ làm bằng cớ. Nếu cứ hỏi sự hiệu nghiệm
của người khác, tức là tâm còn do dự, chưa tin chắc lời
của Phật, việc làm tất khó xong. Bậc anh liệt, quyết chẳng
đến đỗi bỏ lời Phật theo lời người. Những kẻ không
chủ trương chỉ lấy sự hiệu nghiệm bên ngoài làm tiên
đạo, thật là đáng thương xót!
ỏTùy Tự
Ý Tam Muộiõ là đường lối tu chung từ phàm đến thánh.
Hàng sơ tâm Bồ Tát trong ấy nói, tuy gồm nhiếp tất cả
phàm phu, song thật ra là chỉ cho bậc sơ trụ Bồ Tát ở Viên
giáo, đã phát ba tâm chứng ba đức. Bậc nầy do phát lý tâm
của chính nhân, chứng đức pháp thân, phát huệ tâm của
liễu nhân, chứng đức bát nhã, phát thiện tâm của duyên
nhân chứng đức giải thoát, nên có thể hiện thân thập
pháp giới ở trong mười phương quốc độ, khắp ứng các
cơ mà làm việc cầu Phật độ sanh. Thế nên sơ tâm không
phải chỉ riêng cho hạng phàm phu mới phát tâm tu hành. Cư
sĩ thấy trong Kim Luân Chú nói về việc ngộ pháp Nhị Không,
chứng lý Thật Tướng, liền vui mừng khấp khởi muốn đứng
ra nhận lãnh, tôi e cho không khỏi lạc vào lưới ma. Vậy
xin chỉ rõ việc ấy ra đây, để cư sĩ hiểu biết, tránh
sự sai lầm. ỏNgộ pháp Nhị Không, chứng lý Thật Tướngõ,
chính là thân phận của hàng sơ tâm Bồ Tát đã nói trên.
Pháp thức trong quyển ấy chỉ dạy, hạng phàm phu có thể
y theo mà tu hành. Đến như về thân phận, dù cho bậc Thanh
Văn đủ đại thần thông cũng không đảm đương nổi, huống
là phàm phu? Lại, trong ấy mấy đoạn: ỏKhông chỗ trụ sanh
tâm, không trụ pháp bố thí, ba luân thể không, một đạo
thanh tịnh, đều phát minh rất rõ.õ Tôi muốn đem những nghĩa
này làm thành bài tụng cho người đọc hiểu được cương
yếu, nhưng vì bận nhiều việc không được rảnh, để hẹn
lại năm sau. Đến như chỗ nói: ỏQuán thân tức không quán
chi cả, chỉ quán vô duyênõ, vô duyên chính là nghĩa ỏkhông,
không có tánh chiõ trong Tùy Tự Ý Tam Muội đã nói. Và, vì
ỏkhông có chiõ nên không duyên vào đâu được. Nếu chẳng
do nơi cội gốc này, chém một dao cho đứt đoạn, thì làm
sao dứt được mối phan duyên?
Mấy lời
trên đây tuy giản lược, song ý nghĩa rất rộng sâu. Xin thuật
lại cho Từ Quân được rõ.
Thơ
đáp một Cư Sĩ
(Phụ
nguyên thơ)
(Bỉ nhân
rất tin pháp môn Tịnh Độ, đã quyết định phụng hành,
nhưng với hai chữ ỏNguyện, Hạnhõ còn phải nhờ dạy bảo.
ỏNguyện cùng Hạnh nên đi riêng hay chung?õ Vấn đề này
lâu nay tôi vẫn hằng thắc mắc. Xin chia hai phương diện để
luận:
1. Nếu
Nguyện và Hạnh riêng, thì trước khi niệm Phật phải phát
nguyện cầu sanh, như đọc bài văn trong nghi thức Thập Niệm
của ngài Từ Vân chẳng hạn, rồi sau mới niệm. Và, khi niệm
Phật phải làm sao cho ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không
tâm, tâm và miệng như một, cứ như thế mà niệm mãi, tuyệt
chẳng có ý nguyện cầu sanh. Y theo phương pháp này mà niệm
thì sanh về Thượng Phẩm. Đây là căn cứ theo lời của ngài
Triệt Ngộ Thiền Sư.
2. Nếu
Nguyện và Hạnh chung, là trong khi niệm kiêm cả nguyện, thì
tiếng cùng tâm phải tha thiết như trẻ thơ té xuống nước
cầu cứu với mẹ. Đây là lời của ngài Ngọc Phong Thiền
Sư. Lại, Kiên Mật Đại Sư cũng bảo: ỏSáu chữ hồng danh,
trong mỗi niệm đủ tâm ưa chánõ, cùng với thuyết của ngài
Ngọc Phong vẫn đồng.
So hai phương
diện trên đây, thuyết thứ nhất dường như thiếu sự khẩn
thiết trong khi niệm Phật, Ngẫu Ích Đại Sư đã bảo: ỏCầu
sanh Tịnh Độ toàn nhờ nơi tín nguyện, thiếu hai điều kiện
này, dù niệm đến gió thổi không vào, mưa rơi chẳng lọt,
chắc như tường đồng vách sắt, cũng không được vãng sanh.õ
Thế thì nếu theo thuyết thứ nhất, e khi niệm đến một
lòng không loạn, cũng chưa đứng vững. Như theo thuyết thứ
hai thì trong khi niệm Phật nơi tâm còn giữ chữ nguyện, sợ
rằng dù lòng không loạn, cũng khó được thuần nhất. Gần
đây, Sư Vi Vi ở Hàng Châu cũng tỏ sự lo ngại về việc
ỏNguyện Hạnh chẳng thể kiêm chẳng thể không kiêmõ như
tôi.
Với hai
thuyết trên, kẻ mạt học tối tăm nầy chưa biết giải quyết
thế nào? Tưởng rằng bậc cao hiền chắc có lời luận xác
đáng, xin vì người sau chỉ rõ bến bờ).
Pháp môn
Tịnh Độ lấy Tín, Nguyện, Hạnh làm tông, như cái đảnh
có ba chân, thiếu một tất không đứng vững. Các hạ siêng
tu Tịnh Nghiệp, với chữ Tín đã quyết định không còn nghi,
đến như Nguyện, Hạnh, thì tợ hồ có sự chấp kia đây
đối đãi, nên không thể suốt thông dung hội. Vì thế, nơi
pháp viên diệu không ngại bỗng tự sanh nhiều điều chướng
ngại, khiến cho ánh trăng sáng muôn vầng của ngài Triệt
Ngộ, Kiên Mật, Ngẫu Ích, chỉ nhân một sợi tơ trước mắt
mà thành ra cách phân. Thật cũng đáng tiếc lắm!
Người chơn
niệm Phật, trong khi niệm vẫn đầy đủ ba món Tín, Nguyện,
Hạnh. Như con nhớ mẹ, lúc cảm thương kêu gọi, quyết chẳng
khi nào có tâm niệm không tin và không nguyện thấy bóng Từ
Thân. Thế thì còn hỏi chi ỏNguyện, Hạnh chung hay riêngõ,
còn nói chi ỏcó Nguyện tâm khó thuần nhấtõ và ỏchẳng
thể kiêm chẳng thể không kiêm.õ Ấy là không việc mà thêm
việc đó! Xem lời các hạ và luận điệu của vị tăng kia
dường như cả hai đều chưa biết thiết thật hành trì trong
câu niệm Phật, không khác nào người chưa cất bước đi,
đã vội nghĩ ngợi đến cảnh tượng lúc về nhà. Thế nên,
với những pháp ngữ đối trị sự phân biệt của cổ nhân,
trở lại càng thêm phân biệt! Thử hỏi: ỏNgoài tâm không
Phật, ngoài Phật không tâmõ, chẳng khẩn thiết mà được
như thế ư? Không tín nguyện mà được như thế ư? Lời của
hai ngài Triệt Ngộ, Kiên Mật tuy có khác, song thật ra ý nghĩa
vẫn giúp đỡ thành tựu lẫn nhau, các hạ lại nhận làm
ỏNguyện, Hạnh chung, riêngõ có thể gọi là thiếu con mắt
trạch pháp đó! Đến như lời của Ngẫu Ích Đại Sư chính
là món pháp dược để đối trị hạng người nương tựa
Thiền Tông, niệm đức Di Đà tự tánh, cảnh Tịnh Độ duy
tâm, không tu đúng theo tông chỉ của môn Niệm Phật, chỉ
cầu được một lòng không loạn làm mức cuối cùng. Ấy
là việc ngoài tông Tịnh Độ, sao các hạ lại dẫn ra so sánh
với điểm tín nguyện đầy đủ của sự chơn tu, khiến cho
đường lối lẫn lộn như thế?
Trên đây
là ước về lý mà nói chung, nếu về sự, thì phát nguyện
nên ở vào khoảng sớm, tối, khi niệm Phật xong. Lúc ấy,
hoặc dùng bài văn ỏTiểu Tịnh Độõ, như có đủ thời
giờ, nên đọc bài Tịnh Độ Văn của ngài Liên Trì. Bài
nầy lời ý đều đầy đủ, đứng đầu các bài văn Tịnh
Độ xưa nay. Nên biết, đọc nguyện văn là y theo văn mà thật
tâm phát nguyện, không phải đọc qua một lần là phát nguyện
đâu! Trừ lúc phát nguyện sớm và tối, trong tất cả các
thời khác chỉ hết lòng khẩn thiết niệm Phật mà thôi.
Thơ
đáp Cư Sĩ Trần Huệ Siêu
Được thơ,
biết cư sĩ lòng mộ đạo thâm thiết, tôi rất vui mừng!
Nhưng vì duyên sự quá nhiều, thêm phải gấp giảo định
lại bộ An Sĩ Toàn Thơ, nên sự phúc đáp có phần chậm trễ.
Tâm tham,
giận, mê người người đều có, song nếu biết đó là bịnh
thì thế lực của nó cũng không đến đỗi lẫy lừng. Ví
như kẻ trộm vào nhà, nếu chủ nhân nhận lầm là người
nhà, tất nhiên tài vật đều bị nó lấy hết. Như gia chủ
biết đó là kẻ trộm, đuổi ngay liền tức khắc, thì trong
nhà yên ổn, của cải mới được bảo toàn. Cổ đức nói:
ỏKhông sợ niệm khởi sớm, chỉ lo giác ngộ chậm.õ Tham,
giận, mê dù có nổi lên, giác ngộ được, tâm ấy liền
tiêu diệt. Trái lại, nếu an nhiên xem nó như người trong
nhà, thì có khác nào nhận giặc làm con, bảo sao tiền của
không bị hao mất?
