Kể
từ ngày chồng đi Nam Cali thăm bạn trở về, thím Năm bỗng
linh cảm con người chú có cái gì là lạ, đáng nghi lắm !
Chú trầm ngâm buồn rười rượi, đôi khi lại còn buông tiếng
thở dài não ruột nữa. Thím ngấm ngầm theo dõi biến chuyển
tâm tư chồng "sát nút", đoán già đoán non đủ mọi chuyện.
Cuối cùng, thím nhận thấy không lý do nào đứng vững hết,
ngoại trừ chuyện tình cảm. Chú vừa được tin buồn của
người yêu nào đó ngày xưa và bị chấn động bởi mối
tình cũ nghĩa xưa chăng ? Nghĩ đến đó bỗng dưng thím cảm
thấy nghèn nghẹn khó thở ! "Cái gì kỳ vậy, chẳng lẽ già
đến từng tuổi nầy mà mình lại còn ghen bóng ghen gió sao
?", thím bối rối tự hỏi lòng mình. Mấy năm nay, thím tự
hào mình tu dưỡng tâm tánh tiến bộ, không còn đổ ghè tương
nữa, té ra, máu ghen của thím vẫn còn nguyên vẹn, ngấm ngầm
và mãnh liệt như xưa. Thím lau dọn bếp mà không bỏ sót
"nhứt cử nhứt động" nào của chú. Chú mở truyền hình
mà lòng dạ chú thẩn thơ chuyện đâu đâu, rồi chú chợt
buông tiếng thở dài, ngâm nga nho nhỏ:
"Ví
dầu, tình bậu muốn thôi !
Bậu
gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra…"
Rõ
ràng là nhớ nhung người tình cũ nào, rồi thở than đây mà.
Thím hết chịu nỗi, bỏ dở vụ dọn bếp, cố gắng giữ
bình tĩnh tối đa, vậy mà thím cũng run giọng, cười gằng
nói nửa chơi nửa thiệt với chồng:
- Chà,
con nào bảnh quá ! dám gieo tiếng dữ cho chồng tui, rồi bỏ
rơi vậy cà !
Chú
Năm cười ngặt nghẽo:
- Ối
giời ơi ! nghe nói độ rày tu tập hạnh xả ly, mà sao lại
trổ mòi ghen rồi!
- Ơ
! ai thèm ghen ! thấy chuyện đáng nghi thì hỏi chơi cho biết
vậy thôi !
- Hay
quá há ! vợ tui tu thiền mà canh cánh "đại nghi", vậy thì
chắc sắp "đại ngộ" tới nơi rồi đa !
Chú
cười giỡn mà nhìn mặt mụ vợ thấy "nường" mặt mày xanh
dờn như tàu lá, không nỡ đùa dai, nên vội vã trấn an:
- Thôi
xin can bà ơi ! tôi than thở đây là than thở cảnh ngộ đớn
đau của thằng Hoàng. Nó qua sau, lờ khờ nghèo đói thất
nghiệp, vợ nó khinh khi hất hủi mà không thẳng thắn nói
thật lòng mình, lại bới tìm chuyện cũ hai mươi năm về
trước, để trách móc tạo cớ bỏ nhau, lòng dạ đàn bà
thật là… ngoắt ngoéo lạ lùng…
Đàn
bà vốn chịu khó ngồi lê đôi mách, bàn tán chuyện người.
Thím đã được bạn bè báo cáo từng biến chuyển của mối
tình Hoàng Mai, với đầy đủ tình tiết éo le gây cấn. Thím
dấu biệt chồng chuyện nầy, vì sợ chồng nghe rồi sẽ buồn
lây vô ích. Thím đã quá rành vụ đó, nhưng đang lỡ cỡ
quê quê với cơn ghen bóng gió tào lao, nên thím bèn giả vờ
"ngây thơ cụ", mở mắt tròn xoe như con nai vàng ngơ ngác:
- Trời
ơi ! không lẽ chị Mai tệ bạc như vậy sao anh ?
- Nếu
anh không đích thân nghe anh Hoàng kể, anh cũng khó tin con người
nổi tiếng là mẫu mực, "đức hạnh khả phong" như chị ấy
lại hành động như vậy !
Trầm
ngâm thật lâu để hồi tưởng buổi hội ngộ với bạn vừa
qua, chú Năm bùi ngùi tiếp lời: "Khuya hôm đó, anh lần mò
tìm đến cây xăng Exxon, tại Santee, đậu xe xa xa rồi lẳng
lặng đi bộ đến gần quan sát hắn. Bao năm trời lao động
cải tạo đã biến đổi con người đường bệ, sang trọng
ngày xưa thành một kẻ lụ khụ, gầy gò, khắc khổ. Anh xúc
động rưng rưng nước mắt, chờ vắng khách mới bước tới
quầy tính tiền lên tiếng:
- Hoàng
! sao mầy lánh mặt anh em ! khiến tao phải trầy vi tróc vảy
mới tìm được mầy !
Hoàng
cũng lạc giọng:
- Thật
không ngờ có ngày mình lại gặp nhau ! tao trốn hết mọi
người vì xấu hổ chuyện nhà, chớ đâu có trốn tránh riêng
mầy !
Mới
nói mấy câu, thì lại có khách hàng đến, Hoàng vội nói:
- Nơi
nầy nói chuyện hơi bất tiện ! Ngày mai mình gặp nhau tại
quán phở Hòa lúc 8 giờ sáng được không !
- Không
! tao ở đây chờ mầy xong "ca" làm việc, rồi theo mầy về
chỗ trọ, nói chuyện bên nhau trọn ngày đêm mới hả dạ
!
- Không
tiện lắm đâu ! chỗ tao ở chật hẹp lôi thôi lắm !
- Hoàng
! tụi mình là bạn chí thiết, đã từng đói rách ăn ngủ
bụi đời với nhau. Sao mầy lại trở chứng khách sáo với
tao như vậy !
Hoàng
còn muốn chống chế, nhưng nhìn vẻ quyết liệt của anh đành
chịu thua. Thế rồi, Hoàng bối rối đưa anh về chỗ trú
ngụ, một chung cư tồi tàn dành cho người lợi tức kém,
phòng khách vừa là phòng ngủ chỉ vỏn vẹn có chiếc nệm
đơn đặt dưới đất và cái bàn con, vừa để ăn uống vừa
viết lách. Hoàng ngượng ngập nói:
- Như
vậy, kể ra đã sang trọng quá sức, so với thời học tập
cải tạo rồi !… Mầy nghĩ coi ! tao làm đồng lương tối
thiểu thì chỉ đủ trả tiền nhà, ăn uống tiện tặn và
gởi chút đỉnh tiền về cho gia đình là sạch trơn, đâu
còn tiền mua sắm gì nữa!
- Rồi
mầy ăn uống ra sao Hoàng ?
- Ối
! thì tao nấu nồi thịt kho, ăn hoài hoài suốt tuần. Hết
thì nấu nồi khác. Đi cải tạo ăn độn, ăn cơm muối hột
thì sao ?
