Phần
I
I.
Quý cư sĩ tại Thượng Hải thỉnh giảng năm 1911
II.
Phật thất khai thị tại Phước Kiến Công Đức Lâm, năm
1933
III.
Thư đáp tướng Tưởng Giới Thạch
IV.
Khai thị tại chùa Từ Vân, Trùng Khánh, 17-1-1943.
V.
Khai thị tại chùa Từ Vân, Trùng Khánh, 18-1-1943.
VI.
Khai thị tại chùa Từ Vân, Trùng Khánh vào ngày 19-1-1943.
VII.
Khai thị tại chùa Kiềm Minh, Quý Dương, vào mồng 1-2-1943.
I. Quý
cư sĩ tại Thượng Hải thỉnh giảng năm 1911
[^]
Hôm
nay, tôi được quý cư sĩ yêu cầu lược giảng Phật pháp.
Bàn về việc này, lão nạp thật hổ thẹn muôn phần. Chướng
duyên che lấp, tự mình chẳng có chút tu hành chân thật. Tuy
đàm luận những lời thô thiển, nhưng không ngoài việc nhắc
lại những lời dư thừa của cổ nhân mà chẳng có chút gì
liên hệ với mình.
Nhớ
lại khi xưa, đức Phật vì đại sự nhân duyên mà giáng thế,
giáo huấn, và dạy bảo hơn tám mươi bốn ngàn pháp môn.
Tất cả đều nhằm vào mục đích tùy theo căn bịnh mà cho
thuốc. Thật ra, nếu không có bịnh thì dùng thuốc để làm
gì ? Tuy nhiên, một khi còn bịnh thì chẳng thể không dùng
thuốc. Các phương thuốc tại cõi Hoa Mạn này là những toa
linh dược rất linh nghiệm mà không ngoài: Thiền-tông, Luật-tông,
Giáo-tông, Tịnh-độ-tông, Mật-tông. Những phương thuốc
đó đã từng một thời phát triển rạng rỡ ở phương này.
Ngoài ra, có những tông phái được xem là hưng thịnh một
thời như tông Thiên Thai, tông Hiền Thủ, tông Duy Thức, Đông
Mật, Tây Mật . Các tông phái đó tuy thù thắng vi diệu, nhưng
chỉ có Thiền-tông và Luật-tông là nhiều người không chú
ý đến.
Tuy
nay là đời mạt pháp, nhưng thực ra pháp không mạt tận,
mà chỉ tại do người. Tại sao ? Người người chỉ lo đàm
luận suông thiền này Phật nọ. Giảng Phật học rất nhiều,
nhưng không chịu học Phật. Xem thường hạnh Phật, chẳng
rõ nhân quả, phá giới luật Phật chế. Những tệ đoan xấu
xa, đại khái phát xuất từ những nguyên nhân đó. Vì vậy,
chúng ta, những người chân chánh vì sanh tử mà học Phật,
phải cẩn thận chú ý, chớ xem thường bỏ qua.
Pháp
môn tuy nhiều, nhưng mỗi mỗi đều vì cắt đứt sanh tử
luân hồi. Kinh Lăng Nghiêm thuyết: "Xoay về nguồn tánh thì
không hai, nhưng phương tiện lại có nhiều".
Trong
hai mươi lăm vị thánh, mỗi vị chuyên môn tu một pháp môn.
Do đó, chư Tổ bảo rằng phải thâm nhập một pháp môn. Chư
thánh hiền nếu tham tu tập nhiều pháp môn thì e rằng không
thể chứng đắc đạo viên thông. Vì vậy, thọ trì sáu mươi
hai ức hằng sa danh tự của các vị Pháp Vương Tử , không
bằng thọ trì một danh tự Quán Âm Bồ Tát.
Người
học Phật quý tại chân thật, chứ không biểu diễn tu đạo;
phải thường dẹp trừ những tâm kiêu ngạo giả dối; chí
nguyện phải kiên cố; chẳng tham đắm thần thông diệu dụng;
tin sâu lý nhân quả; kiên trì giữ giới như giữ hạt sương
mai buổi sớm; tận lực hành trì chẳng phạm giới pháp thì
sẽ có ngày thành Phật mà tuyệt nhiên không có gì là kỳ
lạ. Tâm, Phật, chúng sanh vốn không sai biệt. Tự tâm là
Phật. Tự tâm làm Phật. Sao có tu chứng ? Vì do sự khác biệt
giữa mê và ngộ, cùng tình ái, tập khí nặng nề, mới tạm
phân thành mười pháp giới. Phải nên hiểu rằng mười pháp
giới xuất phát từ một nguồn tâm, hay gọi là Phật. Vì
thế, phải tận lực hành trì, tiêu diệt hoặc nghiệp. Tập
khí và tật bịnh nếu được trừ hết thì tự nhiên không
cần dùng đến thuốc. Người xưa bảo:
- Dẹp
hết tâm phàm, thật không có chư thánh giải thoát.
Ví
như khi nước dơ nếu bỏ phèn vào thì trở nên lắng trong.
Tu đạo cũng như thế. Tập khí và tình ái như bụi trần;
nước như tự tâm; phèn lọc nước dơ, khiến nước đó liền
được lắng trong. Lúc tu hành, người phàm phu hãy cố gắng
chuyển tánh phàm thành tánh thánh. Tuy nhiên, phải phân rõ
gì là chánh, và gì là phụ. Hoặc niệm Phật là chánh, còn
các pháp môn khác là phụ trợ, rồi hồi hướng công đức
tu hành về cõi Tịnh Độ. Niệm Phật quý nơi tâm và khẩu
không khác biệt. Niệm niệm không gián đoạn. Niệm đến
lúc không niệm mà niệm. Thức ngủ luôn nhất như. Dụng công
như vầy, sao lo gì không đến cõi Cực Lạc ?
Tham
thiền vốn là pháp môn siêu vượt hơn các pháp môn khác.
Dâng cành hoa mỉm cười, khiến xuất sanh biết bao bậc minh
tâm kiến tánh. Đây thật là tông chỉ truyền ngoài giáo lý
của đức Như Lai mà phàm phu không thể hiểu nổi. Nếu chưa
gặp được bậc minh tâm kiến tánh, chỉ nên nỗ lực tham
quán một câu thoại đầu. Chớ nên đem tâm cầu giác ngộ,
hay để tâm trống không, rồi ngồi khởi vọng tưởng, cùng
tham nghĩa huyền diệu, công án, thần thông, v.v... Phải nên
quét sạch tri kiến, chỉ trụ một câu thoại đầu, rời ngoài
niệm ý thức. Lúc một niệm chưa sanh, hãy nhìn thẳng vào,
dầu lâu chẳng thối và chẳng màng ngộ hay không ngộ. Khi
nghi tình hiện rõ, tâm tự kết thành phiến. Lúc động tịnh
nhất như , nếu gặp được cơ duyên, ngồi thiền liền cắt
đứt mạng căn, như quả đã chín thì phải rụng, rồi mới
thật tin rằng mình cùng Phật không khác. Ngài Quy Sơn bảo:
- Đời
đời nếu không thối chuyển, quyết sẽ có kỳ đạt đến
quả vị Phật.
Sao
tự khi dối mình ! Mỗi suy nghĩ và cách nhìn đều không biết
tông chỉ của Thiền-tông, nên lầm chấp giữ tà tín xằng
bậy. Dùng cuồng thiền tà định, chế nhiễu hủy báng và
bảo rằng Thiền-tông như thế này hay như thế nọ mà chẳng
biết việc tốt xấu. Nào biết đâu, từ xưa đến nay, thành
Phật làm Tổ như lột vỏ lúa, đơn độc chỉ có tông này
siêu vượt hơn những pháp môn khác.
Luận
về đời nay, trong Thiền-tông những bậc ngoại hộ thật
ích sư tử hống thật rất hiếm có. Những tông phái khác
cũng đều tệ hại như thế. Người đời nay chẳng có chút
sự tinh tấn tu hành; cứ mắc bịnh nơi bảo ăn mà chịu không
ăn, hay chỉ lo đếm trân bảo cho người khác, hoặc vứt bỏ
luật nghi nhân quả, thật tệ hại quá lắm !
Nếu
thiền gia dùng công phu tu thiền mà niệm Phật thành phiến,
thì vẫn giống như người thường niệm Phật, sao lo gì không
gặp Phật Di Đà ? Nếu người niệm Phật dùng tâm niệm đến
lúc không niệm mà niệm, thức ngủ như nhau, để tham thiền
như thiền gia thì lo gì không ngộ đạo ?
Tổng
quát, phải nên dốc tâm hành trì thâm sâu vào một pháp môn.
Tu pháp môn nào cũng đều như thế. Nếu dụng công tu hành
như vậy thì tôi dám bảo đảm rằng ai ai cũng sẽ thành Phật.
Sao sợ nghiệp căn sâu dầy, tập khí thâm sâu, mà không được
đốn ngộ giải thoát ? Ngoài những pháp này ra, nếu có những
pháp thuật khác hay hơn, thật tôi không biết đến !
Những
người học đạo khó tinh tấn hay khó đạt được ích lợi,
phần nhiều vì tâm làm biếng và tham lam chưa dứt. Nay tham
thiền, mai niệm Phật, rồi mốt lại trì mật chú, cùng tu
bao loại pháp môn khác mà không phân biệt môn nào chánh, môn
nào phụ. Luôn luôn thay đổi cửa ngõ môn đình mà vọng cầu
thành Phật; chẳng hành chút hạnh Phật, chỉ tạo bao nghiệp
ma, nên thường làm quyến thuộc ma. Tu đến khi tóc bạc mà
chẳng thành, bèn trở lại phỉ báng chế giễu chánh pháp.
Người xưa bảo:
- Nếu
không muốn bị đọa vào ngục vô gián, chớ phỉ báng chánh
pháp của Như Lai.
Hôm
nay gặp thắng hội Đại Sĩ, mọi người đồng tâm làm lễ,
và phải tự nhận ra đại sĩ Quán Tự Tại trong nhà mình.
