(Tiếp
Theo)
10.
Trang
Nghiêm Tịnh Độ
Phật
bảo:
-Tu
Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Xưa kia Như Lai ở nơi Phật Nhiên
Đăng có đắc pháp gì chăng?
-Bạch
Thế Tôn, không. Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng thật vô sở
đắc. -Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Bồ Tát có trang nghiêm
Phật độ chăng? -Bạch Thế Tôn, không. Tại sao? Nói trang
nghiêm Phật độ, tức phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm
(nghĩa ba câu).
-Cho
nên Tu Bồ Đề! Chư Bồ Tát Ma Ha Tát nên sanh tâm trong sạch
như thế, là chẳng nên khởi tâm trụ sắc, chẳng nên khởi
tâm trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp, ưng vô sở trụ mà sanh
kỳ tâm.
-Tu
Bồ Đề! Ví như có người thân như núi chúa Tu Di, ý ngươi
thế nào? Thân ấy có đại chăng?
-Bạch
Thế Tôn, rất đại. Tại sao? Phật nói phi thân thị danh đại
thân (Chữ đại ở đây là siêu việt số lượng).
Lược
Giải
Nói
trang nghiêm Phật độ, tức phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm.
Đây là nghĩa ba câu trong Kinh này: Câu thứ nhất cho trang nghiêm
Phật độ là thật; câu thứ nhì dùng chữ phi để phá cái
chấp thật của câu thứ nhất; câu thứ ba cho tất cả tên
gọi đều là giả danh. Câu thứ nhất trang nghiêm Phật độ
là giả danh, câu thứ nhì phi trang nghiêm cũng là giả danh,
câu thứ ba thị danh trang nghiêm cũng là giả danh. Vậy giả
danh thì chẳng có nghĩa thật, cho nên Phật nói: "Phàm là lời
nói đều chẳng phải nghĩa thật." (Lược giải hết)
11.
Vô
Vi Phước Thắng
-Tu
Bồ Đề! Như có nhiều sông Hằng bằng số cát trong một
sông Hằng. Ý ngươi thế nào? Số cát ở trong những sông
Hằng ấy có phải nhiều chăng? Tu Bồ Đề đáp:
-Bạch
Thế Tôn, rất nhiều. Chỉ những sông Hằng ấy cũng nhiều
vô số rồi, huống chi là cát.
-Tu
Bồ Đề! Nay ta nói thật cho nghe, như có thiện nam tín nữ,
đem thất bửu chứa đầy các đại thiên thế giới bằng
số cát kể trên dùng để bố thí, được phước nhiều chăng?
-Bạch
Thế Tôn, rất nhiều.
Phật
bảo Tu Bồ Đề:
-Nếu
có thiện nam tín nữ thọ trì Kinh này, cho đến chỉ thực
hành theo tứ cú kệ, rồi giảng cho người khác nghe, thì phước
đức lại nhiều hơn người kia.
12.
Tôn
Trọng Chánh Giáo
-Lại
nữa, Tu Bồ Đề! Bất cứ nơi nào có thuyết Kinh này, cho
đến chỉ thuyết tứ cú kệ, phải biết nơi đó tất cả
thế gian, trời, người, A Tu La đều nên cúng dường như tháp
miếu của Phật, huống chi có người được thọ trì đọc
tụng cả Kinh này. Tu Bồ Đề! Nên biết người ấy thành
tựu pháp hy hữu tối thượng hạng nhất. Vậy phàm nơi nào
có kinh điển này tức là có Phật, được Phật tử tôn trọng.
13.
Như
Pháp Thọ Trì
Khi
ấy Tu Bồ Đề thưa rằng:
-Bạch
Thế Tôn! Kinh này nên đặt tên gì? Chúng con phải thọ trì
như thế nào? Phật bảo Tu Bồ Đề:
-Kinh
này tên là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, ngươi cứ theo tên gọi
thọ trì. Tại sao? Tu Bồ Đề, Phật nói Bát Nhã Ba La Mật,
tức phi Bát Nhã Ba La Mật, thị danh Bát Nhã Ba La Mật (đây
cũng là nghĩa ba câu đã được giải ở trên).
-Tu
Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Như Lai có thuyết pháp chăng?
-Bạch
Thế Tôn, Như Lai vô sở thuyết.
-Tu
Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Tất cả vi trần trong tam thiên
đại thiên thế giới có nhiều chăng?
