THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
Phật Học Cơ Bản
Phật Học Phổ Thông
Phật Học
Tâm Lý Học Phật Giáo
Triết Học Tánh Không
.
PHÁP NGỮ CỦA THIỀN SƯ HƯ VÂN
Thích Hằng Đạt Việt dịch
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo 2004
IV
XVII. Tu cùng không tu. 
XVIII. Khai thị trong kỳ pháp hội Thủy Lục Không tại Thượng Hải. 
XIX. Bài 'Phải Hiểu Rõ Sự Niệm Phật' nhân ngày giỗ thứ mười hai của tổ Ấn Quang
XX. Thiền thất khai thị lần thứ nhất tại chùa Ngọc Phật, Thượng Hải, năm 1953. 
1/ Ngày thứ nhất, (22/2). 
2/ Ngày thứ hai, (23/2). 
3/ Ngày thứ ba, (24/2). 
4/ Ngày thứ tư, (25/2).
5/ Ngày thứ năm, (26/2). 
6/ Ngày thứ sáu, (27/2). 
7/ Ngày thứ bảy, (28/2). 
XXI. Thiền thất khai thị lần thứ hai. 


XVII. Tu cùng không tu [^]

Giảng về việc tu hành hay không tu hành, đều là lời trống không. Chúng ta nếu hiểu rõ thấu triệt chính mình có một phần tâm quang, ngay khi ấy biết rõ việc vô sự, thì sao lại bàn về tu cùng chẳng tu. Phật Thích Ca xuất gia tầm đạo, sáu năm tu khổ hạnh, bốn mươi chín ngày đêm ngồi dưới cội Bồ Đề, đến đêm cuối cùng ngắm vì sao chớp, liền ngộ đạo, nói kệ: 

- Lạ lùng thay ! Lạ lùng thay ! Chúng sanh trên cõi đất đều có đầy đủ đức tướng trí huệ của Như Lai. Chỉ vì vọng tưởng chấp trước, nên không thể chứng đạo. Nếu rời vọng tưởng thì trí huệ thanh tịnh, trí huệ tự nhiên, trí huệ vô sư đều tự nhiên hiện ra.

Sau khi thuyết pháp trong bốn mươi chín năm, đức Phật lại bảo: 

- Ta chưa từng nói một lời nào !

Từ đó, chư vị Tổ Sư trải qua bao đời y theo một pháp mà truyền thừa liên tục; các ngài đều nhận rõ: "Tâm, Phật, chúng sanh, tuy ba nhưng thật không sai khác" nên "Chỉ thẳng chân tâm, thấy tánh thành Phật".

Chư vị Tổ Sư giảng rộng giảng dài, hoặc đánh hoặc mắng, dùng mọi phương pháp đều để đoạn trừ vọng tưởng phân biệt của hành giả, và muốn họ nhìn thẳng vào: "Tự nhận bổn tâm. Tự thấy bổn tánh" mà không hề giả lập một chút phương tiện rắc rối, bảo tu bảo chứng nào. Yếu chỉ của Phật Tổ như thế, chúng ta phải nên biết rõ.

Tâm niệm của chúng ta vốn đã thanh tịnh, vốn tự đầy đủ, viên mãn, biến khắp mọi nơi, diệu dụng hằng sa, cùng ba đời chư Phật, thật không khác biệt. 

Nếu tâm chẳng dính mắc thiện ác và xả bỏ được tất cả, thì có thể lập địa thành Phật; ngồi thiền đến lúc thiên hạ hưởng thái bình. Nếu được như thế thì có hạnh gì để tu ? Câu tu hành có phải là rỗng tuếch không ? Tuy nhiên, trong mỗi tâm niệm, chúng ta luôn hướng ngoại tầm cầu và có biết bao vọng tưởng chấp trước, nên không thể thoát ly sanh tử. Từ đời vô thủy cho đến nay, luân hồi trong vòng sanh tử, bị vô minh phiền não nhiễm ô thâm trọng, nên mới không biết tự tâm mình chính là Phật. Tuy nhiên, khi đã biết rồi lại không dám thừa nhận, nên không thể làm chủ được; nghĩa là không có dũng khí của người tráng sĩ, dám đoạn chặt hết vọng tưởng. Vì vậy, ngày ngày luôn sống trong vọng tưởng chấp trước.

Người trên thì cả ngày làm này làm nọ, cầu thiền cầu đạo, không rời khỏi tâm chấp có. Kẻ dưới thì không thể phá vỡ ngục tù tham lam, sân hận, si mê, nên bỏ đạo tìm cầu bên ngoài. Hai loại người này, luân chuyển trong sanh tử, không biết ngày nào thoát khỏi. Giảng về việc tu hành, đó cũng là lời nói trống không.

Bên trên đã nói đến việc là chẳng kể lên hay xuống, thăng hay trầm, đều vẫn bị trói buộc. Người có mắt sáng nhìn thấy, nhận rõ đó chỉ là: "Kéo bùn mang nước".

Thế nên, đại trượng phu phải trực nhận hiểu rõ, biết rằng từ quá khứ cho đến tương lai, sự sự vật vật đều như mộng huyễn như bong bóng nước, chẳng có tự tánh; người và pháp chợt không, thì muôn duyên đều ngừng, khiến một niệm bằng cả vạn năm, đạt thẳng đến vô sanh.

Nhìn bên ngoài, thấy người tu hành ăn cơm mặc áo, đi đứng nằm ngồi, như người bình thường, nhưng nào biết họ đã tự thanh tịnh, ngồi thiền an tọa trong nhà, hưởng thọ châu báu vô tận tạng. Vô tâm vô vi, tự do tự tại, động tịnh nhất như, nóng lạnh tự biết. Không những ba cõi sáu loài trời người quỶ thần không thể phá hoại, mà chư Phật chư Bồ Tát cũng chẳng giúp gì được. Nếu như thế, nói gì là tu hay chẳng tu ? Phải nên phát khởi chí hướng, phát tâm niệm nhớ thống khổ vì sanh tử, phát khởi tâm xấu hổ, phát khởi hạnh tinh tấn, và tham phương tầm đạo, tìm cầu chư thiện tri thức chỉ dạy lộ trình tu đạo cùng phân biệt chánh tà: "Như rèn như đúc, như giũa như mài", "nước sông Giang trơ trọi, ánh nắng mùa thu gay gắt".

Từ từ tâm niệm tinh thuần sáng trong. Khi ấy, không thể nói rằng chẳng tu hành được.

Vì Tổ đình trơ trọi, người người ngày càng xa các bậc thánh hiền, và vì ứng theo căn cơ quần chúng, nên bất đắc dĩ tôi mới nói ra những lời này. Thật ra, nói đến lẽ cùng tột thì giảng tu hành, hay giảng không tu hành, vẫn là lời nói trống không. Xả bỏ hết liền vô sự. Tâm nào dính một vật, thì cần gì mở miệng nói. Chư Bồ Tát ! Quý ngài có hội chăng ?


XVIII. Khai thị trong pháp hội Thủy Lục Không tại Thượng Hải [^]

Pháp hội cầu nguyện thế giới hòa bình đã được cử hành qua vài ngày. Thật là một pháp duyên hy hữu. Hôm nay là ngày đầu tiên khai mở đàn tràng niệm Phật. Đúng ra là phải do hòa thượng Diệu Chân đến giảng, nhưng Ngài lại cùng với pháp sư Vi Phảng, cư sĩ Triệu Nghiệp Sơ, Lý Tư Hoạt, Phương Tử Phiên v.v..., đồng thỉnh tôi ra thuyết pháp.

Sẵn dịp này, tôi muốn nói về sự quan hệ giữa Thiền tông và Tịnh Độ tông để cho những vị mới phát tâm học Phật pháp tiện việc hiểu rõ. 

Chúng ta sống trong thế giới Ta Bà, tức đang bơi trong biển khổ. Thế nên, không một ai lại chẳng muốn thoát khỏi biển khổ này. Tuy nhiên, muốn thoát ra được thì chúng ta phải nương theo Phật pháp. Bàn về chân đế của Phật pháp, nói nghiêm túc thì không pháp nào có thể thuyết được, vì chỉ là hình tướng trên lời nói, ngôn ngữ. Kinh Lăng Nghiêm nói: "Nếu còn dùng lời mà nói thì không phải là pháp chân thật".

Tuy nhiên, vì chúng sanh căn tánh không đồng, nên muốn tiếp dẫn thì phải dùng vô số pháp môn. Phật pháp tại Trung Quốc có phân rõ ra năm tông phái như Thiền tông, Mật tông, Tịnh Độ tông, Giáo tông, và Luật tông. Đối với người đã từng nghiên cứu học hỏi tu tập thì đã quá đủ rồi, vì họ biết rằng chân lý Phật pháp vốn không sai biệt. Người mới học Phật pháp, lại phát sanh ra nhiều ý kiến, mỗi mỗi phân rõ tông này phái nọ v.v..., rồi khen mình chê người, làm tổn hại giá trị giáo hóa vi diệu của Phật pháp. Phải biết rằng một câu thoại đầu hay một câu niệm Phật chỉ là phương tiện, chứ chẳng phải là cứu cánh. Đối với người chân thật dụng công thì những phương tiện này thật không cần thiết. Tại sao ? Vì động tịnh vốn nhất như; bóng trăng soi khắp ngàn sông, nơi nơi đều rõ ràng, không bị chướng ngại. Người bị chướng ngại như mây che trời xanh hay nước trong bị vẫn đục. Nếu có chướng ngại, tuy có trăng mà ánh sáng không hiển bày. Nước tuy trong mà trăng không hiện rõ. Chúng ta, những người tu hành, nếu muốn hiểu rõ lý đạo, phải biết tự tâm như trăng rằm mùa thu, không nên hướng ngoại tìm cầu mà phải xoay lại ánh sáng trong tâm mình (hồi quang phản chiếu). Một niệm nếu không sanh thì hiểu rõ nơi không chỗ chứng đắc. Khi ấy, làm gì lại có danh tướng sai biệt ? 