Hai
anh em nằm gối đầu bên nhau tâm sự như thời trai trẻ ngày
xưa. Anh nhắc nhở những kỷ niệm học trò để "hâm nóng"
lại tình bạn xa vắng bấy lâu, rồi mới yêu cầu Hoàng thuật
lại thời tù cải tạo. Nghe Hoàng từ từ kể lể quãng đời
khổ nhục, một cách nhẹ nhàng, không chưởi bới sân hận,
không than van oán trách, anh cảm phục lên tiếng:
- Mầy
bị như vậy, mà không lộ chút thù hằn, hay thiệt !
Hoàng
mỉm cười giải thích !
- Thuở
nhỏ đến chùa Xá Lợi nghe thuyết pháp, rồi lãng quên không
nhớ nghĩ gì đến. Thế mà, khi lâm cảnh tội tù, thì thời
pháp về giáo lý tứ diệu đế, lại hiện về, tạo thành
thứ hành trang vô giá cho tao trong tháng ngày cùng khổ. Tao
chiêm nghiệm "chân lý khổ", nhận chân được bộ mặt thực
của cuộc đời, nên đã đón nhận niềm đau như người bạn
đồng hành, suốt đời kề cận chẳng rời, nhờ vậy không
còn cảm thấy khổ cũng không thấy có kẻ hành hạ mình nữa.
Thân thể tao bị giam giữ mất tự do, mà tinh thần tao, nhờ
ơn mưa móc của Phật Pháp, lại thênh thang không ràng buộc,
tao tìm được những giây phút thanh thản, an vui…, mà nảy
sanh lòng thương xót cho những kẻ, tuy thân thể được tự
do, nhưng chính ra họ đang bị lưu đày chung thân trong ngục
tù chủ nghĩa rỗng tuếch, trong hận thù ảo tưởng, trong
si mê dốt nát triền miên. Thời gian tù tội nầy, tao sống
an phận ngày qua ngày, chẳng thèm lo lắng, ưu tư gì hết,
nào ngờ, khi được phóng thích, thì đầu óc tao lại rối
ren trăm mối: chộn rộn sanh kế, phập phòng sợ hãi công
an, bâng khuâng tương lai mù mịt, nhung nhớ vợ con khôn nguôi…
Tao đôn đáo chạy lo hồ sơ đoàn tụ, "tiền mất tật mang",
để rồi chán ngán đếm từng ngày lê thê đợi chờ vô vọng.
Cuối cùng, nhắm không đủ sức chịu đựng nỗi, tao quyết
định vượt biên. Tao móc nối với một tổ chức đi chui
ngả Phan Thiết, và vào ngày giờ đã định tao đi xe đò ra
tỉnh lỵ nầy, đến điểm hẹn tại quán ăn đường Lê Lợi,
ăn uống cầm chừng mà chờ đợi. Đúng sáu giờ chiều, người
hướng đạo xuất hiện, ra dấu cho tao bước theo sau, ước
hẹn giữ khoảng cách chừng mười lăm thước, để theo ra
Bến Đò, tại đây, như đã được sắp xếp trước, tao sẽ
được đưa lên thuyền chèo để chuyển sang tàu đánh cá.
Đi bộ chừng nửa giờ, khi Bến Đò vừa ló dạng thì bỗng
nghe nhiều tiếng súng nổ, rồi có tiếng hò hét đuổi bắt
những tên vượt biên phản động. Tao lo sợ cuống cuồng
tìm người hướng đạo cầu cứu, nhưng chỉ mới thoáng đó
là y đã biến dạng đâu mất rồi. Tao quày quả trở lại,
lang thang trên những đường phố đông người qua lại mà
chẳng biết phải giải quyết cách nào. Xứ lạ không một
người quen, biết tìm đâu ra chỗ dung thân qua đêm ? Tao lầm
lũi tìm đến một con lộ vắng vẻ, định chui vào một góc
tối om, nằm im chờ sáng… thì có tiếng chó sủa, người
nhà vác gậy gộc ra đối phó với phường trộm cắp. Tao
luýnh quýnh xin lỗi, rồi vội vã bước nhanh mà vẫn còn nghe
được tiếng lầm bầm chưởi bới thô tục của gia chủ.
Tao đổi hướng đi, theo những con đường sáng sủa, và bất
ngờ, tao lạc bước đến ga tàu hỏa Phan Thiết. Nhà ga đông
cả ngàn người, phần lớn là dân buôn bán hàng lậu, họ
ngủ đêm để sẵn sàng xếp hàng mua vé đi chuyến xe lửa
khởi hành lúc năm giờ sáng. Được lẫn lộn trong đám đông
cũng đỡ lo, nhưng họ ngủ đêm tại nhà ga thì đã chuẩn
bị chiếu hoặc tấm nylon để nằm, còn tao thì trụi lủi
chẳng mang theo thứ gì, nên đi tới đi lui, ngồi gần đám
nào cũng sợ họ nghi ngờ. Cuối cùng, tao khám phá ra một
cái nền tráng xi măng, người ta nằm thành hai hàng, và tao
cũng chen nằm theo họ. Tưởng đã thoát nạn, nào ngờ chừng
một giờ sau, thì có hai chiếc xe công an, bao vây nhà ga, inh
ỏi dùng loa phóng thanh, kêu gọi đồng bào giữ trật tự
để họ lùng bắt bọn phản động lẫn trốn trong nầy. Họ
chia từng toán lục soát rất kỹ. Tao nghĩ đời tao kể như
tiêu rồi, tao muốn bình tĩnh không sợ hãi, mà vẫn cảm giác
rõ rệt tóc gáy tao dựng đứng lên, trong khi mồ hôi lạnh
ngắt toát ra từng hồi. Một toán ba tên công an trách nhiệm
khu sân xi măng tao nằm, một tên chận phía ngoài, giữ những
kẻ tình nghi, hai tên còn lại mỗi tên phụ trách một hàng,
lần lượt tra xét giấy tờ từng người. Tao thấp thỏm chờ
đợi tới phiên tao, như một tử tội chờ máy chém rơi xuống
cắt đầu. Từ thuở giờ, tao chủ trương tự lực, gieo nhân
nào thì lãnh quả nấy, nghiệp mình mình chịu, và do đó,
chẳng mấy đồng ý với pháp môn niệm Phật hay niệm Quán
Âm. Nhưng đến lúc đó, không còn cách nào khác, tao chỉ biết
tập trung tinh thần niệm "Nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế
Âm Bồ Tát". Khi công an xét giấy tờ người nằm sát bên
tao, tim tao đập thình thịch thiếu điều muốn nhảy tung ra
khỏi lồng ngực, tao nhắm mắt lại niệm lấp vấp loạn
xạ. Mấy phút nặng nề trôi qua mà chưa thấy tên công an
khều ngồi dậy để xét giấy tờ, tao vội mở mắt hí hí
xem thử, thì té ra nó đã xét qua khỏi chỗ tao rồi. Tao thoát
nạn một cách kỳ diệu, may mắn không thể tượng nỗi, và
tất cả niềm tin của tao đặt trọn vào nguyện lực nhiệm
mầu của Quán Thế Âm Bồ Tát ! Mầy có tin nỗi điều nầy
không Năm ?