Niệm Phật
không thể khẩn thiết, vì chẳng biết cõi Ta Bà khổ lụy,
miền Cực Lạc an vui. Phải nghĩ rằng: ỏThân người khó
được, trung quốc khó sanh, Pháp Phật khó nghe, môn Tịnh Độ
lại càng khó gặp. Hiện thời, nếu ta không chí tâm niệm
Phật, một khi vô thường đến, nhất định sẽ theo nghiệp
ác nặng nề trong đời này hoặc kiếp trước mà đọa vào
ba đường dữ, chịu sự khổ lâu dài, biết chừng nào mới
được thoát ly?õ Thường nghĩ như thế, sẽ tự tỉnh ngộ,
tha thiết. Và phải tưởng đến sự khổ nơi địa ngục mà
phát tâm bồ đề. Bồ đề tâm là lòng lợi mình lợi người.
Khi phát tâm này, như đồ máy được gắn điện, có năng
lực rất mạnh mẽ mau lẹ, sự tiêu nghiệp chướng thêm phước
huệ, những căn lành công đức bình thường không thể sánh
kịp.
Bị cảnh
xoay chuyển là do công tu hãy còn cạn cợt, nên khi trong lòng
có sự giận mừng, nét xấu, đẹp liền hiện ra nơi mặt.
Nếu chánh niệm nhiều, tự nhiên tất cả phiền não đều
giảm nhẹ. Cho nên, người chơn tu tuy ở cảnh trần lao, hằng
tinh chuyên rèn luyện, khiến cho nghiệp tập lần lần tiêu
diệt. Ấy mới là công phu thiết thật, và như thế tâm sẽ
được tự chủ, thoát khỏi sự chi phối do hoàn cảnh bên
ngoài.
Người tại
gia không theo chúng, sự tụng niệm đều tùy mình, hoặc ngồi,
đứng, quì, đi nhiễu quanh đều được, không nên chấp định
một lối nào. Nếu chấp định, người sẽ dễ nhọc, tâm
khó tương ưng. Nếu châm chước theo sức khỏe, công phu của
mình, lựa điều thích hợp mà làm, mới có lợi ích. Cứ
theo lệ thông thường, thì trước nên đi nhiễu quanh, kế
đó ngồi, rồi sau quì. Như đi nhiễu và quì thấy mỏi nhọc,
nên ngồi niệm, ngồi lâu sanh hôn trầm, thì đi nhiễu quanh
bàn Phật hoặc đứng niệm, đợi khi hôn trầm tan mới trở
lại ngồi. Khi niệm nên coi theo đồng hồ định thời, đừng
lần chuỗi, vì lần chuỗi khó dưỡng tâm.
Thơ
đáp Ly Ẩn Tẩu
Vừa rồi
Hải Thi Đạo Nhơn ở Gia Hưng có chuyển đến cho tôi phong
thơ của các hạ. Xem xong, biết các hạ từ lâu đã gia công
tu Tiên, chỗ sở đắc rất thâm, nay lại muốn hỏi môn Tịnh
Độ là pháp cứu cánh trong đạo Phật. Ấy có thể gọi là
người từ kiếp trước đã trồng sâu căn lành đối với
Phật Pháp, nên không chấp theo sự câu kiến của thần Hà
Bá, mà biết nghĩ tìm trong biển giáo, bến giải thoát hoàn
toàn. Nhưng các hạ đã quen biết với Hải Thi Đạo Nhơn,
sao không hỏi người, lại bỏ chỗ cao minh tìm nơi thấp kém,
e rằng có phụ với sở vọng chăng? Hải Thi vốn là bậc
kiêm thông tông giáo, gồm tu Thiền Tịnh, chính là chiếc thuyền
đại nguyện trong biển sanh tử đó. Vì người quá khiêm tốn,
nên lấy chữ thi tự đặt tên, thật ra nếu trong biển sanh
tử mà gặp được cái tử thi ấy, quyết sẽ mau lên bờ
giác, yên ổn trở lại quê nhà. Như thế chẳng hơn tìm hỏi
Ấn Quang là kẻ dung tăng, đối với pháp môn kém phần hiểu
biết hay sao? Nhưng các hạ đã tưởng lầm hỏi đến, tôi
cũng xin tùy chỗ thiển kiến đáp lại, hoặc may có thể vì
người giải chút nghi ngờ chăng?
Thiết nghĩ
trong thể đạo Phật, Tiên, vẫn đồng nguồn, nhưng về chi
phái thật ra cách nhau xa khác. Đạo Phật dạy người trước
tiên tu phép quán Tứ Niệm Xứ, quán thân không sạch, thọ
là khổ, tâm vô thường và pháp vô ngã. Khi được biết thân,
thọ, tâm, pháp là không sạch, khổ, vô thường, vô ngã, đều
giả dối như mộng huyễn, thì tánh chơn như sẽ tự hiện
bày. Đạo Tiên ước về lúc chánh truyền ban đầu, cũng không
chuyên chủ nơi sự luyện đơn vận khí để cầu trường
sanh, nhưng người sau tu hành lại lầm cho đó là tông chỉ
chơn chánh. Đạo Phật bao trùm tất cả pháp, chẳng những
đối với vấn đề thân tâm tánh mạng, phát huy rõ ràng,
mà các việc nhỏ của thế đế như hiếu, đễ, trung, tín,
lễ, nghĩa, liêm, sỉ, cũng không bỏ sót. Duy về việc luyện
đơn vận khí, trong Phật Pháp tuyệt không nói đến một chữ,
lại còn răn cấm là khác nữa. Vì lẽ bên Tiên thì khiến
cho người giữ gìn thân tâm làm chân thật, bên Phật lại
chỉ rõ thân tâm vốn giả dối, theo duyên sanh diệt, không
phải là bản hữu chân tâm. Phép luyện đơn chẳng phải không
bổ ích, song chỉ có thể làm cho người sống lâu, nhẫn đến
thành Tiên sanh lên trời, nếu nói về sự giải thoát luân
hồi thì vẫn còn là việc mộng. Các hạ đã biết Tiên có
số kiếp, Phật thọ không cùng, thì trong lúc tuổi cao nầy,
phải chuyên tâm gắng sức nơi pháp môn Tịnh Độ. Việc tham
học thiền, giáo, nên giản lược qua, bởi các pháp ấy rộng
lớn sâu xa không dễ gì nghiên cứu, dù tìm đến chỗ cùng
cực, cũng phải trở về môn Niệm Phật mới có thể trong
hiện đời giải quyết được sự sanh tử. Phàm những kinh
luận về Tịnh Độ, các hạ phải gấp gấp tìm xem, y theo
đó thực hành, tin chắc lời của Phật, Tổ, không nên vì
chỗ mình chưa hiểu đến vội đem lòng nghi. Nếu có thể
đầy đủ cả Tín Nguyện Hạnh, tự nhiên sẽ được nhờ
sức từ của Phật tiếp dẫn về Tây Phương. Một khi đã
vãng sanh thì gần đức Di Đà, bạn cùng hải chúng, lần lần
chứng quả vô sanh, lên ngôi Bổ Xứ. Chừng ấy nhìn lại
việc thành Tiên làm kẻ tùy thuộc cho Thiên Đế, sánh với
địa vị hiện tại, thật cách nhau như vực thẳm trời xa!
Quyển Mộng
Đông Ngữ Lục và các thuyết của Bành Thiệu Thăng mà các
hạ nói, chắc là sự trộm văn sửa đổi của nhà luyện
đơn, không phải chính thật trong nguyên thơ. Bởi nhà luyện
đơn cũng có kẻ cho ngồi vận khí là tham thiền, nên mới
nói ỏniệm Phật cùng tham thiền đồng, chỉ hơi khác với
đạo pháp.õ Câu ỏchỉ hơi khác với đạo phápõ, chính là
bên đạo gia thêm vào. Trừ câu này ra, toàn văn tuy nghĩa lý
không quá sai lầm, nhưng vẫn lủng củng mơ hồ. Trong Mộng
Đông Ngữ Lục tuyệt không có văn nầy, ấy là do nhà luyện
đơn trộm lấy văn nghĩa biên chép ra, sự thật chính họ
cũng không hiểu nữa. Nhưng nay chẳng cần biện rõ việc ấy
làm chi, xin tìm xem quyển Mộng Đông Ngữ Lục sẽ tự biết.
Đến như chỗ họ dẫn những lời của Bành Nhị Lâm cư sĩ
cũng đồng với việc trên đây, song sự sai lầm lại càng
nhiều hơn. Đoạn nói: ỏBốn chữ A Di Đà Phật dễ niệm,
chỉ cần mỗi niệm nối nhau một lòng không loạn, mới có
thể nhất khí tuần hoàn. Chừng ấy tinh khí thần gom lại
một chỗ, lâu ngày thành xá lợi tử, lâu nữa kết làm bồ
đề châu mà thành Phật.õ Trên đây là đem phép niệm Phật
làm phép luyện đơn. Nhị Lâm cư sĩ quyết không nói những
lời ấy. Đó là do hạng chánh nhãn chưa mở, nên lấy chánh
làm tà. Mấy quyển Huệ Mạng Kinh, Tiên Phật Hiệp Tông của
họ viết ra, sự sai lầm lại càng quá lắm. Hạng người
tà ngụy ấy dẫn lời của người, cải đầu sửa đuôi để
chứng minh cho lý thuyết mình. Tội trạng khinh miệt chánh
lý, vu khống bậc tiền hiền, mê hoặc người đời của họ
thật không bút mực nào tả ra cho xiết! Những kẻ đó chỉ
cầu hư danh trong một thời, đâu dè về sau phải chịu nhiều
sự khốn khổ, nên đức Như Lai gọi là hạng người đáng
xót thương!
Đến như
chỗ luận về phép ỏhồi quang phản chiếuõ, tuy không đến
đỗi trở ngại, song câu ỏhai mắt chăm nhìn đầu ngón tayõ
chắc có lẽ dẫn lầm câu ỏhai mắt chăm nhìn nơi chót mũi.õ
Hoặc khi đó là cách thức của Nhị Lâm cư sĩ lập ra, nhưng
chắp tay lâu không khỏi mỏi nhọc, đâu bằng quán ánh sáng
trắng nơi chót mũi được tự tại an vui hơn? Bởi người
mới tập định, niệm khó quy nhất, nếu thường quán nơi
chót mũi thì tâm không còn chạy theo cảnh bên ngoài. Đây
là phép quán thiển cận của kẻ sơ cơ vậy. Quyển Mộng
Đông Ngữ Lục do cư sĩ Tiền Y Am trích những đoạn chuyên
chỉ Tịnh Độ trong bộ Mộng Đông Di Tập in ra, cho lưu thông
ở phương nam, để giúp sự đòi hỏi của những người từ
lâu mong mến bộ ấy mà không được gặp. Toàn tập ở Bắc
Kinh mới đủ, phương nam duy có quyển lược bản của Tiền
Y Am sao ra mà thôi. Quyển Ngữ Lục ấy lời lẽ tinh diệu,
là một tác phẩm đứng vào bậc nhất từ ngài Ngẫu Ích
và Tĩnh Am về sau. Với quyển này, nếu các hạ có thể đi
đến cùng, tin chắc không nghi, quyết sẽ cảm được sen vàng
nở trong ao báu, khi lâm chung thác chất nơi đó mà làm khách
mới ở cõi Tây Phương. Quyển Di Đà Yếu Giải là cây kim
chỉ nam của người tu Tịnh Nghiệp, kinh này ở phần đầu
bộ Tịnh Độ Thập Yếu. Tịnh Độ Thập Yếu là thành phần
của những giáo pháp rất hợp lý hợp cơ do ngài Ngẫu Ích
sưu tập trong các kinh sách Tịnh Độ viết ra, gồm có mười
loại nên gọi là Thập Yếu. Đại Sư để quyển Di Đà Yếu
Giải ở trước là tỏ ý tôn trọng kinh.
