Tiếng
ho của người bạn nằm cạnh khiến thiếu úy Sơn Điền tỉnh
dậy. Anh chàng đang phiêu lưu trong giấc mộng êm đềm với
tình nhân Kim Sa bỗng giựt mình ngẩn ngơ trước thực tế
phũ phàng. Trọn đêm qua, người lính chiến, đã đưa đồng
đội ra giữa cánh đồng, lặng lẽ nằm phục kích, để rồi
gần sáng mới có thể dật dờ chợp mắt ngay trên bờ ruộng.
Mặt trời đỏ rực vừa hé dạng, tỏa ánh nắng êm dịu
sưởi ấm cảnh vật, còn ướt đẫm sương đêm. Không khí
tươi mát, hăng hăng mùi rơm rạ mục, mùi đất mới cày,
và đây đó, tiếng chim ríu rít trong đám tràm hòa lẫn với
tiếng dế gáy dòn tan reo rắt. Tiếng dế nhắc nhở Điền
hồi tưởng lại thời ấu thơ vui nhộn, thường lang thang
ra đồng, vạch từ luống đất cày, xăm xoi từng lỗ nẻ,
để tìm bắt dế chọi, đem về giao đấu với chúng bạn.
Nghe tiếng dế gáy, Điền có thể phân biệt được âm thanh
thấp lè tè và ngờ nghệch của đám dế mọi khù khờ vô
dụng, âm thanh thô đục của thứ dế cơm to xác, chỉ hấp
dẫn khẩu vị với tiết mục dồn đậu phọng lăn bột chiên
dòn, và tiếng gáy dòn tan của những chàng dế lửa, dế than
hào hùng. May mắn bắt được một chú dế "chì chội", chiến
đấu lỳ lợm hạ nhiều địch thủ, Điền cưng quí như báu
vật, ra công hái đọt cỏ non, hứng sương ban thưởng. Dế
hèn nhát, Điền xử dụng phương pháp "nặng" trừng trị :
nhét dế ăn tí thuốc rê cho say hay cột tóc vào chân dế quây
"mòng mòng" cho chóng mặt, để kết cuộc rồi, chúng sẽ nổi
cơn điên cuồng lăn xả vào cắn xé nhau chí chóe. Một chút
hối hận len về, Điền chép miệng : "Tội chúng quá !". Thương
phận dế, Điền liên tưởng đến thân phận người dân lành
nước nhược tiểu. Chàng chán chường tự hỏi, dân mình
đã được đàn anh quây mòng mòng hay nhét cho ăn thứ bã chủ
nghĩa hung tợn nào, để bôi mặt cuồng quay hận thù, bắn
giết nhau đây. Hào khí của người lính chiến chợt tan biến,
chàng rùng mình uể oải bước đến bờ ao, khỏa nước rửa
mặt. Làn sóng nhấp nhô lay động đám lá ấu non mơn mởn,
thật dễ thương. Loại giây hoang mọc trên nước nầy cung
cấp thứ củ đen đúa vùi sâu dước lớp bùn, vị bùi bùi
như hột mít, một thức ăn chơi đồng quê rẻ tiền. Trái
ấu hình dáng tương tợ như đầu trâu cui với cặp sừng
cong cong nhọn hoắt, sần sùi xấu xí, chẳng có nét nào tròn
trịa cả, thế nhưng dân quê miền Nam lại có câu hát ru con
:
"Thương
nhau trái ấu cũng tròn !
Ghét
nhau, trái bồ hòn cũng méo !".