- Dĩ
nhiên là tao tin ! Khi mình niệm danh hiệu Quán Thế Âm nhất
tâm, thì mình có thể ở trong trạng thái thiền định, khiến
xác thân biến mất trước nhục nhãn của con người. Trong
thiền sử, có kể đến vị thiền sư quán mình là nước,
kẻ bàng quang nhìn không thấy thiền sư, mà chỉ còn thấy
nước mà thôi. Trường hợp, niệm Quán Âm chân thành, nhất
tâm bất loạn, thì chắc mình biến thành khối âm thanh, thằng
công an không thấy là phải rồi !
- Mầy
lầm rồi Năm ! tao niệm Quán Âm đâu được nhất tâm. Tao
niệm mà tim đánh "lô tô", mắt mở hi hí dò chừng biến chuyển
! niệm lập dập chẳng ra gì hết, vậy mà vẫn hiệu nghiệm
mới là điều đáng nói chớ ! (1)
- Tụi
nó có bắt được ai không Hoàng ?
- A
! nghe phong thanh có chừng năm người bị bắt giữ ! ưng oan
không rõ ! Người ta lăng xăng bàn bạc ỏm tỏi, nhưng mình
có tịch đâu dám hỏi han ai, chỉ biết nằm im thinh thít chờ
đến hừng sáng, mua vé xe lửa dông tuốt về Saigon an toàn.
Ba tuần sau, tao móc nối đường dây khác, vượt biên ngả
Vũng Tàu. Chuyến đi nầy may mắn chẳng có gì đáng nói. Tàu
cập bến Trengganu Mã Lai, tao được chuyển sang trại tị nạn
sống một năm thì được vợ con bảo lãnh về Hoa Kỳ. Tao
hí hửng chuẩn bị dang hai tay ôm chầm hạnh phúc, ngờ đâu,
lại đón nhận niềm khổ đau chua xót tột cùng. Chắc mầy
không tin nỗi điều nầy: sống trong tù cực khổ mà tao bình
thản, không hề nghĩ đến cái chết, còn đến nước tự
do, sung sướng tấm thân thì tao lại lảng vảng mơ chuyện
quyên sinh hàng trăm lần ! Bị kẻ thù hành hạ thâm độc
thật ra dễ chịu đựng hơn bị thân nhân khinh rẻ dằn vật
Năm à !
- Vậy
mà tao đinh ninh mầy tốt phúc nhất đời chớ ! Ai cũng khen
chị ấy đảm đang đức hạnh, vừa nuôi dạy con học thành
tài, vừa chu cấp cho chồng học tập đầy đủ kia mà !
- Thì
chính tao cũng "tưởng bở" như vậy đó ! Chỉ đến khi tới
Mỹ, thực sự chung sống với bả, tao mới biết đá biết
vàng Năm à ! Mầy nghĩ coi ! ngày bước xuống phi trường tao
yên chí sẽ có đông đủ thân nhân bạn bè hân hoan chào đón,
ngờ đâu chỉ hiện diện vỏn vẹn hai mẹ con đợi chờ lợt
lạt. Sau giây phút tay bắt mặt mừng, tìm hỏi lý do mới
biết bả cố ý không thông báo cho ai hay biết gì cả ! Tao
tảng lơ không thắc mắc vụ đón rước nữa, nhưng thật
ra, tao tủi thân biết đến chừng nào ! Tao bị tù cải tạo
vì hoàn cảnh mất nước, chớ tao đâu phải là loại tù tội
lưu manh, trộm cắp gì, mà khi đón rước tao bả xấu hổ
phải dấu diếm mọi người ! Trong buổi vui mừng đoàn tụ
đó, tao cứ phập phòng lo sợ cho nguồn hạnh phúc mong manh
tan vỡ ! Tao thấp thỏm tự hỏi mình có hành động gì bất
xứng không, mà dường như có niềm thất vọng, một chút
thẩn thờ phưởng phất trong nụ cười gượng gạo của bả
?… Tao chợt ngắm kỹ bả, đem so lại con người mình, rồi
nhột nhạt hiểu rõ nguyên nhân. Mầy ơi ! trong khi bả vẫn
giữ được nét trẻ đẹp sắc sảo ngày xưa và chưng diện
kiêu kỳ diễm lệ, thì thân tao lại lam lũ, lụ khụ, như
một kẻ ăn mày. Bả mắc cỡ không cho gặp ai là phải quá
rồi ! Tao bỗng dưng cảm thấy nghèn nghẹn, bao nhiêu lời,
bao nhiêu chuyện mà hơn mười năm xa vắng tao ấp ủ chờ
đến ngày gặp nhau tỏ bày đều tan biến đi mất. Tao lủi
thủi theo bả mà ngậm ngùi chứng kiến hạnh phúc tưởng
ở tầm tay đã tuột mất tự bao giờ. Về tới nhà, vừa
dợm để điếu thuốc lên môi, thì bả đã hét lên như phỏng
lửa. Bả lên lớp dạy tao bài học về sự độc hại của
thuốc lá, chê bai cái mùi thuốc hôi hám nhơ nhớp, rồi cấm
tuyệt tao không được hút thuốc trong nhà.
Hoàng
dừng lại, buông tiếng thở dài, rồi buồn hiu kể tiếp:
- Mình
đâu chẳng biết thuốc lá độc, nhưng thời học tập cải
tạo, mạng sống đã kể như chết rồi, thì còn lo lắng chi
chuyện sức khỏe nữa. Những đêm lạnh, chuyền nhau hút một
hơi thuốc dài, nghe lòng cũng ấm lại… tao làm bạn với
thuốc lá từ đó, chớ ngày xưa tao đâu từng phì phà khói
thuốc. Thật ra, dẫu tao lỡ ghiền như thế nào, mà bả muốn
tao bỏ thuốc thì tao cai ngay, đâu cần phải xài xể tao nặng
nề ngay ngày tao mới chân ướt chân ráo đến nước nầy
! Tao hiểu thân phận mình, nên không hề ngạc nhiên khi bả
viện cớ, mười năm qua ngủ một mình đã quen, để sắp
xếp ngủ giường riêng.
- Thế
thì tối, mầy có mò sang bả không ?
- Tao
trằn trọc đêm nầy qua đêm khác, chờ đợi bả tỏ vẻ
khuyến khích tao "mò", nhưng rồi hoàn toàn vô vọng. Có khi
tao nghe lòng thôi thúc làm càn, định ôm chầm lấy bả để
thủ thỉ lời thương yêu, nhưng ám ảnh bởi thái độ lạnh
lùng, xa lạ của bả mà "teo" mất nguồn hứng cảm ! Hoàn
cảnh tao khốn nạn như vậy đó ! có khách đến thì vợ chồng
đóng kịch hạnh phúc mừng vui đoàn tụ; khách về, thì tao
lại ké né, tủi thân trước thái độ ruồng rẫy khinh thường
của bả. Mầy biết không ? bả coi tao như không hiện diện
trong nhà, bàn bạc chuyện gì chỉ nói với con, chớ chẳng
lý gì đến tao. Bà muốn mua sắm vật dụng, thay đổi trang
trí, thay xe đổi nhà…, tao là thằng chẳng có cắc bạc sao
dám lăng xăng ý kiến, nhưng nếu bả hỏi ý mình lấy lệ
thì đỡ tủi thân cho tao biết chừng nào ! Bị bả xa lánh,
tao bèn tìm mọi cách để gần gũi bả, nhưng con người bả,
giống như cây xương rồng vậy, lúc nào cũng tua tủa gai thật
khó mà thân cận mầy à !