Đại sĩ Quán Tự Tại từ văn, tư, tu, rồi nhập vào tam ma
địa. Ngài A Nan vì Ỷ trí nhớ hay, nên không tránh khỏi tà
tư. Dùng tánh nghe để trì danh hiệu Phật, sao không tự biết
cái nghe ? Nghe lại tự tánh, tánh liền thành đạo vô thượng.
Hư
Vân tôi vốn là kẻ nương núi rừng hoang dã, tri thức cạn
cợt, chỉ vì do ý tốt của quý vị, thỉnh mời đến đây,
để lược bày những việc hành trì thối thất và tăng ích
của sự tu hành.
Hôm
nay là ngày mười chín tháng chín, cùng với quý vị, dùng
miệng thô tục niệm danh hiệu Quán Âm. Đại sĩ Quán Âm do
từ cái nghe mà nhập vào cửa pháp, rồi xả bỏ mọi mắt,
mũi, thân, ý, các vật sở hữu, và quên hết có, không, nơi
chốn, thân mạng. Quý vị hãy tự tại mà quán tâm niệm !
II.Khai
thị trong kỳ Phật thất tại Phước Kiến Công Đức Lâm,
năm 1933 [^]
Tu
hành trong Phật thất quý tại nhất tâm. Tâm nếu không chuyên
nhất thì mắt nhìn đông, hay tai nghe tây. Tu hành cách đó,
cho đến Phật Di Lặc hạ sanh, nghiệp chướng vẫn còn ràng
buộc nơi thân. Phật pháp hay thế gian pháp cũng đều giống
nhau. Chẳng chú tâm làm việc pháp thế gian còn không được,
hà huống tu Phật pháp ! Đối với người niệm Phật, từ
đầu đến cuối, phải liên tục niệm thầm lặng; phải niệm
rõ ràng mỗi câu mỗi chữ, không thể lầm lộn. Phật đến
cũng niệm hay ma đến cũng niệm. Niệm đến lúc gió thổi
không vào thân, hay mưa rơi không ướt mình thì mới có ngày
thành tựu. Tại sao ? Phật là bậc giác ngộ. Nếu muốn giác
ngộ thì phải tự biết dùng sự chuyên tâm mà niệm. Ma tức
là phiền não. Chúng não hại huệ mạng của chúng sanh. Biết
ma vốn thường não hại huệ mạng, đương nhiên phải nên
dụng công lực, chuyên tâm niệm Phật để hàng phục chúng.
Thế nên, khi giác ngộ viên mãn thì thường thấy Phật. Khi
bị tổn hại thì đó là gặp ma.
Trong
đạo tràng niệm Phật, nếu ngồi bất động và liên tục
niệm Phật thì chắc chắn sẽ gặp Phật. Khi tôi đến, quý
vị ra đón tiếp lễ bái. Quý vị đón tiếp để làm gì ?
Thật có uổng phí thời gian lắm không ? Làm sao chứng đắc
được gì ? Có phải khi tôi đến, khiến làm não hại tịnh
nghiệp nhất tâm của quý vị không ? Việc này, cũng vì quý
vị đặt tôi vào điện Diêm Ma La. Thật buồn thay !
Thương
thay cho người thế tục ! Họ không biết cung kính Tam Bảo.
Họ đem heo quay, gà quay, cá nướng đến cúng dường Bồ Tát
Quán Thế Âm; đó là phạm giới giết hại, lại không biết
cung kính Ngài. Lần nọ, tôi ở Thượng Hải, gặp lúc bọn
ca múa hát xướng đến ca diễn. Một vị cư sĩ nọ mua vé
cho vài chỗ ngồi, mất cả trăm đồng. Ông ta mời tôi đi
xem ca diễn. Tôi bèn bảo ông ta rằng hãy nói thử xem, đệ
tử tại gia khi thọ tám giới quan trai, không được đi xem
ca diễn, hà huống tôi là người xuất gia ! Ông mời tôi đi
xem diễn kịch, cũng giống như đem heo quay cúng Bồ Tát. Ông
ta liền cúi đầu sám hối, và thưa rằng hôm nay bỏ ra cả
trăm đồng mới được nghe lời giáo huấn, cùng biết cách
thức cung kính chư tăng.
Phật
pháp vô thượng, quý tại dụng tâm.
III. Thư
đáp tướng Tưởng Giới Thạch [^]
...Ngày
nay, Phật giáo lan truyền khắp thế giới. Phật giáo tiên
phong mở đường cho chủ nghĩa đại đồng. Trên thế giới,
xem xét kỸ càng, nhận thấy có hai luồng tư tưởng: Luận
Duy Thần và luận Duy Vật. Tuy nhiên, chủ thuyết quả báo
luân hồi ảnh hưởng phổ cập khắp nơi; đây là điều không
thể nghĩ bàn ! Theo luận Duy Thần của đạo Cơ Đốc thì
Thần thường ban an vui cho người hiền, nhưng lại trừng phạt
những kẻ ác. Vì vậy mà chấp nhận sự tồn tại của thần
linh, và cho đó là lẽ tự nhiên. Tuy nhiên, những nhà Duy Thần
đó chẳng biết giáo điều như thế, không thể khiến người
đời tin sâu, nên đưa đến việc họ cùng những nhà Duy Vật
tranh cãi bài bác. Do đó, đạo Cơ Đốc không thể duy trì
nền hòa bình cho thế giới. Thật ra, thần tức là vật. Vật
tức là tâm. Tâm cũng là thần. Tuy nhiên, thần cũng không
phải thần, hay vật cũng không phải vật, và tâm cũng không
phải tâm. Đức Phật giải thích rõ rằng ba cõi vốn không
có một pháp nào cả, mà chúng đều là vọng khởi từ chân
tâm. Từ chân tâm này sanh ra muôn pháp. Tuy gọi là "Chân Tâm",
nhưng thực ra vì có vật chất hư vọng đối đãi nên mới
giả lập danh tự. Bàn đến lẽ cùng tột, gọi là "Chân Tâm"
cũng không đúng.
Ví
như trong biển cả, tâm là nước, và muôn pháp (muôn sự vật)
là sóng. Khi biển êm gió lặng thì gọi là nước biển. Khi
gió thổi biển động thì gọi là sóng biển. Khi sóng lặng
thì là nước biển. Lúc nước biển khởi dậy thì biến thành
sóng biển. Giả sử không có tướng nước chảy cuồn cuộn
thì không thể lập danh từ hư giả là sóng biển. Nếu không
có danh từ sóng biển thì danh từ nước biển hư giả do đâu
mà sanh ra ! Những danh từ hư giả này, chỉ do chúng ta tùy
tiện lập ra. Vì vậy, vật tức là tâm. Hữu vi tức là vô
vi. Sắc tức là không. Vọng tức là chân. Phiền não tức
là Bồ Đề. Chúng sanh tức là chư Phật. Lúc một niệm bị
mê hoặc thì tâm trở thành vật; vô vi biến thành hữu vi;
không biến thành sắc; chân biến thành vọng; Bồ Đề biến
thành phiền não; chư Phật biến thành chúng sanh; nước biển
chảy cuồn cuộn thì biến thành sóng biển. Khi có một niệm
giác ngộ thì vật chẳng khác tâm; hữu vi chẳng khác vô vi;
sắc chẳng khác không; vọng chẳng khác chân; phiền não chẳng
khác Bồ Đề; chúng sanh chẳng khác chư Phật; sóng biển lặng
thì là nước biển. Lại nữa, vì tâm khởi mê hoặc nên mới
giả lập ra vật chất, hữu vi, sắc tướng, vọng không, phiền
não, chúng sanh, v.v... để đối đãi với chân tâm, vô vi,
chân không, Bồ Đề, chư Phật. Vì thế, dẫu gọi là duy tâm,
duy vật, hữu thần, hay vô thần, tất cả đều do tâm thức
phân biệt đặt để. Có người bảo:
- Nếu
như thế thì Phật giáo cũng theo luận Duy Tâm !
Nhà
Phật tuy nói duy tâm, nhưng khác hẳn với luận lý Duy Tâm
của các nhà triết học. Luận Duy Tâm của triết học là
nơi tâm chấp có và nơi vật chấp không. Vì vậy, Phật Thích
Ca bảo rằng chúng sanh chấp tâm suy tính so đo làm tự tánh
và chấp vọng tưởng sanh tử làm thật thể. Người theo chủ
nghĩa duy vật, chấp vật thể là có thật và chấp tâm là
hư vô. Phật Thích Ca bảo rằng những người này thường
làm những việc điên đảo, vì ngộ nhận vật chất mà cho
là mình, nên mãi mãi lưu chuyển trong dòng sanh tử. Luận Duy
Thần phân tách rõ ràng giữa thật thể của vật chất và
thật thể của thần linh. Vì thế, luận Duy Thần và Duy Vật
phân biệt thành hai thế giới riêng biệt. Phật Thích Ca bảo
rằng khi tâm thức bị mê hoặc thì nhận lầm bọt biển làm
biển cả. Đó gọi là sự hiểu biết sai lầm. Hoặc vì gần
gũi, thấy hình trâu mà cho là trâu thật. Hoặc nhìn sơ qua
sừng trâu mà lầm nhận sừng trâu là con trâu. Hoặc do thấy
đầu trâu mà cho đầu trâu là con trâu. Thật ra, chẳng phải
như thế ! Họ không nhìn thấy toàn thể tướng chân thật
của con trâu. Phật giáo đàm luận cùng tận cội nguồn và
thấu triệt chân lý qua việc chỉ rõ con trâu trắng chân thật.
Nếu chỉ xem sơ qua mà chưa thật thấy toàn thể con trâu,
đó là lạc vào thiên chấp của luận Duy Tâm và Duy Vật.
Biệt
danh chân lý của nhà Phật là minh tâm kiến tánh, bản nhiên
thanh tịnh, chân tâm thường trụ, giác tánh chân như, thật
tướng pháp thân, v.v... Rời các danh tướng thì không có nơi
chốn định nghĩa chân lý. Thể tánh tự giác vốn tự sáng
soi và là đức tánh bổn hữu mà không có năng và sở đối
đãi. Gốc vốn không có gì gọi là mười phương hay ba đời.
Lại nữa, chẳng có chi gọi là đất đai, con người, thú
vật, cây cỏ, ngói đá, địa ngục, thiên đường, v.v...Thật
ra, chỉ vì một vọng niệm mà khởi ra pháp hữu vi.