Tu
Bồ Đề thưa:
-Bạch
Thế Tôn, rất nhiều.
-Tu
Bồ Đề! Như Lai nói những vi trần ấy tức phi vi trần, thị
danh vi trần. Như Lai nói thế giới tức phi thế giới, thị
danh thế giới (nghĩa ba câu). Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế nào?
Có thể nhờ ba mươi hai tướng thấy
Như
Lai chăng?
-Bạch
Thế Tôn, không. Chẳng thể nhờ ba mươi hai tướng thấy được
Như Lai. Tại sao? Như Lai nói ba mươi hai tướng tức là phi
tướng, thị danh ba mươi hai tướng (nghĩa ba câu).
-Tu
Bồ Đề! Như có thiện nam tín nữ đem thân mạng nhiều bằng
số cát sông Hằng dùng để bố thí; với người thọ trì
kinh này, cho đến chỉ thực hành theo tứ cú kệ và giảng
cho người khác nghe, thì được phước hơn người kia rất
nhiều.
14.
Ly
Tướng Tịch Diệt
Bấy
giờ Tu Bồ Đề nghe Phật thuyết Kinh này, hiểu thấu nghĩa
thâm sâu, xúc động chảy nước mắt mà bạch Phật rằng:
-Hy
hữu Thế Tôn! Phật thuyết kinh điển thâm sâu như thế, con
từ khi được huệ nhãn đến nay, chưa từng được nghe kinh
như vậy. Bạch Thế Tôn! Lại nếu có người nghe được Kinh
này lòng tin trong sạch, liền sanh thật tướng, phải biết
ngươì ấy thành tựu được công đức hy hữu hạng nhất.
Bạch
Thế Tôn! Đây nói thật tướng tức là phi tướng, cho nên
Như Lai nói giả danh thật tướng (nghĩa ba câu).
Bạch
Thế Tôn! Nay con được nghe Kinh này tín, giải, thọ trì chẳng
cho là khó. Nếu năm trăm năm về sau, đời vị lai có chúng
sanh nghe được Kinh này, tín, giải, thọ trì thì người ấy
là hy hữu hạng nhất. Tại sao? Vì người ấy vô ngã tướng,
nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Tại sao?
Vì ngã tướng tức là phi tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng,
thọ giả tướng cũng là phi tướng. Tại sao? Lìa tất cả
chư tướng, tức gọi là chư Phật.
Phật
bảo Tu Bồ Đề:
-Đúng
thế! Đúng thế! Lại nếu có người được nghe Kinh này mà
chẳng kinh ngạc, chẳng khiếp sợ, phải biết người ấy
rất là hy hữu. Tại sao? Tu Bồ Đề! Như Lai nói đệ nhất
Ba La Mật, tức phi đệ nhất Ba La Mật, thị danh đệ nhất
Ba La Mật (nghĩa ba câu).
Tu
Bồ Đề! Như Lai nói nhẫn nhục Ba La Mật, tức phi nhẫn nhục
Ba La Mật, thị danh nhẫn nhục Ba La Mật. Tại sao? Tu Bồ Đề!
Như ta xưa kia bị vua Ca Lợi xẻ nát thân thể, lúc đó ta
vô ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng.
Tại sao? Vì xưa kia khi ta bị phanh xé thân thể từng miếng,
nếu có ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả
tướng thì phải sanh tâm sân hận.
Tu
Bồ Đề! Nhớ lại kiếp quá khứ, ta làm tiên nhẫn nhục
trãi qua năm trăm đời, những đời ấy đều vô ngã tướng,
nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Tu Bồ Đề!
Vì thế Bồ Tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác
phải lìa tất cả tướng. Chẳng nên sanh tâm trụ nơi sắc,
và cũng chẳng nên sanh tâm trụ nơi thanh, hương, vị, xúc,
pháp, nên sanh tâm vô sở trụ; nếu tâm có trụ tức là phi
trụ, thị danh tâm trụ (nghĩa ba câu).
Cho
nên Phật nói tâm của Bồ Tát chẳng nên trụ nơi sắc bố
thí, chẳng nên trụ nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp bố thí.
Tu Bồ Đề! Bồ Tát vì lợi ích tất cả chúng sanh, cần phải
bố thí như thế. Như Lai nói Tất cả các tướng tức là
phi tướng, lại nói Tất cả chúng sanh tức phi chúng sanh.