- Mụ
vợ nào chẳng rắc rối khó chịu ! mụ nào chẳng là xương
rồng khó ưa ! Hoàng à ! Vợ tao cũng gai góc chớ có vừa gì
! Có lần bực quá tao chỉ trích bả: "Bà hả ! Bà chính là
thứ xương rồng gai góc khó ưa ! đá động gì tới bà thì
bà gây gổ, cằn nhằn nhức đầu nhức óc, không ai chịu
nỗi !". Thế nhưng bả lại cười xòa, chỉ trích ngược lại:
"Chà ! bộ ông tưởng lúc nào ông cũng hòa nhã dễ thương
sao ? có khi ông cũng sừng sộ gai góc chớ bộ !". Chừng suy
nghĩ lại, tao khám phá điều nầy Hoàng ạ ! Người mình lạc
lõng xứ người, vật lộn với đời sống mới, tiếp xúc
nền văn hóa khác biệt, đầu tắt mặt tối quay cuồng chạy
theo nhu cầu sinh sống, thét rồi tâm tính mình cũng đổi thay,
tương tợ như loài cây sinh sống với khí hậu khắc nghiệt
phải trang bị gai góc để sống còn. Bà xã tao đâu còn vẻ
e lệ, thùy mị… ngày xưa nữa, giờ thì bả nhậm lẹ, tháo
vát và cũng hay lằng nhằng gây gổ thất thường nữa ! Nhưng
sống với bả thì tao cũng ráng tập thương luôn mấy cái
gai của bả, chớ biết làm sao bây giờ !
- Năm
à ! mầy đừng bày đặt dựng chuyện để an ủi tao ! Vợ
tao mà cằn nhằn gây gổ giận hờn bình thường thì tao hạnh
phúc lắm rồi ! đằng nầy, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói của
bả đều hàm chứa vẻ khinh lờn chán ghét, và điều đó
mới làm tao ray rức khổ nhục chớ ! Mầy nghĩ coi ! mình mới
định cư, đầu óc rối ren trăm mối, lơ đãng đi tiểu quên
bấm nước dội cầu. Chuyện chẳng đáng gì, mà bả coi như
đó là chuyện bần tiện kinh khủng ! Bả cằn nhằn nói tới
nói lui hàng trăm lần, chê bai tao ở dơ, tao lẩm cẩm… Vật
dụng linh tinh sắp xếp trong nhà, mới qua mình làm sao nhớ
hết một lần, vậy mà tìm ly tách, tìm hủ đường, hộp
tiêu… chậm chạp thì bị chê ngay là lẩn thẩn, cà rề…
Thật ra, thì bất cứ chuyện gì tao làm, phải trái gì bả
cũng biếm nhẽ, xỏ xiên, hành hạ tao cả. Mầy nghĩ coi !
quần áo tao sắm bên trại tỵ nạn, qua đây bả chẳng đề
nghị mua đồ khác, tao tự ái cũng không đòi hỏi, thế mà
mở miệng ra thì bả chê tao ăn bận nhà quê, vậy có vô lý
không ? Bà không nói năng đến việc dợt tao lái xe. Thằng
em cột chèo qua thăm, thấy tao tù túng trong nhà tội nghiệp,
tập dợt, đưa tao thi bằng lái xe, rồi cho luôn chiếc xe cũ,
để tao có phương tiện đi đó đi đây. Tao mừng húm chưa
yên thì bả đã lải nhải trách cứ tao bày đặt than thỉ
nhờ vả với người ngoài làm mất mặt bả, trong khi đó,
chỉ mới tuần trước thôi, thằng Thịnh tổ chức ăn mừng,
rồi công khai đề nghị giúp tao bằng cách mướn tao làm nhân
viên văn phòng dịch vụ của nó, mỗi tháng trả lương ủng
hộ một ngàn năm trăm đồng. Kể ra tiền lương đó đối
với tao là quá trọng hậu, nhưng vừa nghe Thịnh kể sơ sơ
công việc, tao cảm thấy trong cách làm ăn của nó có điều
mờ ám bất thường…, nên tuy tiếc mà tao vẫn bấm bụng
từ chối. Chuyện nầy thì trái lại, bả xỉa xói nói móc
họng: "Hứ ! qua đây còn muốn làm ông là cha ai nữa, nghèo
mạc rệp mà bày đặt kênh kiệu, không chịu nhờ vả bạn
bè !". Bả đối với tao như vậy đó ! Tao ráng hết sức,
tìm đủ mọi cách làm cho bả vui, mà càng lúc càng cảm thấy
mình vụng về, và chỉ làm cho bả thêm khó chịu mà thôi
! Tao điên đầu chẳng biết phải hành động, nói năng gì
cho hợp lý đây !
- Trường
hợp bất mãn thường trực nầy, phải có "dĩa bánh ích" dâng
nạp thì họa may mới yên cửa yên nhà được !
- Đúng
vậy ! tao cũng nghĩ đến điều đó. Tuy nhiên, "dĩa bánh ích"
năm xưa đã thiu rữa từ ngày mất nước rồi, còn đâu nữa
mà dâng với nạp ! Biết thân phận mình, tao né bả, tao lặng
lẽ ở ngoài vườn làm bạn với cây cỏ cho qua ngày !".
Thím
Năm đang hấp dẫn theo dõi câu chuyện, bỗng gặp mấy tiếng
lóng khó hiểu, vội lên tiếng chận ngang:
- Ơ
! ngưng cho em hỏi vụ nầy cái đã ! "dĩa bánh ích" là cái
giống gì mà hai ông đối đáp nhau tương đắc quá vậy ?
Chú
Năm cười ngất giải thích:
- Đó
là tiếng lóng riêng của tụi anh, bắt nguồn từ câu chuyện
tiếu lâm trong chùa như thế nầy: Một ông thầy tụng dẫn
chú tiểu đi đám ma. Lễ lạc xong, thầy trò được đãi đằng
một trận no nê, ngoài ra chủ còn ưu ái gói nguyên dĩa bánh
ích giao cho chú tiểu. Thầy trò ra về đường xa. Thầy hẩu
món bánh ích, sướng rơn trong lòng chờ đợi trò dưng nạp
mà thằng nhỏ lờ khờ chẳng biết bụng dạ thầy, cứ giữ
riết bánh mà te te đi trước. Im lặng thì thiệt thòi, còn
nói ra lại mang tiếng tham ăn với đệ tử, đau khổ thầy
tằng hắng nhắc chừng mà thằng nhỏ vẫn ngu si chẳng biết.