Trong
kinh Lăng Nghiêm, ngài Phú Lâu Na bạch hỏi Phật:
- Bạch
đức Thế Tôn ! Tánh giác vốn tự thanh tịnh, nhưng vì cớ
sao lại đột nhiên sanh ra đất đai núi sông ?
Phật
đáp:
- Này
Phú Lâu Na ! Ông hỏi rằng chân tâm đã vốn thanh tịnh, vì
sao bỗng nhiên lại sanh ra núi, sông, đất liền ? Vậy ông
có thường nghe Như Lai chỉ dạy rằng chân tâm nhiệm mầu
vắng lặng mà thường sáng suốt chiếu soi không ?
- Bạch
đức Thế Tôn ! Con có thường nghe Phật dạy nghĩa ấy.
- Vậy
chân tâm này, ông cho nó tự có tánh sáng suốt phân biệt
chiếu soi hay là không có sáng suốt phân biệt chiếu soi ?
- Bạch
đức Thế Tôn ! Nó sẵn có tánh sáng suốt phân biệt chiếu
soi nên mới gọi là tâm. Nếu không có tánh sáng suốt phân
biệt chiếu soi thì không gọi là tâm, vì nó không phân biệt
được cái gì cả.
- Ông
nói rằng nếu nó không sáng suốt phân biệt chiếu soi thì
không phải là tâm, vì nó không phân biệt được cái gì cả.
Vậy ông có hiểu chăng: Nếu có chiếu soi phân biệt thì không
phải là chơn, còn không có chiếu soi thì chẳng phải là tâm.
Nếu tâm mà không sáng suốt thì không phải là chân tâm thanh
tịnh rồi.
Ông
nên hiểu rằng chân tâm vẫn sáng suốt; vì ông vọng chấp
cái Sáng Suốt Phân Biệt làm tâm, nên thành ra có năng phân
biệt (tâm) và bị phân biệt (cảnh).
Chân
tâm của ông không phải cái bị phân biệt, nhưng vì ông khởi
ra cái năng phân biệt nên nó (chân tâm) trở thành cái bị
phân biệt (cảnh). Đã vọng thành cái bị phân biệt thì dĩ
nhiên ở nơi ông phải vọng sanh ra cái năng phân biệt.
Thế
là ở nơi chân tâm của ông vẫn thanh tịnh, không có năng
và sở, mà thoạt nhiên thành ra có năng và sở.
Thể
tánh chân tâm vốn không khác biệt. Do vọng niệm phân biệt
có năng sở và bỉ thử sai khác, nên hiện ra có hư không
và thế giới. Do có hư không và thế giới nên mới có chúng
sanh. Đã có thế giới và chúng sanh lăng xăng đối đãi lẫn
nhau nên khởi lên vô số vọng tưởng phân biệt: Tốt xấu,
phải trái, v.v... Vì vậy mà sanh ra đủ các phiền não trần
lao nhiễm ô. Cái có hình tướng và sanh diệt là thế giới;
cái không có hình tướng và yên tịnh là hư không. Khác với
hư không và thế giới là chúng sanh.
Ngay
trong chân tâm, do vô minh vọng động mà có hư không. Hư không
mờ mịt vì vô minh sanh ra. Trong hư không có chất động, vì
nó là vọng. Do đó, trong hư không có gió (phong luân) để
duy trì thế giới.
Do
hư không sanh ra gió và do nơi tâm chúng sanh có tánh cố chấp
phân biệt, nên ứng hiện ra ngoài thế giới có những chất
cứng chắc là vàng ngọc (vàng ngọc cứng chắc là vì tâm
cố chấp sanh ra. Nó sáng ngời là do tâm phân biệt sanh ra).
Đây là nguyên nhân có chất kim khí để bảo trì thế giới.
Vì
tâm chúng sanh có tánh cố chấp phân biệt nên sanh ra chất
cứng chắc là kim khí, và vì có vọng động mà thành ra gió.
Rồi gió thổi kim khí và cọ xát mãi, khiến kim khí đó nóng
lên, nên nháng sanh ra ánh sáng là lửa. Đây là nguyên nhân
có lửa để nấu đốt các vật.
Chất
vàng ngọc vừa sáng ngời và đượm mát. Do lửa xông lên
nên có hơi nước rịn ra. Đây là nguyên nhân có nước để
bao bọc cả mười phương thế giới.
Vì
tánh lửa bốc lên, còn nước thì lại chảy xuống, nên chỗ
có thấp ướt thì là sông biển, chỗ cao nổi lên là cồn
đảo. Bởi lửa và nước dung hòa nhau, cho nên trong biển thỉnh
thoảng bốc lên ánh sáng của lửa, và trong cồn đảo lại
có sông rạch thường chảy ra nước.
Vì
thế lực của nước yếu hơn lửa, nên bị lửa bốc lên
kết thành núi cao. Do đó, đập đá thì có lửa, còn đốt
quá nóng thì nó chảy ra nước.
Vì
thế lực của đất yếu hơn nước, nên nó bị nước rút
lên làm cỏ cây. Vì vậy, nếu đốt cỏ cây thì chúng trở
thành tro, còn vò ép thì chúng lại ra nước.
Tóm
lại, vì trong tâm chúng sanh có các vọng tưởng xen nhau phát
sanh, nên ứng hiện ra ngoài thế giới có các cảnh vật. Do
nhân duyên này mà thế giới tiếp nối nhau sanh ra mãi không
dứt.
Lại
nữa, nầy Phú Lâu Na ! Cái Hư Vọng Phân Biệt đó không có
gì lạ, chỉ vì ông chấp cái Phân Biệt Chiếu Soi làm tâm.
Đã có cái Phân Biệt thì dĩ nhiên phải có cái Bị Phân Biệt
đối đãi lẫn nhau. Vì vậy, cái Năng Phân Biệt không vượt
ra ngoài cảnh Bị Phân Biệt. Do nhân duyên này mà nghe không
ngoài tiếng, thấy không ngoài sắc, ngửi không ngoài mùi,
nếm không ngoài vị, v.v... rồi vọng thành sáu căn và sáu
trần đối đãi nhau, nên phân ra có: Thấy, nghe, hiểu, biết.
Đồng
nghiệp trói buộc lẫn nhau mà có hợp, có tan, có thành, có
hóa. Khi thấy sáng tỏ thì thấy các màu sắc phát ra. Nhận
rõ sự thấy thì kiến chấp thành tư tưởng; ý kiến khác
nhau thì thành ra ghen ghét; tư tưởng đồng nhau thì thành ra
yêu thương.
Dòng
ái lan ra làm thành hạt giống, rồi do giao cấu phát sanh, khiến
thu nạp tưởng thành bào thai, tức là chiêu dẫn chúng sanh
đồng nghiệp, nên có nhân duyên sinh yết la lam, át bồ đàm,
v.v...
Thai
sinh, noãn sinh, thấp sinh, hay hóa sinh, tùy chỗ của các loài
ấy mà ứng hiện. Loài noãn sanh chỉ do tâm tưởng mà sinh;
loài thai sinh do tình dục mà ứng hiện; loài thấp sinh do tâm
hợp mà cảm sanh; loài hóa sinh do phân ly mà hiện ra.
Khi
tình, khi tưởng, khi hợp, khi ly, thay đổi lẫn nhau, nên các
loài thọ nghiệp báo và theo đó mà có thăng trầm, lên xuống.
Do nhân duyên ấy mà chúng sanh tiếp nối sanh sản không ngừng.
Này
Phú Lâu Na ! Tư tưởng yêu thương ràng buộc lẫn nhau, khiến
mến luyến mãi không rời. Thế nên, trong thế gian, cha mẹ
con cháu nương nhau sinh ra tiếp nối không dứt. Những việc
như thế, đều do tham dục làm gốc.
Lòng
tham và yêu mến cùng tăng trưởng. Tham mãi không dừng, nên
trong thế gian, các loài noãn sinh, hóa sinh, thấp sinh, thai sinh,
tùy theo sức mạnh yếu mà ăn nuốt lẫn nhau. Những việc
như thế, đều do tâm tham giết hại làm gốc.
Người
ăn thịt dê; dê chết làm người và người chết làm dê.
Như thế cho đến mười loài chúng sanh, chết sống và sống
chết ăn nuốt lẫn nhau, khiến đồng tạo ác nghiệp, suốt
đời vị lai. Những việc như thế, đều do tâm tham lam trộm
cắp làm gốc.
Loài
này cướp giựt thân mạng loài kia; loài kia giết hại lại
loài này; trả vay, vay trả lẫn nhau đến trăm ngàn kiếp không
thể ra khỏi sanh tử.
Trai
mê sắc gái; gái thương tình trai; vì tình ân ái thương yêu
lẫn nhau, nên trăm ngàn kiếp bị triền phược trói buộc
mãi trong vòng luân hồi.
Tóm
lại, chỉ có ba thứ như giết hại, trộm cắp, dâm dục làm
cội gốc, nên nghiệp (nhân) và quả tiếp nối không ngừng.
Này
Phú Lâu Na ! Ba thứ điên đảo (thế giới, chúng sanh, nghiệp
quả) đều nằm trong chân tâm; vì vô minh vọng động sanh
ra Năng Phân Biệt và Sở Phân Biệt đối đãi lẫn nhau, nên
vọng thấy có núi sông đất đá, thế giới, chúng sanh, rồi
tiếp tục sanh diệt biến hóa, vô cùng hư vọng...
Trong
tánh giác thể chân như bỗng nhiên sanh ra chân và vọng. Từ
đó lại phân thành tướng bất biến và tùy duyên. Thể tánh
bình đẳng bất biến, vượt ngoài những tướng sai biệt,
chẳng phàm chẳng thánh, không thiện không ác, chân thật như
thường, vốn là chân như bất biến.
Tùy
duyên sanh diệt mà khởi tướng sai biệt, có phàm có thánh,
có thiện có ác, đó là chân như tùy duyên. Lại nữa, gọi
là chân như bất biến vì muôn pháp vốn là chân như, chứ
chẳng phải tâm, vật, thần. Gọi là chân như tùy duyên vì
chân như này vốn là muôn pháp, tức là tâm, vật, thần. Luận
duy tâm lầm nhận thần linh, tức là chân như tùy duyên, mà
cho đó là chân tâm.