Điền
tủm tỉm cười. Câu ca dao dễ thương, mộc mạc mà ý vị
thâm trầm, đã phản ảnh trung thực tâm trạng của kẻ đang
lặn ngụp trong hương vị tình yêu tuyệt vời như chàng. Mang
cặp kính tình yêu mầu nhiệm dầy cợm vào thì ma lem cũng
biến thành tiên nữ, hung tợn cũng đổi thành hiền thục,
thì dĩ nhiê⮠chua cay, đắng chát gì cũng có thể là mật
ngọt. Thật vậy, với chàng thì người tình Kim Sa bao giờ
cũng "tròn vo", cũng tuyệt vời, dù đó là lúc nàng nhu mì
tươi vui, hay khi nàng cong cớn, giận dỗi, cay chua… Điền
làm sao mà quên được vẻ mặt cau có và giọng gắt gỏng
của người đẹp đã dành cho chàng trong buổi đầu tiên gặp
gỡ vào ngày lễ chôlchnam (1) vừa qua. Như thường lệ, hàng
năm dù bận thế nào, Điền cũng cố gắng tìm về ngôi chùa
Miên, để tham dự lễ Tết, tức chôlchnam, theo phong tục cổ
truyền được tổ chức vào mùa trăng khoảng tháng tư dương
lịch. Vì bận hành quân liên tiếp, mãi đến ngày thứ ba
lễ Tết, gần bốn giờ chiều Điền mới "dù" về đến chùa
Wat Ông, xã Lương Hòa, Vĩnh Bình với bộ đồ tác chiến còn
bê bết sình lầy nơi trận mạc. Bấy giờ, đồng bào đang
quây quần làm lễ tắm cho chư tăng, dưới bóng cây xoài to.
Thiện tín lần lượt long trọng múc nước thơm xối ướt
thân thể chư tu sĩ, cử chỉ thành kính như thầm nguyện sẽ
tận lực hộ trì cúng dường tam bảo, hầu tạo đủ cơ duyên
cho chư sư "gột rửa thân tâm" thanh tịnh. Điền hấp tấp
đến lu nước thơm múc nước, rồi bước nhanh về hướng
vị sãi cả. Nền đất sét ẩm ướt trơn trợt, mà Điền
lại vội vã vô ý, nên bị chới với ngã nhào, vô tình gáo
nước tắm sư tạt thẳng vào mặt cô gái đang lù lù bước
tới. Cô gái mím môi, trợn trừng mắt nhìn Điền, khiến
cho anh chàng quân nhân ngang tàn bướng bỉnh, bỗng sợ điếng
người, luống cuống xin lỗi, mà chẳng phát nên lời. Cũng
may, cô nàng có lẽ chợt nhớ là đang tham dự một lễ nghi
tôn giáo, nên chỉ "nguýt" một cái dài "thòng", rồi ngoe nguẩy
bỏ đi một nước. Ôi ! cái "háy nguýt" sắc bén như mũi gươm
báu cắm phập vào quả tim nồng nàn khao khát yêu đương của
Điền, khiến chàng đê mê, ngờ nghệch như kẻ mất hồn.
Điền lặng lẽ theo sau người đẹp, giữ khoảng cách khá
xa để khỏi bị nghi ngờ. Chợt thấy Trung sĩ Kim Hên, người
đàn em trong đơn vị đang ba hoa với một cô gái phía trước,
Điền sợ bị lôi kéo mất dấu người đẹp, nên vội lẫn
vào đám đông để tránh mặt. Ngờ đâu, Kim Hên vừa thấy
nàng đã rối rít gọi vang :
- Chị
Sa ! Chị Sa ! Chị biến đâu mất nảy giờ vậy !
- Cô
cậu ở bên nhau thì còn thấy biết ai nữa ! Chị vừa tham
dự lễ tắm sư, rồi đi quanh chờ đến giờ nghe thuyết pháp
!
"May
thật là may !", Điền thầm nhủ. Rồi chàng lửng thửng bước
tới, giả vờ như kẻ vô tình, ngây thơ ngờ nghệch. Kim Hên
lại reo vang :
- Thiếu
úy ! Thiếu úy !
Đoạn
Kim Hên lăn xăn nắm tay Điền kéo lại, xum xoe giới thiệu
:
Chị
Kim Sa, chị nhà Bác và cô Lọp, giáo viên…, Và đây là thiếu
úy Sơn Điền.
Xoay
qua Kim Sa, Kim Hên nhỏ giọng nhưng âm thanh cũng vừa cho mọi
người cùng nghe : "Người hùng đơn vị mà em thường kể
chị nghe đó !".
Điền
đỏ mặt, sung sướng lên tiếng :
Nghe
Kim Hên ca tụng người chị xinh đẹp mãi…, giờ đây…
Giờ
gặp mặt rồi, chắc người hùng hối tiếc phải không ? Người
đẹp nhanh nhẩu cướp lời.
Ơ…,
ơ, hối tiếc lắm chớ ! Tiếc phận mình kém may mắn, nên
mãi đến giờ nầy mới có duyên gặp gỡ !