Cuối cùng bực bội không chịu nỗi thầy lên tiếng gây:
"Bộ mầy là thầy tao ! sao mầy dám đi trước tao". Thằng
bé hoảng hồn chậm bước, lẽo đẽo theo sau thầy. Thằng
bé bây giờ lại ở ngoài tầm mắt của thầy, đó mới là
chuyện hung hiểm khôn lường chớ ! rủi ro nó tà tà "quất
sụm" cả dĩa, thầy làm sao hay biết kịp thời để chận
đứng đây ! Nguy quá thầy hét vang: "Bộ tao là vịt hay sao
! mà mầy đi sau để lùa tao như vậy ?". Đi trước trật,
đi sau trật, thằng nhỏ luýnh qua luýnh quýnh lướt lên đi
ngang hàng với thầy cho phải phép. Nào ngờ, ông thầy liếc
thấy bánh ích cầm lòng chẳng đậu, hầm hừ khiển trách:
"Bộ tao là bạn mầy hay sao ! mà mầy dám đi ngang hàng với
tao hử ?". Thằng bé bối rối chẳng biết phải làm sao, loay
hoay cầm dĩa bánh mà vẫn ráng chấp tay kính cẩn: "Thưa thầy
! xin thầy chỉ dạy con phải đi cách nào cho đúng !". Ông
thầy coi như trò dâng bánh, quơ nhanh thồn hết vào hồ bao,
rồi mới từ hòa lên tiếng: "Con ngoan ! con hiếu thảo lắm
! Ơ ! còn vụ đi đứng hả ? thầy nói cho vui vậy thôi, chớ
con đi trước, đi sau hay đi ngang với thầy sao cũng được
cả mà !".
Thím
Năm cười rưng rức, tò mò hỏi tiếp:
- Dĩa
bánh ích của anh Hoàng có phải là hào quang bạc tiền, danh
vọng ngày xưa chăng ?
- Vừa
thôi bà ! thắc mắc chi kỹ như vậy ! chỉ biết thằng Hoàng
lớ ngớ cầm cái dĩa trống không đi tới đi lui thì chỉ
làm bực mình người ta mà thôi !
- Ừa
đồng ý bỏ qua vụ nầy ! anh kể tiếp chuyện anh Hoàng nhanh
nhanh lên ! kẻo em sốt ruột lắm rồi !
- Đang
kể nửa chừng, em hỏi giựt ngang làm anh cụt hứng rồi !
thôi để bữa khác vậy !
- Em
thích nghe liền hà ! em năn nỉ mà !
Chú
Năm cằn nhằn bà xã lấy lệ vậy thôi, nghe vợ vỗ về một
câu là chú đã cười hì hì, trầm ngâm nhớ lại chuyện cũ,
rồi thuật tiếp:
"Thế
rồi anh hỏi Hoàng:
- Mầy
né tránh như vậy, sao còn xảy ra nông nỗi nầy ?
- Ơ
! chiến tranh lạnh kéo dài cỡ chừng ba bốn tháng, thì con
em út của bả đến chơi, thở than chuyện chồng con của nó.
Con nhỏ ra về, thì bả nhắc chuyện xưa rồi trách móc tao
thậm tệ. Ngày đó, chồng trước con nhỏ nầy và anh kế
nó ra trường sỉ quan một lượt và đều bị đưa ra đơn
vị tác chiến. Ông bà già vợ nhờ tao vận động đem về
chỗ văn phòng, dĩ nhiên, là với uy thế tao lúc đó, tao dư
sức làm được. Tuy nhiên, xin xỏ một lượt hai đứa tao
hơi ngại, nên tao lo cho thằng em vợ trước, còn phần thằng
cột chèo thì hứa sẽ gởi gấm ba tháng sau đó. Rủi ro là
mới hai tháng thì thằng nhỏ bị lọt ổ phục kích chết
ngũm. Chuyện dĩ lỡ rồi, không ai trách tao một tiếng. Tao
ái náy xin lỗi ông bà nhạc, ổng bả còn an ủi ngược lại
tao… Vậy mà, bây giờ cô em vợ có chồng khác, con cái cả
bầy, thì bà xã tao lại đem chuyện xưa ra càm ràm, tao không
còn nhịn nhục nỗi, nên lời qua tiếng lại. Cuối cùng, tao
giận lẫy: "Được rồi ! bà chán tui thì để tui đi cho khuất
mắt bà !". Tưởng bả ngán, ngờ đâu lại trúng kế bả,
bả thách thức: "Hứ ! tui không xua đuổi ai hết ! còn ở
xứ tự do nầy, ai muốn đi đâu thì đi ! đừng hòng bày đặt
dọa nạt con nầy…". Tao lui cui soạn đồ, rồi lầm lũi lái
xe ra đi, mà chẳng biết tìm đến chốn nào. Trên đường
lang thang tìm một khách sạn hẻo lánh mong thực hiện êm thấm
ý nghĩ quyên sinh đang lởn vởn trong đầu, tao ngừng lại
đổ xăng tại đây. Cây xăng treo bảng cần người, tao vừa
điền đơn thì may mắn được ngay người quản lý Việt Nam
phỏng vấn. Hiểu rõ hoàn cảnh khó khăn của tao, ông chấp
nhận cho làm việc, mà còn hướng dẫn, bảo lãnh để giúp
tao thuê được chung cư nầy. Lụi hụi mà tao sống ở đây
gần hai năm rồi mầy à !
- Còn
phần con mầy thì như thế nào ?
- Ơ
! nó đối với tao cũng lợt lạt lắm ! làm tao buồn vô cùng.
Mầy dư biết là tao thương con vô ngần, nên ra đi tao nhớ
thương khổ sở vì con, chớ phần bả thì tao kể như mình
thua cuộc, chẳng dám tơ tưởng gì nữa, nên chẳng còn bận
tâm.
- Mầy
nổi tiếng là thương con, bị bạn bè chọc quê là "ông vú
em", làm sao quên được ! Ngày nó mới ra đời mầy đã nâng
niu bồng ẵm, tranh dành phần việc với vợ để ngủ với
con, lo sữa, lo thay tả cho con…, rồi mầy cũng đích thân
dạy con ê a từng chữ i, tờ…, nắn nót dạy nó tô từng
nét chữ, chớ không để một ai thay thế cả. Có lần về
phép, tao tìm gặp mầy tại bệnh viện Sùng Chính, mặt mũi
mầy bơ phờ, vì mấy đêm liền thức trắng để canh giữ
con bé trong cơn bệnh sốt xuất huyết. Tao thấy mầy đã bù
đầu với công việc tại sở mà lại còn bận rộn quá đáng
với con, nên cằn nhằn và chê mầy là đàn bà, mà mầy vẫn
cười hề hề không giận !
- Giờ
thì tao vẫn thương con như vậy đó, nhưng nó nào có nhìn
nhõi gì đến tao ! Tao cho nó địa chỉ, dặn dò nó, khi có
thơ từ hay giấy tờ gì quan trọng thì mang đến dùm tao, để
hi vọng cha con gặp mặt. Nó đến hai lần, một lần tao vắng
nhà, lần khác, nó đi với thằng bồ của nó, nó ngồi ngoài
xe, thằng đó mang thơ cho tao, rồi đi ngay. Tao khoác áo chạy
ra, thì chiếc xe đã từ từ lăn bánh, tao không có cơ hội
nói với nó nửa lời. Nó đâu biết rằng, có những đêm
nhớ con trằn trọc thức trắng, chờ trời sáng tao lái xe
một mạch đến gần nhà nó, đậu xe chỗ khuất, núp nhìn
nó ơ hờ lái xe đi làm buổi sáng, mà đau lòng xót dạ. Đời
tao tàn tạ kể như bỏ rồi, tao chỉ còn có ước mơ là nắm
được tay con thổ lộ được chút lời thương yêu nhung nhớ
mà thôi !