Nhà
Duy Vật đề xướng luận vô thần lại hẹp hòi biên kiến;
triết lý của họ thuộc về chân như tùy duyên, tức chỉ
thấy có vật chất. Người theo chủ thuyết Duy Vật lại căn
cứ theo vật chất mà đề xướng luận vô thần. Người theo
luận Duy Thần cũng hẹp hòi biên kiến, vọng sanh phân biệt,
lầm nhận vật chất và thần linh, tức là chân như tùy duyên.
Người
đề xướng luận Duy Thần nào biết tâm tức là vật, và
vật tức là thần ! Tâm, vật, và thần đồng một thể tánh.
Có tâm tức có vật. Có vật tức có thần. Vô tâm tức vô
vật. Vô vật tức vô thần. "Có" không phải có trong cái "có,
không", lại chẳng có mà có trong diệu hữu. Cái "không" chẳng
phải cái không đoạn diệt, lại vượt ngoài cái diệu không
của cái "có không".
Luận
Duy Tâm, Duy Vật, Duy Thần chưa từng hiểu rõ nghĩa lý này,
nên cùng nhau công kích đả phá. Thật ra, họ đều đúng và
đều sai. Người nghiên cứu học Phật pháp, hãy nên phá vỡ
những tảng băng đá này !
Đối
với việc nghiên cứu bản thể vũ trụ của nhà Phật, tôi
đã tường thuật rõ ràng như bên trên rồi. Ngoài ra, những
việc như sự cấu tạo hay thành hoại của thế giới, hệ
thống khí quản của thân người, cùng bao vấn đề khác,
trong kinh Lăng Nghiêm và những bộ kinh luận khác đều đã
thuyết minh, luận bàn tường tận rõ ràng. Đa số, những
điều này đều phù hợp với những phát minh của các học
giả, triết gia, khoa học gia trong hiện thời và tương lai.
Tuy
nhiên, đối với giá trị nhân sanh, pháp tắc và hạnh nguyện
của chư đại Bồ Tát, chỉ có chư thánh hiền mới biết
được. Những điều này, trong kinh điển thường nhắc đến.
Vì vậy, nên biết rằng Phật giáo rất thần diệu và vĩ
đại. Tuy nhiên, Phật giáo tuyệt không khoe khoang những điều
kỳ lạ, lại cũng không làm những việc hư dối, khiến mê
hoặc quần chúng. Mỗi lời nói và hành vi đều y theo ba môn
vô lậu học giới định huệ, mà thi hành thực tiễn.
Sao
gọi là giới định huệ ? Phòng phi chỉ ác gọi là giới.
Khi sáu căn tiếp xúc với cảnh, tâm không tùy duyên (mà khởi)
nên gọi là định. Tâm và cảnh tròn đầy như hư không, và
thường giác chiếu mà không mê hoặc, đó gọi là huệ. Phòng
ngừa việc xấu, và đình chỉ việc ác của ba nghiệp, khiến
dòng nước tâm tự lắng đọng trong sáng, tức do giới mà
sanh định. Nước tâm lắng đọng trong sáng, khiến tự tánh
chiếu soi khắp xum la vạn tượng, tức do định mà sanh huệ.
Nhà nho cũng có câu:
- Sau
khi định tâm thì sẽ được tĩnh lặng; tĩnh lặng rồi sẽ
được an lạc; an lạc rồi sẽ có khả năng suy xét quán chiếu;
suy xét quán chiếu rồi sẽ có thể đắc đạo.
Các
nhà triết gia cũng thường suy gẫm về sự tướng cùng sở
học của họ. Tuy nhiên, nhà nho, nhà triết học, và nhà khoa
học đều dùng tâm phan duyên (phân biệt) để suy tư về vạn
vật và vũ trụ. Họ nào biết đâu vũ trụ và vạn vật cũng
do từ tâm phan duyên tạo thành ! Năng tư sở lự đều bắt
nguồn từ tâm phan duyên. Nếu muốn cầu chân lý thâm sâu
phải ngồi thiền tĩnh lự. Các nhà triết học hiện nay, đối
với sự nhận thức về các luận lý, thường lao xao tranh
cãi, mãi không kết thúc.
Phật
pháp rời ngôn từ và dứt đường tư lự (suy nghĩ), nên khiến
trí huệ giác chiếu khắp vũ trụ cùng muôn vật muôn sự.
Nếu
ngồi xuống, ung dung tự tại mà bàn luận, thì thấy rằng
Phật giáo vốn tiên tri tiên giác, và bao hàm cả triết học,
khoa học, tôn giáo. Lò nào cũng cùng một xưởng.
Nhật
Bổn tôn sùng Phật giáo làm quốc giáo, nên thời cận đại
đạo Phật rất hưng thịnh. Những nhà duy tân và hiền sĩ
anh tài xuất thân từ thiền học không ít. Đối với những
việc của dân chúng, các ngài đều hiểu thấu. Nếu không
dùng võ lực quân phiệt mê muội, không dùng sức mạnh bạo
lực để giết chóc, và không dùng chính sách xâm lược khiến
trái ngược với đạo, thì ngày nay được an ổn, đâu đến
nỗi phải bị thảm bại.
Có
người nghi rằng Phật giáo rất tiêu cực và mê tín, nên
không xứng đáng làm quốc giáo; đây là vọng tưởng của
những người chưa hiểu gì về đạo Phật. Thật ra, Phật
giáo không hủy hoại tướng của thế gian, cớ sao gọi là
tiêu cực ? Đạo Phật dẫn dắt con người đi từng bước
để bỏ mê hợp với tánh giác thì cớ sao gọi là mê tín
? Suy nghiệm lại chữ Phật, theo tiếng Phạn phải nói cho
đủ là Phật đà, và được dịch là bậc tự giác, giác
tha, giác hạnh viên mãn. Bồ Tát, tiếng Phạn gọi là Bồ
Đề Tát Đỏa, dịch là giác hữu tình và hữu tình giác.
Bồ tát có hai hạng là xuất gia và tại gia. Bồ Tát thường
phát tâm rộng lớn vì chúng sanh mà cầu đạo Bồ Đề vô
thượng. Các ngài vừa tự tu hành, vừa giáo hóa tha nhân.
Đó là hạnh chánh tín và tích cực của chư Bồ Tát. E rằng
trên thế gian hiếm có ai phát được những hạnh nguyện này.
Phật
giáo y theo hai nghĩa "chiết" và "nhiếp" mà lập nhiều môn
phương tiện. Sao gọi là chiết ? Chiết tức là chiết phục
kẻ ác. Xưa kia, khi Thạch Lặc hỏi về giới cấm giết hại,
thì ngài Phật Đồ Trừng đáp:
- Ông
là vua trăm họ, chớ nên giết hại chúng dân bừa bãi. Đó
là nghĩa của giới cấm giết hại.
Lại
nữa, chư Bồ Tát quyền thừa tại gia phải chiết phục kẻ
ác để lợi sanh. Tuy cầm đao trượng, cho đến chặt đầu
kẻ ác, mà không thật phạm giới cấm giết hại; ngược
lại còn sanh thêm công đức. Nếu ác ý mà giết người, thì
biết là không thể được. Vì thiện ý mà giết người, đó
là thủ nhãn thiện xảo của đại Bồ Tát Kim Cang quyền thừa.
Sao
gọi là nhiếp ? Nhiếp tức là nhiếp thọ người hiền. Chư
Phật Bồ Tát vì lợi ích của chúng sanh, nên không quản ngại
gian nan hiểm nạn. Có bốn pháp nhiếp thọ. Thứ nhất, bố
thí nhiếp, tức là nếu có chúng sanh muốn tiền tài thì Bồ
Tát bố thí tiền tài. Nếu chúng sanh muốn nghe pháp thì Bồ
Tát bèn thuyết pháp bố thí, để khiến cho họ sanh tâm thân
ái mà thọ đạo. Thứ hai, ái ngữ nhiếp, tức là tùy theo
căn tánh của chúng sanh, Bồ Tát ban những lời khuyên nhủ,
thí dụ ngọt ngào, để khiến cho họ sanh tâm thân ái mà
thọ đạo. Thứ ba, lợi hành nhiếp, tức là thân miệng ý
của Bồ Tát luôn hành thiện nghiệp, làm lợi ích chúng sanh,
khiến họ sanh tâm thân ái mà thọ đạo. Thứ tư, đồng sự
nhiếp, tức là dùng pháp nhãn mà quan sát căn tánh của chúng
sanh; tùy theo sở thích của họ mà Bồ Tát phân hình thị
hiện, và cùng họ làm những việc ích lợi, để họ phát
tâm thọ đạo. Đó là những hạnh tích cực của chư Phật
và Bồ Tát.
Sao
gọi là phương tiện ? Tức là các ngài tùy theo căn tánh của
chúng sanh mà cứu độ bằng những phương tiện quyền xảo.
Bên
trên đã bàn về bốn pháp nhiếp thọ, đó cũng là những
môn phương tiện quyền xảo. Phẩm Hóa Thành Dụ trong kinh
Pháp Hoa thuyết:
-
"...Ví
như trong đường hiểm
-
Chỉ
toàn loài ác thú
-
Lại
chẳng có cỏ nước
-
Nơi người
thường sợ hãi.
-
Vô số
trăm ngàn chúng
-
Muốn
thoát đường hiểm đó.
-
Đường
ấy rất rộng dài.
-
Qua năm
trăm do tuần
-
Có một
vị đạo sư
-
Mạnh
khỏe có trí huệ
-
Tâm sáng
suốt cương quyết
-
Tại
đường hiểm cứu nạn.
-
Chúng
nhân đều mỏi mệt
-
Mà bạch
đạo sư rằng:
-
Chúng
con đều mệt nhọc
-
Nơi đây
muốn thối lui.
-
Đạo
sư bèn suy nghĩ:
-
Bọn
trẻ thật đáng thương
-
Sao lại
muốn thối bước
-
Bỏ mất
châu báu lớn ?
-
Nên nghĩ
kế phương tiện
-
Mà thiết
lực thần thông
-
Hóa ra
thành ấp lớn
-
Các phòng
xá nguy nga.