Xá Lợi,
vốn tiếng Phạn, dịch nghĩa: thân cốt hoặc linh cốt, là
kết tinh của sức tu giới định huệ, không phải do luyện
khí thần mà thành. Đó cũng là biểu tướng của người tu
đến cảnh tâm cùng Phật hiệp. Nhưng xá lợi chẳng phải
chỉ do thịt, xương, tóc biến thành trong lúc thiêu thân, mà
sự xuất hiện của nó có nhiều trường hợp khác nhau. Như
thuở xưa có vị cao tăng đang khi tắm gội bỗng được xá
lợi. Tuyết Nham Khâm Thiền Sư lúc cạo đầu, tóc Ngài biến
thành một xâu xá lợi. Có kẻ chí tâm niệm Phật, xá lợi
từ trong miệng vọt ra. Một người thợ khắc văn Long Thơ
Tịnh Độ, xá lợi hiện trong bản cây. Có vị tín nữ thêu
Phật, thêu kinh, được xá lợi dưới mũi kim. Lại có kẻ
đi xa về, ngậm ngùi thương cảm tế lễ trước tượng, nơi
tượng bỗng hiện ra xá lợi. Thiền Sư Trường Khánh Nhàn,
khi tịch rồi thiêu hóa, nhằm lúc trời nổi gió lớn, khói
bay xa ba bốn mươi dậm, khói đến chỗ nào nơi ấy đều
có xá lợi, lượm gom lại được hơn bốn thạch. Thế thì
biết xá lợi do đạo lực hóa hiện, nhà luyện đơn không
rõ, lầm tưởng là luyện tinh khí thần kết thành. Bởi họ
thấy những danh tướng trong Phật Pháp, không chịu tìm hiểu
căn nguyên, vội đem phụ hội một cách sai lạc vào sự luyện
đơn của mình. Chỉ nghe nói chứng quả bồ đề mới được
thành Phật, chưa từng có việc luyện tinh khí thần, trước
thành xá lợi tử, sau kết làm bồ đề châu mà thành Phật
bao giờ! Tánh và mạng của nhà luyện đơn nói, đều là lối
tu chấp trước trên thần thức, sắc thân. Họ không hiểu
lẽ ấy, trở lại chê đạo Phật chỉ tu tánh không biết
tu mạng, đâu dè việc làm của họ chính là chỗ phá trừ
bên Phật giáo. Về việc nầy, các hạ tìm xem đoạn quán
Tứ Niệm Xứ trong Kinh Phật sẽ tự rõ.
Bồ Tát Quán
Thế Âm từ kiếp lâu xa về trước đã thành Phật, hiệu
là Chánh Pháp Minh. Vì lòng từ bi sâu thiết, nên tuy ở cõi
Thường Tịch, Ngài hóa hình nơi ba cõi: Thực Báo, Phương
Tiện, Đồng Cư; tuy thường hầu cận đức A Di Đà, mà vẫn
khắp hiện thân Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, cho đến
thân lục đạo trong mười phương pháp giới. Những việc
lợi ích, Ngài đều làm, chúng sanh đáng dùng thân nào được
độ, Ngài hiện thân ấy mà nói pháp. Non Phổ Đà chính là
nơi ứng tích của Bồ Tát. Vì muốn cho chúng sanh có chỗ
bày tỏ lòng thành, đức Quán Thế Âm mới thị tịch tại
núi này, đâu phải Bồ Tát chỉ ở Phổ Đà mà không ở những
nơi khác ư? Như chỉ duy một vầng trăng trên trời mà bóng
in khắp ngàn muôn sông hồ, từ biển cả cho đến giọt sương,
những nơi có nước trong là có trăng hiện. Song nếu nước
đục, bóng trăng sẽ mờ khuất. Tâm tánh ta ví như nước,
nếu chúng sanh một lòng chuyên niệm đức Quán Thế Âm, Bồ
Tát liền dùng đủ cách thuận, nghịch, ẩn, hiển, khiến
cho được lợi ích. Trái lại, nếu không chuyên nhất, tức
là nước tâm lờ đục, tất nhiên khó mong nhờ Ngài cứu
độ. Nghĩa nầy rất thâm, xin xem đoạn ỏPhổ Đà Sơn Chíõ,
trong bộ Văn sao của tôi sẽ tự rõ. Bồ Tát khi còn ở trong
nhân, do quán tánh nghe mà chứng viên thông, lúc ở trên quả,
do quán tiếng chúng sanh xưng danh hiệu mà tìm đến cứu độ,
nên gọi là Quán Thế Âm. Lại, Bồ Tát đạo pháp rộng lớn
không ngằn, tùy theo căn tánh của tất cả chúng sanh, nói
đủ pháp để giáo hóa, không riêng lập một môn nào, nên
pháp môn của Ngài gọi là Phổ Môn.
Trên đây
là việc thiển cận, vì các hạ chưa nghiên cứu đến, nên
không rõ. Tôi cũng tùy lời hỏi mà đáp, thật ra đó không
phải là môn Tịnh Độ, một giáo pháp có thể đem lại cho
các hạ sự ích lợi hoàn toàn. Nhưng nếu nói rõ việc ấy
ra đây, lại e lòng dòng thêm phí giấy mực. Các hạ nên thỉnh
Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Tịnh Độ Thập
Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Triệt Ngộ Ngữ Lục mà
xem, sự lý tu chứng thế nào, trong ấy có nói đủ tất cả.
Thơ
đáp Cư Sĩ Phạm Cổ Nông
Pháp môn
Tịnh Độ lấy Tín, Nguyện, Hạnh làm tông; Tín, Nguyện có
rất sâu thiết, Hạnh mới được tinh cần. Khi tai họa gấp
rút, siêng năng thành khẩn, lúc bình thường không việc, chậm
trễ biếng lười, là sự tu hành không chí quyết, và đó
cũng là bệnh chung của phàm phu. Nhưng sống trong tình thế
hiện giờ, ví như người nằm yên trên đống củi to, ở
dưới lửa đã phát cháy tuy chưa đốt đến thân, trong giây
phút khói lửa sẽ mịt mù, không phương trốn tránh. Nếu
còn lơ láo qua ngày, không chuyên chí cầu cứu nơi câu niệm
Phật, sự thấy hiểu cũng là cạn cợt lắm!
Trong Phật
Pháp, tu về các môn khác, tất phải đến chỗ hạnh khởi
giải tuyệt mới thật có ích, chẳng riêng gì phép quán tưởng
của Tịnh Độ Tông. Người tu thiền lấy một câu thoại
đầu không nghĩa vị làm bổn mạng ngươn thần, để tất
cả tâm trí vào đó, thường thường tham cứu chẳng kể ngày
tháng, đợi đến khi tiêu hết tình kiến đối với cảnh
trong ngoài, mới gọi là đại triệt đại ngộ. Đó chẳng
phải là hạnh khởi giải tuyệt ư? Đức Lục Tổ bảo: ỏchỉ
xem Kinh Kim Cang cũng được tỏ lòng thấy tánh.õ Đó chẳng
phải là hạnh khởi giải tuyệt ư? Chữ khởi đây phải hiểu
nghĩa là cực. Duy dùng sức cùng cực mới có thể quên cả
thân tâm thế giới, lặng suốt một màu. Nếu công chưa cùng
cực, tuy quán niệm, song vẫn còn có kia đây, toàn là việc
của tình phàm, toàn là sự thấy hiểu phân biệt, đâu được
chân thật lợi ích? Cho nên người xưa khi tham thiền, đầu
não như cây khô, do đó đạo phong truyền rộng khắp nơi,
đời sau còn ngưỡng mộ. Sự lợi ích ấy đều do ở nơi
một chữ cực mà thôi.
Người đời
nay ưa nói suông, ít hay thực hành. Tu tịnh nghiệp phải gồm
cả lý sự, mà sự lại càng nên chuyên hơn. Tại sao thế?
Vì người thông hiểu lý, toàn sự đều lý, trọn ngày sự
trì tức là lý trì. Kẻ chưa rõ lý, khi nghe nói lý trì, cảm
thấy nghĩa ấy mầu nhiệm, lại hợp với ý biếng trễ không
thích phiền nhọc của mình, liền chấp lý bỏ sự. Đâu ngờ
khi bỏ sự, lý cũng thành ra việc suông! Mong các hạ đem việc
tu hành kiêm cả sự lý khuyên bảo mọi người, công đức
sẽ lớn lắm!
Thơ
đáp Cư Sĩ Ngô Hi Chân
Môn niệm
Phật ước có bốn pháp: Trì Danh, Quán Tưởng, Quán Tượng
và Thật Tướng. Tựu trung, chỉ có pháp Trì Danh nhiếp cơ
rất rộng, đã dễ tu lại không khởi các việc ma. Nếu muốn
quán tưởng, phải xem kỹ Quán Kinh và hiểu rõ những lý:
tức tâm là Phật, tâm tịnh Phật hiện, các cảnh đều duy
tâm không nên chấp trước... Đã rõ cảnh không phải từ
bên ngoài đến, không sanh chấp trước, thì cảnh càng nhiệm
mầu, tâm càng thuần nhất. Nếu được như thế, sự lợi
ích của quán tưởng đâu phải kém nhỏ, tầm thường?
Trái lại,
như cảnh quán chẳng thuần, lẽ đạo chưa thấu suốt, chỉ
đem tâm vội gấp muốn thấy cảnh thì toàn thể là vọng,
đã không được thông cảm với Phật, còn làm nhân cho việc
ma. Bởi do gấp muốn thấy cảnh, tâm càng thêm vọng động,
khiến cho oan gia nhiều kiếp về trước nhân cơ hội đó hóa
hiện cảnh giới để làm cho hành giả mê lầm. Lúc ban sơ
dụng tâm đã không chơn, đâu biết đó là cảnh ma hiện,
nên vui mừng khấp khởi, tình niệm chẳng yên. Nhân đó, ma
liền dựa vào làm cho mê tâm mất tánh. Chừng ấy dù có Phật
hiện thân cũng không biết làm sao cứu độ!