- Hoàng
! sao mầy không chịu gọi điện thoại nói thẳng với nó
là mầy thương, mầy nhớ nó…
- Không
được đâu Năm ! bây giờ mình là kẻ thất thời, nghèo hèn,
mình chẳng ra gì… mà mở miệng kể lể nhớ thương, thì
biết đâu nó lại nghĩ mình muốn nhờ vả chớ không thật
lòng ! Nói thương đã khó mà dạy dỗ lại càng khó hơn !
Con gái tao và thằng bạn trai chưa hứa hôn chánh thức mà
tự do quá trớn tao đâu có hài lòng nhưng nào dám hở môi.
Thằng bạn đó hời hợt, không biết chiều chuộng con gái
tao, tao sốt ruột muốn khuyên nó một điều mà cũng đành
câm nín ! Mình nói năng lạng quạng, rủi nó khệnh cho một
câu: "Xin can đi ông già ! thân ông tự lo còn chưa xong, bày
đặt lộn xộn dạy biểu người khác mà chi !", thì có nước
độn thổ!
Nghe
bạn kể chuyện mà anh cũng đau lòng như cắt ruột rồi, huống
chi là nó. Anh thầm nguyện tìm cách gặp cháu gái, kể lể
hết nỗi niềm thương yêu của cha nó, để may ra cháu gái
hiểu biết, thương yêu cha một chút nào chăng ? Thế rồi,
để tránh lẩn quẩn với những chuyện buồn thảm về gia
đình Hoàng, anh dò la công việc làm ăn của nó:
- A
! Hoàng ạ ! ngoài nghề nầy ra, mầy có thử tìm nghề nào
khác thay đổi không vậy ?
- Ơ
! hồi mới qua, tao vác đơn đi xin việc mấy tháng trời !
nơi nào họ cũng từ chối hết. Xin việc hành chánh cao thì
ai mướn mình, việc thấp thì bị phê là "over qualified", còn
các loại thợ dễ làm thì bị chê là "thiếu kinh nghiệm".
Tao nản quá, muốn đi học nghề chuyên môn, mà dính với cây
xăng nầy mười giờ mỗi ngày, làm sao đi học nỗi ! Mầy
có ý kiến gì giúp tao không Năm ?
- Mầy
đã có vốn trí thức cao, nói năng tiếng người trôi chảy,
thì có thể tìm một số nghề tương đối khá ngay được
như: địa ốc, bảo hiểm, văn phòng dịch vụ, cán sự xã
hội và nhân viên bưu điện. Ba ngành nghề đầu không mấy
hợp với mầy, cán sự xã hội và bưu điện thì phải qua
kỳ thi tuyển, nhưng học hành thi cử là nghề ruột của mầy,
tao nghĩ nếu mầy quyết tâm, thì sẽ thành công !
- Ông
quản lý cây xăng cũng khuyên tao nên xin thi cán sự xã hội,
nhưng tao đâu biết chương trình thi cử như thế nào mà thử
thời vận ? Có mấy thằng bạn Quốc Gia Hành Chánh cũ cũng
làm nghề nầy, nhưng tao xấu hổ chuyện gia đình đâu dám
liên lạc với ai để hỏi han !
- Được
rồi ! tao sẽ bỏ ra hai ngày tìm gặp bạn bè, thu thập hết
mọi dữ kiện về hai ngành nầy, phần mầy làm ơn nạp đơn,
chui vào thư viện lục lọi tài liệu nghiên cứu, rồi đi
thi dùm tao ! Mầy hứa đi !
- Hì
! hì ! không bắt tao liên lạc với ai thì tao chịu quá rồi
! học hành thi cử thì tao đâu có ngán !
Thế
rồi anh liên lạc bạn bè hỏi thăm mọi việc cần thiết
cho nó. Thời may, đúng lúc đó lại có kỳ thi tổ chức hai
tháng sau, nó nạp đơn vừa kịp. Hôm anh đi Cali dự tang ma
thằng Thịnh, thì nó đã báo tin thi đỗ hạng nhì. Đau một
điều, là dân thiểu số gốc Á Châu bon chen làm cán sự quá
đông, tỉ lệ đã cao không còn nhu cầu nữa, họ chỉ thiếu
tỷ lệ người gốc Phi Châu và Mễ, nên mấy người đậu
thấp, được tuyển còn nó vẫn còn ngồi chơi chờ thời
mới ứa gan chứ !".
- Tội
nghiệp anh Hoàng quá ! chuyện gì của ảnh sao nó cứ trục
trặc hoài ! Năm nghe chuyện người mà cũng cảm động rưng
rưng nước mắt. Trầm ngâm một chút, thím lại hỏi tiếp:
- Còn
vụ gia đình ảnh, thì có tiến bộ gì không anh ?
- Tiến
bộ khỉ móc ! thấy nó nhắc nhở vợ con thiểu não quá, khi
từ giả anh mới khuyên:
- "Ở
xứ nầy, già mà cô đơn khổ lắm Hoàng à ! Con cái ở xa,
xóm giềng lạnh nhạt, người ta chỉ lẩn quẩn trong nhà với
nhau, nên người xứ nầy già khù mà vẫn còn xum xoe lấy vợ
lấy chồng ! Họ kết hôn để có bạn tâm tình, đỡ đần
nhau chớ chưa hẳn là vì tình dục. Bởi vậy tao đề nghị
mầy, một là về hòa giải với bả, hai là dứt khoát, rồi
kiếm bà xồn xồn nào ráp mối mà an ủi tuổi già…
- Không
được đâu mầy ! làm như vậy thì hóa ra tao tạo cái cớ
cho bả ruồng rẫy tao sao ?
- Có
lý do hay không lý do thì ăn thua gì ? Người miền Bắc ta có
câu ca dao thấm thía lắm:
Củi
khô tôi vất xó vườn
Ai
mà hỏi đến ? "trầm hương của bà".
Bả
chê mầy củi khô vứt đi, nhưng mà có ai xâm xoi, thì bả
lại thấy quí giá như trầm hương, rồi rước mầy về không
biết chừng !
- Không
! tao biết không được đâu mà ! tao nhát gái từ nhỏ, đâu
dám tìm ai tán tỉnh. Mà thật ra, thì tao vẫn thương bả,
tao đâu có thể tơ tưởng ai nữa được !
Chú
Năm kết thúc câu chuyện bằng lời càm ràm:
- Thằng
lờ khờ làm sao á ! Vợ nó tệ như vậy mà còn khư khư tình
nghĩa !…
Vụ
gì thì thím Năm hoàn toàn đồng ý với chồng, nhưng vụ xúi
bậy nầy thì thím bất mãn nặng. Nói cái kiểu nầy, có nghĩa
là nếu rủi ro thím có lỗi gì là chú sẽ thẳng thừng dứt
khoát liền sao ? Thím phiền phiền hỏi móc chồng:
- Chà
! gặp tay ông, lơ mơ là ông đá đít kiếm con khác liền phải
không ?