Nhân vì chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay, vọng tưởng chấp trước, tập khí nặng nề nên đấng Thế Tôn trong bốn mươi chín năm trường, thuyết pháp giảng kinh hơn ba trăm hội. Tuy nhiên, mục đích quan trọng nhất trong việc thuyết giảng kinh điển hay dạy những pháp môn tu hành của đức Thế Tôn là không ngoài việc chữa trị các bịnh tật tham lam, sân hận, si mê, ngã mạn, ác kiến của chúng sanh. Nếu chúng ta xa rời tất cả bịnh tật đó thì liền thành Phật. Chúng ta và chư Phật, cùng chúng sanh nào có khác biệt chi đâu ! Người xưa nói: 

- Dùng phương tiện thì có nhiều pháp môn, nhưng khi trở về cội nguồn thì đồng nhau không khác.

Lý đạo là thế. Hiện tại, trong Phật pháp có hai tông phái rất thịnh hành là Thiền tông và Tịnh Độ tông. Tuy nhiên, có một số tăng chúng lại coi thường giới luật; điều này thật không hợp lý đạo. Yếu nghĩa căn bản của Phật pháp là dựa trên ba chữ: Giới, Định, Huệ. Giống như tòa trầm hương có ba chân, nếu thiếu mất một chân thì không thể đứng được. Vì vậy, chúng ta người học Phật pháp, mỗi người phải đặc biệt chú ý điều này !

Thiền tông khởi nguồn từ lúc đức Thế Tôn tại hội Linh Sơn, đưa cành hoa lên dạy đại chúng, chỉ có tôn giả Ma Ha Ca Diếp là mỉm cười chúm chím, còn mọi người đều không hiểu gì. Đó là tâm tâm tương ấn, truyền ngoài giáo lý, tức mạch nguồn của Phật pháp. Đối với câu niệm Phật của pháp môn Tịnh Độ cùng các pháp môn khác, như đọc kinh trì chú v.v..., đều là các pháp cắt đứt dòng sanh tử. Có người nói, Thiền tông là pháp đốn ngộ nhanh chóng, còn tông Tịnh Độ chỉ là pháp tiệm thứ chậm chạp. Vâng, bất quá chỉ là sự sai biệt trên danh tướng. Thực tế thì không sai khác. Lục Tổ Huệ Năng nói: 

- Pháp không có đốn ngộ hay tiệm thứ, nhưng người kiến đạo thì có nhanh có chậm.

Chúng ta nên biết rằng mỗi mỗi pháp môn trong Phật pháp đều có thể tu trì được cả. Quý vị nếu hợp với pháp môn nào thì nên tu pháp môn đó, chứ đừng khen mình chê người, sanh khởi vọng tưởng chấp trước. Tuy nhiên, việc quan trọng nhất là phải tôn trọng giữ gìn giới luật. Người xuất gia gần đây, không tự giữ giới luật nghiêm ngặt, lại còn nói bao lời cao ngạo rằng giữ gìn giới luật cẩn mật là chấp trước. Thật rất nguy hiểm cho Phật pháp !

Thiền tông chính là pháp môn tâm địa. Sau Tổ Ma Ha Ca Diếp, Thiền tông được triển chuyển, truyền từ Ấn Độ qua Trung Quốc. Đến đại sư Huệ Năng, là tổ thứ sáu ở Đông Độ, được trao y bát, lưu truyền chánh pháp, một thời hưng thịnh.

Luật tông có tôn giả Ưu Ba Ly, là vị đứng đầu. Tôn Giả thừa thọ lời phó chúc của đức Thế Tôn mà tuyên thuyết lại giới luật cho chúng sanh trong đời mạt pháp, khiến họ nương vào đó mà tu hành, tức là lấy giới luật làm thầy chỉ đạo. Sau đến đời tôn giả Ưu Ba Cúc Đa, tổ thứ tư của Thiền tông, phân giới ra làm năm bộ luật. Nước ta có lão nhân Nam Sơn là luật sư Đạo Tuyên, y theo bộ Đàm Vô Đức, viết sớ sao mà phụng hành, được xưng là Trung Hưng Luật Tổ.

Lão nhân Bắc Tề ở núi Thiên Thai, xem bộ Trung Quán Luận của ngài Long Thọ, liền phát minh tâm địa. Lão nhân Đỗ Thuận lấy kinh Hoa Nghiêm làm chủ, kiến lập tông Hiền Thủ.

Ngài Huệ Viễn đề xướng tông Tịnh Độ. Chín tổ sư kế tục nhau tương truyền. Sau ngài Vĩnh Minh, chư tổ sư bao thời đại đều dùng Thiền tông mà hoằng dương tông Tịnh Độ, như dung hòa nước với sữa. Tuy tông phái có phân khác, nhưng cốt yếu không ngoài ý nghĩa của cành hoa mà đức Phật đưa lên. Thật vậy, Thiền tông cùng Tịnh Độ tông xưa nay vốn có mối quan hệ mật thiết. Thế nên, chúng ta phải biết sự uyển chuyển của người xưa trong việc hoằng dương Phật pháp.

Mật tông do tôn giả Bất Không, Kim Cang Trí v.v..., truyền vào Trung Quốc. Đến đời thiền sư Nhất Hạnh, do công nỗ lực của Ngài, Mật tông được phát dương rộng rãi. Tông này cùng các tông phái khác hỗ tương hoằng dương Phật pháp. 

Vì vậy, không nên phân biệt cửa ngõ môn đình, bằng ngược lại thì tự làm tổn thương đạo pháp. Nếu cứ công kích, húc đá lẫn nhau mãi, thì thật không hiểu rõ được tâm ý của Phật Tổ. Người xưa thuyết pháp như lấy lá vàng vỗ con nít khóc. Lão nhân Triệu Châu nói: 

- Chữ Phật tôi không muốn nghe. Niệm một chữ Phật, phải xúc miệng cả ba lần.

Vì thế, có một số người không hiểu được sự khổ tâm của người xưa mà cho rằng niệm Phật chỉ là việc của các ông già bà cả, hoặc nói tham thiền là vọng không như ngoại đạo.

Tổng quát, nếu tôi nói đúng như vầy, kẻ nọ có lỗi kia, rồi cứ thế tranh luận mãi mà không chịu tu, thì thật là bội bạc bổn hoài của Phật Tổ, khiến cho người ngoài có cơ hội công kích, hủy phá tiền đồ Phật giáo. Kết quả thật rất tai hại. Do đó, Hư Vân tôi đặc biệt nêu lên vấn đề này. Hy vọng quý vị lão tham học cùng các vị mới phát tâm học Phật pháp, đừng nên phạm vào lỗi này. Nếu cứ làm mãi như thế thì đưa Phật giáo vào con đường cùng, mà phải biết tất cả đại lộ đều thông "Trường An".

Người học Phật phải nên đọc qua nhiều lần bài Tông Cảnh Lục và tập Muôn Thiện Đồng Quy của lão nhân Vĩnh Minh. Người niệm Phật, phải hiểu rõ chương Bồ Tát Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông, và cũng phải hiểu rõ Tịnh Độ là xuất phát từ tự tánh; xả bỏ vọng tưởng, quay về nguồn chân, chớ hướng ngoại tìm cầu. Nếu chúng ta hiểu rõ được những chân lý này, thì tùy theo ý thích của người mà bàn về Thiền cũng được, nói về Tịnh Độ cũng hay; hoặc muốn vãng sanh về cõi Đông Phương hay cõi Tây Phương cũng tốt, cho đến nói có, nói không đều đúng cả. 

Thực sự, mỗi sắc mỗi hương đều không ngoài sự liễu nghĩa của trung đạo; tự tánh là Di Đà, duy tâm tức Tịnh Độ; xả bỏ liền đến bờ giác. Tại sao có nhiều dây nhợ trói buộc chúng ta ? Kinh Lăng Nghiêm nói: "Nếu dẹp hết tâm phàm thì thật không có sự giải thoát của chư thánh".

Hiểu rõ được như thế thì sẽ đoạn trừ được vọng tưởng, kiến chấp, tập khí, tức làm Bồ Tát, và làm Phật Tổ. Ngược lại, sẽ mãi mãi làm chúng sanh.

Người niệm Phật cũng đừng nên có kiến chấp thái quá. Nếu không, sẽ như uống thuốc độc. Vì tập khí sâu dầy từ đời vô thủy, nên khó dẹp trừ vọng tưởng. Thế nên, dùng một câu niệm Phật như cầm chổi, quét sạch vọng tưởng. Niệm mãi không quên, khiến vọng niệm tự tiêu trừ, cõi tịnh liền hiện, thì tìm cầu bên ngoài chỉ nhọc sức.


XIX. Bài "Phải Hiểu Rõ Sự Niệm Phật" nhân ngày giỗ thứ mười hai của tổ Ấn Quang, năm 1952 [^]

Hôm nay là ngày giỗ kỶ niệm lão pháp sư Ấn Quang vãng sanh về cõi Tây Phương lần thứ mười hai. Quý vị đều là đệ tử của Ngài. Uống nước phải nhớ nguồn, nên quý vị tụ hội tại giảng đường này, làm lễ giỗ truy niệm thầy mình. Trong đạo lý nhà Phật, thầy tức là cha mẹ pháp thân của mình. KỶ niệm thầy, tức là nhắc lại bổn phận hiếu thảo của mình đối với cha mẹ pháp thân. So sánh về sự hiếu thảo nhỏ nhặt ở thế gian thì việc này có rất nhiều ý nghĩa thâm trầm hơn.

Nhớ thuở xưa, lần đầu tôi gặp lão pháp sư Ấn Quang tại núi Phổ Đà vào năm Quang Tự thứ hai mươi. Lúc đó, lão hòa thượng Hóa Văn thỉnh Ngài lên tòa giảng kinh A Di Đà tại chùa Quảng Tế. Giảng xong, Ngài ở lại chùa, đọc hết ba tạng kinh điển. Qua hơn hai mươi năm, Ngài chưa từng rời núi một bước mà đóng cửa ẩn tu. Tuy Ngài hiểu rõ giáo nghĩa rất thâm sâu, nhưng chỉ lấy một câu A Di Đà Phật làm sự tu trì hằng ngày. Tuyệt đối không cho mình thông hiểu kinh giáo thâm sâu mà coi nhẹ pháp môn niệm Phật. Lời dạy của Phật là thuốc dùng để trị bịnh khổ cho chúng sanh. Pháp môn niệm Phật, được gọi là thuốc A Già Đà, trị hết tất cả bịnh.