Tu
Bồ Đề! Như Lai là người chơn ngữ, thật ngữ, như ngữ,
bất cuống ngữ, bất dị ngữ. Tu Bồ Đề! Pháp của Như
Lai chứng đắc, ấy là pháp vô thật vô hư.
Tu
Bồ Đề! Nếu tâm của Bồ Tát trụ nơi pháp mà hành việc
bố thí, thì cũng như người vào chỗ tối chẳng thấy gì
cả. Nếu tâm của Bồ Tát chẳng trụ nơi pháp mà hành việc
bố thí, thì cũng như người có mắt dưới ánh sáng mặt
trời, tất cả thấy rõ đủ thứ sắc tướng.
Tu
Bồ Đề! Về đời sau này, nếu có thiện nam tín nữ thọ
trì, đọc tụng Kinh này, thì trí huệ của Như Lai biết rõ
người ấy, thấy rõ người ấy, đều được thành tựu công
đức vô lượng vô biên.
Lược
Giải
Ngũ
ngữ: Chơn ngữ, thật ngữ, như ngữ, bất cuống ngữ, bất
dị ngữ.
Phật
thuyết chơn ngữ là nghĩa chung với nhị thừa (có sanh Tụ
để diệt, có Niết Bàn để chứng), thật ngữ là nghĩa chung
với Bồ Tát (nghĩa đại thừa, sanh tử Niết Bàn đều như
hoa đốm trên không), như ngữ là nghĩa chung với tam thừa
(trí huệ chẳng thể suy lường, lời nói chẳng thể diễn
tả), bất cuống ngữ: chẳng dối tức là vô hư; bất dị
ngữ: thấy trước việc chưa đến gọi là bất dị, tức
là vô thật, nên Phật nói pháp ấy là vô thật vô hư. (Lược
giải hết)
15.
Trì Kinh Công Đức
-Tu
Bồ Đề! Nếu có thiện nam tín nữ, buổi sáng bố thí thân
thể nhiều bằng số cát sông Hằng, buổi trưa lại bố thí
thân thể nhiều bằng số cát sông Hằng, buổi chiều cũng
bố thí thân thể nhiều bằng số cát sông Hằng, cứ bố
thí thân thể như thế cho đến vô lượng trăm, nghìn, muôn
ức kiếp. Với người nghe kinh điển này lòng tin vững chắc,
thì được phước nhiều hơn người kia, huống chi lại còn
biên chép, thọ trì, đọc tụng, giảng giải cho người khác
nghe.
Tu
Bồ Đề! Nói tóm lại, Kinh này có công đức vô biên, bất
khả tư nghì, chẳng thể suy lường. Như Lai vì người phát
tâm đại thừa và người phát tâm tối thượng thừa mà thuyết.
Nếu có người nào hay thọ trì đọc tụng, phổ biến cho
người, thì Như Lai biết rõ người ấy, thấy rõ người ấy
đều được thành tựu vô biên công đức, bất khả tư nghì,
chẳng thể suy lường. Những người như thế mới là gánh
vác được đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Như
Lai. Tại sao? Tu Bồ Đề! Nếu người ưa pháp tiểu thừa,
dính mắc ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả
kiến (chẳng ngoài sáu mươi hai kiến chấp), thì chẳng thể
tín thọ, đọc tụng Kinh này và giảng giải cho người khác
nghe.
Tu
Bồ Đề! Bất cứ nơi nào, nếu có Kinh này, tất cả thế
gian,trời, người, A Tu La, đều nên cúng dường. Phải biết
chỗ đó chính là tháp Phật, đều nên cung kính lễ bái, dùng
các thứ hương hoa rải quanh chỗ đó.
16.
Năng
Tịnh Nghiệp Chướng
-Lại
nữa, Tu Bồ Đề! Như thiện nam tín nữ thọ trì đọc tụng
Kinh này, nếu bị người khinh rẽ, thì những nghiệp nhân
đời trước đáng lẽ phải đọa ác đạo, vì nay bị người
đời khinh rẽ, nên những nghiệp nhân đời trước liền được
tiêu diệt, lại còn được đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác.