Chú
Năm kẹt cứng dùng dằng không trả lời; chú cười hề hề
cho "qua truông", rồi chợt nảy ý ngoắt ngoéo hỏi lại vợ:
- Còn
bà thì sao ? tui lỡ bị kẹt ở lại, thân tàn ma dại đi đoàn
tụ theo bà, bà liệu có đối xử với tui khá hơn bà Mai không
?
Chú
Năm đã biết chắc trăm phần câu trả lời, dù vậy, chú
cũng lắng nghe câu nói xuất phát từ miệng vợ cho mát ruột
mát gan chú. Ngờ đâu, mấy giây xốn xang chờ đợi mà thím
vẫn êm ru, khiến chú giật mình nhìn kỹ lại, thấy vợ đang
chìm đắm trong trạng thái suy tư kỳ lạ. "Cái gì lạ vậy
! bả lặng yên tức bả cũng đồng hạng "cá mè một lứa"
như vợ thằng Hoàng rồi !", chú thầm nhủ. Chú vốn chủ
trương tùy thuận trả nợ oan gia, cởi bỏ ràng buộc để
sẵn sàng thênh thang nhẹ bước… mà đến lúc nghi ngờ oan
gia lợt lạt tình nghĩa thì niềm thất vọng chán chường
bỗng dưng tràn ngập. Nhìn cái bản mặt thấy ghét của vợ,
chú nổi nóng lên, thiếu điều muốn nện nguyên bàn tay trên
má thím mới đã giận. Chú bắt chợt niệm "ác" vừa khởi,
vội nhớ lời dạy của chư tổ "thấy vọng đừng theo", nên
ngưng lại tủm tỉm cười. Chú nghĩ, cuộc đời này, kể
cả gia đình đều chỉ do nhân duyên hòa hợp mà cảm thấy
hiện hữu, nên là một thứ giả rồi. Trong môi trường giả
đó, mình lại đưa ra cái giả thuyết để rồi tưởng tượng
nghi ngờ, cho hờn giận, buồn phiền sanh khởi, quả là làm
chuyện vô lý như khoác chiếc áo lông rùa, rồi lại tự cấm
cho mình cặp sừng thỏ (2). Chú bỗng liên tưởng
đến chiếc áo nặng bảy cân của tổ Triệu Châu (3)
rồi thầm nhủ: "Cái áo - áo nghiệp - của mình, có lẽ phải
nặng đến ngàn cân. Mình tự hào biết bản chất nghiệp
vốn là không, vậy mà cái áo nghiệp đó đôi khi đã đè
mình nặng trìu trĩu đến ngộp thở, không dảy dụa không
nhúc nhích gì nỗi. Ôi ! mình học đòi buông bỏ, nguyện buông
hết lợi danh, thương yêu, ganh ghét…, vậy mà mới nghi mụ
vợ lợt lạt, thì ruột gan đã rối rấm tơi bời, thật là
quá tệ!",
Luồng
tư tưởng của chú bỗng bị cắt ngang, khi thím chợt tình
tứ nắm tay chú thỏ thẻ:
- Nè
anh à ! em sẽ trình bày ý kiến của em một cách thành thật,
mà em giao trước là anh không được giận đó nghen !
Lần
nầy, đã chuẩn bị tinh thần kỹ lắm rồi, nhưng nghe mấy
chữ "ý kiến thành thật", chú cũng giật mình thóp ruột gan
một chút. Chú cười lỏn lẻn đáp:
- Ơ
! Anh hứng chí hỏi chơi, chừng nghĩ lại anh thấy bỗng dưng
sao mình lại xía vào chuyện thị phi của người, rồi lại
còn tiếp tục bày vẽ thêm chuyện để xà quần với nó nữa
! Đã bậy lại càng thêm bậy ! Thôi mình bỏ qua chuyện đó
đi em ! Thím vùng vằng:
- Em
hổng chịu đâu ! ai biểu anh hỏi chi ! Anh hỏi thì em phải
có ý kiến chứ!
Thế
rồi, thím đổi giọng thật nghiêm trang tiếp lời:
- Từ
lâu, khi biết vụ anh Hoàng vừa mới đoàn tụ đã buồn tình
xách gói ra đi, em liền có ngay phán quyết trong đầu về chị
Mai. Em cũng hùa với mọi người, gán cho chị ấy những chữ
phụ bạc, quá quắt, vô hậu…, và dĩ nhiên, em hời hợt
tự tin rằng dẫu cho bao nhiêu năm cách biệt em vẫn chung tình
trọn nghĩa với chồng… Thế nhưng, hồi nãy khi anh chánh
thức hỏi em, để trả lời chín chắn em bèn đặt mình vào
hoàn cảnh của chị Mai, rồi bỗng khám phá rằng vấn đề
trở nên phức tạp khác thường. Mười năm xa cách, hai tâm
hồn hòa hợp năm xưa đâu còn nữa. Đời sống hai nơi quá
khác biệt, đã xô đẩy tâm tính hai người biến đổi theo
chiều hướng trái nghịch nhau: từ quan niệm sống, lề lối
suy tư, nếp sống tâm linh, đến những cử chỉ vụn vặt
tầm thường trong việc ăn uống ngủ nghỉ nữa. Ai cũng thấy
người kia thay đổi trọn vẹn, và cũng đồng thất vọng
trong lòng. Hai đứa mình cũng thay đổi từng giây từng phút,
nhưng sống bên nhau, thay đổi từ từ và cùng chiều khiến
mình không thấy được. Em thương yêu anh, đinh ninh như yêu
đích thực con người năm xưa, chớ thật ra thì anh bây giờ
khác hẳn ngày xưa nhiều lắm. Giả thử mình xa nhau mười
năm, thì hình ảnh của anh trong tâm em, vẫn là người thanh
niên trẻ hào hoa, lanh lợi, ngang tàng thuở trước. Nếu anh
thay đổi như con người hiện tại em cũng còn thất vọng,
huống chi, anh lại sống trong hoàn cảnh khốn cùng, bất an…
trong nước, cả con người bị hủy hoại, anh già nua lụm
cụm trước tuổi, anh đờ đẫn lo lắng bâng quơ, rồi anh
lại câm nín trong mặc cảm triền miên… thì chắc lòng em
tan nát lắm, sống với nhau có lẽ chỉ là gượng gạo, đóng
kịch để khỏi mang tiếng là kẻ bạc tình bạc nghĩa mà
thôi !
- Khâm
phục ! bà xã tui cao hứng phân tách nghe được quá !
- Cuộc
sống bên nhau lợn cợn đâu phải lỗi riêng của một người
! đáng lẽ vợ chồng phải lắng lòng tìm hiểu nhau để xóa
mờ khác biệt, nhưng điều éo le, là cả hai chỉ muốn nói
và chẳng ai chịu nghe. Người chồng chỉ thích nhắc tới
nhắc lui dĩ vãng vàng son và thời ngục tù hào hùng… điều
đó vợ lại nhàm chán. Vợ mải mê nhắc đến thành công
trong nếp sống hiện tại, khả năng thích ứng với xã hội
tây phương của mình, thì chồng mặc cảm lơ là…
- Khó
thật ! khó thật ! hoàn cảnh của thằng Hoàng rất đáng thương,
nhưng qui hết lỗi về chị Mai cũng tội cho chị ấy ! Có
lẽ chị cũng bị dày dò, cũng mang nỗi khổ tâm khó ngỏ
cùng ai, phải không em ?