Thật vậy, vô luận tu pháp môn nào, cần phải có niềm tin kiên cố, giữ gìn mãi mãi, thực hành ngày một thâm sâu, thì mới mong đạt được lợi ích đầy đủ. Nếu có niềm tin kiên cố thì trì chú, tham thiền, niệm Phật đều thành tựu. Nếu tín căn không thâm sâu mà chỉ cậy nhờ chút ít thiện căn, học thức cạn cợt, hoặc nhớ được vài ba danh tướng công án, rồi đi nói chuyện vô ích tạp nhạp hay bàn việc đúng sai thì chỉ tăng trưởng nghiệp chướng và tập khí xấu xa. Dẫu có bàn về việc sống chết, cũng vẫn bị nghiệp thức dẫn dắt. Có thật đáng thương lắm không ! 

Quý vị là đệ tử của pháp sư Ấn Quang. Hôm nay làm giỗ lễ kỶ niệm, thì cũng phải kỶ niệm sự hành trì chân thật của Ngài. Ngài là một vị chân tu thực thụ vì bước trên đường các bậc cổ đức đã đi. Ngài hiểu rõ thâm ý của chương Bồ Tát Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông. Y theo đó mà khởi tu, nên đạt được niệm Phật Tam Muội. Từ đó, Ngài hoằng dương tông Tịnh Độ, làm lợi ích cho chúng sanh, trải qua bao thập niên mà cũng vẫn như một ngày, chưa từng từ nan thối bước, dẫu có bịnh tật ốm đau. Hiện tại, thật hiếm có ai như Ngài, chân thật tu hành không khởi kiến chấp phân biệt mình người, chỉ nghe một danh hiệu Phật rồi y theo đó mà tu trì. Sáng niệm Phật. Tối niệm Phật. Đi đứng nằm ngồi, trong mười hai thời niệm niệm không quên mất. Thầm thầm lặng lặng, công phu thuần thục chín mùi, cảnh tịnh Tây Phương Cực Lạc hiện trước mặt, được lợi ích vô biên, tự mình quán thấy. 

Điều quan trọng nhất là tín tâm phải kiên cố. Tín tâm nếu không kiên cố, thì muôn sự không thể thành. Hôm nay tăng, ngày mai giảm; nghe người nói tham thiền hay thì bỏ ngay công phu niệm Phật, chạy qua tu thiền. Nghe người nói học kinh điển rất tốt thì lại bỏ thiền, qua học kinh giáo. Học kinh giáo không thành lại chạy đến trì chú, nhưng chẳng hiểu chi hết. Tâm bị chướng ngại vì không thanh tịnh. Không tự trách mình tín tâm không định, lại cho rằng Phật Tổ dối gạt chúng sanh. Chửi Phật báng Pháp, tạo nghiệp vô gián. Vì thế, tôi khuyên đại chúng rằng phải nên tin tưởng kiên cố sự lợi ích của pháp môn niệm Phật, học theo hạnh "Chân Thật Niệm Phật" của lão pháp sư Ấn Quang, rồi lập chí vững chắc, phát tâm dũng mãnh, lấy việc vãng sanh cõi Tây Phương làm việc lớn trong đời.

Tham thiền cùng niệm Phật, đối với người mới phát tâm tu học thì thấy có khác, nhưng đối với người tu hành lâu năm thì chỉ là một. Tham thiền đề cử thoại đầu, chặt đứt dòng sanh tử, cũng từ tín tâm kiên cố mà được. Nếu thoại đầu giữ mãi không được thì tham thiền không thể thành tựu. Nếu tín tâm kiên cố thì đến chết cũng phải tham khán câu thoại đầu. Uống trà không biết đang uống trà. Ăn cơm không biết đang ăn cơm. Như thế, công phu mới thuần thục, thoát khỏi căn trần, đại dụng hiện tiền, cùng cảnh tịnh của công phu niệm Phật, giống nhau không khác. Đạt đến cảnh giới đó, sự lý viên dung, tâm cùng Phật không hai. Phật như như bất động. Chúng sanh cũng như như bất động. Một như như bất động mà không có hai như như bất động, thì sai biệt chỗ nào ? Quý vị là những người tu pháp môn niệm Phật. Tôi hy vọng tất cả hãy lấy một câu niệm Phật làm chỗ y tựa cho đời mình. Hãy chân thật mà niệm !


XX.Thiền thất khai thị lần thứ nhất tại chùa Ngọc Phật, thành phố Thượng Hải, năm 1953 [^]

1/ Ngày thứ nhất (22/2) [^]

Đại hòa thượng Vi Phảng thật rất từ bi. Chư vị ban thủ cũng có tâm tha thiết muốn hoằng dương Phật pháp, cùng các vị đại cư sĩ có đạo tình, đồng phát tâm đả thiền thất, lại yêu cầu Hư Vân tôi ra làm chủ thất. Thật tình mà nói, đây là một nhân duyên thù thắng vô vàn. Ngặt vì tuổi già sức yếu, lại thêm bịnh hoạn, nên tôi không thể giảng nhiều được.

Đấng Thế Tôn thuyết pháp hơn bốn mươi năm, lời hiển lời mật, ngôn giáo tràn đầy trong ba tạng mười hai bộ. Hôm nay đại chúng yêu cầu tôi ra thuyết pháp, thì chỉ bất quá lập lại lời dư thừa của Phật Tổ. Bàn về tông môn, lúc còn tại thế, vào một lần nọ đang ngồi trên pháp tòa, đức Phật được vua trời Đại Phạm cúng dường cành hoa Kim Đàn. Ngài bèn đưa cành hoa Kim Đàn lên để dạy đại chúng. Lúc ấy, dưới tòa đại chúng trời người đều không hiểu chi hết, duy chỉ có tôn giả Ma Ha Ca Diếp là túm tím mỉm cười. Đức Thế Tôn bảo: 

- Ta có chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, nay đem phó chúc cho ông Ca Diếp.

Đó là truyền ngoài giáo lý, không lập văn tự, đi thẳng đến pháp môn vô thượng. Người sau mù mờ, cho đó là thiền. Nên biết rằng trong kinh Đại Bát Nhã, có kể đến hơn hai mươi loại thiền, mà tất cả đều không phải là cứu cánh. Duy thiền trong tông môn là không lập giai cấp, chỉ thẳng vào tâm địa, thấy tánh thành Phật. Do đó, không có quan hệ với việc đả thất hay không đả thất. Chỉ vì căn tánh chúng sanh ngày càng ngu mê, vọng tưởng đầy dẫy, nên chư tổ mới đặt ra phương tiện để nhiếp thọ. Tông môn này, kể từ tổ Ma Ha Ca Diếp truyền cho đến ngày nay, trải qua sáu bảy mươi đời. Triều đại Đường và Tống (619-1278), gió thiền lan khắp thiên hạ, hưng thịnh một thời. Hiện tại, thiền tông đến thời kỳ suy vi tột bậc, chỉ có vài nơi như Kim Sơn, Cao Mân, Bảo Quang còn giữ được

chút tông phong. Thế nên, nhân tài trong tông môn thật hiếm hoi. Cũng đả thất tham thiền, nhưng đa số chỉ vì danh, mà không có thực thể.

Khi xưa, thất tổ Hành Tư hỏi Lục Tổ Huệ Năng: 

- Làm thế nào để khỏi lạc vào giai cấp ?

Lục Tổ hỏi lại:

- Ông đã từng làm những gì ?

- Thánh đế còn chẳng làm, thì có gì là giai cấp ?

Lục Tổ thầm chấp nhận, hứa khả. Hiện tại, căn khí chúng ta rất cứng cỏi, nên chư đại Tổ Sư mới giả lập phương tiện, dạy tham quán câu thoại đầu. Sau đời Tống, người niệm Phật rất nhiều, nên chư đại Tổ Sư lại dạy tham quán câu "Ai là người đang niệm Phật ?"

Ngày nay, mọi nơi đều theo pháp này mà dụng công, nhưng có rất nhiều người không hiểu rõ ràng, cứ để câu "Ai là người đang niệm Phật" nơi cổ họng, rồi niệm đến niệm lui không dừng, thành ra tụng niệm, chứ không phải tham quán câu thoại đầu. Tham thoại đầu tức là tham khán. Thế nên, trong mọi thiền đường đều có treo bốn chữ "Chiếu Cố Thoại Đầu". Chiếu tức là phản chiếu. Cố tức là xoay trở lại. Nghĩa là phải tự phản chiếu, nhìn vào tự tâm. Gọi đó là quán thoại đầu. 

"Ai là người niệm Phật", khi chưa khởi lên thì gọi là thoại đầu, còn đã khởi lên rồi thì gọi là thoại đuôi. Chúng ta tham khán thoại đầu thì phải nên xem khán chữ "Ai". Lúc tâm chưa khởi lên chữ "Ai" thì như thế nào? Giống như lúc đang niệm Phật, có người đến hỏi: 

- Bạch Thầy! "Ai" đang niệm Phật?

Nếu đáp: 

- Tôi là người đang niệm Phật.

Người đó lại hỏi:

- Thầy là người niệm Phật. Vậy miệng niệm hay ý niệm? Nếu nói miệng niệm thì lúc ngủ, sao không niệm ? Nếu nói tâm niệm thì lúc thân này chết mất, sao không tiếp tục niệm?

Do đó, chúng ta có một nghi vấn, phải nên truy cứu: "Câu thoại đầu đây từ đâu

mà đề khởi? Tôi là ai?"

Vi vi tế tế, phản chiếu xoay lại, xem xét kỸ càng, đó gọi là nghe lại tự tánh của mình.