Vậy cư sĩ
nên lượng xét căn cơ mình, đừng quá ham việc cao xa, thành
ra muốn lợi trở lại mang hại. Thiện Đạo Hòa Thượng nói:
ỏChúng sanh đời mạt pháp thần thức rối loạn, đem tâm
thô quán cảnh nhiệm, quyết khó thành công.õ Cho nên đức
Phật thương xót, riêng mở môn Trì Danh, vì sợ có kẻ không
khéo dụng tâm, lạc vào ma cảnh. Tu theo phép Trì Danh rất
dễ, chỉ giữ một niệm nối nhau sẽ được vãng sanh. Lại
sự chí thành khẩn thiết cũng là phương pháp mầu để trị
tâm vọng và ma cảnh.
Cư Sĩ nên
xét lại kỹ, và đem hết tâm lực cố gắng tu hành!
Thơ
đáp Cư Sĩ Lưu Trí Không
Vừa rồi
tiếp được thơ, biết ngươi bệnh lâu mới lành mạnh, lòng
rất vui mừng! Việc sống thác trọng đại, cơn vô thường
chóng mau, tai nghe nói đến tuy kinh sợ, song không thống thiết
bằng tự thân đã từng trải những giờ phút gần kề cảnh
ấy. Vậy ngươi nên phát lòng đại Bồ Đề, đem tình cảnh
mình khuyên trong thân quyến, bạn bè, và người có duyên thì
sự lợi ích mới được rộng.
Trong thơ
nói: vì niệm Phật mau gấp nên mới lao hơi, đó là tại ngươi
không khéo dụng tâm. Niệm Phật phải tùy sức mình, hoặc
niệm thầm hay ra tiếng, niệm lớn hay nhỏ đều được, sao
lại cứ một mặt niệm to tiếng, để đến đỗi lao hơi
thành bệnh như thế? Bệnh nặng của ngươi tuy bởi nơi thương
khí mà ra, song kỳ thật là do sức nghiệp từ vô lượng kiếp
đến nay phát hiện. Bởi ngươi niệm Phật tinh tấn, nên mới
chuyển hậu báo làm hiện báo, đổi quả nặng thành quả
nhẹ, chớ nên vì đó mà thối chí, nghi ngờ. Một cơn bệnh
ấy, đã tiêu không biết bao nhiêu kiếp số những tội ác
đáng lẽ phải đọa vào tam đồ. Thế mới biết sức Phật
khó nghĩ, ơn Phật khó đền, nên sanh lòng vui mừng, hổ thẹn
và càng thêm tin tưởng. Từ đây, phải siêng năng tu hành,
đem môn Tịnh Độ khuyên người, khiến cho những kẻ thân
sơ đều được sanh về Cực Lạc. Ấy mới không phụ ơn
đức Phật đã dùng cơn bệnh thức tỉnh và chuyển trừ tội
chướng cho mình.
Non Phổ Đà
không cần đến làm chi, vì tiền đi về tốn kém nhiều. Ở
nhà niệm Phật công phu dễ tiến, lại khỏi phí của tiền
sức khỏe. Như thế có phải tiện lợi hơn không?
Thơ
đáp Cư Sĩ Châu Trí Mậu (1 - 3)
1
Được thơ,
biết ngươi sanh lòng tin, muốn quy y Phật Pháp. Song, quy y Tam
Bảo phải dứt điều ác, làm việc lành, gắng giữ trọn
luân thường, phát lòng tín nguyện cầu sanh về Tây Phương.
Lại phải có lòng thương xót hộ sanh, đừng giết hại, và
trì lục trai hoặc thập trai. Nếu chưa có thể dùng thanh đạm
trọn đời, cũng chớ nên quá tham trong sự ăn uống. Như thế
mới không trái với tâm từ bi của Phật. Ngươi tên Châu
Mộc, vậy nay ta đặt cho pháp danh là Trí Mậu. Bởi tâm tánh
ví như cây, do lửa phiền não thiêu đốt nên cây ấy héo
khô. Nếu có trí huệ thì phiền não không sanh, và cây tâm
tánh tự nhiên tốt tươi thạnh mậu.
Muốn thọ
năm giới, trước nên xét lại tâm mình, như có thể giữ
được mà không phạm, thì hỏi cư sĩ Hóa Tam về cách tự
thọ giới trước bàn Phật, y sẽ chỉ lại cho. Đã quy hướng
Phật Pháp, phải xem kỹ Văn Sao của ta, y theo thực hành, mới
không bị kẻ dung thường làm mê hoặc, khiến cho sanh tâm
cầu phước báo đời sau, hoặc mong thành Tiên rồi tu phép
luyện đơn vận khí. Nếu có thể lãnh hội ý nghĩa trong bộ
Văn Sao, thì dù có trăm ngàn ngoại đạo cũng không thể lay
chuyển được tâm ngươi. Chớ cho rằng bộ ấy không đủ
y cứ, phải biết những lời trong đó đều do theo ý nghĩa
Kinh Phật, hoặc thành ngôn của các bậc Tổ Sư, thiện tri
thức mà thuật lại, không phải tự ta bịa đặt viết ra.
Nên nhận
xét kỹ, sự lợi ích sẽ được nhiều.
2
Ngươi ý
chí rất kém, tâm lại quá cao, tuy nói vâng lời ta, thật ra
toàn là y theo thiên kiến của mình. Trong môn Tịnh Độ, lòng
tin là cội gốc. Tin được chắc, kẻ phạm tội ngũ nghịch
thập ác đều có thể vãng sanh; tin chưa vững, bậc thông
tông thông giáo còn hoặc nghiệp cũng không duyên phận. Ngươi
đã chẳng phải là bậc thông tông giáo, có thể nương sức
mình trừ hoặc nghiệp để khỏi sanh tử, lại không tin nơi
sức Phật và công đức của tự tánh đều không thể nghĩ
bàn, thì làm sao để giải thoát? Phải biết, nếu đủ tín
nguyện sâu thiết cầu về Tây Phương, không người nào chẳng
được vãng sanh. Niệm Phật là pháp tròn tắt mau lẹ để
thoát nẻo luân hồi; với sự hướng thượng của môn nầy,
người còn chưa biết, lại sanh lòng háo thắng đi nghiên cứu
Khởi Tín Luận! Luận Khởi Tín tuy là cương yếu của Phật
Pháp, nhưng khó đem sự lợi ích cho người căn tánh kém và
kẻ sơ cơ. Dù cho nghiên cứu Luận Khởi Tín được thông
suốt không còn nghi, đến khi dụng công lại phải y theo phép
niệm Phật cầu sanh mới là ổn thỏa. Nếu nói về lý giải,
lại còn có những nghĩa của pháp tướng, thiền, giáo rất
nhiệm mầu, ngươi làm sao thông suốt cho hết được? Tâm
ngươi cao như thế, mà không biết hạn lượng sự cao theo
sức mình! Ngươi tự cho rằng ỏcăn tánh hèn kém, khó mong
sanh về Tây Phương, chỉ cầu không đọa tam đồ cũng vui
lòngõ, đâu biết nếu chẳng được vãng sanh, tương lai sẽ
bị đọa vào ác đạo? Quan niệm ấy đã không hợp với giáo
huấn của Phật, lại trái lời khuyên bảo của ta, mà gọi:
ỏvâng theo thực hành, một lòng niệm Phậtõ, là thế nào?
Nay ngươi
chức nghiệp tầm thường, tư cách chưa phải là bậc cao thượng,
sự lập chí như thế, thật khiến cho người đáng than thở
và buồn cười? Nên dứt hẳn mối cao vọng cầu làm bậc
đại thông gia ấy đi, rồi chuyên tâm nghiên cứu các kinh
sách Tịnh Độ và xem lại mấy bức thơ ta gửi cho Cao Thiệu
Lân, Từ Nữ Sĩ trong Văn Sao, y theo đó thực hành. Chớ nên
vì mình căn tánh hèn kém mà nâng cao sự vãng sanh, để việc
ấy ra vòng ngoài. Phải dùng câu niệm Phật làm bổn mạng
ngươn thần, tùy lúc động tịnh đều nắm chắc đừng buông
bỏ. Lại, những tâm niệm, hành vi phải giữ sao cho hợp với
tông chỉ: dứt các điều ác, làm những việc lành. Ngoài
ra, nếu có sức dư, không ngại gì tụng trì kinh chú, nên
lấy sự chí thành làm cội gốc, đừng gấp muốn suốt thông
nghĩa lý. Nếu trước vội muốn thấu hiểu, chẳng chuyên
nơi sự tụng niệm chí thành, dù có thấu hiểu cũng không
thật ích, huống chi khó thấu hiểu ư? Đến như các môn pháp
tướng, thiền, giáo, nghiên cứu trọn đời cũng khó nắm
được chỗ quy thú, dù được, còn phải dứt sạch hết hoặc
nghiệp mới thoát khỏi luân hồi. Nói đến việc nầy, e rằng
mộng không thành mộng đó thôi! Bộ Văn Sao của ta, ngươi
xem chưa kỹ, nên lời nói ra, cao thì tới mây xanh, thấp lại
tận đáy biển thẳm. Trong ấy, luôn luôn nhắc đến những
kinh sách nên xem, cách thức xem như thế nào, và sự khó được
lợi ích của các môn pháp tướng, thiền, giáo. Sở dĩ có
sự khó dễ vì pháp môn Tịnh Độ nương nhờ sức từ của
Phật, các pháp môn khác chỉ dùng sức mình. Những môn kia
đều là giáo lý thông thường, như sĩ phu trong đời do tài
đức mà làm quan cao thấp. Môn Tịnh Độ là giáo lý đặc
biệt, như thái tử mới sanh đã tôn quí hơn quần thần. Vì
thế, hai bên không thể sánh nhau, mà phàm phu nghiệp chướng
vẫn nhiều, há chẳng dè dặt trong sự lựa chọn pháp môn
để tu hành ư?
Ngươi đã
tự nhận năng lực kém hèn, kiếp người có hạn, sao còn
mãi theo cao vọng của mình? Việc ấy ta không ép, nếu ngươi
làm được bậc đại thông gia thì cũng hân hạnh cho Phật
giáo, sợ e khi làm chẳng xong, môn Tịnh Độ lại chưa tin
chắc, rồi ra hỏng mất cả đôi. Giả sử đời nay có tu
được chút ít công đức, kiếp sau nhất định sẽ lạc vào
vòng phước báo của thế gian. Ngươi thử nghĩ: người giàu
sang đã mấy ai không tạo nghiệp? Như ngày nay vận nước
nguy biến, dân chúng lầm than, đều do bởi ảnh hưởng phước
báo của những người đời trước tu hành không trí huệ.
Khi đã lạc vào kiếp sau, ngươi làm thế nào bảo đảm được
mình khỏi mê lầm, không đọa ác đạo? Nếu chẳng sanh về
Tây Phương, một đời không đọa còn có thể, hai đời không
đọa rất ít lắm đó!