- Đúng
vậy ! phải ở trong hoàn cảnh của chị ấy, thì mới hiểu
rõ con người thực của mình như thế nào ? Biết đâu mình
còn tệ bạc hơn chị ấy thì sao ? Bởi vậy, nghĩ đến những
lời mình lên án chị ấy ngày xưa, em thấy cũng hơi hổ thẹn.
- Thì
chính anh cũng vậy, anh không đến nỗi dùng chữ nặng nề,
nhưng lòng anh cũng mấy phần khinh khi chị ấy. Kể ra, nghĩ
xấu cho chị Mai là điều không phải. Anh đề nghị, Tết
này mình đi Cali chơi, thăm chị Mai để tỏ tình thân thiện,
một cách xin lỗi ngầm chị ấy vậy ! Nhân dịp, anh cũng
muốn có cơ hội để gợi ý cho cháu gái về thăm thằng Hoàng
nữa.
Chuông
điện thoại reo vang, ngắt ngang câu chuyện hai vợ chồng.
Chú Năm bắt điện thoại, mừng rỡ reo vang:
- Hoàng
hả ? có gì vui không ?
- Tao
đã đi làm cán sự xã hội một tuần rồi ! May mắn là có
người cán sự gốc Tàu nghỉ việc nên họ tuyển tạo trám
chỗ hắn. Đáng lẽ tao liên lạc cho mầy ngay, nhưng tánh tao
cẩn thận quen rồi, chờ chắc chắn không gì trục trặc mới
gọi mầy !
- Vui
quá là vui ! mầy qua sau mà ngon lành hơn tao rồi nhé ! Chà
! làm "thầy", có văn phòng riêng, điện thoại riêng ! sang
nhỉ !
- Hì
! hì !
- Ê
! có việc thơm rồi, từ nay tao có quyền chỉ trích, chưởi
bới mầy, mầy không được giận đó nghen !
- Tầm
bậy ! mình là bạn nối khố ! đời nào tao giận mầy !
- Không
giận thì tao nói điều nầy. Lúc mầy thất thời, mầy mặc
cảm quá sức ! mầy tự làm khổ mầy mà mầy cũng làm khổ
lây người khác nữa Hoàng ạ !
- Có
lẽ đúng đôi phần !
- Tết
nầy vợ chồng tao dự định đi Cali chơi. Tụi tao ráng cố
gắng móc nối mời chị dùng cơm, rồi dàn cảnh cho mầy gặp
mặt. Mầy nghĩ sao ?
- Ơ
! ơ…
- Bây
giờ, dù sao mầy cũng tự tin mầy có "dĩa bánh ích" rồi,
mầy bớt mặc cảm, vả lại sống bên nầy một thời gian
nên khác biệt giảm dần, tao nghĩ mầy sẽ cởi mở, sẽ thông
cảm với bà xã mầy hơn ngày trước…
- Ừa
! mầy muốn hòa giải thì cứ thử làm ! phần tao, tao sẽ
tỏ thiện chí nhưng tao nghi khó ai có thể lay chuyển bả nỗi
!
Chú
Năm hàn huyên với bạn hào hứng, từ chuyện nầy sang chuyện
khác, đến khi buông điện thoại xuống, mà niềm sung sướng
về tin vui của bạn vẫn còn đầy ấp trong lòng.
Thím
Năm tuy chỉ nghe phần chồng đối đáp cũng hiểu gần hết
nội dung câu chuyện, dù vậy thím vẫn nôn nóng, chỉ chờ
chồng gác máy điện thoại, để xum xoe đòi chồng kể rõ
từng chi tiết cho thỏa mãn tính tò mò muôn thuở của đàn
bà. Thím reo vang:
- Anh
ơi ! anh !
Nguồn
cảm hứng tràn dâng bỗng bị vợ phá rối, chú bực bội
nhăn nhó hỏi:
- Cái
gì nữa vậy bà !
Thím
thấy chồng đổ quạu "ngang xương" thì cũng giận dỗi:
- Không
có gì hết !
Chú
Năm mỉm cười. Chú cười mụ vợ nhiều chuyện và cũng tự
cười mình đã hơ hỏng để tâm buông lung chạy theo chuyện
đâu đâu, quên mất giây phút hiện tại, đến nỗi niệm
sân lâm le sanh khởi. Chú trầm tĩnh lại, thở vào một hơi
dài, ý thức mình đang thở và ý thức giây phút hiện hữu
tuyệt vời của sự sống. Chú đâu có "hưỡn" (4) mà
bận tâm chi chuyện phiền não xa xôi đó nữa. "Bây giờ và
ở đây", cả thế gian nầy chỉ còn hiển hiện ra mình thím
đang phụng phịu khó ưa ở trước mặt. Chú giả lả vỗ
về:
- Ối
chà ! cây xương rồng yêu quí của anh lại nổi gai rồi !
Ơ sao lạ quá ! khi trổ bông đã đẹp, mà lúc nổi gai thì
cũng dễ thương quá chừng chừng hà !
Tháng
10.1993
Ghi
chú:
1.
Câu chuyện niệm Quán Âm nầy là chuyện thật 100%, do người
bạn tín nhiệm chứng nghiệm kế. Tác giả ghi lại diễn tiến
nội vụ, kể cả những cảm nghĩ trung thực của người trong
cuộc và cho vào chuyện ngắn nầy. Bạn đọc có thể tin trường
hợp nầy là sự kiện nhiệm mầu hay coi đây chỉ là một
sự trùng hợp vô tình. Điều duy nhất mà tác giả có thể
đoan chắc với quý vị là vụ thoát nạn nầy là một câu
chuyện có thật.
2.
Lông rùa và sừng thỏ là một thuật ngữ Phật giáo dùng
để chỉ chuyện vô lý, không thực có.
3.
Một ông tăng hỏi Triệu Châu: "Kinh nói muôn vật trở về
cái một, vậy cái một trở về gì ?". Tổ đáp: "Khi tôi ở
Thanh Châu có may cái áo nặng bảy cân". (trích Thiền Luận,
bộ thượng, bản dịch Trúc Thiên, trang 463).
Tác
giả xin góp lời bàn tầm ruồng như sau: áo nặng đến bảy
cân, có lẽ là loại áo lông đặc biệt, dệt bằng lông rùa.
Áo nghiệp cũng dệt bằng lông rùa, do mỗi người tự tạo
vật liệu, tự may, tự trồng vào. Tổ sư là bậc "Tùy duyên
tiêu cựu nghiệp. Nhậm vận trước xiêm y", mà khi xả thân
độ đời, khoác áo nghiệp vào, trong tự tại vẫn cảm giác
áo lông rùa trĩu nặng đến bảy cân. Kẻ phàm phu, dẫu có
huênh hoang hý luận nghiệp bản chất không, nhưng chiếc áo
lông rùa nầy chắc hẳn nặng cả ngàn cân, đè bẹp hành
giả, không vùng vẫy gì được, là chuyện bình thường !
4.
hưỡn: rảnh rang, nhàn nhã.