Kẻ
tung người hứng, tán tụng đẩy đưa, đôi thanh niên nam nữ
cùng trang lứa càng hàn huyên đối đáp càng dòn dã thân mật.
Tiếng
loa thông báo thời pháp của sư Thạch Phen sắp bắt đầu.
Kim Sa xăn xái chọn một chỗ gần, tề chỉnh ngồi chè he,
nhu mì chăm chú lắng nghe. Điền bám sát bên cạnh, cũng giả
vờ nghe, nhưng bao nhiêu tình ý dồn về nàng. Sư Thạch Phen
vốn hoạt bát, kể chuyện linh động, dù điều khó khăn khúc
mắc cũng biến thành giản dị, rõ ràng, nên tuy mang tâ⭠giải
đãi mà Điền vẫn theo dõi được mẫu chuyện đạo (2) :
"-
Vua Assaka trị vì một vương quốc thuộc miền Nam Thiên Trúc,
vào khoảng hai trăm năm sau khi Phật nhập diệt, là vị minh
quân, giao hảo hòa bình với lân bang, lại hết lòng thương
yêu chăm sóc thần dân, nhờ vậy đất nước ngày càng thanh
bình thịnh trị. Một hôm, vua giả trang thành kẻ thương gia
tầm thường, lẫn lộn tham dự các trò vui Xuân tại ngôi
chùa vùng ngoại ô, để tìm hiểu dân tình. Trong khi vua đang
xối nước tắm chư tăng, thình lình có cô gái chen lấn bước
vào rồi bị trợt chân té, tạt nguyên thùng nước vào người
nhà vua. Cô gái vừa hoảng hốt vừa thẹn thùng, lí nhí xin
lỗi. Vua bàng hoàng nhìn cô gái, rồi bị ngay tiếng sét ái
tình, mê man nhan sắc tuyệt vời và giọng nói êm dịu thanh
tao của nàng…".
Nghe
chuyện người xưa mà như nghe được niềm tâm sự thầm kín
của mình, Điền xúc cảm len lén nhìn người đẹp, và bất
ngờ bắt gặp nàng cũng vừa trộm nhìn chàng. Mắt nàng chớp
chớp như vô tình, mà gò má đỏ bừng vô cùng xinh xắn. Điền
sung sướng tiếp tục lắng nghe mẫu chuyện đạo, càng lúc
càng hứng thú.
"Nhà
vua tức thời tuyển người đẹp, nàng Ubbari, vào cung rồi
tấn phong hoàng hậu. Vua đặc biệt sùng ái nàng, không ngó
ngàng gì đến cung tần mỹ nữ ngày trước, và cũng lơ là
cả việc triều chính nữa. Đối với vua, thì đất nước
thần dân đều vô nghĩa, vì tất cả tâm tư của người bây
giờ hoàn toàn dành cho hoàng hậu và chỉ vì hoàng hậu mà
thôi. Hoàng hậu quấn quít bên vua, vòi vĩnh đủ điều, và
dĩ nhiên, luôn luôn được vua cưng chiều, ngay cả trường
hợp vì hoàng hậu, vua đã đưa ra những quyết định gây
khổ đau cho người khác, một việc mà trước kia vua vẫn
tránh.
Mối
tình vương giả đang mặn nồng, bỗng nhiên hoàng hậu Ubbari
lâm bệnh, rồi đột ngột từ trần. Vua Assaka đau khổ tột
cùng. Người kêu gào thảm khốc, lên tiếng trách Trời, trách
Phật ác độc, và cũng lên án bọn y sĩ bất tài bất lực.