Lúc đi bộ hành hương phải ngưỡng đầu lên, và cái gáy chạm đến cổ áo. Phải bước theo nhịp chân người trước. Tâm phải bình bình tịnh tịnh. Không nên ngó sang đông qua tây, chỉ nhất tâm xoay lại, phản chiếu câu thoại đầu. Lúc ngồi, không nên ưỡn ngực về phía trước. Đừng đề hơi thở quá cao hay quá thấp, chỉ để tự nhiên tùy theo hơi thở. Lại nữa, phải thu nhiếp sáu căn, mắt tay mũi lưỡi thân ý. Phải buông bỏ muôn niệm. Luôn luôn xoay chiếu lại thoại đầu, chớ bỏ quên mất. Đừng xem khán quá vi tế, nếu quá vi tế thì bị hôn trầm (tức buồn ngủ) lạc vào không vọng, không thể thọ dụng chi được. Đừng xem khán quá thô; nếu quá thô thì phù trầm (tức vọng tưởng) nổi lên, không thể khởi thoại đầu được. Nếu xem khán được thoại đầu thì công phu tự nhiên từ từ thuần thục, tập khí dần dần giảm bớt. Người mới bắt đầu dụng công thì khó lòng mà xem khán được thoại đầu. Tuy vậy, quý vị đừng lo sợ, lại cũng đừng có vọng tưởng là muốn khai ngộ, hay cầu được trí huệ v.v... Nên biết rằng, đả thất tức là vì việc khai ngộ tâm tánh, và vì cầu trí huệ. Nếu lại khởi tâm cầu nữa thì ví như lấy đầu đặt lên đầu. Hôm nay, chúng ta đã hiểu rõ rồi thì chỉ lo đề khởi câu thoại đầu. Nếu trong lúc dụng công, chưa có thể đề khởi thoại đầu lên được, thì chớ có gấp rút, chỉ việc xả bỏ muôn niệm để không còn tình tưởng, liên tục thầm lặng, xoay chiếu trở lại. Khi vọng tưởng khởi lên, nếu không màng đến, thì chúng sẽ tự nhiên lặng mất. Vì vậy bảo:

- Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm.

Vọng niệm khởi lên, chỉ dùng định lực xoay lại xem khán thoại đầu. Nếu mất thoại đầu, phải mau đề khởi lại. Mới ngồi thiền thì dường như là chỉ lo dẹp vọng tưởng, nhưng lâu dần thì thoại đầu từ từ khởi lên được. Khi ấy, quý vị có thể ngồi hết cả một cây nhang. Nếu không để mất thoại đầu thì kết quả sẽ rất tốt. 

Ngôn ngữ chỉ là lời nói suông. Quý vị hãy nên chân thật dụng công.

2/ Ngày thứ hai, (23/2) [^]

Đả thất là pháp khắc kỳ thủ chứng. Người xưa vì căn tánh lanh lợi nên không thường dùng pháp này, nhưng qua đời Tống (960-1278) thì từ từ được áp dụng. Đến đời Thanh (1662-1912), vào triều vua Ung Chánh, pháp này lan rộng khắp nơi. Vua Ung Chánh rất tôn trọng Thiền tông, nên tại hoàng cung cũng thường đả thất. Đồng thời, công phu thiền định của ông ta rất phi thường. Dưới tay ông có hơn mười người ngộ đạo. Tổ Thiên Huệ Triệt ở chùa Cao Mân tỉnh Dương Châu cũng ngộ đạo dưới pháp hội của ông ta. Tất cả quy củ pháp chế thiền môn đều do ông chấn chỉnh. Do đó, tông phong được chấn hưng mạnh mẽ, và nhân tài xuất hiện rất nhiều. 

Vì vậy, quy củ tông phong rất thiết yếu và hệ trọng. Pháp thức khắc kỳ thủ chứng tựa như thí sinh nhà nho lúc vào trường khảo hạch, theo đề mục mà làm thơ, theo thơ mà được khảo thí trong một thời gian hạn định. Đề mục đả thất của chúng ta gọi là "Tham Thiền", nên điện đường đều gọi là "Thiền Đường". Chữ Thiền vốn là tiếng Phạn, dịch là thiền na, nghĩa là tĩnh lự. Trong thiền lại có thiền Đại Thừa, thiền Tiểu Thừa, thiền cõi hữu sắc, thiền cõi vô sắc, thiền Thanh Văn, thiền ngoại đạo v.v...

Thiền trong tông môn, gọi là "Vô Thượng Thiền". Nếu như trong thiền đường có người tham thấu nghi tình, ngồi tọa thiền cắt đứt mệnh căn, tức đồng Như Lai không khác. Thế nên, thiền đường cũng gọi là "Tuyển Phật Trường", tức là trường tuyển làm Phật, hay "Bát Nhã Đường". Sở học nơi các thiền đường đều là pháp vô vi. Vô vi tức là không có hành động tạo tác, không pháp để chứng đắc, không pháp để làm. Nếu là hữu vi thì đều nằm trong sanh diệt. Nếu có chứng đắc thì cũng có mất mát. Kinh nói: "Nếu còn lời nói đều là không thật nghĩa".

Ví như, tụng kinh, lễ sám v.v..., tất cả đều là pháp hữu vi của ngôn giáo phương tiện quyền xảo, còn tông môn dạy quý vị trực nhận thẳng vào nguồn tâm, không có chỗ để dùng ngôn ngữ. Xưa kia, có một học nhân, tham vấn lão nhân Nam Tuyền: 

- Bạch Hòa Thượng! Đạo là gì?

Ngài Nam Tuyền đáp:

- Tâm bình thường là đạo.

Thường ngày, ăn cơm mặc áo, ra vào làm lụng nghỉ ngơi, đều không hợp với đạo, do vì chúng ta tùy theo cảnh mà đắm nhiễm chấp trước, không nhận ra tự tâm mình vốn là Phật. Thuở trước, thiền sư Pháp Đường ở núi Đại Mai lúc mới gặp Mã Tổ bèn hỏi: 

- Bạch Hòa Thượng! Phật là gì?

Mã Tổ đáp:

- Tâm tức là Phật.

Ngài liền đại ngộ, rồi lễ bái từ biệt Mã Tổ, đến núi Mai Tử ở huyện Tứ Minh, kết am ẩn tu. Đời Đường, niên hiệu Trinh Quán (785-804) dưới hội của thiền sư Giám Quan, có một vị tăng nhân đi vào rừng lượm cây làm tích trượng mà bị lạc đường, nên đến am Ngài, bèn hỏi: 

- Bạch Hòa Thượng! Ngài ẩn tu nơi đây đã bao lâu rồi?

Ngài đáp:

- Chỉ thấy núi bên phía tây xanh rồi lại vàng.

- Bạch Hòa Thượng! Vậy đường nào dẫn ra khỏi núi nầy?

- Ông cứ men theo con suối này mà ra.

Vị tăng trở về thuật lại cho thiền sư Giám Quan nghe. Giám Quan bảo: 

- Tại Giang Tây, Thầy từng gặp một vị tăng, nhưng bấy lâu nay không nghe tin tức, vậy chắc là Ngài đó rồi.

Sau đó thiền sư Giám Quan liền bảo tăng đi thỉnh ngài Pháp Đường về chùa. Ngài Pháp Đường làm kệ:

"Cây khô cằn trong rừng lạnh lẽo,
Mấy độ xuân về tâm nào chuyển,
Lão tiều phu chẳng màng nhìn đến,
Dinh nhân truy tìm chi nhọc mệt,
Trong hồ sen nở vô số y,
Hoa tùng ăn mãi vẫn còn dư
Nay bị thế nhân biết nơi ở
Phải dời am vào tận núi sâu!"
Mã Tổ nghe Ngài đang trú trong núi, nên bảo tăng đến chỗ đó mà hỏi: 

- Bạch Hòa Thượng! Ngài gặp Mã Đại Sư, được sở đắc gì mà trụ nơi đây?

Ngài đáp:

- Mã Đại Sư dạy rằng tức tâm tức Phật, nên tôi mới đến đây.

- Gần đây Mã Đại Sư giảng thuyết Phật Pháp có khác.

- Khác như thế nào?

- Mã Đại Sư dạy rằng phi tâm phi Phật.

- Lão già làm mê loạn người chưa có ngày nào thôi. Mặc lão phi tâm phi Phật, còn tôi chỉ biết tức tâm tức Phật.

Vị tăng trở về, thuật lại sự việc này cho Mã Tổ nghe. Mã Tổ bèn bảo: 

- Trái mai đã chín.

Qua câu chuyện này, chúng ta thấy rõ tín tâm của người xưa thật là kiên cố. Vì căn cơ chúng ta quá kém cỏi, và vọng tưởng quá nhiều, nên chư đại tổ sư mới dạy tham quán câu thoại đầu. Thật là một việc làm miễn cưỡng. Tổ Vĩnh Gia nói:

"Chứng thật tướng, 

Không người không pháp, 

Sát na diệt, 

Hết nghiệp nơi ngục A Tỳ

Nếu lấy lời giả, dối chúng sanh, 

Tự chiêu địa ngục cắt lưỡi hằng sa kiếp!"

Tổ Cao Phong bảo: 

- Người học đạo, như lấy một viên đá, liệng thẳng xuống tận đáy hồ. Chúng ta tham khán thoại đầu, tức là phải khán xem nó đến tận cùng, cho tới khi thấy vỡ nó ra mới thôi.

Tổ Cao Phong lại phát nguyện: 

- Nếu người học đạo, khi khởi câu thoại đầu, mà không có hai niệm, thì trong bảy ngày, nếu không ngộ đạo, tôi nguyện sẽ mãi bị đọa trong địa ngục cắt lưỡi!

Vì lòng tin của chúng ta không kiên cố, và tu hành không chân thật, nên vọng tưởng không thể xả bỏ. Nếu có tâm thiết tha vì sự sanh tử, thì một câu thoại đầu quyết không để quên mất. Tổ Quy Sơn bảo: 

- Đời đời nếu không thối chuyển, quả vị Phật quyết định sẽ đạt được.

Người mới phát tâm học đạo, nói chung vọng tưởng rất nhiều. Chân cẳng thường bị đau nhức, và không biết phải dụng công như thế nào. Thật ra, chỉ quan trọng nơi tâm tha thiết vì sự sanh tử, cứ bám chặt vào câu thoại đầu, mà không phân biệt đi đứng nằm ngồi. Từ sáng đến tối, xoay chiếu lại nó mãi như ánh trăng thu vằng vặc, rõ rõ ràng ràng không lạc vào hôn trầm, không mê trong trạo cử, thì quả vị Phật sao lo không có phần! Nếu hôn trầm nổi lên, quý vị phải mở mắt thật to, và nới rộng dây lưng, thì tinh thần sẽ tự phấn chấn trở lại. Khi ấy, đừng khởi câu thoại đầu quá vi tế, vì dễ lạc vào hôn trầm và không vọng. Nếu để tâm tự nhiên thì chỉ còn một mảnh thanh tịnh tràn đầy, thân tâm sảng khoái. Lúc đó, chớ để mất câu thoại đầu thì mới tiến bộ. Song, nếu lạc vào không vọng tức chẳng phải là cứu cánh. Nếu khởi thoại đầu quá thô thiển, thì vọng tưởng dễ dàng sinh lên. Lúc đó, khó mà điều phục được trạo cử. Thế nên, khi ấy phải dung hòa là trong thô thiển có vi tế, trong vi tế có thô thiển, thì công phu mới đắc lực, khiến đạt đến cảnh giới động tịnh nhất như.