Tu
Bồ Đề! Ta nhớ đời quá khứ, trước Phật Nhiên Đăng vô
lượng vô số kiếp, được gặp tám trăm bốn nghìn muôn
ức na do tha chư Phật, ta đều cúng dường thờ phụng, chẳng
bỏ sót Phật nào. Lại, nếu có người đời mạt kiếp hay
thọ trì đọc tụng Kinh này, được nhiều công đức, đem
công đức cúng dường chư Phật của ta so với công đức
ấy, chẳng bằng một phần trăm, một phần nghìn, muôn ức,
cho đến toán số, thí dụ đều chẳng thể sánh bằng.
Tu
Bồ Đề! Nếu ở đời mạt kiếp, có thiện nam tín nữ thọ
trì đọc tụng Kinh này, được công đức vô lượng. Nếu
ta kể ra hết, hoặc có người nghe rồi tâm liền cuồng loạn,
nghi ngờ chẳng tin. Tu Bồ Đề! Phải biết ý nghĩa Kinh này
bất khả tư nghì, quả báo cũng bất khả tư nghì.
17.
Cứu Kính Vô Ngã
Lúc
bấy giờ, Tu Bồ Đề thưa rằng:
-Bạch
Thế Tôn! Những thiện nam tín nữ phát tâm Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác nên an trụ tâm như thế nào? Hàng phục tâm
như thế nào? Phật bảo Tu Bồ Đề:
- Những
thiện nam tín nữ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác,
nên sanh tâm như thế này: Ta phải diệt độ cho tất cả chúng
sanh, diệt độ tất cả chúng sanh rồi mà chẳng có một chúng
sanh nào được diệt độ. Tại sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát
có ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng
thì chẳng phải Bồ Tát. Tại sao? Tu Bồ Đề! Vì thật chẳng
có pháp gì để phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Tu
Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng
có đắc pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chăng?
-Bạch
Thế Tôn, không. Theo con hiểu nghĩa của Phật nói, Như Lai
ở nơi Phật Nhiên Đăng thật chẳng có đắc pháp Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác.
Phật
bảo:
-Đúng
thế! Đúng thế! Tu Bồ Đề! Như Lai thật chẳng đắc pháp
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tu Bồ Đề! Nếu Như Lai
có đắc pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì Phật
Nhiên Đăng chẳng thọ ký cho ta rằng: "Về đời sau ngươi
sẽ được thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Bởi thật
chẳng có đắc pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nên
Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho ta rằng: "Về đời sau ngươi
sẽ được thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni." Tại sao?
Nói Như Lai tức là các pháp như nghĩa. Nếu có người nói
rằng Như lai đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là chẳng
đúng như nghĩa. Tu Bồ Đề! Vì thật ra Phật chẳng đắc
pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tu Bồ Đề! Nói Như
Lai đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, ở trong đó vô
thật vô hư.
Cho
nên Như Lai nói "Tất cả các pháp đều là Phật pháp." Tu
Bồ Đề! Nói tất cả pháp, tức phi tất cả pháp, thị danh
tất cả pháp (nghĩa ba câu). Tu Bồ Đề! Ví như thân người
cao lớn đã kể trên, nghĩa là siêu việt số lượng.
Tu
Bồ Đề thưa rằng:
-Bạch
Thế Tôn! Như Lai nói thân người cao lớn, tức phi thân lớn,
thị danh thân lớn (nghĩa ba câu).
-Tu
Bồ Đề! Bồ Tát cũng như thế. Nếu nói rằng ta phải diệt
độ vô lượng chúng sanh thì chẳng thể gọi là Bồ Tát.
Tại sao? Tu Bồ Đề! Thật chẳng có pháp gọi là Bồ Tát.
Cho nên Phật thuyết tất cả pháp vô ngã, vô nhơn, vô chúng
sanh, vô thọ giả.
Tu
Bồ Đề! Nếu Bồ Tát nói rằng ta phải trang nghiêm cõi Phật
thì chẳng thể gọi là Bồ Tát. Tại sao? Vì Như Lai nói trang
nghiêm cõi Phật, tức phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm
(nghĩa ba câu).
Tu
Bồ Đề! Nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngã thì Như Lai
nói ấy mới gọi là Chơn Bồ Tát.
Ghi
Chú
Các
pháp như nghĩa: là đúng như thật nghĩa, thật nghĩa vô nghĩa
cũng như Phật nói "thật tướng vô tướng " vậy. (Ghi chú
hết)
Hết
Phần Hai