Rồi vua lại điên rồ, không chịu tin rằng hoàng hậu thực
sự chết. Người hạ lệnh tẩm hương hoa xác vợ, tiếp tục
đặt nằm cạnh bên long sàn, để tìm phương cứu chữa. Vua
hạ lệnh giới tu sĩ phải tụng niệm khẩn cầu Trời Phật
cho hoàng hậu sống dậy; mặt khác truyền lệnh cho đòi các
bậc lương y đại tài khắp nước về hoàng cung trị bệnh
hoàng hậu, hứa chia nửa giang san cho bất cứ ai cứu được
nàng. Tuy nhiên, sau mấy ngày chờ đợi vô vọng, vua thịnh
nộ kỳ hạn bọn họ phải chữa trị trong bảy ngày, nếu
bất lực thì tất cả sẽ bị hạ sát. Tai họa bỗng dưng
đổ lên đầu bọn y sĩ, khiến gia đình họ lo sợ cuống
cuồng, tiếng kêu thương rền vang cả nước. Giới tu sĩ cũng
bị họa lây. Vua trách cứ họ đạo hạnh thấp kém, nên đã
không đủ đức độ khẩn cầu "thần linh" buông tha mạng
sống hoàng hậu. Vua dọa sẽ bắt tất cả tu sĩ hoàn tục,
phá hủy chùa chiền đền miếu trong nước. Quyết định tàn
ác của nhà Vua loan truyền nhanh chóng khiến toàn dân xôn xao
thán oán, nguy cơ biến loạn trầm trọng có thể bùng nổ
bất cứ lúc nào. Các vị đại thần vội vàng hội hợp triều
kiến long nhan, khẩn trương báo cáo hiện tình đất nước,
đồng thời cũng lựa lời khuyên giải : "Tâu bệ hạ ! trên
đời nầy, hể có sanh thì phải có tử, từ xưa đến nay,
chưa ai thoát khỏi định luật vô thường đó. Bọn lương
y dù thực tài, cũng chỉ cứu chữa một số trường hợp
nào đó, chớ làm sao có thể giúp cho con người sống mãi
mãi hay cải tử hoàn sanh được ! Hoàng hậu đã chết rồi,
đó là sự thật không thể chối bỏ được. Vua có buồn
phiền, đau khổ thế nào cũng không cứu vãn nỗi. Chi bằng
vua chấp thuận cho chôn cất hoàng hậu rồi nghĩ đến việc
tuyển mỹ nữ khác vào cung mà vơi niềm cô độc…".
Càng
được khuyên giải, vua càng sanh tâm giận dữ, cương quyết
cho thi hành lệnh hành quyết y sĩ và phá hủy chùa chiền ngay
ngày hôm sau.
Bấy
giờ, có vị tổ sư pháp hiệu Bồ Đề Tát Đỏa đang ẩn
tu tại một hang đá sâu thẩm tại đỉnh Hi Mã Lạp Sơn, trong
khi tọa thiền nhập định chợt cảm ứng nỗi niềm oán than
của người dân mà rúng động toàn thân. Người vội xử
dụng thần thông xuất hiện trước cửa ngọ môn, công khai
tuyến bố có khả năng trị bệnh cho hoàng hậu. Vua đang nằm
rũ riệt trên long sàng chợt được thông báo tin vui, lồm
cồm bò dậy cuống quít phóng tìm vị tu sĩ già, lập bập
hỏi han :
- Thật
vậy sao ? Thật vậy sao ? Nhà ngươi ! Ơ Ngài ! Ngài có thể
chữa bệnh cho hoàng hậu… hậu… sống… lại phải không
?
Tổ
sư điềm đạm :
- Dạ
khải bẩm hoàng thượng ! đúng vậy ! Bần tăng có khả năng
cứu sống hoàng hậu, miễn là được hoàng thượng giúp cho
một việc !
- Việc
khó khăn tốn kém thế nào trẫm cũng sẵn sàng ! đánh đổi
cả giang san nầy cho hoàng hậu trẫm chẳng từ nan !
- Bẩm
hoàng thượng ! Hoàng hậu lìa đời trên bảy ngày, nên đã
đầu thai sang kiếp khác. Bần tăng chỉ có khả năng cứu
tỉnh hoàng hậu, nếu bà chấp nhận từ bỏ hiện kiếp để
trở về với nhà vua ! Còn trường hợp bà khăng khăng chọn
kiếp mới thì bần tăng đành bất lực !
- Hoàng
hậu yêu trẫm chí tình dĩ nhiên tâm tâm nguyện nguyện về
với trẫm, huống chi, địa vị hoàng hậu cao sang quyền quí
tột bực như thế nầy thì ai mà chả ham muốn !
- Dạ
! Nếu hoàng thượng tin tưởng như vậy thì bần tăng xin phép
đưa hoàng thượng đến gặp bà trong kiếp hiện tại để
thuyết phục bà vậy…
Thế
rồi, tổ sư Bồ Đề hướng dẫn nhà vua đến một xó vườn
cạnh khu chuồng ngựa, chỉ Vua xem hai con bọ hung đang lay hoay
trên đống phân ngựa, rồi lên tiếng :
- Hiện
kiếp của hoàng hậu là con bọ hung cái đang nhủi đầu trong
bãi phân dơ dáy đó !