-
Chung
quanh có vườn rừng
-
Sông
ngòi cùng ao tắm
-
Lầu
gác cao, cửa lớn,
-
Trai gái
đều đầy đủ.
-
Liền
hóa làm thế rồi
-
An ủi
chúng đừng sợ.
-
Các ngươi
hãy vào thành
-
An trú
tùy sở thích.
-
Chúng
nhân liền vào thành
-
Tâm đều
mừng vô ngần
-
Đều
sinh tưởng an vui,
-
Tự cho
là được độ.
-
Đạo
sư biết đã nghỉ
-
Hợp
chúng lại bảo rằng:
-
Đây
chỉ là hóa thành
-
Thấy
các ông quá mệt
-
Giữa
đường muốn thối lui
-
Nên quyền
thiết hóa thành.
-
Nay đương
cần tinh tấn
-
Phải
cùng đến bảo sở..."
Xem qua
bài kệ này, chúng ta biết rõ thâm ý của Phật Thích Ca phân
thời lập giáo, quyền thuyết phương tiện. Thế nên, những
bậc thượng thiện căn thường hợp với thiền và giáo. Người
chú trọng sự phân chiết thì hợp với Duy Thức học. Pháp
môn phổ cập trong quần chúng là Tịnh Độ. Người xuất
gia hay kẻ tại gia, dẫu tu theo Đại Thừa hay Tiểu Thừa,
đều vì nhiệm vụ cứu độ giáo hóa rộng khắp quần sanh,
khiến cho tất cả chúng sanh đều thọ pháp ích lợi.
Gần
đây, có những người theo lập trường vô thần, thấy các
Phật tử lễ bái hay trì danh niệm Phật, thì họ cho là mê
tín. Họ không biết rằng lễ bái chư Phật chư Bồ Tát nào
khác gì với sự cung kính các bậc trưởng thượng ! Sự niệm
Phật, đối với việc tu tâm, chẳng phải là công phu tu hành
sao ? Vả lại, trì danh niệm Phật, bất quá chỉ là một pháp
môn phương tiện giản dị cho người sơ cơ. Ngoài ra, trong
tông Tịnh Độ còn có các pháp môn như quán tượng niệm
Phật, quán tưởng niệm Phật, thật tướng niệm Phật, v.v...
Tông Tịnh Độ vốn rất diệu dụng vô cùng tận, mà họ
tự không hiểu rõ, lại cho là mê tín.
Lại
nữa, có người bảo rằng đạo Cơ Đốc cũng thoát thai từ
tông Tịnh Độ. Xem xét chúa Giê Su mặc y phục cũng tương
đồng với Phật. Trong kinh "Phật Thuyết A Di Đà" thường
nhắc đến thế giới Cực Lạc ở Tây Phương. Tín đồ đạo
Cơ Đốc cũng thường nói đến Thiên Quốc Cực Lạc. Cõi
Tịnh Độ được phân thành chín phẩm. Gia giáo Lý Lâm Thiên
Thần Phổ cũng nói là có chín phẩm vị thiên thần. Trong
kinh A Di Đà, Phật Thích Ca nói rằng không thể dùng chút ít
nhân duyên phước đức thiện căn mà được sanh qua cõi Cực
Lạc. Đạo Cơ Đốc cũng nói rằng nếu ở tại nhân gian mà
không lập công bồi đức thì Thiên Chúa sẽ không rước về
Thiên Quốc. Người tu theo tông Tịnh Độ, phải niệm danh
hiệu Phật A Di Đà trong sáu thời, khẩn cầu Phật tiếp dẫn.
Đạo Cơ Đốc cũng bảo tín đồ rằng ngày đêm sáng tối
phải thường cầu khẩn Thượng Đế gia hộ. Trong nhà Phật
có pháp quán đảnh. Đạo Cơ Đốc có lễ rửa tội. Xem xét
những điều như trên, thấy rằng tông chỉ của đạo Cơ
Đốc và tông Tịnh Độ thật rất tương đồng. Giê Su giáng
sanh sau Phật Thích Ca hơn năm trăm năm. Ngài đã từng thọ
giáo huấn của Phật Thích Ca, nên mới được kinh A Di Đà,
rồi y cứ theo đó, mà sáng lập tôn giáo mới. Điều này
không thể nào nghi ngờ được. Lại nữa, Giê Su đã từng
qua Ấn Độ ẩn tích ba năm để tham học. Sự tuy vô căn cứ,
mà dấu tích vẫn còn tồn tại.
Đạo
Cơ Đốc tuy tựa như pháp môn trì danh niệm Phật của tông
Tịnh Độ, nhưng rất kém xa. Tín đồ Cơ Đốc chỉ cầu tha
lực. Tuy tin tha lực như thế, mà họ lại không hiểu tại
sao phải tin. Gần đây, có những người miễn cưỡng trì
danh niệm Phật, chỉ chú trọng vào tha lực, tự bảo là phù
hợp với đạo.
Chương
Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm viết:
"...Chư
Phật trong mười phương thường lân mẫn thương xót nghĩ
nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con cứ chạy lẫn trốn
thì mẹ có thương nhớ cũng vô ích. Nếu con nhớ mẹ như
mẹ nhớ con, thì đời đời mẹ con đều không cách xa. Nếu
tâm chúng sanh thường nhớ Phật niệm Phật, thì hiện tiền
và tương lai, tất sẽ thấy Phật, và không xa cách Phật.
Không cần giả lập phương tiện, tâm vẫn tự được khai
ngộ... Nhân địa của con, dùng tâm niệm Phật mà nhập vào
vô sanh pháp nhẫn. Hôm nay tại nơi đây, nhiếp thọ người
thường niệm Phật, quy nơi Tịnh Độ".
Có
nhân thì có quả, tức là sự và lý không chướng ngại nhau.
Đạo Cơ Đốc bảo rằng người hiền lương sẽ sanh qua Thiên
Quốc vĩnh viễn. Giáo lý của tông Tịnh Độ bảo rằng vãng
sanh Tịnh Độ thì mãi sanh nơi cõi Phật, thấy Phật nghe pháp,
liễu ngộ vô sanh pháp nhẫn. Dùng diệt mà hiển thị sanh,
nên có sanh diệt đối đãi. Cuối lúc diệt, sanh trong cái
vô sanh, tức vốn tự vô sanh, nên không có diệt. Vì vậy,
gọi là Vô Lượng Thọ.
Y theo
hạnh nguyện của Bồ Tát, chẳng phải chỉ có người xuất
gia mới cầu đạo vô thượng, mà người tại gia cũng hành
được. Bất quá, người xuất gia chỉ sống xa quốc chủ,
rời thân bằng quyến thuộc, xả bỏ ân ái gia đình, ý tại
thoát ly tình dục trói buộc. Người xuất gia xả bỏ tình
riêng mà phát triển đồng tình Phật tánh. Xả bỏ ân ái
riêng tư để trở thành bậc bác ái vĩ đại. Lấy việc cứu
độ tất cả chúng sanh làm trung. Dùng sự nhiếp thọ chúng
sanh làm hiếu. Đó là ý nghĩa của chủ nghĩa đại đồng.
Tiên sinh Tôn Trung Sơn thường nói:
- Phật
giáo lấy việc cứu thế gian làm nhân đức. Phật học là
mẹ của mọi ngành triết học. Tôn giáo tạo thành nền văn
hóa và duy trì hùng khí cùng thiên tánh tự nhiên của dân
tộc. Nhân dân chẳng nên không có tư tưởng tôn giáo. Nghiên
cứu Phật học giúp bổ xung vào những điểm khiếm khuyết
của triết học.
Hôm
nay, Ngài (Tưởng Giới Thạch) đã cho phép kết hợp Phật
giáo vào nền văn hóa, tức là bổ ích thêm cho tư tưởng
học thuật của nước nhà. Hiện tại, Phật giáo đang lan
truyền rộng rãi khắp thế giới. Phật giáo luôn chủ trương
khuyến tấn đại giáo đại đồng duy nhất. Đây không phải
là lời trống rỗng.
Vả
lại, ngày nay tự do tôn giáo, chẳng nên cưỡng ép người
theo những đạo mê tín, thì mới khiến nhân tâm trung thành
khâm phục mà sanh chánh tín. Nếu bỏ Phật giáo thì quy ngưỡng
vào nơi nào ?
IV.
Khai
thị tại chùa Từ Vân ở Trùng Khánh vào ngày mười bảy
tháng giêng, năm 1943 [^]
Hôm
nay, quý vị phát tâm quy y Tam Bảo. Lão nạp rất vui mừng.
Quý vị không quản đường xa, băng sông lội suối đến đây,
không ngoài việc hy vọng đạt được sự lợi ích này. Tuy
nhiên, nếu muốn đạt được lợi ích, phải tự thuận theo
tự tướng mà hành trì. Nếu chỉ quảy đeo hư danh trống
rỗng, sẽ không đạt được gì. Quý vị nên biết rằng hôm
nay thọ giới quy y, tức là làm đệ tử Phật. Quý vị đã
giống như được sinh vào nhà đế vương, tức là làm con
cháu đế vương, nhưng phải cố gắng đôn đúc tu hành, đừng
để bị trục đuổi, thì mới thật là phượng các loan đài,
có phần lợi ích.
Từ
nay về sau, phải y chiếu theo lời di giáo của Phật mà hành
trì. Phải sớm biết muôn sự trên thế gian này như huyễn
hóa. Suốt cuộc đời của con người, làm này tạo nọ, chỉ
giống như ong hút mật, tằm dệt lưới. Do một niệm động
khởi, nên chúng ta nhập bào thai. Được sanh ra đời xong,
lại từ từ biết phân biệt mình người, khởi niệm tham
sân si. Lớn lên, dần dần tiếp xúc với xã hội. Mọi toan
tính đều vì lợi ích cho mình; tích lũy tiền tài riêng tư
cho quyến thuộc. Bận rộn cả đời, chỉ lo chuyện vợ con.
Kết quả, không một giây phút rảnh rỗi. Tự mình trói buộc
không lối thoát, có khác gì ong hút mật ! Cả đời làm lụng
này nọ, tạo bao nghiệp chướng, nên phải chịu quả xấu,
phá vỡ chẳng được, nào khác chi tằm tự quấn tơ ! Cuối
đời bị đọa lạc vào vạc lửa dầu sôi, ba đường ác.