Xưa kia, những khi chạy hương ở chùa Kim Sơn và các chùa khác, thầy Duy Na dâng hương xong, liền cùng đại chúng chạy như bay. Khi nghe tiếng mõ đánh, bèn đứng khựng lại như người chết. Như thế thì còn đâu vọng tưởng hôn trầm? Nào phải như ngày nay chúng ta chạy hương đâu? 

Khi ngồi thiền, quý vị đừng đề câu thoại đầu quá cao, vì dễ bị phù trầm. Lại nữa, không nên giữ câu thoại đầu trước ngực vì sẽ sanh bịnh. Ngoài ra, đừng đè nén xuống. Nếu đè nén xuống đan điền, bụng sẽ phình to, dễ lạc vào cảnh năm mươi ấm ma, phát sanh nhiều bịnh tật. Chỉ thiết yếu là tâm bình khí tĩnh, tham khán chữ "Ai" mãi như gà ấp trứng, mèo rình chuột. Lúc xoay lại phản chiếu được rồi, mạng căn tự nhiên cắt đứt. 

Đương nhiên, người mới học pháp này, làm sao sánh bằng với những vị đã từng tham học lâu năm, nhưng quý vị cũng nên cố gắng dụng công trong mọi thời khắc. 

Tu hành giống như mài đá lấy lửa, phải có phương pháp rõ ràng, bằng không thì cho dầu đập nát đá ra vẫn không có lửa. Cách thức là phải có một thanh sắt và mồi lửa. Để mồi lửa ngay dưới cục đá, rồi lấy thanh sắt cọ vào đá. Khi lửa từ viên đá cháy nháng lên, mồi lửa liền bắt được ngọn lửa. Đó là phương pháp lấy lửa duy nhất. Hiện tại, chúng ta biết rằng tự tâm là Phật, nhưng lại không chịu thừa nhận, nên phải dùng câu thoại đầu làm mồi lửa. Lý dùng mồi lửa là như thế. Hiện tại đối với cách lấy lửa, chúng ta chưa biết đến, nên không thể nhận ra tự tánh. Tự tánh của chúng ta đồng với chư Phật không khác. Song, vì vọng tưởng chấp trước, nên không thể giải thoát. Do đó, Phật vẫn là Phật, và mình vẫn là mình. Chúng ta hôm nay đã biết mình là con của bậc Pháp Vương, thì hãy nên tự tham cứu, vậy có hay lắm không! Hy vọng mọi người hãy cố gắng nỗ lực. Trên đỉnh trụ cây trăm thước, hãy tiến thêm một bước, để được trúng tuyển tại đạo tràng này, mới mong rằng trên đáp đền ơn chư Phật, dưới làm lợi ích cho loài hũu tình. Trong Phật pháp, không có nhân tài xuất hiện vì mọi người không dám nỗ lực tinh tấn tu hành. Nói ra thật đau lòng! Giá như tin sâu vào lời dạy của tổ Vĩnh Gia và Cao Phong, thì quyết chắc rằng ai ai cũng sẽ ngộ đạo. Mọi người hãy nên dụng công tham thiền!

3/ Ngày thứ ba, (24/2) [^]

Thời gian trôi qua mau chóng. Vừa nói đả thiền thất thì đã qua ba ngày rồi. Người biết dụng công, xoay lại tham chiếu câu thoại đầu được, thì tất cả trần lao vọng niệm đều từ từ lắng đọng, rồi thỏng tay đi thẳng về nhà. Vì vậy, người xưa nói: 

- Tu hành không cách chi hết, thiết yếu phải biết đường về. Lộ trình nếu rõ, sanh tử liền ngưng.

Lộ trình của chúng ta, trọng yếu là xả bỏ thân tâm thì trong gang tấc sẽ về đến nhà. Lục tổ Huệ Năng bảo: 

- Niệm trước không sanh là tâm, niệm sau không diệt là Phật.

Bốn đại vốn không. Năm ấm không thật có. Chỉ vì vọng tưởng chấp trước, nên đắm đuối mến yêu huyễn pháp ràng rịt ở thế gian, mà không nhận ra bốn đại vốn không, nên sanh tử không thể dứt. Nếu trong một niệm chẳng khởi sanh diệt thì không cần học Phật pháp. Khi ấy lo gì sanh tử không dứt được! Vì vậy, pháp trong tông môn giống như ánh sáng mặt trời, chiếu soi khắp cả mười phương thế giới. 

Xưa kia, tổ Đức Sơn, người Giản Châu tỉnh Tứ Xuyên, tên tục là Chu. Năm hai mươi tuổi, xả tục xuất gia thọ giới cụ túc. Ngài tinh tấn nghiên cứu tạng luật, cùng các kinh bàn về chân tánh hay thể tướng, nên quán thông được tông chỉ thú hướng. Ngài thường giảng kinh Kim Cang Bát Nhã. Người thời đó thường gọi Ngài là Chu Kim Cang. Ngài thường nói với quý vị đồng môn: 

- Một cọng lông hớp cạn nước biển. Tánh như biển cả, rộng vô cùng. Dệt nơi đầu ngọn kim, nhưng kim nhọn không động. Học đồng vô học, chỉ mình ta biết.

Sau này, nghe Thiền tông thịnh hành ở phương Nam, Ngài rất bực tức, bảo: 

- Người xuất gia, ngàn kiếp học oai nghi Phật, muôn kiếp tu tế hạnh Phật, vậy mà vẫn chưa có thể thành Phật. Bọn quỶ ở phương Nam dám nói trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật. Ta phải quét sạch hang ổ, diệt hết những loài này, hầu mong báo đền ơn Phật!

Ngài liền quảy theo bộ Thanh Long Sớ Sao, đi từ Tây Xuyên đến Phong Dương. Giữa đường, gặp một bà lão bán bánh điểm tâm. Ngài ghé lại định mua bánh điểm tâm. Bà lão điềm nhiên chỉ tay vào gánh đồ, hỏi: 

- Bạch Hòa Thượng! Đó là kinh sách gì vậy?

Ngài đáp:

- Là bộ Thanh Long Sớ Sao.

- Bạch Hòa Thượng! Vậy sớ sao đó giảng về kinh gì vậy?

- Giảng kinh Kim Cang.

- Con có câu hỏi, nếu Ngài trả lời được thì xin cúng dường bánh điểm tâm, còn nếu không trả lời được thì xin Ngài hãy đi nơi khác. Kinh Kim Cang nói: "Quá khứ, tâm không thể được. Hiện tại, tâm không thể được. Vị lai, tâm không thể được." Vậy theo Ngài, kinh chỉ vào tâm nào?

Ngài không lời đối đáp, bèn bỏ đi đến Long Đàm. Khi vào pháp đường, Ngài hỏi: 

- Đã lâu nghe danh Long Đàm. Nay đến đây, sao chẳng thấy Đàm (ao đầm), cùng không thấy Long (rồng) đâu cả!

Nghe thế, ngài Long Đàm bước ra, nói: 

- Ông đã đến Long Đàm rồi!

Ngài Đức Sơn không trả lời được, nên ở lại chùa. Đêm nọ, lúc Đức Sơn đang đứng hầu, ngài Long Đàm bảo: 

- Đã khuya rồi, sao ông không về phòng nghỉ?

Đức Sơn bèn trịnh trọng bước ra ngoài, nhưng lại trở vào, nói: 

- Bên ngoài trời tối om!

Long Đàm mồi một ngọn đèn rồi đưa cho Đức Sơn. Đức Sơn định lấy ngọn đèn, nhưng Long Đàm bèn thổi tắt. Ngay khi đó, Đức Sơn lập tức đại ngộ, vội quỳ xuống lễ lạy. Long Đàm bảo: 

- Ông thấy đạo lý gì mà lễ lạy ta?

Đức Sơn thưa:

- Từ nay không còn dám nghi đầu lưỡi của các lão hòa thượng trong thiên hạ nữa.

Hôm sau, Long Đàm lên tòa bảo đại chúng: 

- Trong đây có một người, răng bén như lưỡi kiếm, miệng như bồn máu, bị ăn gậy mà không xoay đầu. Sau này một mình lên núi, lập đạo của ta.

Đức Sơn liền lấy bộ Thanh Long Sớ Sao ra trước pháp đường, nổi lửa mà đốt, nói:

- Các lời huyền biện như lông mi trong hư không. Tận hết căn cơ thế nhân, như một giọt nước ném vào biển cả.

Đốt xong, Ngài lễ bái rồi mang hành lý, bỏ đi thẳng đến núi Qui Sơn, lên tận pháp đường, tiến từ hướng tây qua hướng đông, lại từ hướng đông qua hướng tây, rồi xoay lại nói với ngài Phương Trượng (tức tổ Quy Sơn Linh Hựu): 

- Có chi không! Có chi không!

Tổ Quy Sơn ngồi trên tòa, chẳng màng trả lời. Đức Sơn nói tiếp: 

- Không, không!

Nói xong, Đức Sơn bèn bỏ đi ra. Ra đến ngoài cửa, Đức Sơn tự bảo: 

- Tuy là thế, nhưng phải nên cẩn thận!

Đức Sơn liền chấn chỉnh oai nghi, trở vào pháp đường, trải tọa cụ, thưa: 

- Bạch Hòa Thượng!

Tổ Quy Sơn định lấy chổi đánh, Đức Sơn liền la lên, rồi cuốn gói đi ra. Tối đến, tổ Quy Sơn hỏi thầy thủ tọa: 

- Người mới đến hôm nay, còn ở lại không?

Thủ tọa thưa:

- Bạch Hòa Thượng! Khi mang đôi dép cỏ ra khỏi pháp đường thì ông ta bỏ đi mất.

- Kẻ này, mai đây một mình sẽ lên tận đỉnh núi, kết am khô, mạ Phật báng Tổ!