3
Phật nói
kinh chú rất nhiều, đâu có ai thọ trì cho hết được. Nên
người xưa chỉ lựa những thứ cần yếu để làm nhật khóa.
Sớm thì tụng Lăng Nghiêm, Đại Bi, Thập Chú, Tâm Kinh, xong
lại niệm Phật hồi hướng Tây Phương. Tối đến tụng Kinh
Di Đà, văn Đại Sám Hối, Mông Sơn, rồi niệm Phật hồi
hướng. Hiện nay các chùa đều bớt công phu, thời mai chỉ
tụng Lăng Nghiêm, Tâm Kinh; thời hôm tụng Kinh Di Đà, văn
Mông Sơn, cách ngày lại tụng Kinh Đại Sám Hối, Mông Sơn.
Ngươi nói nghi nhật tụng trong tòng lâm kinh chú rất nhiều,
đó là những thứ phụ lục ngoài hai thời khóa. Người cư
sĩ tại gia có thể y theo thời khóa của nhà thiền, hoặc
tùy ý mình lập riêng. Như sớm tối đều tụng Kinh Di Đà,
chú Vãng Sanh, niệm Phật; hoặc sớm tụng chú Đại Bi, niệm
Phật, tối tụng Kinh Di Đà, chú Vãng Sanh, niệm Phật, hay
trì Kinh Kim Cang cũng được. Nhưng không luận tụng niệm kinh
chú chi, đều phải niệm Phật hồi hướng, mới hợp với
tông chỉ tu Tịnh Nghiệp.
Những điều
ngươi bày tỏ, tuy cũng là ý tốt, song thật ra không có chủ
định, chỉ theo hoàn cảnh đổi dời. Kinh nào, chú nào, lại
chẳng ngợi khen công đức thù thắng? Theo quan niệm của ngươi,
tụng kinh nầy sẽ mất kinh kia, trì chú này tất buông chú
nọ, bỏ hết nghĩ tiếc uổng, tụng trì cả sức lại không
kham. Như thế có được gọi là người chơn tu hiểu lý hay
chăng? Suy rộng ra, nếu ngươi gặp nhà tu Thiền khen pháp Thiền,
bác Tịnh Độ, cũng bắt chước họ tham thiền; cho đến các
môn khác như: Thiên Thai, Mật Tông, Pháp Tướng, Hiền Thủ,
mỗi khi gặp bậc tri thức đề xướng, tất ngươi sẽ mất
chủ định bỏ đây theo kia. Chẳng biết ngươi căn tánh bậc
nào, mà muốn thông suốt hết các pháp như thế? Ta chỉ e
cho ngươi nghiệp sâu trí cạn, khi làm nhà đại thông gia không
được, lại bỏ luôn cả pháp nương sức Phật vãng sanh của
môn Tịnh Độ, để lúc lâm chung nếu chẳng đi đến vạc
dầu lò lửa, quyết lạc vào bụng ngựa thai lừa! Giả sử
may mắn không mất thân người chăng nữa, lại do đời nay
tuy có công tu song thiếu chánh trí, nên nhân đó hưởng được
si phước, rồi tạo nghiệp ác, khi vô thường đến, cũng
đi thẳng vào tam đồ. Chừng ấy muốn nghe tên trời, đất,
cha, mẹ còn không được, huống nữa là biết pháp môn Tịnh
Độ ư? Ngươi xem Văn sao của ta hiểu như thế nào? Phải
biết, một câu A Di Đà Phật, nếu trì niệm đến chỗ cùng
cực, thành Phật còn có dư. Ngươi cho rằng tụng Kinh Di Đà
và niệm Phật, không thể diệt được định nghiệp hay sao?
Phật Pháp cũng như tiền, tại người khéo dùng; ngươi có
tiền, làm việc gì lại không được? Nếu ngươi có thể
chuyên tu một pháp, cầu sự chi lại chẳng thành? Lựa là
phải khăng khăng trì chú này tụng kinh kia mới được công
đức như thế, ngoài ra không được những công đức khác
hay sao? Nếu khéo thể theo lời ta, tự nhiên hiểu một việc
rõ trăm việc; bằng chẳng thế, dù nói cho nhiều, tâm ngươi
cũng không chủ định, nào có ích gì?
Phàm phu ở
trong mê, lòng tin không vững, nên thường có những việc khi
tu hành khi tạo nghiệp, thoạt tin tưởng thoạt nghi ngờ. Đó
cũng bởi lúc ban sơ người dạy không biết cách, nếu trước
tiên đem việc nhân quả thiển cận chỉ bảo lần lần, thì
đâu đến đỗi có sự mê lầm trái ngược như thế! Nhưng
tội đã qua tuy rất nặng, nếu hết lòng sám hối sửa đổi,
y theo sự hiểu biết chơn chánh, chí quyết tu tịnh nghiệp,
lợi mình lợi người, thì tội chướng tiêu mòn, tâm tánh
sáng tỏ. Nên kinh nói: ỏTrong đời có hai bậc anh dũng, một
là người không tạo tội, hai là kẻ đã tạo mà biết sám
hối.õ Một chữ hối phải tự đáy lòng phát lộ, nếu không
thật tâm ăn năn chừa cải, dù nói lắm cũng là thừa. Ví
như người đọc phương thuốc mà không chịu uống, làm sao
bệnh được lành? Nếu có thể y theo cách trị dùng thuốc,
chắc chắn bệnh sẽ tiêu trừ, thân tâm yên ổn. Chỉ lo cho
kẻ lập chí chẳng bền, thành ra cảnh một ngày phơi nắng
mười ngày để lạnh, rồi cũng luống có danh suông, không
phần thật ích mà thôi!
Thơ
đáp Cư Sĩ Uông Võ Mộc
(Phụ
nguyên thơ)
ỏVõ Mộc
tôi niệm Phật đã mười năm, mới biết chút ít ý thú. Thiết
nghĩ phương pháp chỉ dạy về môn Niệm Phật của các ngài
Linh Phong, Mộng Đông và bộ Văn Sao của Tôn Sư, đại để
đều là phương tiện lập thiết cho hạng ngu tối quê mùa.
Như bọn chúng tôi, được thông hiểu chữ nghĩa, hay suy nghĩ
tìm tòi, nếu cứ dùng phương pháp ấy, chắc không thể sanh
về Tịnh Độ! Theo ngu ý, những người niệm Phật cầu vãng
sanh, trước tiên phải biết: ỏniệm Phật đó là ai?õ Vì
nếu thấy được chủ nhân ông, thì niệm Phật mới có chỗ
dùng và sự vãng sanh mới có thể cầm vững! Chẳng riêng
gì niệm Phật cần nên như thế, mà tụng kinh trì chú đều
phải theo đường lối này. Người đời nay khi nói đến niệm
Phật là bảo: phải niệm cho già giặn, tấm lòng như chết,
mới có thể vãng sanh. Họ đâu biết, nếu không rõ ỏniệm
Phật đó là ai?õ, thì làm sao niệm được già giặn và tấm
lòng như chết? Như thế, giả sử mỗi ngày đêm niệm đến
mười muôn câu, đối với việc sanh tử có quan hệ gì? Có
kẻ lại bảo: ỏNgười xưa phần nhiều chuyên chú về trì
danh, không tham cứu trong câu niệm Phật.õ Võ Mộc tôi nói:
ỏĐó là việc sau khi tham cứu xong rồi của cổ đức, hạng
sơ cơ không nên bắt chước theo.õ Người niệm Phật đời
nay, mười phần hết chín không rõ ý chỉ ấy, thật đáng
thương xót! Tôi thường thường cạn lời khuyên bảo, mà
hàng cư sĩ có kẻ lại cho tôi là tà kiến nữa. Nghĩa mầu
Phật Pháp chìm tối đến thế, nghĩ nên than thở, ngậm ngùi!
Nay xin
bày tỏ nỗi lòng, kính cầu Tôn Sư ấn chứng và mong đem
nghĩa ấy giải rộng thêm ra. Đó là hạnh phúc của chúng
sanh, đâu những riêng cho Võ Mộc!õ
Xem rõ ý
trong thơ, riêng lòng xiết bao khen ngợi! Các hạ có tâm rất
tốt, muốn cho mọi người đều thấy tánh bản lai, để sanh
về phẩm sen bậc thượng. Quán Kinh nói: ỏđọc tụng Đại
Thừa, hiểu nghĩa thứ nhứt, phát lòng Bồ Đề, khuyên nhắc
người tuõ, âu là bản ý của các hạ đó chăng?
Tuy nhiên,
nói Pháp cần phải hợp cơ, nếu không xét căn cơ, lầm cho
pháp dược, thì đồng với kẻ dung y dùng thuốc giết người.
Nên biết hai tông Thiền, Tịnh, cội nguồn vẫn một, song
lối tu khác nhau, bên Thiền lấy sự tánh bản lai làm tông,
bên Tịnh dùng tín, nguyện, niệm Phật cầu sanh làm yếu chỉ.
Giả sử người đời là bậc thượng căn, thì lời của các
hạ thật có lợi vô cùng. Nhưng xét lại, người thượng
căn rất ít, kẻ trung, hạ quá nhiều, nếu không dạy phát
tín, nguyện cầu sanh, mà bảo tham cứu câu niệm Phật, đó
là điều hại lớn. Vì nếu tham cứu được tỏ ngộ, vẫn
là hân hạnh, song còn phải phát thêm nguyện thiết để cầu
vãng sanh. Như tham cứu không thành, mà trong tâm thường giữ
quan niệm ỏkhông biết niệm Phật đó là ai, chẳng thể vãng
sanhõ, thì quyết khó cùng Phật cảm thông và được nhờ
sự tiếp dẫn. Người biết được ỏniệm Phật đó là aiõ,
chính là bậc đã tỏ ngộ, thấy suốt chân tánh. Đời nay,
tham cứu đến chỗ đại triệt đại ngộ phỏng có mấy người?