Hãy suy nghĩ kỸ càng !
Vì
thế, mọi người phải y chiếu theo lời Phật dạy. Phải
ăn chay trường suốt đời, chớ chỉ ăn chay tạm. Chẳng nên
giết hại sinh mạng loài khác. Sao nhẫn tâm giết hại sinh
mạng loài vật để bổ dưỡng cho thân mình ? Thử xem lúc
giết gà, nó tất phải cố kêu la bỏ chạy. Chỉ vì chúng
ta mạnh nó yếu, không đủ sức đề kháng chống cự, nên
phải chịu nhẫn thọ, nhưng lại tích oán trong tâm, để đợi
đến đời sau, nếu có dịp sẽ báo thù. Hiện tại, các cường
quốc dùng các loại vũ khí ác độc, hủy diệt các dân tộc
nhược tiểu, cùng việc giết gà đồng nhau không khác.
Quý
vị đã là Phật tử, nếu việc gì trái với sự lý, chớ
nên làm càn. Phật pháp vốn chẳng có gì kỳ lạ, vì luôn
tuân theo chánh tâm, thuận theo lý đạo.
Có
nhiều người thấy tôi tuổi lớn cơ tuần, nên mỗi lần
gặp mặt thì tham thảo tìm tòi thần thông tình tự; họ kiểm
nghiệm coi tôi có biết đời quá khứ vị lai của người
khác hay không, hoặc thường hỏi chiến tranh bao giờ kết
thúc, thế giới bao giờ hòa bình ! Thật ra, không những thiên
ma ngoại đạo, mà ngay cả quỶ thần súc sanh cũng có năm
loại thần thông. Những thần thông này, trong tự tánh vốn
có đủ, chớ nên để tâm chú ý. Chúng ta học Phật pháp,
phải vì việc minh tâm kiến tánh, giải thoát sanh tử, phát
tâm Bồ Đề, hành đạo Bồ Tát. Lời cạn cợt thô thiển
của tôi:
- Các
việc ác chớ làm. Hãy nên hành các việc lành.
Không
nên làm tổn hại người để lợi mình, mà phải tổn mình
lợi người. Phải thường thiết thật hành trì giới; do giới
sanh định, rồi do định sanh huệ. Tất cả việc đều tự
biết tự thấy, thì việc quy y hôm nay chẳng phí uổng.
Vừa
rồi có vài vị hỏi về yếu chỉ của kinh Lăng Nghiêm. Thể
theo cơ duyên của đại chúng nơi đây, nay lược thuyết đại
khái.
Ở
Ấn Độ, bộ kinh này vốn có một trăm quyển, nhưng tại
cõi này, chỉ phiên dịch có mười quyển. Bốn quyển đầu
nói về việc kiến đạo. Quyển thứ năm, thứ sáu, và thứ
bảy nói về việc tu hành. Quyển thứ tám và thứ chín bàn
về chứng quả của cách tu tiệm thứ. Quyển cuối cùng nói
về những vọng tưởng phát xuất từ các ấm ma. Tôn giả
A Nan vì đại chúng mà thị hiện hỏi đạo. Đầu tiên, đức
Phật chứng minh các pháp đều do tâm mà sinh ra. Vì tôn giả
A Nan thấy Phật có ba mươi hai tướng tốt, như các màu sắc
vàng tím hội tụ, nên sanh tâm thích mến. Phật hỏi:
- Những
tướng này dùng vật gì để thấy ?
Ngài
A Nan đáp:
- Con
dùng mắt để xem thấy tướng hảo thù thắng của Như Lai.
- Tâm
và mắt trú tại nơi nào ?
- Con
quán thấy Như Lai, mắt xanh biếc như hoa sen, tại trên mặt
của Ngài. Nay con quán thấy bốn căn phù trần ngay nơi trước
mặt. Tâm thức này, thật trú tại trong thân.
Tâm
chẳng ở trong, ở ngoài, hay chính giữa. Nếu không chấp trước
mọi việc thì tâm không trụ nơi nào hết. Những vị tu hành
không thể đắc được đạo Bồ Đề vô thượng chỉ vì
không biết hai việc căn bản. Thứ nhất là cội gốc của
sinh tử từ xưa đến nay; chúng sanh thường dùng tâm phan duyên
làm tự tánh của mình. Thứ hai là vô thủy Bồ Đề Niết
Bàn, thể vốn thanh tịnh. Tuy nhiên, ngay nơi tánh thức sáng
soi lại sanh ra các duyên. Do những duyên này, nên chúng sanh
quên cội gốc tròn đầy trong sáng. Tuy cả ngày thường mang
theo tánh giác mà chẳng tự giác, nên oan uổng đi vào ba con
đường ác. Phải biết sanh ra các pháp, vì do tâm ảnh hiện.
Mọi nhân quả thế giới vi trần đều do tâm tạo ra. Chúng
sanh không thể thành tựu đạo Bồ Đề chỉ vì ngộ nhận
khách trần phiền não là mình. Sáu trần là màu sắc, âm thanh,
hương thơm, mùi vị, xúc chạm, pháp. Sáu căn là mắt tai mũi
lưỡi thân ý. Đó là mười hai xứ. Lại thêm nhãn thức,
nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức; tất
cả cộng thành mười tám giới. Đất nước gió lửa hợp
với không đại, kiến đại, thức đại, làm thành bảy đại.
Gom hết lại thành số hai mươi lăm. Từ đây, mỗi vị trong
hai mươi lăm vị Thánh tự trần thuật và nói rõ nhân duyên
cũng như đường lối tu hành nhập đạo thuở xưa.
Sống
trong sáu đường luân hồi, dâm dục là gốc. Lưu chuyển trong
ba cõi do ái làm căn bổn. Ngài A Nan vì chúng sanh mà thị hiện
tướng: Tuy bao kiếp tu hành, nhưng không thoát được nạn
Ma Đăng Già. Trong các tội chướng, dâm dục đứng đầu.
Vì dâm dục nhiều khiến tổn hại thân thể, nên giết hại
sanh mạng chúng sanh để bổ dưỡng. Những tội ăn cắp nói
láo v.v..., cũng theo đó mà phát sanh.
Ngài
A Nan thấy ba mươi hai tướng tốt của đức Như Lai, như ánh
sáng vàng tím hội tụ, nên đối với sắc đẹp của Ma Đăng
Già chẳng ưa thích. Trai thích nhìn gái đẹp, hay nghĩ tưởng
mình là thân gái. Gái thích nhìn trai, hay nghĩ tưởng mình
là thân trai. Những vọng tưởng điên rồ này, cả ngày cứ
xoay vần trong tâm niệm. Ví như lúc nhỏ khi còn ở nhà chưa
xuất gia, tôi thường để râu tóc, mặc đồ thế tục. Cả
ngày giao tế, nghĩ tưởng những việc thế tục. Tối đến
lại mộng thấy cha mẹ nội ngoại, quyến thuộc, và bao việc
thế tục. Từ khi xuất gia, những việc làm và suy nghĩ không
ngoài việc Phật sự. Tối ngủ, mơ thấy những sự không
ngoài việc niệm Phật, v.v...
Lại
nữa, năm loại hành tỏi không thể ăn được, vì muốn tránh
sự kích thích dục niệm. Trừ dẹp những trợ nhân đó rồi
tu chánh tánh, tinh tấn chuyên cần, tự có thể từ từ thành
tựu. Tự mình chuyên cần phấn tấn mà không Ỷ lại người
khác.
Ngài
A Nan là hoàng tử, cũng là em Phật. Ngài xả bỏ vinh hoa phú
quý, theo Phật xuất gia, và hy vọng Phật sẽ tiếp tay giúp
sức, chứng đắc quả vị. Tuy nhiên, nên biết phải tự tu
tự chứng mà không thể nương nhờ người khác. Chúng ta nếu
không làm biếng giải đãi, luôn phát tâm cần tu tinh tấn,
thì sẽ chứng đắc các quả vị Bồ Tát như thập tín, thập
trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, tứ gia hạnh, thập địa,
cho đến đẳng giác, diệu giác. Ba cõi và sáu đường đều
là huyễn hóa, và vốn không ngoài một tâm. Tất cả tánh
giác vi diệu trong sáng của chư Phật cũng không ngoài một
tâm. Thế nên, tâm, Phật, chúng sanh, cả ba không khác biệt.
Đồng Tử Hương Nghiêm cũng có thể gọi là mũi của chúng
ta. Bồ Tát Kiều Phạm cũng có thể gọi là lưỡi của chúng
ta. Nhân địa và cách thức tu hành của hai mươi lăm vị hiền
thánh tuy không đồng, nhưng sự tu hành chứng ngộ vốn không
hơn kém.
Hiện
tại, những người sơ phát tâm tu đạo có thể theo pháp tu
của Bồ Tát thứ hai mươi bốn và hai mươi lăm, tức là ngài
Đại Thế Chí và Quán Thế Âm mà hỗ tương dụng công. Bồ
Tát Quán Thế Âm sẽ là vị Phật kế tiếp sau Phật A Di Đà
ở cõi Tây Phương Cực Lạc. Sau Bồ Tát Quán Thế Âm, ngài
Đại Thế Chí sẽ làm Phật tại cõi đó. Ngài Đại Thế
Chí dùng pháp môn niệm Phật tu hành chứng được viên thông.