Ngài Đức Sơn qua Lễ Dương trú ba mươi năm. Gặp lúc vua Đường Võ Tông (841-846) đang phá diệt Phật giáo, Ngài lánh nạn ẩn tu trong hang núi Độc Phù. Đầu niên hiệu Đại Trung, thái thú Tiết Đình Vọng, sửa lại tịnh xá Đức Sơn, hiệu thiền viện Cổ Đức, định tìm cầu một vị tài đức về trụ trì. Nghe đạo hạnh Đức Sơn, ông bèn đến thỉnh mời, nhưng Ngài không màng xuống núi. Tiết Đình Vọng bày mưu là phao du Ngài giữ trà muối trái phép, phạm luật pháp triều đình, nên sai lính bắt Ngài về huyện đường. Khi đến nơi, ông bèn lễ bái, cầu thỉnh Ngài ở lại xiển dương tông phong. Người đời sau thường bảo: 

- Đức Sơn la. Lâm Tế đánh.

Nếu theo gương hai ngài, Đức Sơn và Lâm Tế, chúng ta lo gì không ngưng được sanh tử. 

Sau ngài Đức Sơn là Nham Đầu. Sau Nham Đầu là Tuyết Phong. Sau Tuyết Phong là Vân Môn, Pháp Nhãn, lại đến quốc sư Đức Thiều, tổ Vĩnh Minh, v.v... Tất cả đều từ gậy ngài Đức Sơn mà ra. Phật pháp từ các triều đại quân chủ cho đến nay, đều do chư đại Tổ Sư trong tông môn chống giữ. Quý vị đả thất nơi đây, đều hiểu rõ đạo lý cao siêu, thì việc đi thẳng vào đất tâm, giải thoát vòng sanh tử, sẽ không khó cho lắm. Nhưng nếu đùa cợt không dụng công chân thật, và từ sáng đến tối cứ mang mãi bóng hình quỶ ma, hay đào sâu hố văn tự, thì đừng trách tại sao không cắt được sanh tử. Mọi người hãy nên nỗ lực tinh tấn dụng công. 

4/ Ngày thứ tư, (25/2) [^]

Bốn ngày thiền thất đã trôi qua. Quý vị đều tinh tấn dụng công, lại trình kệ lên, cầu tôi ấn chứng. Việc này thật rất khó làm. Song, quý vị dụng công như thế này, chắc vì đã quên lời của tôi giảng giải trong hai ngày trước. Tối hôm qua tôi có nói: 

- Tu hành không đường nào khác, cần thiết là phải biết đường về.

Hiện tại, tham khán thoại đầu là việc mà chúng ta phải theo sát. Mục đích tu hành của chúng ta là thành Phật, cắt đứt dòng sanh tử. Muốn cắt đứt sanh tử, phải dùng câu thoại đầu như bảo kiếm vương Kim Cang. Ma đến chém ma. Phật đến chém Phật. Không chút tình lưu luyến. Không pháp để lập. Nếu như thế, thì còn đâu vọng tưởng để làm thơ làm kệ, diễn đạt thấy hư không ánh sáng, thấy cảnh giới này cảnh giới nọ ư? Dụng công như thế, tôi không biết thoại đầu của quý vị đi đâu rồi!

Người tu hành lâu năm, chính yếu chuyên cần tham khán chứ không phải dùng lời. Người mới phát tâm tu đạo hãy chú ý điểm này!

Vì sợ quý vị không biết cách dụng công, nên tôi mới giảng rõ duyên khởi của thiền thất, và giá trị tu hành trong tông môn, cùng cách thức dụng công, trải qua hai ngày liền. Pháp dụng công của chúng ta, đơn giản là chỉ đề cử câu thoại đầu. Trong sáu thời, từ sáng đến tối, như dòng nước chảy đừng để gián đoạn. Tâm phải minh mẫn, nhận biết rõ ràng, chớ để mê muội. Tất cả tình cảm phàm phu hay pháp giải thoát của chư Thánh, hãy vung đao chặt hết.

Người xưa bảo:

"Học đạo như giữ cấm thành
Giữ chặt dầu trả giá cao
Không chịu trời lạnh thấu xương
Hương thơm hoa mai sao tỏa!"
Đó là kệ của thiền sư Hoàng Bá. Bốn câu kệ này có hai ý nghĩa. Hai câu đầu nói rằng học đạo như giữ cấm thành, tức là giữ thành trì nghiêm mật chặt chẽ, không khiêng nể ai, luôn cấm ngặt ra vào. Trong mỗi chúng ta đều có một tâm vương, lại có thức thứ bảy, thứ sáu, thứ năm v.v.... Tâm vương tức là thức thứ tám. Năm thức trước là mắt tai mũi lưỡi thân ý. Thức thứ sáu tức là thằng giặc ý thức. Thức thứ bảy là mạt na thức. Từ sáng đến tối, thức thứ bảy nhận lấy kiến phần của thức thứ tám làm bản ngã, rồi dẫn khởi thức thứ sáu, khiến thức này thống lãnh năm thức trước tham đắm vào các trần cảnh của sắc thanh hương vị xúc pháp. Nếu không đoạn được triền phược của mê hoặc thì tâm vương, tức thức thứ tám, bị trói chặt đến chết. Thế nên, hôm nay chúng ta bắt buộc phải dùng câu thoại đầu, tức bảo kiếm Kim Cang, để giết những tên giặc này, hòng giúp thức thứ tám chuyển thành "Đại Viên Cảnh Trí", thức thứ bảy thành "Bình Đẳng Tánh Trí", thức thứ sáu thành "Diệu Quang Sắc Trí", năm thức trước chuyển thành "Thành Sở Tác Trí". Nhưng điều khẩn thiết là phải chuyển thức thứ sáu và thứ bảy, vì chúng nắm vai trò lãnh đạo. Ngày nay, chúng ta phải dùng câu thoại đầu để chuyển thức "Phân Biệt" thành "Diệu Quang Sắc Trí", và chuyển tâm so đo phân biệt mình người thành "Bình Đẳng Tánh Trí". Đó gọi là chuyển thức thành trí, chuyển phàm thành Thánh, mà chẳng để cho sáu tên giặc, sắc thanh hương vị xúc pháp, xâm phạm "Cấm Thành".

Hai câu sau, "không chịu trời lạnh thấu xương, hương thơm hoa mai sao tỏa", cũng là ví dụ. Chúng sanh đang lặn hụp trong biển sanh tử luân hồi ở ba cõi, bị năm món dục lạc trói buộc, và bị trần lao làm mê mờ, nên không thể giải thoát. Nơi đây, chúng ta lấy hoa mai làm ví dụ. Hoa mai là loại hoa nở vào mùa đông giá lạnh. Muôn vật trên thế gian đều sinh sản trong mùa xuân, trưởng dưỡng trong mùa hạ, tàn rụi trong mùa thu, khô chết trong mùa đông. Vào mùa đông, hầu hết cây cỏ côn trùng đều bị khí lạnh làm khô kiệt chết rụi. Tuyết đóng trên đất nên bụi không bay được. Côn trùng, cây cỏ, tro bụi được ví như vọng tưởng phân biệt, vô minh, phiền não, ghen ghét v.v... Chúng ta nếu quét sạch hết chúng ra thì tâm vương tức bổn tánh tự nhiên hiển hiện, như hoa mai nở bông rộn rã trong mùa đông giá lạnh. Thật vậy, quý vị phải biết rằng, hoa mai nở bông vào mùa đông lạnh giá chớ không nở trong tiết xuân ấm áp, tràn đầy ánh nắng hồng. Hoa tâm khai nở không phải ở nơi vui buồn, thương ghét, hay đúng sai giữa mình và người. Nếu chúng ta mê muội vì những tâm thức triền phược thì tâm tánh sẽ thành vô ký. Nếu tạo nghiệp xấu thì thành tánh xấu. Nếu tạo nghiệp lành thì thành tánh lành.

Có hai loại vô ký là vô ký trong mộng và vô ký không vọng. Vô ký trong mộng tức là lúc hôn trầm mê mộng, chúng ta mơ thấy những cảnh hảo huyền, không liên hệ gì với những hoạt động hằng ngày. Đây là cảnh giới của ý thức đơn độc, cũng là loại vô ký đơn độc. Chúng ta đang ngồi tọa hương mà bỏ mất câu thoại đầu, rồi lạc vào trống không, mê mê mờ mờ, mà chẳng biết chi hết, hay chỉ tham đắm cảnh giới tịch tĩnh, tức là dụng công lầm lạc, sanh khởi thiền bịnh trầm trọng. Đó gọi là vô ký không vọng. Việc cần thiết là trong mười hai thời, luôn khởi câu thoại đầu, linh linh bất muội (sáng suốt, không mê), liễu liễu thường tri (rõ ràng thường biết). Đi cũng như thế, và ngồi thiền cũng như thế. Cổ nhân nói: 

- Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, dứt hết ngôn từ lời nói, thể động và tịnh đều an nhiên!

Tổ Hám Sơn bảo:

"Trên đỉnh núi cao, 
Bốn bề mênh mông
Tĩnh tọa ai biết
Ánh trăng lặng lẽ,
Chiếu thấu suối ngàn
Suối trong không trăng
Trăng nơi trời xanh
Ngâm nga thơ kệ
Thơ chẳng phải thiền".
Vì có duyên lành với nhau, nên tôi mới nói ra những điều này. Hy vọng mọi người nỗ lực tinh tấn, không nên dụng tâm tán loạn. Tôi sẽ kể thêm một câu chuyện nữa.

Xưa kia, tổ khai sơn lập chùa Tất Đàn tại núi Kê Túc, sau khi xuất gia, Ngài đi đó đây tham thiền học đạo, rất mực tinh tấn dụng công. Ngày nọ, Ngài ghé qua một quán trọ, nghe cô gái trong quán bán đậu hủ ngâm thơ: 

- Trương đậu hủ, Lý đậu hủ! Đầu trên gối, nghĩ muôn ngàn chuyện. Sáng mai cũng vẫn bán đậu hủ.

Ngay trong lúc đang ngồi thiền tĩnh tọa, nghe cô bán đậu hủ ca ngâm như thế, Ngài liền ngộ đạo. Vì vậy, thấy rõ người xưa, không phải là ở thiền đường mới dụng công, khai ngộ được. Dụng công tu hành quý tại nhất tâm. Quý vị chớ phân tâm tán loạn, khiến thời gian trôi qua vô ích, và ngày mai vẫn phải bán đậu hủ. 