Đừng nói chi ai, chính như các hạ cũng chưa từng đến địa
vị ấy. Tại sao biết được? Vì nếu các hạ đã đến,
quyết không khi nào dám nói những câu: ỏNgài Linh Phong, Mộng
Đông lập thiết để dạy hạng ngu tối quê mùa không biết
niệm Phật đó là ai, chẳng được gọi là niệm già giặn,
tấm lòng như chết dù cho mỗi ngày đêm niệm mười muôn
câu, không quan hệ gì đến việc sanh tử, và người xưa chuyên
chủ trì danh là việc sau khi tham cứu, kẻ sơ cơ chẳng nên
bắt chước theo.õ
Xét ra, tấm
lòng các hạ thật muốn cho mình và người đều được lợi
ích, song lời nói của các hạ, chính mình đã lầm, lại khiến
cho người lạc lầm. Từ đây xin chớ nói những lời ấy
nữa, bằng chẳng thế, pháp môn rộng lớn độ khắp chúng
sanh của Như Lai, sẽ bị các hạ vùi sâu, đóng kín, không
được mở thông. Lỗi ấy đồng với tội khinh báng Phật,
Pháp, Tăng, phải nên dè dặt! Chỗ thấy hiểu của các hạ,
vì không khéo tùy căn cơ, đem pháp thượng căn khuyên mọi
người tu tập, nên thành ra thiên chấp, sai lầm. Các hạ chẳng
biết, lại cho mình hiểu đúng với nghĩa chân thật của Phật
Pháp, cầu xin ấn chứng. Ấn Quang tuy hèn kém, đâu dám lầm
hứa nhận khen giúp theo, để chính mình và các hạ đều sa
vào tội khinh báng Tam Bảo hay sao? Như cho lời của kẻ dung
tăng nầy không đúng, xin cứ tùy ý mỗi người tự đi riêng
đường lối là xong. Ấn Quang đâu dám ép kẻ khác bỏ sở
kiến để theo ý hèn của mình. Chẳng qua vì các hạ hỏi
đến, nên bất đắc dĩ phải thẳng lời dâng chút ngu thành
đó thôi.
Rất hân
hạnh mong nhờ sự xét nghĩ xa rộng.
Thơ
đáp một Cư Sĩ ở Ninh Ba
Được thơ,
biết cư sĩ siêng năng đối trị tập quán, song chưa có hiệu
quả. Ấy cũng bởi cư sĩ không tha thiết vì việc sanh tử,
chỉ đem ỏpháp môn vượt phàm lên thánh, dứt trừ hoặc
nghiệp, thành tựu tịnh niệmõ làm việc lấy có bên ngoài.
Duyên cớ không được thật hiệu là tại chỗ đó! Phải
thường xét nghĩ: ỏthân người khó được, pháp Phật khó
nghe, môn Tịnh Độ rất là khó gặp. Nay ta đã may mắn được
thân trượng phu, lại có phước duyên gặp môn Tịnh Độ,
dám đâu đem ngày giờ hữu hạn để cho sắc, thanh, danh, lợi
làm tiêu mòn hầu hết ư? Nỡ cam chịu mãi kiếp sống suông
chết uổng, rồi vẫn đắm chìm trong sáu nẻo, không biết
chừng nào thoát ly đó ư?õ Lại phải đem một chữ chết
dán trên đầu, khi gặp những cảnh không nên tham luyến, liền
biết đó là vạc dầu lò lửa để làm khổ lụy cho mình,
thì quyết không đến đỗi như con sâu bướm bay vào đèn
tự tìm lấy sự thiêu đốt. Lúc gặp những điều đáng làm,
lại nghĩ đó là thuyền từ cứu khổ, tất không còn sụt
sè trong việc nhân nghĩa, biếng trễ trên bước tu hành. Được
như thế, cảnh trần cũng có thể làm duyên nhập đạo, đâu
phải từ bỏ hết sự đời mới là tu niệm? Nếu tâm có
chủ trương, không xoay theo hoàn cảnh, thì trần lao chính là
giải thoát. Cho nên trong Kinh Kim Cang luôn luôn khuyên bảo chẳng
nên trụ tướng; tuy phát tâm độ tất cả chúng sanh, song
không thấy mình là người hóa độ, chúng sanh là kẻ được
độ, cho đến dù chứng đạo cũng không thấy có tướng thọ
giả của quả Vô Dư Niết Bàn. Đó mới là người thật hành
đạo Bồ Tát. Nếu trái lại, dù có độ sanh hay tu muôn công
đức cũng không thể hợp với thật tướng nhứt thừa, vì
chẳng hiểu chúng sanh đương thể là Phật, trong tánh bình
đẳng lầm khởi tâm phân biệt, khiến cho sự lợi ích vô
vi hóa thành phước hữu vi. Như thế làm sao thoát khỏi vòng
ràng buộc của sắc tài danh lợi?
Người đời
phải có bổn phận, nhưng ngoài phần việc của mình, chớ
thêm điều chi vô ích. Nên để thời giờ ấy, tùy phần tùy
sức tụng kinh niệm Phật, quyết chí cầu sanh Tây Phương.
Đối với tất cả việc lành, hoặc ra của tiền, hoặc dùng
lời để tán trợ, nếu không thì phát lòng vui theo, cũng có
công đức. Và phải đem những điều nầy hồi hướng, phụ
giúp cho sự vãng sanh. Như thuyền đã đi theo nước xuôi lại
thêm chèo chống, chẳng là mau về bến hơn đó ư? Ba mươi
tháng chạp là ngày cuối năm, nếu không có dự bị saün sàng
trước, đâu thể tránh khỏi các tay chủ nợ? Giờ phút lâm
chung chính là ngày ba mươi tháng chạp của một đời, nếu
chưa đủ tư lương Tín Nguyện Hạnh, vẫn còn nghiệp ác tham
giận mê, thì oan gia chủ nợ từ vô lượng kiếp đến nay,
đều tới đòi hỏi lôi kéo. Đừng nói chi kẻ không biết
pháp môn Tịnh Độ phải bó tay theo nghiệp thọ sanh, tức
như người biết mà không thiết thật tu trì, cũng bị nghiệp
lực lôi cuốn vào sáu nẻo, kiếp kiếp chịu luân hồi. Muốn
cầu đường yếu thoát khổ, chỉ có mỗi niệm sợ chết
và chết mà đọa vào ác đạo, thì câu niệm Phật tự thuần,
phẩm sen thành tựu, tất cả cảnh trần không thể cướp
được chánh niệm.
Tâm Kinh nói:
ỏSoi thấy năm uẩn đều không, vượt qua tất cả khổ ách.õ
Năm uẩn bao quát thân tâm và ngoại cảnh, nếu thấy đó là
không, thì chính nơi năm uẩn mà rời năm uẩn, chỗ nào không
phải pháp môn đại giải thoát, cảnh giới đại Niết Bàn?
Thơ
đáp Nhạc Tiên Kiều
Muốn trong
hiện đời thật ích, phải y pháp môn Tịnh Độ, tín nguyện
niệm Phật cầu sanh Tây Phương, tất sẽ thoát đường sanh
tử. Nếu chẳng thế, đừng nói kẻ không được chơn truyền
của Phật giáo không thể giải thoát, dù có được cũng tuyệt
phần! Vì được chơn truyền là đại triệt đại ngộ không
phải thật chứng. Chứng mới khỏi luân hồi, ngộ vẫn
còn trong vòng ấy. Tu các pháp môn khác, đều phải dứt
hoặc chứng chơn mới thoát sanh tử. Riêng môn Tịnh Độ,
chỉ cần đủ tin sâu, nguyện thiết, trì danh hiệu Phật,
dứt các điều dữ, làm những việc lành, gồm tu cả hai phần
chánh trợ, quyết định sẽ vãng sanh. Hơn nữa, về phẩm
vị còn được chiếm ngôi ưu thắng. Lại chẳng những người
công hạnh tinh thuần quyết được sanh, mà kẻ phạm tội
ngũ nghịch thập ác, khi sắp chết biết tỉnh ngộ, hết sức
hổ thẹn, sợ hãi chí tâm niệm Phật vài câu liền mạng
chung, cũng quyết được sanh. Bởi đức Phật lòng từ rộng
lớn, chuyên lấy sự độ sanh làm bổn phận. Nếu kẻ nào
biết một niệm quay về, liền được nhiếp thọ. Đó gọi
là ỏnương nhờ sức Phật, đới nghiệp vãng sanh.õ
Người đời
mạt pháp, nếu tu các môn khác, không y theo Tịnh Độ, chỉ
được phước báo ở cõi trời, người và gieo nhân giải
thoát nơi kiếp lâu xa về sau mà thôi. Do bởi chúng sanh đời
nầy không đủ sức dứt hoặc nghiệp, nên gốc sanh tử hãy
còn. Như thế làm sao khỏi mọc lại mầm mộng sanh tử?
Thơ
đáp Cư Sĩ Trương Vân Lôi
Quyển Nhập
Phật Vấn Đáp có thể dẫn dắt kẻ sơ cơ khiến cho họ
lần lần đi sâu vào giáo lý đạo Phật phát lòng tin chơn
chánh. Nếu in ra đem biếu tặng để kết pháp duyên, thì công
đức còn chi lớn hơn? Những quyển ấy luận rộng về sự
lý trong Phật giáo, tuy có nói đến pháp môn Tịnh Độ, thật
ra chưa tỏ bày hết ý nghĩa của tông nầy. Nếu người đã
có lòng tin, nên tìm xem các kinh sách Tịnh Độ. Như không
đủ phương tiện để khảo duyệt nhiều, thì đọc kỹ một
quyển Kỉnh Trung Kỉnh Hựu Kỉnh cũng được. Quyển này gom
góp những yếu nghĩa của tông Tịnh Độ, chia thành môn loại
rõ ràng, rất lợi ích cho kẻ sơ cơ. Nếu được xem, có thể
đi thẳng vào chỗ nhiệm mầu của môn Niệm Phật, đỡ tốn
công nghiên cứu các kinh sách Tịnh Độ khác.
Phật Pháp
tùy người mà lập, quyết không nên chấp theo quy củ thông
thường, khiến cho trái với căn cơ và mất sự lợi lớn:
một đời được liễu thoát. Vậy nên lượng theo căn tánh
mình, tự sắp đặt nghi thức tu trì. Chú Vãng Sanh bằng Phạm
Văn, học được rất tốt, song chớ nên sanh lòng phân biệt
cho lối tụng xưa nay là không đúng. Nếu có quan niệm ấy,
sẽ vướng thêm mối nghi ngờ đối với tất cả chú văn
trong đại tạng, rồi nhận lầm rằng những bài ấy không
hợp ý Phật. Nên biết thuở xưa các bậc tôn đức dịch
kinh, chẳng phải là làm việc luống suông, chớ thấy lối
dịch mới khác hơn, vội xem thường lối cũ. Hơn ngàn năm
trở lại đây, người tụng chú theo bản dịch cũ, được
lợi ích biết bao nhiêu, đâu phải những người ấy đều
không hiểu Phạm văn? Vậy học vẫn nên học, nhưng đừng
sanh quan niệm hơn kém thấp cao, thì sự lợi ích tự nhiên
không thể nghĩ bàn!