Chúng ta cũng phải tu tập, niệm Phật để nhiếp thọ sáu
căn, đạt được tịnh niệm tương tục, đắc tam ma địa
(chánh định). Mười phương chư Như Lai đều lân mẫn thương
xót chúng sanh, như mẹ thương con. Tuy nhiên, nếu con cứ chạy
trốn mãi thì mẹ nhớ cũng chẳng có ích gì ! Nếu con nhớ
mẹ như mẹ nhớ con thì mẹ con đời đời không xa cách. Nếu
tâm chúng sanh thường nhớ Phật và niệm Phật thì đời này
đời sau, quyết định sẽ thấy Phật. Bồ Tát Quán Thế Âm
từ văn tư tu mà nhập vào tam ma địa; trên hợp với mười
phương chư Phật, đồng một lực từ; dưới hợp với chúng
sanh trong sáu đường, đồng một bi ngưỡng. Nếu gặp thiện
nam tử thường trì năm giới thì Ngài sẽ hiện thân nam mà
vì người đó thuyết pháp, khiến cho được thành tựu đạo
Bồ Đề. Nếu gặp người nữ thường thọ trì năm giới,
Ngài cũng sẽ hiện thân nữ mà vì họ thuyết pháp, khiến
được thành tụu đạo Bồ Đề. Cứ như thế, trong ba mươi
hai ứng thân hoặc hiện thân trời người, Thanh Văn, Duyên
Giác, cho đến thân Phật, cùng mười bốn lực vô úy, bốn
pháp bất tư nghị, trải qua vô lượng kiếp, Ngài độ vô
lượng chúng sanh. Chúng sanh vô tận, bi nguyện vô tận. Quý
vị hãy tự suy gẫm !
V.
Khai
thị tại chùa Từ Vân ở Trùng Khánh vào ngày mười tám tháng
giêng, năm 1943 [^]
Hôm
nay cùng quý vị đàm luận. Đối với hai chữ khai thị, thật
tình tôi rất xấu hổ, không dám đảm nhận. Hư Vân tôi,
ngay chính mình cũng chẳng rõ, sao dám hàm hồ dạy người
!
Lời
Phật dạy trong các kinh điển, nhiều vô số. Tại các tùng
lâm những lúc tọa hương ngồi thiền, đả Quán Âm thất,
Phật thất v.v..., các vị ban thủ luân phiên khai thị. Tuy
nhiên, việc bái sám lễ lạy thì không như ngồi thiền đả
thất. Khi lễ sám, năm thể phải chạm đất và ba nghiệp
phải thanh tịnh mà không nên tăng thêm những lời tán ngôn
loạn ngữ. Trên đàn sám không ban những lời khai thị. Lúc
lễ sám phải quán tưởng: "Người lễ, bậc thọ lễ, tánh
không tịch. Cảm ứng đạo giao không thể nghĩ bàn. Nay con
đảnh lễ Bồ Tát Quán Thế Âm, cảm ứng đạo giao tự hiện
tiền".
Thân
tâm mình lễ. Phật và Bồ Tát là những vị thọ nhận lễ.
Tâm mình vừa lễ vừa quán tưởng thâm sâu về quá khứ,
hiện tại, vị lai, nơi mọi thời, đều không thể đắc được.
Tất cả đều không tịch, thì tạng tánh Như Lai sẵn có,
tự nhiên hiển lộ. Kinh Kim Cang nói: "Nếu lấy sắc cầu Ta,
lấy âm thanh cầu Ta, người này hành tà đạo, không thể
thấy Như Lai... Nếu thấy các tướng mà không phải tướng,
tức thấy Như Lai".
Đây
là hai ý nghĩa vừa ẩn vừa hiển. Không chẳng phải không
và sắc chẳng phải sắc, thì mới là không chân thật và
là sắc chân thật.
Chúng
ta đều là những người xuất gia. Nơi trong lửa bỏng dầu
sôi, nước non loạn lạc, không gặp đạn dược cũng gặp
phi cơ. Thật không may mắn. Tuy nhiên, trong việc không may mắn
lại có những sự may mắn. Vì sao ? Người xuất gia vốn:
"Một bình bát, ăn cơm ngàn nhà. Thân đơn độc, đi muôn vạn
dặm".
Tuy
nhiên, hiện tại không thể hành được những hạnh này.
Chúng
ta phải nên xả bỏ tất cả, cùng thúc liễm thân tâm. Thân
vốn là gốc khổ. Tâm nguyên là nguồn tội. Hiện tại, nếu
không nỗ lực tu hành thì đợi đến chừng nào ? Một khi
mất thân này thì muôn kiếp khó hoàn phục. Xả bỏ vọng
tưởng thì bản tâm như như; muốn được như thế, phải
tu hành ngay từ tự tâm, chứ không thể hành từ bên ngoài
mà đắc được. Nếu luôn tinh cần tu trì thì lo gì không
cắt đứt dòng sanh tử ? Nhà Nho có câu: "Từ thiên tử (nhà
vua) đến thứ dân, mọi người phải lấy việc tu thân làm
gốc".
Tâm
người đời hiện nay khác xưa. Họ không biết sự quan hệ
giữa chánh trị và tôn giáo. Dùng chánh trị để sửa thân.
Dùng tôn giáo để chuyển hóa nội tâm. Những ý nghĩa này,
họ đều không biết đến. Gần đây, chắc có nhiều vị
trí thức biết rõ rằng nếu không nhờ sự nỗ lực nhất
chí của chánh phủ và tôn giáo thì không thể cứu tế được
thiên tai hoạn nạn trong đại kiếp nầy. Hiện tại, tổng
thống cùng các vị bộ trưởng, đồng phát tâm kiến lập
pháp hội Đại Bi Hộ Quốc Giải Trừ Thiên Tai Hoạn Nạn,
cũng không ngoài ý này.
Xưa
kia, việc kiến lập pháp hội là việc thường. Đối với
pháp hội Thập Luân, Kim Cang v.v..., tôi nhớ không hết, nhưng
biết rõ rằng sự dụng tâm tại những pháp hội đó không
giống nhau. Các vị Lạt Ma Tây Tạng gần đây hoằng pháp
tại Trung Nguyên rất nhiều. Chánh phủ rất mực tôn sùng
kính trọng. Không biết có phải là tín ngưỡng đặc biệt
của chánh phủ hay không ? Tăng sĩ áo xanh ngày càng lộng hành.
Họ phá chùa đuổi tăng áo vàng. Tăng chúng áo xanh hay áo
vàng đều là đệ tử Phật. Mật tông được truyền từ
Nhật Bổn gọi là Đông Mật. Mật tông được truyền từ
Tây Tạng, gọi là Tạng Mật. Những năm gần đây, Mật giáo
tại Trung Quốc được thịnh hành một thời, vì đều có
thể hiển hiện bao loại thần thông biến hóa. Tuy nhiên, vào
lúc nhàn rỗi không chịu thắp hương. Gặp lúc khẩn cấp
mới chạy đến ôm chân Phật thì không thể nào thành tựu
được.
Hư
Vân tôi đi khất thực khắp nhân gian; những nước lân cận
hầu như đã đến. Tôi vốn là phàm phu, không có thần thông,
không biết biến hóa, nên không dám ăn thịt, cũng không dám
ăn quá giờ. Có một số người chẳng hiểu Phật pháp, chưa
quên danh lợi, và thường cầu thần thông biến hóa. Tồn
trữ những vọng tưởng như thế, chẳng là tà cũng tức là
ma. Phải nên biết rằng Phật pháp tại tâm mình, nên không
thể đem tâm hướng ngoại cầu pháp. Thần thông phát khởi
do trình độ dụng công thì cớ sao khởi tâm hy vọng mong cầu
? Dụng tâm như thế, làm sao khế hợp với chân lý vô sở
trụ ? Đức Phật bảo rằng những người này thật đáng
thương hại !
Hiện
tại, quý vị Bồ Tát đại tâm phát nguyện tu trì Đại Bi
Sám Pháp, vì muốn hộ quốc tiêu tai, nên yêu cầu Hư Vân
tôi ra làm chủ trì. Công đức Hộ Quốc Tiêu Tai, mọi người
đều nên thành tâm nhất ý, cùng làm cùng tạo. Chúng ta bái
sám, xưng dương thánh hiệu; Bồ Tát Quán Âm linh cảm vô vàn.
Duyên lành của ngài Quán Âm đối với cõi này thật rất
thâm sâu. Tuy nhiên, tâm nếu không chân thành thì không thể
đạt được cảm ứng. Nếu thành tâm xưng thánh hiệu thì
Bồ Tát Quán Âm sao không tầm thanh cứu khổ ? Giữa hai mươi
lăm vị thánh trong kinh Lăng Nghiêm, duy chỉ có Bồ Tát Quán
Âm là chứng quả vị viên thông vi diệu nhất.
Trong
kinh Lăng Nghiêm, Bồ Tát Quán Âm trình bày cách tu chứng viên
thông của mình:
- Đức
Phật kia (Phật Quán Âm) dạy con từ văn tư tu để nhập vào
tam ma địa. Ngay trong cái nghe, không chạy theo âm thanh của
trần cảnh, mà xoay cái nghe trở vào chân tánh. Nhập vào liền
được tịch tĩnh, khiến hai tướng động tịnh, chấm dứt
không sanh.
Thứ
nhất, bên trên khế hợp và đồng một lực từ với mười
phương chư Phật. Thứ hai, bên dưới đồng một bi ngưỡng
với mọi loài chúng sanh. Bồ Tát Quán Thế Âm thật đại
vô úy. Ngài luôn dùng ba mươi hai ứng thân để hóa độ chúng
sanh. Kinh lại bảo: "Giáo thể chân thật này, thanh tịnh tại
âm thanh".
Niệm
danh hiệu của sáu mươi ức hằng hà sa Pháp Vương Tử cũng
đồng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm.
Bộ
"Đại Bi Sám Pháp" do đại sư Tứ Minh Pháp Trí soạn. Bi nguyện
thật không thể nghĩ bàn. Năng lực cảm ứng cũng không thể
nghĩ bàn. Những câu chuyện cảm ứng được ghi trong sử sách
rõ ràng tường tận. Từ sáng đến tối, năm thể chạm đất
lễ sám, ba nghiệp thanh tịnh, thì đoạn được tội giết
hại, ăn cắp, tà dâm, tham sân si, và chuyển mười việc ác
thành mười việc lành. Tất cả đều phải phù hợp với
diệu lý của sám pháp. Lại nữa, phát bốn lời đại nguyện,
rồi dùng hương hoa, tự trang nghiêm phước đức trí huệ.
Những sự lợi lạc như thế, sao lại không làm ? Lời nói
là giả mà hành trì mới là chân. Hôm nay, đại khái đàm
luận Phật pháp đôi chút. Phải nhớ rằng đức Phật là
đấng trượng phu và mình cũng sẽ như thế. Tự tôn tự quý
thì tự nhiên sẽ được cảm ứng.