5/ Ngày thứ năm, (26/2) [^]

Phương pháp tu hành nói dễ thì cũng rất dễ, còn nói khó thì cũng rất khó. Nói dễ nghĩa là quý vị chỉ cần xả bỏ tất cả, có lòng tin chắc thật, phát tâm kiên cố lâu dài, thì mới thành công được.

Nói khó tức là vì chúng ta sợ khổ, muốn hưởng sung sướng an lạc. Nên nhớ rằng muốn thành công trong bất cứ nghề nghiệp nào trên thế gian, thì phải trải qua quá trình học tập rèn luyện, huống hồ chi nói đến việc học pháp thánh hiền để mong thành Phật thành Tổ! Cứ dễ duôi làm biếng mãi thì làm sao thành công được? Thế nên, điều thứ nhất là phải có tâm kiên cố, vì người tu hành học đạo, không thể tránh khỏi ma chướng. Ma chướng là cảnh nghiệp trần lao như màu sắc, âm thanh, mùi hương, mùi vị, xúc chạm, pháp trần, mà tôi đã nói đến tối hôm qua. Nghiệp cảnh này là oan gia sinh tử của chúng ta. Đó là nguyên nhân mà nhiều vị pháp sư giảng kinh, vì không nắm vững điểm này, nên đạo tâm không kiên cố. 

Kế đến, phải phát tâm tu hành dài lâu. Trên thế gian, chúng ta tạo nghiệp vô số. Vừa mới tu hành, cầu mong thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, thì làm sao xả bỏ hết tập khí xấu xa trong một lần được?

Chư Tổ Sư xưa nay, tu hành bao kiếp mới thành tựu. Điển hình là tổ Trường Khánh, ngồi rách cả bảy chiếc bồ đoàn. Tổ Triệu Châu, năm tám mươi tuổi ra ngoài hành cước học đạo. Bốn mươi năm tham khán một chữ vô, dụng tâm không tán loạn, sau đó mới đại triệt đại ngộ. Yên Vương cùng Triệu Vương rất sùng bái Ngài, nên thường đến cúng dường. Đến đời Thanh, hoàng đế Ung Chánh (1723-35), khi xem duyệt lại ngữ lục cao siêu của Ngài, bèn ban hiệu "Cổ Phật". Đấy là do cả đời tu hành khổ nhọc, mới thành công được. Ngay đây, chúng ta nếu xả bỏ hết mọi tập khí xấu xa, lắng đọng thân tâm, liền bằng Phật Tổ không khác. 

Kinh Lăng Nghiêm thuyết:

"Như lọc lấy nước
Giữ nước trong lành
Nước tịnh không động
Cát đá tự chìm
Nước trong liền hiện
Là vừa hàng phục
Khách trần phiền não
Lọc cát đá ra
Chỉ còn nước trong
Đó là đoạn hẳn
Căn bản vô minh".
Phiền não tập khí ví như cát đá, vì vậy mới dùng thoại đầu. Thoại đầu như lưới lọc cát, khiến nước trong sạch. Người dụng công, nếu đạt đến chỗ thân tâm nhất như, tức cảnh tịnh xuất hiện, thì phải chú ý, chớ dừng lại mà không tiến bước. Nên hiểu rằng đó chỉ là cảnh giới thô thiển, phiền não vô minh chưa đoạn hết. Lúc ấy, tâm phiền não đã chuyển thành tâm thanh tịnh, như cát bụi lóng thì nước trong. Tuy vậy, dưới đáy nước cát bụi vẫn còn, chưa được lọc ra, nên cần phải gia công thêm nữa. Cổ nhân nói: 
"Ngồi trên đỉnh cột trăm thước, 
Tuy thấy mà không thật thấy, 
Nếu tiến thêm một bước nữa, 
Mười phương thế giới liền hiện!"
Nếu không tiến thêm một bước nữa, thì chỉ nhận "Hóa Thành" làm nhà, và phiền não vẫn còn cơ hội nổi lên. Nếu như thế, muốn tự mình giác ngộ, cũng rất khó lắm. Vì vậy, phải lọc cát bụi, rồi giữ nước trong, thì mới mong đoạn hẳn cội gốc vô minh mà thành Phật Tổ. Sau khi cắt đứt gốc rễ vô minh, tùy thời mà hiện thân thuyết pháp khắp mười phương. Ví như Bồ Tát Quán Âm, Ngài thường hiện ba mươi hai ứng thân. Nếu người nào muốn hiện thân gì để được độ thoát, Ngài sẽ vì họ mà hiện ra thân đó để thuyết pháp. Tự do tự tại, qua lại nơi thanh lâu tửu điếm, thai trâu thai bò, thiên đường địa ngục, không bị trói buộc. Ngược lại, một niệm phân biệt khởi lên, thì luân hồi mãi trong sáu đường. 

Thuở xưa, đời trước của Tần Tăng thường cúng dường tượng Địa Tạng bằng hương hoa đèn nến, nên mới được quả báo thiện lành. Nhưng vì không phát tâm tu hành dài lâu, lại phiền não vô minh chưa đoạn hết, nên đời nay mới bị tâm sân tổn hại, khiến đọa lạc. (Ông làm đến chức Tể tướng trong đời Tống, nhưng vì muốn soán ngôi vua, nên bị xử trảm.)

Nếu tín tâm kiên cố, không thối thất, bền bỉ tu hành, dầu quý vị là ai đi nữa, thì chắc chắn sẽ thành Phật.

Xưa kia, có một người nghèo nọ xuất gia tại một ngôi chùa thuộc tỉnh Chương Châu, rất thật tâm tu hành, nhưng không biết hỏi đạo cùng ai, chỉ ngày ngày lo khổ công làm lụng công quả. Hôm nọ, có một vị tăng hành cước, ghé lại tạm trú nơi chùa. Vị khách tăng thấy Thầy làm lụng vất vả, bận rộn sáng tối, nên hỏi việc dụng công tu đạo hằng ngày như thế nào. Thầy đáp:

- Mỗi ngày con đều làm việc khổ nhọc. Xin thỉnh Ngài dạy phương pháp tu hành.

- Hãy tham khán công án "Ai là người đang niệm Phật".

Thể theo lời dạy của vị khách tăng, mỗi ngày trong lúc làm việc, Thầy luôn xoay lại, nhìn vào chữ "Ai". Sau này, Thầy vào núi thẳm rừng sâu, ăn đọt tùng uống nước suối, mặc áo rơm mà dụng công tu hành. Bấy giờ, gia đình ở nhà, biết việc Thầy tu hành khổ hạnh nơi núi sâu rừng thẳm, nên người mẹ liền bảo cô chị đem một cuộn vải cùng thức ăn đến đó. Cô chị vào hang núi, thấy Thầy đang ngồi thiền trong vách sâu, bèn đến lắc vai, nhưng thân Thầy không lay động. Cô kêu to lên, nhưng Thầy vẫn không đáp lời. Tức giận, cô để lại tất cả đồ đạc, rồi trở về nhà. Thầy không một lời hỏi thăm gia đình, cứ mãi ngồi thiền trong hang. Mười ba năm sau, người chị lại đến thăm, thấy cuộn vải khi trước, cũng để ngay tại chỗ xưa, mà chưa hề bị động đến. Lần nọ, có người bị đói khát, chạy lánh nạn

ngang qua đó, thấy Thầy đang ngồi thiền, bèn tiến vào hang để xin đồ ăn. Thầy liền đi vào trong hang sâu, lấy ra vài thỏi đá bỏ vào nồi nấu, rồi mang ra cùng ăn với người khách lạc đường, như ăn khoai vậy. Ăn xong, trước khi khách đi, Thầy dặn: 

- Xin đừng kể về buổi ăn này cho người ngoài biết.

Thời gian sau, vì nghĩ rằng trụ trong núi đã lâu, Thầy muốn ra ngoài để kết duyên pháp. Do đó, Thầy đến Hạ Môn, cất lều tranh ngay bên vệ đường để bán trà bánh cho khách qua lại. Bấy giờ là đời vua Vạn Lịch (1573-1620). Hoàng Thái Hậu (tức mẹ vua), vừa mới qua đời, nên nhà vua thỉnh mời chư cao tăng đến hoàng cung, làm lễ cầu nguyện cho mẹ ông. Mới đầu, nhà vua định thỉnh tăng chúng ở kinh đô, nhưng nơi đó vào đương thời không có vị cao tăng nào cả. Lại nữa, Hoàng Thái Hậu báo mộng cho biết là tại Chương Châu, tỉnh Phước Kiến, có một vị cao tăng. Vì vậy, nhà vua phái quan quân đến Chương Châu, cung thỉnh tất cả chư tăng về kinh đô, lập đàn tràng cầu siêu. Thế nên, tăng chúng Chương Châu đều chuẩn bị hành lý, rồi lục đục kéo nhau lên kinh đô. Khi chư tăng đi ngang qua quán trà, Thầy liền hỏi thăm nguyên do. Chư tăng đáp: 

- Hiện tại, chúng tôi phụng theo chiếu chỉ nhà vua, lên kinh đô lập đàn tràng cầu siêu độ cho Hoàng Thái Hậu.

Thầy thưa:

- Bạch chư Hòa Thượng! Vậy con có thể cùng đi với quý ngài được không?

- Điệu bộ ông lôi thôi xốc xếch, làm sao theo chúng tôi được.

- Con không biết tụng kinh, nhưng có thể giúp quý ngài mang hành lý.

Chư tăng nhận lời, đưa hành lý cho Thầy mang, rồi cùng nhau lên kinh đô. Khi ấy, Hoàng Đế biết chư tăng tại Chương Châu đang trên đường đến, nên bảo người chôn giấu một bộ kinh Kim Cang dưới cổng kinh thành. Các vị tăng Chương Châu không hay biết. Người người đều bước qua cổng thành, duy chỉ trừ Thầy. Thầy quỳ xuống chấp tay, mà không dám bước qua. Mặc dầu quân lính giữ cổng thành kêu réo, nhưng Thầy vẫn không đi. Nghe quan quân tấu trình sự việc, Hoàng Đế rất vui mừng, biết thánh tăng đã đến. Ông lại sai người ra hỏi: 

- Hòa Thượng đã đến, sao không vào kinh thành?

Thầy đáp:

- Dưới đất có kinh Kim Cang, nên tôi không dám bước qua.

- Tại sao Hòa Thượng không lộn ngược thân mà vào thành?