Phép trì
chú cũng giống như cách tham câu thoại đầu. Tham câu thoại
đầu, vì không thể giải nghĩa, nên dứt được tình phàm
phân biệt, chứng vào tánh thiên chơn. Trì chú bởi không biết
nghĩa lý, chỉ hết lòng thành khẩn tụng niệm, nên nghiệp
chướng tiêu trừ, phước huệ to rộng. Những sự lợi ích
ấy, không thể đem tâm tư nghĩ ngợi suy lường. Nghi thức
lễ Phật không tiện lập riêng cho người có việc cần kíp,
chỉ nên hết lòng thành khẩn, miệng xưng danh, thân cúi lạy,
tưởng như Phật hiện ở trước là được. Sống trong đời
kiếp trược, chúng sanh tranh đua giết hại lẫn nhau, nếu
không có lá bùa hộ thân, chắc khó khỏi tai họa. Lá bùa
ấy, chính là chí thành lễ niệm Phật A Di Đà. Lại, đức
Quán Thế Âm Đại Sĩ bi nguyện rộng sâu, tìm tiếng cứu
khổ, tùy cơ cảm liền ứng hiện, ngoài thời hôm sớm lễ
Phật, nên thêm lễ niệm Đại Sĩ, tất sẽ được sự gia
bị trong âm thầm, có thể đổi họa làm phước, gặp rủi
hóa may mà chính mình không tự biết.
Trên đây
là lời kẻ quê mùa ở phương ngoại vì người tri kỷ lập
phép cứu đời. Nếu nói rằng ỏvì tất cả thế gianõ, chẳng
phải là không thể được, chỉ e người đời không chịu
y phương pháp thực hành, thì biết làm sao?
Thơ
gởi Cư Sĩ Tạ Dung Thoát
Nơi quê hương
của các hạ được biết pháp môn Niệm Phật, là do Lâm Giới
Sanh thỉnh kinh sách Tịnh Độ đem về truyền bá. Nếu trong
đời trước các vị cư sĩ không trồng căn lành đối với
pháp môn ấy, thì đâu có thể lấy gương xưa làm thầy, sau
khi nghe rồi liền sanh lòng tín nguyện, tự tu và khuyên người
ư? Và, đâu có thể trong vòng không đầy mười lăm năm, đạo
pháp lan rộng như thế ư?
Xét về thiên
tư và cảnh duyên của các hạ đối với thời cơ pháp vận
hiện nay, thì chỉ nên giữ năm giới để hộ trì Tam Bảo,
truyền Tịnh Độ mà khuyên chúng vãng sanh, là hợp lý hợp
thời và cần yếu hơn hết. Tại sao tôi lại nói như thế?
Vì, các hạ tuổi đã hơn bốn mươi, căn tánh chưa phải là
bậc thượng, nếu muốn nghiên cứu Tạng Kinh, tham hỏi hàng
tri thức, e cho pháp môn quá rộng, ngày tháng chẳng nhiều,
rồi khi trở tay không kịp, có sự ăn năn. Lại hiện nay tuy
có bậc tri thức, song tăng chúng phần nhiều đều ô lạm,
bạn đồng hạnh ít người (đồng hạnh: bạn giúp đỡ về
phần tu tập, có thể khiển trách lẫn nhau, khiến cho đạo
hạnh tiến thêm), nếu khi chí hướng thượng suy kém, tất
sự biếng trễ cũng nương theo, khó bề gắng gượng. Như
tôi năm hai mươi mốt tuổi, từ cha mẹ xuất gia, cũng có
thể gọi là lập chí mạnh và phát tâm chơn. Nhưng đến nay
tuổi đã năm mươi ba, mà bên tông bên giáo đều không sở
đắc chi cả. Nghĩ tủi thẹn luống phụ ơn mẹ cha, uổng
làm con đức Phật! Song cũng may, đối với môn Tịnh Độ,
khi mới xuất gia học Kinh A Di Đà, tôi đã sanh lòng tin, thật
chưa nhờ bậc tri thức nào chỉ dạy. Vì lúc đó thầy thọ
nghiệp và các vị tri thức chỉ chuyên về sự tham cứu, những
lời khai thị đều phá môn Tịnh Độ. Tôi lượng biết sức
mình, nên không lay chuyển theo ai, dù Phật, Tổ hiện thân
cũng chẳng đổi ý, huống nữa là lời nói của bậc tri thức
bên tông Thiền? Lại hiện nay, chánh yếu tà mạnh, việc hộ
trì Phật Pháp, với tục thì dễ, với tăng lại khó. Nếu
các hạ giữ chắc năm giới, chuyên niệm Phật, về phần
tu thân lời và hạnh hiệp nhau, thì có thể truyền bá chánh
pháp, làm lợi ích cho mọi người. Song chớ nên ở địa vị
thầy mà tự cao, và thọ tiền của để lợi dưỡng. Phải
đem lẽ chánh khuyên bảo những kẻ thân sơ, tất mọi người
đều mến đức vâng theo lời. Đó gọi là: ỏsửa mình được
chánh, tuy không bảo người cũng theo, như cỏ ở trước ngọn
gió tất phải thuận chiều vậy.õ Lệnh lang không tin đạo
Phật, cũng chẳng nên ép, đợi khi nào cảnh ngộ đẩy đưa
khiến cho tánh thiên chơn phát lộ, chừng ấy chỉ dùng một
lời nhắc bảo, tự nhiên tấm lòng của y sẽ phơi phới hướng
về chánh pháp, khó nỗi cản ngăn.
Liên xã mới
mở phải có quy tắc nhất định và thận trọng về việc
cho người nữ dự vào. Chẳng nên bắt chước theo các nơi
khác, thờ ơ không kiểm ước, để đến đỗi một pháp vừa
lập trăm mối tệ sanh theo, điều ấy rất cần yếu. Không
cơ duyên được lễ bái xá lợi và gần gũi tòng lâm, việc
ấy có hại gì? Nếu khi thấy tượng Phật, tưởng như Phật
sống, thấy Kinh Phật, lời Tổ, tưởng như Phật, Tổ đối
trước mình chỉ dạy, tấm lòng kỉnh sợ không dám biếng
trễ, tức là trọn ngày được thấy Phật và gần gũi các
bậc Bồ Tát, Tổ Sư, thiện tri thức. Như thế, xá lợi và
tòng lâm có thấm vào đâu? Về tập quán thô lỗ, đừng nói
hàng cư sĩ, nếu người xuất gia mà không chơn tu, lại còn
quá hơn thế tục. Muốn trừ bỏ tánh ấy, trước phải nhận
rõ các pháp giữa đời đều là khổ, không, vô thường, vô
ngã, hoặc nhơ nhớp, thì ba ngọn lửa tham, giận, mê, sẽ
dịu tắt lần. Nếu chưa dứt được, phải dùng lòng ngay
thật, xót thương, nhẫn nhục, tha thứ mà đối trị. Thảng
hoặc còn chưa dứt, cứ tưởng rằng mình đã chết, thì bao
nhiêu sự nóng bức đều hóa thành mát mẻ tươi nhuần. Kinh
Báo Ân dạy phải lần lượt thọ giới, người xuất gia khi
thọ giới cũng y theo thứ đệ: giới Sa Di, Tỳ Kheo và Bồ
Tát. Nhưng người xưa thọ giới là phát tâm vì dứt sự sanh
tử, trái lại, người đời nay phần nhiều đều muốn cho
ra vẻ một vị đại tăng, đắc giới hay không, chẳng cần
nghĩ đến. Vì thế, mấy ông sư thiếu học thiếu tu bên ngoài,
đều là những người đã thọ qua ba đàn đại giới cả.
Sự tệ đó do bởi vua Thế Tổ nhà Thanh bỏ độ điệp, bãi
lệ thí tăng mà ra. Cho đến những kẻ xưng là thầy người,
song chỉ cầu danh lợi, tham quyến thuộc, cũng xuất phát từ
nguyên nhân ấy. Tôi e chư tăng ở quí địa không rõ điều
nầy, bảo rằng độ người xuất gia là việc rất tốt, để
cho hạng vô lại lẫn vào cửa Phật phá hủy chánh pháp, nên
chẳng sợ tị hiềm mà nói thẳng ra.
Môn Tịnh
Độ là pháp rất mầu nhiệm, viên đốn nhất trong một đời
thời giáo của đức Như Lai. (Viên đốn: một pháp đủ tất
cả pháp là viên, hiện đời tu, hiện đời giải thoát là
đốn). Hạng phàm phu thấp kém đều được dự vào, bậc
Đẳng Giác Bồ Tát cũng không thể vượt ra ngoài pháp ấy.
Thật là con đường rất tắt để mau đi đến quả Phật
cho thượng thánh hạ phàm. chư Phật, chư Tổ đều dùng môn
nầy làm chiếc thuyền từ để độ khắp tất cả chúng sanh.
Đối với một pháp như thế mà chẳng sanh lòng tin, hoặc
tin mà không chơn thiết, đó là người nghiệp chướng sâu
nặng, không ưng được giải thoát, sẽ phải chịu khổ luân
hồi không biết lúc nào ra khỏi. Khi đã ở trong vòng sanh
tử, dù có được làm thân trời, người cũng ngắn ngủi
như lữ khách nghỉ nơi quán trọ. Trái lại, phần đọa vào
ác đạo, thời gian rất lâu dài, như người ở yên nơi quê
nhà. Mỗi khi tôi nghĩ đến điều này, bất giác cả sợ,
nên chẳng nài mỏi nhọc, khẩn thiết tỏ với đồng nhân.
Nay xin dẫn một bằng chứng rõ ràng, để các hạ phát thêm
lòng tín nguyện và đem ra khuyên bảo mọi người.
Những kinh
chuyên nói về tông Tịnh Độ, có ba quyển: Phật Thuyết A
Di Đà, Quán Vô Lượng Thọ và Vô Lượng Thọ Kinh. Ngoài ra,
các kinh điển Đại Thừa phần nhiều đều phát minh pháp
môn nầy. Như Kinh Hoa Nghiêm là khi đức Phật mới thành đạo,
vì các bậc pháp thân Đại Sĩ trong bốn mươi mốt vị: Thập
Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác,
nói pháp cao cả về giới ngoại, hàng phàm phu và nhị thừa
đều không thể biết được. Sau rốt, trong phẩm Nhập Pháp
Giới, Thiện Tài đồng tử vâng lời dạy của đức Văn Thù,
đi tham phỏng khắp các bậc tri thức. (Đồng tử: danh từ
xưng tặng bậc dứt hoặc chứng chơn, phá vô minh trở về
bản tánh, tâm hạnh trong sạch chân thật ví như kẻ đồng
tử. Người đời không biết, vẽ hình tượng nhi đồng là
sai lầm. Như đức Văn Thù, trong Kinh Hoa Nghiêm có chỗ gọi
là Văn Thù Đồng Tử. Các kinh khác đôi khi cũng dùng danh
từ nầy để xưng những bậc Bồ Tát). Ban đầu Đồng Tử
ra mắt ngài Đức Vân nghe pháp môn Niệm Phật, liền chứng
bậc Sơ Trụ. Kế đó lần lượt tham học mọi nơi đều được
chứng, cho đến vị tri thức thứ năm mươi ba là đức Phổ
Hiền. Bấy giờ, Bồ Tát Phổ Hiền dùng oai thần gia bị,
khiến cho chỗ chứng của Đồng Tử bằng mình và chư Phật,
(đây gọi là Đẳng Giác Bồ Tát) rồi khuyên ngài Thiện Tài
cùng hải chúng Bồ Tát trong cõi Hoa Tạng phát mười nguyện
rộng lớn, đem công đức ấy hồi hướng về Tây Phương
Cực Lạc, để cầu mau phương tròn quả Vô Thượng Bồ Đề.