Đời
vua Khang Hy, hòa thượng Nguyên Thông trụ trì chùa Tây Vực.
Ngày nọ, một vị tăng đắp y vàng đến chùa. Nhà vua rất
tôn sùng kính trọng mà bảo hòa thượng Nguyên Thông ra tiếp
đãi. Hòa thượng Nguyên Thông bảo rằng đó chẳng phải là
tăng hay người, mà là con nhái tinh. Nó có thần thông vi diệu.
Bấy giờ, gặp lúc trời hạn hán. Nhà vua ra lịnh cho vị
tăng mặc áo vàng kia cầu mưa. Quả nhiên có mưa, nên nhà
vua lại càng cung kính. Hòa thượng Nguyên Thông bảo:
- Hãy
lấy nước mưa mà đem so với cức rái của các con nhái !
Quả
nhiên thật giống nhau; tà chánh rõ ràng. Phải biết rõ ràng
về năm mươi ấm ma trong kinh Lăng Nghiêm, bằng không thì sẽ
bị chúng chuyển, khiến nhập vào đường ma. Xin đại chúng
hãy lưu ý !
VI. Khai
thị tại chùa Từ Vân ở Trùng Khánh vào ngày mười chín
tháng giêng, năm 1943
[^]
Chư
Bồ Tát ! Trong pháp hội này, Hư Vân tôi thật không biết
tự lượng sức mình, lại không biết quý vị lên chánh điện,
đến tổ đường, làm việc Phật sự, khổ nhọc muôn phần.
Tối đến, lại thỉnh quý vị ra niệm Phật, nghe khai thị.
Tôi có thật cản trở sự tu hành của quý vị không ? Trong
lòng tôi còn vài việc, chưa thổ lộ được. Có một số
cư sĩ tại pháp hội này, muốn nghe khai thị. Chư Phật và
chư Bồ Tát khó làm mãn nguyện chúng sanh.
Tối
hôm qua, tôi đã nói về sự khác biệt giữa bái sám và hành
Phật thất, nhưng chưa bàn về những điểm then chốt. Quý
cư sĩ đó phát tâm thật khó ai bì được. Hiện tại, tôi
không phải là Hư Vân mà trở thành Hư Danh; thật tình thổ
lộ không ra lời. Tôi đã từng nói với thầy trụ trì rằng
kỳ pháp hội này, quý vị thọ khổ rất nhiều. Ngày ngày,
ai ai cũng tự tu đạo và tạo công đức, như dự các tịnh
thất và làm công quả, nên không có thời gian nghỉ ngơi.
Nơi ngôi chùa này, không có một mảnh ruộng, miếng ngói.
Nếu không làm Phật sự thì không thể thành công. Tuy nhiên,
nếu làm Phật sự thì không thể dụng công, đả Thiền thất.
Vì Phật sự quá bận rộn, nên đến tối mới làm lễ Phóng
Diệm Khẩu tại đại điện. Thế nên, tại nơi đây tôi thiết
phương tiện giảng kinh thuyết pháp trong ban ngày, để quý
vị cư sĩ có thể băng sông, trở về nhà sớm. Trên đàn
sám có bốn mươi chín người bái sám. Họ không thể dừng
lại nửa chừng để nghỉ ngơi, mà phải cần có người khác
đến luân phiên. Thường trụ lại quá bận rộn, nên hai mươi
bốn người không thể xuống đàn.
Bàn
về chữ khai thị. Khai tức là khai khải. Thị nghĩa là biểu
thị, tức giảng giải việc thiện ác của con người, cùng
khai mở bổn lai diện mục của mọi người. Tuy nhiên, sắc
tướng vốn không có tướng lớn nhỏ, vuông tròn, phàm thánh,
nam nữ, v.v... Phàm tất cả tướng đều là hư vọng. Nếu
thấy tướng mà không phải tướng, tức là thấy Như Lai.
Dẹp hết tình phàm, thật không có giải thoát của chư thánh.
Người học đạo phải chân thật, chớ treo đầu dê mà bán
thịt chó. Phải tự tầm cầu bên trong, chớ tìm tòi bên ngoài.
Lời nói không có nghĩa chân thật, đều giả dối. Hành trì
mới là chân thật. Nếu được như thế thì triển chuyển
dây chuyền, từ một người đến nhiều người, từ một
nhà đến một quốc gia, từ một quốc gia đến nhiều quốc
gia, toàn thế giới không cần trị mà an.
Không
luận tu học pháp môn nào, phải lấy việc trì giới làm căn
bản. Nếu không trì giới mà trí huệ lại tinh xảo, thì tất
cả việc làm đều là việc ma. Hai mươi lăm pháp môn trong
kinh Lăng Nghiêm đều có thể tu chứng viên thông. Vì vậy
bảo rằng phương tiện thì nhiều pháp môn, nhưng quy về cội
nguồn thì không hai.
Tự
mình chọn lấy một pháp môn làm chánh hạnh, còn những hạnh
khác thì chỉ làm phụ. Phải tu cả hai phước và huệ. Nếu
chỉ tu phước thì sẽ hưởng phước hữu lậu ở cõi trời
người. Nếu chỉ lo tu trí huệ thì sẽ thành trí huệ khô
khan. Tu hành mà không đoạn trừ tâm giết hại, đời sau nếu
không làm thành hoàng thì sẽ làm thổ địa. Tôi thấy rất
nhiều người, nửa ăn chay nửa ăn mặn. Tu học Mật tông
lại ăn thịt. Thật rất đau lòng vì hoàn toàn trái ngược
với tâm từ bi. Mạnh Tử nói:
- Nghe
âm thanh, không nhẫn ăn thịt của chúng.
Mạnh
Tử còn nói như thế, huống hồ gì chúng ta đã là Phật Tử
! Cướp giựt sanh mạng của loài vật để thỏa lòng mình
sao ? Miệng chỉ hưởng được chút ít vị ngon, mà tạo vô
biên nghiệp ác. Gì là giữ và gì là xả ? Gì là nhẹ và
gì là nặng ? Tôi thấy không ít các người Thích Tử xuất
gia thường ăn thịt. Miệng mồm tôi không được hay, nên
mỗi lần thấy những việc như thế thì không thể chẳng
nói được. Xin quý vị hãy cố gắng tu hành!
VII.
Khai thị tại chùa Kiềm Minh, Quý Dương, vào mồng một tháng
hai, năm 1943 [^]
Hư
Vân tôi lại y theo lời thỉnh mời của thủ tướng chánh
phủ cùng quý đại cư sĩ để đến đây giảng thuyết và
chủ trì pháp hội Đại Bi Hộ Quốc Tiêu Tai. Vì thời gian
có hạn, nên không thể đến các đạo tràng khác bái kiến
vấn đáp. Xin hãy niệm tình bỏ qua !
Quý
vị đều là các bậc thượng tọa tu hành lâu năm. Đối với
Phật pháp đã từng nghiên cứu tu học thâm sâu, đâu cần
nghe nhiều lời của tôi. Tuy nhiên, vì quý vị nhất định
muốn tôi ra thuyết giảng, nên không thể chẳng nói vài lời.
Hiện
tại, các nước trên thế giới đang gây chiến tranh, giết
hại lẫn nhau. Nhân dân đang sống trong cảnh dầu sôi lửa
bỏng. Vì vậy nói: "Nhân dân không biết nương đâu mà sống".
Nơi
đây may mắn có hòa thượng Quảng Diệu đang hoằng dương
Phật pháp, độ khắp chúng sanh.
Hôm
nay, Hư Vân tôi cùng quý vị hợp mặt tại chánh điện này
thật chẳng phải là nhân duyên ngẫu nhiên. Tuy nhiên, bất
quá Hư Vân tôi chỉ lớn tuổi hơn quý vị đôi chút, còn
những việc khác thì chẳng hay ho chút nào.
Sau
khi thành lập Dân Quốc, chánh phủ vốn đã chấp thuận cho
tự do tín ngưỡng. Lời di chúc của Quốc Phụ (Tôn Trung Sơn)
đã được ban bố rõ ràng. Nhận thấy những tôn giáo khác
như Thiên Chúa giáo, Gia Tô giáo, Hồi Giáo đều được chánh
phủ bảo hộ. Tuy nhiên, việc phá chùa đuổi tăng lại xảy
ra trong toàn quốc. Bị oan ức, sao chẳng có nơi giải bày
? Việc này quý vị hãy suy nghĩ đôi chút. Họ phá chùa đuổi
tăng cố nhiên là không đúng. Nhưng vì vật tự thúi rữa,
nên mới sanh ra trùng. Hiện tại, các Phật tử phần nhiều
bỏ bê trách nhiệm, không biết rằng nếu là người Phật
tử thì phải luôn làm Phật sự. Phật sự là gì ? Phật sự
tức giới định huệ, là việc mà Phật tử phải tu hành.
Nếu nhận chân tu trì, thì tự nhiên sẽ biết cách cảm hóa
bọn ác ma, chuyển chúng thành những người hộ trì Phật
pháp.
Ngày
nay, các tăng ni phạm luật pháp thế gian, khiến làm lụy đến
chư Phật. Chánh quyền chiếm chùa miếu, đuổi tăng ni. Họ
không biết chùa chiền đâu có can hệ chi với những tăng
ni bất hảo ! Một đảng viên bất hảo, đâu có can hệ gì
với toàn đảng. Nếu một tăng ni bất hảo thì đi phá chùa
chiền, còn nếu một đảng viên bất hảo thì có nên hủy
diệt toàn đảng không ? Lý này, tôi hy vọng mọi người đều
nên hiểu rõ. Mọi người hãy giúp một tay, lật đổ bồn
cát này. Chớ nên bảo người Quý Châu chỉ lo Phật pháp ở
Quý Châu. Phải nên biết Phật giáo là một hợp nhất. Mọi
người không nên phân biệt oán thù hay thân thuộc, như đất
chẳng phân biệt biên cương. Phải nên vì chủ nghĩa đại
đồng chân chánh. Phải tự nhớ rằng sanh tử là việc lớn.
Từ văn tư tu, nhập tam ma địa. Mọi người phải tự tinh
tấn tiến bước. Chớ để một đời trôi qua vô ích.