Nghe thế, Thầy liền chống hai tay xuống đất, đưa hai chân lên trời, rồi đi vào thành. Hoàng Đế cung kính tột bực. Lúc được hỏi cách lập đàn tràng cầu siêu, Thầy đáp: 

- Canh năm sáng mai, kiến lập một đài cao, cắm một cây phướn, sắp một bàn trái cây cùng đốt đèn nến để cúng dường chư Phật là đủ.

Hoàng Đế nghe vậy lòng không vui, vì đàn lễ không long trọng. Ông lại sợ Thầy không có đạo đức, nên cho hai cung nữ đến hầu hạ, tắm rửa. Thân tâm Thầy vẫn không động khi được hai cung nữ đến tắm cho mình. Nghe lời cung nữ tấu trình việc đó, Hoàng Đế lại tăng thêm sự cung kính, và nhận biết Thầy thật là một vị thánh tăng, nên y theo lời dạy mà kiến lập đàn tràng. Hôm sau, Thầy lên tòa thuyết pháp, đăng đàn làm lễ; tay phất cây phướn trước quan tài Hoàng Thái Hậu, Thầy nói kệ:

"Cái ta vốn không đến,
Bà chớ có đắm đuối,
Một niệm không sanh,
Siêu thăng cõi trời!"
Làm Phật sự xong, Thầy bảo Hoàng Đế: 

- Xin chúc mừng! Hoàng Thái Hậu đã được siêu thăng!

Hoàng Đế rất đỗi nghi ngờ, vì sợ làm đàn tràng quá đơn sơ như thế thì công đức chưa đủ. Đang khởi tâm nghi như thế, thì trên hư không có tiếng của Hoàng Thái Hậu: 

- Hoàng Đế! Hãy cám ơn Thánh tăng. Mẹ đã được siêu thăng rồi!

Nghe vậy, Hoàng Đế vừa sợ vừa mừng, cúi mình lễ bái tạ ơn, rồi thiết lễ trai tăng cúng dường. 

Thầy thấy Hoàng Đế mặc quần thêu hoa gấm, nên mắt chăm chăm nhìn. Thấy vậy, Hoàng Đế thưa: 

- Bạch Đại Đức! Ngài muốn vật này à?

Nói xong, Hoàng Đế liền tặng cho Thầy quần gấm đó. Thầy nói:

- Đa tạ Hoàng Thượng!

Do việc này, Hoàng Đế bèn ban hiệu cho Thầy là "Quốc Sư Long Khố".

Thọ trai xong, Hoàng Đế dẫn Thầy đến vườn thượng uyển du ngoạn. Trong vườn có một bảo tháp. Thầy vừa thấy thì tâm rất vui mừng, nên mắt nhìn chằm chặp. Hoàng Đế thưa: 

- Bạch Quốc Sư! Ngài muốn tháp này ư?

Thầy bảo:

- Tháp này tuyệt đẹp!

- Bạch Quốc Sư! Con có thể cúng dường Ngài ngôi bảo tháp này.

Nói xong, Hoàng Đế liền sai người mang bảo tháp về Chương Châu. Thầy bèn bảo: 

- Không cần nhờ người mang. Tự tôi đem về được.

Nói xong, Thầy liền bỏ tháp vào trong tay áo, rồi bay lên hư không biến mất. Hoàng Đế kinh hãi run sợ, nhưng lại vui mừng tán thán việc chưa từng có.

Quý vị! Hãy nhìn lại câu chuyện này. Kể từ khi xuất gia, Thầy chưa từng dụng công tán loạn, đạo tâm luôn kiên cố. Người chị đến thăm, Thầy vẫn không màng. Y phục rách nát, Thầy vẫn không quản. Cuộn vải để trong hang mười ba năm mà không động đến. Chúng ta hãy tự hỏi chính mình, công phu có được như thế không? Chỉ nói trong một ngày một đêm, giả như có chị mình đến thăm, thì tâm có động chăng? Lại nữa, trong lúc chỉ tịnh, thấy thầy giám hương đi đốt hương, hay người khác đang động đang tịnh, liền giương đôi mắt mà nhìn. Dụng công như vầy, đến khi nào mới thành thục! Quý vị chỉ thiết yếu lọc bỏ bùn cát, thì nước trong tự nhiên hiện ra. Quý vị hãy đề khởi thoại đầu lên!

6/ Ngày thứ sáu, (27/2) [^]

Cổ nhân nói: 

- Ngày tháng qua mau như thoi đưa, thời gian vùn vụt trôi nhanh như tên bắn.

Đả thiền thất đến ngày mai là xong. Theo quy củ, sáng mai sẽ có tra khảo, vì đả thất là cách thức khắc kỳ thủ chứng. Chứng nghĩa là chứng ngộ, tức thấy tận bổn địa phong quang, hay ngộ đến Như Lai diệu tánh. Vì muốn biết trình độ công phu của quý vị trong bảy ngày, nên mới tra khảo xem xét. Quý vị phải đối trước đại chúng mà thưa bạch rõ ràng những điều mình chứng biết. Khi đó, gọi là thâu nhặt tiền vé của tất cả mọi người. Nói cách khác, chúng ta tham gia đả thiền thất, nghĩa là ai ai cũng có thể khai ngộ, hầu mong hoằng dương Phật pháp, cứu độ chúng sanh. Hiện tại, không nhất thiết ai ai cũng phải khai ngộ; nếu chỉ có một người liễu đạo, thì cũng thâu được tiền vé. Nghĩa là một người trả tiền ăn cho mọi người. Nếu mọi người đồng phát khởi đạo tâm tinh tấn, thì ai ai cũng đều khai ngộ. Cổ nhân nói: 

- Phàm phu thành Phật rất dễ dàng. Dẹp trừ vọng tưởng lại rất khó.

Từ vô thủy đến nay, chúng ta tham lam ái nhiễm, chấp trước nặng nề, nên mới bị lưu chuyển trong vòng sanh tử. Tám muôn bốn ngàn trần lao, cùng bao loại tập khí xả bỏ không nổi, khiến chẳng được ngộ đạo, nên khác hẳn với chư Phật chư Bồ Tát, những bậc thường giác không mê. Do đó đại sư Liên Trì nói:

"Nhiễm duyên rất dễ,
Đạo nghiệp khó thành,
Mê việc trước mắt
Muôn duyên sai biệt
Cảnh như gió thổi 
Hoại rừng công đức
Lửa tâm cháy phừng,
Đốt hạt Bồ Đề,
Đạo đồng tình tâm
Thành Phật dễ dàng
Đối người như mình,
Đồng được tùy hỶ,
Chẳng thấy thị phi
Trên cung dưới kính
Phật pháp thường hiện
Chặt đứt trần lao!"
Những câu kệ trên nói rõ đạo lý chân thật! Nhiễm, tức nhiễm ô. Phàm phu đều tham nhiễm tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, lợi lộc, cùng khởi tâm sân hận gây chiến tranh. Đối với hai chữ 'Đạo Đức', như chân bị đá buộc. Từ sáng đến tối, cứ mãi sống trong vui buồn giận tức, thương mến, ghen ghét, tham lam, và ái nhiễm phú quý vinh hoa, nên chưa hề cắt đoạn bao loại thế tình, cũng không nghĩ gì về đạo. Thế nên, rừng công đức bị phá hoại và hạt Bồ Đề bị đốt rụi. Nếu lạnh nhạt với thế tình, đối xử bình đẳng với tất cả bè bạn, oan gia, cùng mọi chúng sanh, và xem người nghèo như mình nghèo, xem kẻ khác yếu như mình yếu, cũng không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống rượu, lại thường phát tâm Bồ Đề, thì đạo nghiệp mới tương ưng, chóng lập địa thành Phật. Vì vậy bảo:

- Đạo tâm nếu đồng tình tâm, thì thành Phật mau chóng.

Chư Phật thánh hiền ứng hóa thế gian, và trong mọi việc làm đều vì lợi ích chúng sanh. Vì thế nói rằng cứu khổ ban an vui, khởi tâm từ tế độ muôn vật. Nếu chúng ta tự kiềm chế, nhã nhặn khiêm tốn trong mọi trường hợp, cùng nơi các việc làm đều không nhằm vì mục đích hưởng thụ cá nhân, thì làm việc gì cũng thành công, và người người chẳng hề thọ khổ. Đồng thời, quả báo chơn thật thù thắng cũng được viên mãn tròn đầy, như thuyền nhấp nhô lên xuống đồng với mực nước. Nếu dùng tâm từ bi cung kính để đối đãi người, mà chẳng tự cao tự đại, cùng chẳng kiêu xa giả dối, thì khi gặp gỡ, người khác nhất định sẽ có tâm cung kính tôn trọng mình. Ngược lại, nếu chỉ cậy vào tài năng, nộ khí tung hoành ngang dọc, hoặc miệng trái với tâm, luôn vì âm thanh sắc tướng danh lợi, lại lập chước tính toán hầu mong người khác cung kính mình thì không thể được. Cho dầu họ có kính nể mình đi nữa, thì e rằng cũng là ngụy tạo giả dối. Khổng Tử nói: 

- Cung kính người, người hằng cung kính mình. Thương mến người, người hằng thương mến mình.

Lục Tổ Huệ Năng bảo: 

- Người lỗi ta không lỗi, tức lỗi ta phân biệt người.

Thế nên, chúng ta chớ khởi tâm thị phi, mình người khác biệt. Ví như chư Phật Bồ Tát, các ngài làm mọi việc luôn vì lợi ích chúng sanh, nên thời thời thường gặt hái quả báo thiện lành. Nếu chúng ta làm được như thế, thì phiền não không thể trói buộc. 

Đức Thế Tôn thuyết ba tạng kinh điển mười hai phần giáo, chỉ vì muốn cứu giúp chúng ta cắt đứt ba độc tham lam sân hận si mê, cùng dạy tu hành giới định huệ, khiến phát khởi tâm từ bi hỶ xả, và thực hành lục độ vạn hạnh, ngõ hầu viên mãn đức tướng trí huệ trang nghiêm pháp thân công đức. Nếu nương theo trên mà hành, thì nơi nơi đều biến thành thế giới Hoa Tạng.

Hôm nay tham gia đả thất, đa số là các vị tại gia đức độ. Chúng ta nên cố gắng hàng phục tâm mình, mau chóng rời xa