Lại, chương Hạ Phẩm Hạ Sanh trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ
nói: ỏNhững chúng sanh tạo năm tội nghịch, mười điều
ác, làm đủ những việc chẳng lành, sẽ phải đọa vào địa
ngục, trải qua nhiều kiếp chịu sự khổ vô cùng. Nhưng nếu
kẻ ấy khi sắp chết gặp bậc thiện tri thức khuyên bảo
niệm Phật, liền vâng lời niệm đủ mười câu, tức thì
tội chướng tiêu trừ, được vãng sanh.õ Như Trương Thiện
Hòa, Trương Chung Quì, trong Long Thơ Tịnh Độ Văn chính là
hạng người đó. Thế thì, trên như đức Văn Thù, Phổ Hiền
là những bậc Đại Bồ Tát, dưới như kẻ phạm năm nghịch
mười ác sắp đọa tam đồ, đều thuộc về cơ nhiếp hóa
của môn Tịnh Độ. Bao nhiêu đó cũng đủ thấy pháp môn
này quảng đại không bỏ sót một ai, và đức A Di Đà hạnh
nguyện rộng sâu, xem chúng sanh bình đẳng. Tôi thường có
đôi liễn:
ỏBỏ đường
tắt Tây Phương, chín cõi chúng sanh khó thể được tròn nên
quả giác.
Rời cửa
mầu Tịnh Độ, mười phương chư Phật không vẹn toàn độ
khắp hàng mê.õ
Các hạ gắng
phát lòng mạnh mẽ tinh tiến, đảm đương pháp này. Nên đem
những ngôn luận hợp cơ về sự truyền dương Tịnh Độ
của người xưa, giảng lại cho trong thôn ấp nghe. Làm sao
cho ở trần không nhiễm, nơi tục tu chơn, mới hợp với danh
nghĩa hai chữ dung thoát. Vì dung thoát là lẫn với trần mà
thoát khỏi trần vậy. Đó là ý kiến quê hèn của tôi, các
hạ nghĩ thế nào? Xin suy gẫm lại.
Thơ
đáp Cư Sĩ Tạ Thành Minh
Được thơ,
biết nơi quí địa còn có tâm pháp của Nho, Phật, các hạ
lại hết sức đảm đương, tôi rất lấy làm vui đẹp! Đến
như những lời khen tôi, thật là đưa ngọn cỏ khỏi lầu
cao, khoe mắt cá hơn châu ngọc, quá dùng theo lối khách sáo
ngoài đời, khiến cho người xiết bao hổ thẹn! Ấn Quang
vẫn một kẻ dung tăng, hằng đón lấy canh thừa cơm hẩm
nơi nhà bậc phú trưởng giả để tự nuôi sống, nếu có
ai không chê rằng nặng mùi, cũng đem để chia sớt cho nhau.
Nhưng cư sĩ Từ Huất Như bảo rằng thức ăn ấy có ích cho
người đói, nên mấy phen đem lời kẻ quê mùa nầy in ra lưu
bố, tuy về ý có phần khả thủ, song văn chương không đáng
để nhìn. Chẳng dè bộ Văn Sao của tôi lại làm lờn mắt
xanh của các hạ, thật nghĩ cảm thẹn không cùng! Trong ấy,
những điểm: chánh tâm, thành kính, dùng để đối trị sự
tìm cầu bên ngoài, sự không biết kiêng sợ của người đời
nay, cũng có đôi phần ích lợi cho kẻ sơ học. Nhưng, nếu
bậc thông Tông hiểu Giáo được trông thấy, chắc không khỏi
bắt nhợn ra. Tuy nhiên, nếu mửa hết những thức ăn khó
tiêu của Tông Giáo, thì canh thừa cơm hẩm ấy cũng có thể
bồi bổ ngươn khí, đợi đến khi sức khỏe phục hồi, lại
dùng thứ cao lương mỹ vị mới được thật ích.
Về các pháp
môn: Luật, Giáo, Thiền, Tịnh, thứ nào hợp cơ, xin xem kỹ
bài Tịnh Độ Quyết Nghi Luận trong Văn Sao của tôi sẽ tự
rõ. Bậc đại thông gia tuy gồm tu Thiền, Tịnh, song tất lấy
Tịnh Độ làm chủ. Nếu như hạng người thường không cần
phải nghiên cứu khắp kinh luận sâu xa, chỉ nên làm lành
dứt dữ, một lòng niệm Phật cầu về Tây Phương mà thôi.
Hạng người ấy vẫn sinh sống theo đời mà gồm tu đạo
xuất thế, tuy tợ hồ bình thường không chi kỳ lạ, song
được sự lợi ích chẳng thể nghĩ bàn! Vì kẻ quê mùa dốt
nát chỉ dùng lòng chơn thành tin tưởng niệm Phật, nên có
thể thầm hợp cùng đạo mầu, cảm thông với trí Phật.
Người thông hiểu giáo lý, nơi tâm thường hay tính toán suy
lường, nên trọn ngày thức thần ở trong vòng phân biệt,
so lại không bằng sự chơn thành của hạng ngu tối kia. Cho
nên, kẻ quê dốt niệm Phật rất dễ được lợi ích. Bậc
đại thông gia như có thể buông bỏ tất cả cũng dễ được
lợi ích; trái lại nếu chỉ suy lường nghĩa lý, chẳng những
không đắc ích, e có khi trở thành bệnh, hoặc chưa được
cho là được, lạc vào phái ngông cuồng.
Phép tham
thiền chẳng phải là cơ duyên của người đời nay, dù có
học cũng thành sự hiểu biết về văn tự, quyết không thể
tỏ suốt tâm tánh. Tại sao thế? Vì thiếu bậc thiện tri
thức dắt dìu chỉ định, lại người học chẳng biết tham
thiền là thế nào, phần nhiều tuy gọi tham thiền, song thật
ra là ngộ nhận. Trong bài luận ỏTông cùng Giáo không nên
lẫn lộnõ và ỏTịnh Độ Quyết Nghiõ, tôi đã chỉ phần
đại khái về việc trên đây. Người đời nay, không luận
căn cơ thượng, trung, hạ, đều phải gìn luân thường, giữ
lòng thành kính, tin chắc lý nhân quả, làm những điều lành
và chuyên niệm Phật cầu sanh về Tây Phương. Nhân quả là
cái lò lớn để nung phàm luyện thánh trong đạo pháp thế
và xuất thế gian. Nếu trước tiên không nghiên cứu về nhân
quả, sau khi thông hiểu Tông Giáo, e cho còn sự lỗi lầm đối
với vấn đề nầy, và đã lỗi lầm tất có phần sa đọa.
Vì thế, chớ cho nhân quả là cạn cợt mà xem thường. Phàm
phu vì tâm lượng nhỏ hẹp nên không hiểu thấu những chỗ
nói về nhân quả trong kinh, thật ra, các đấng Như Lai thành
Chánh Giác, chúng sanh đọa tam đồ, đều chẳng ngoài đạo
lý ấy. Nên lấy pháp thiển cận ở đời để làm phương
tiện vào đạo mầu, như các thiên: Văn Xương Âm Chất, Thái
Thượng Cảm Ứng chẳng hạn. Mấy quyển ấy, nếu xem kỹ
và thực hành theo thì mỗi người đều có thể thoát nẻo
luân hồi, hoặc ít ra cũng làm được hạng dân lương thiện.
Niệm Phật tuy trọng ở sự vãng sanh, nhưng khi niệm đến
cùng cực cũng ngộ được chân tâm, chẳng phải đối với
đời hiện tại hoàn toàn không lợi ích. Thuở xưa, Thiền
Sư Minh Giáo Tung mỗi ngày niệm thánh hiệu Quán Âm mười
muôn câu, về sau những kinh sách ở đời, Ngài không đọc
mà biết cả. Nên xem Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh
Hiền Lục, sẽ biết niệm Phật là nhiệm mầu. Về điều
này, trong Văn Sao của tôi cũng thường nói đến. Các hạ
bảo: ỏNiệm Phật không được lợi ích ngay trong đời hiện
tạiõ, đó là bởi chính mình chưa nghiên cứu các kinh luận
của Tịnh Tông. Cho đến quyển Văn Sao của tôi, có lẽ các
hạ cũng đọc qua như người chạy ngựa xem đèn, không tế
tâm tìm hiểu.
Đến như
giới luật, chẳng những chỉ riêng về hình thức bên ngoài,
mà nếu không giữ lòng thành kính cũng là trái phạm. Nhân
quả chính là trụ cốt của luật, nếu không biết hoặc mù
mờ đối với đạo lý nầy, tức đã trái luật, lỗi lầm.
Người niệm Phật, như giữ được tâm niệm hợp với chánh
lý, thì trong một hạnh gồm đủ cả: Luật, Giáo, Tịnh, Thiền.
Nên biết, tu các pháp môn kia đều phải dứt hết hoặc nghiệp
không còn mảy tơ, mới được giải thoát. Riêng môn Tịnh
Độ, nếu người trừ sạch phiền não được vãng sanh, tất
mau chứng pháp thân, kẻ nghiệp chướng còn nặng, khi về
Cực Lạc, cũng đã lên cõi thánh. So lại hai phương diện,
một bên toàn dùng sức mình, một bên nương nhờ sức Phật,
sự hơn kém cách xa như vực với trời. Có nhiều kẻ thông
minh, mỗi khi đọc sách về tông Thiền thấy có ý vị, liền
tự cho mình là thiền khách, muốn làm bậc cao nhân. Hạng
ấy không biết Thiền, Tịnh là thế nào, lầm chuốc lấy
lỗi tự tôn tự đại. Những kẻ có kiến giải như thế,
quyết không nên bắt chước. Nếu noi theo, thì với việc thoát
sanh tử, e cho trải qua kiếp số như bụi cũng khó mong cầu.
Xin xem kỹ
lại quyển Văn Sao của tôi sẽ tự rõ.
Thơ
đáp Cư Sĩ Mã Khế Tây (1 - 3)
1
Thời khóa
niệm Phật nên tùy chỗ thích hợp riêng của mỗi người
mà lập. Theo nghi thức ở Niệm Phật đường của các chùa
hiện nay, đều trước tụng Kinh A Di Đà, kế tụng ba biến
chú Vãng Sanh, xong lại đọc bài kệ khen Phật, đến cuối
bài, tiếp niệm ỏNam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới,
Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phậtõ, rồi đứng dậy đi quanh
theo bàn Phật mà niệm. Phép đi nhiễu quanh phải từ đông
qua na