- Câm
họng ngay tên già xấc láo ! Ngươi lớn gan lớn mật mới
dám dở trò trêu cợt hổn láo ta !
Vua
giận dữ hét sang, tay run run sờ đốc kiếm như muốn phân
thây nhà sư thành muôn mảnh mới hả dạ. Tuy vậy, nhìn phong
thái an nhiên tự tại của nhà sư, Vua bỗng phân vân nên chùng
tay lại.
- Khải
bẩm hoàng thượng ! hạ thần là kẻ tu hành quyết chẳng
dám nói lời đặt điều thêu dệt. Nguyên nhân là thuở sinh
thời, tuy hoàng hậu nhu mì ngoan ngoãn với Vua, nhưng lại đối
xử cực kỳ tàn ác thâm độc với thuộc hạ. Bọn thị nữ
cung nô luôn bị bà nhiếc mắng là hạng thúi tha hèn mọn.
Do đó, sau khi mạng chung, nghiệp lực xấu đã dẫn dắt bà
sanh sang kiếp côn trùng nầy !
Thấy
vua tiếp tục lắc đầu bất mãn, tổ sư thở dài rồi dẫn
dụ tiếp :
- Nếu
bệ hạ vẫn nghi ngờ, thì xin nắm chặt cánh tay nầy, để
bần tăng đưa bệ hạ đi xuyên qua nếp sống côn trùng, đích
thân tìm gặp hoàng hậu để hiểu rõ nguồn cơn…
- Nhà
Vua ngần ngừ rồi nắm tay vị sư già tiến bước. Vừa đến
giáp mí vũng nước đái ngựa, Vua bỗng rùng mình rồi chợt
thấy mình biến dạng thành một con bọ hung trọng tuổi mang
phong thái quyền quí của bậc vương gia. Vua cảm giác như
mình lạc vào chốn thần tiên mờ ảo, phong cảnh xinh tươi
hữu tình, hồ nước trong vắt thoảng hương ngào ngạt, khiến
Vua thích chí hít lấy hít để.
- Nầy
khanh, đây có phải "hương hải thủy" mà kinh sách xưa hằng
ca tụng chăng ?
- Thưa
bệ hạ ! nước nầy chính thực là "hương mã thủy", chỉ
thơm tho hấp dẫn với loại tỉ căn tương ưng nào đó mà
thôi ! Xin bệ hạ đừng quyến luyến chốn nầy ! Phải mau
tìm gặp hoàng hậu để thuyết phục bà trở lại trần thế
!
Tổ
sư và nhà Vua, trong thân mạng hai con bọ hung già, bì bõm lội
qua vùng nước thơm, rồi vất vả leo lên ngọn đồi đất
xốp bát ngát hương trầm quế. Sư kéo nhà Vua núp dưới gò
đất, chỉ hang động phía trước, khẽ nói :
- Bệ
hạ quan sát kỹ cặp vợ chồng trẻ kia. Người đàn bà chính
là hoàng hậu kiếp trước đó !
Dưới
nhãn quan của loài bọ hung, Vua mê mang ngắm nhìn thân hình
kiều diễm tuyệt trần hiển hiện trước mắt. Ôi ! nàng
quả thực chính là hoàng hậu Ubbari ngày trước, không thể
lầm lẫn được ! Ôi ! trớ trêu thay ! cái thân hình quyến
rủ nồng nàn đó giờ lại đang nằm trong vòng tay kẻ khác,
lời nói ân tình nũng nịu ngày xưa thủ thỉ bên tai Vua, giờ
cũng lập lại cho ai kia… Bao nhiêu yêu thương, hờn ghen bùng
nổ tràn ngập, khiến Vua dợm chồm dậy trừng trị bọn "gian
phu dâm phụ". Tổ sư ghị Vua lại, nho nhỏ khuyên giải :
- Tên
đó khỏe mạnh lắm ! xin bệ hạ ẩn nhẫn chờ hắn ngủ,
thì mới có thể tự do thuyết phục hoàng hậu được.
Nhớ
đến thân hình lực sĩ của tình địch, Vua cảm thấy "ớn
lạnh" xương sống, nên dù tức bực cũng đành nằm ẹp, tiếp
tục thấy nghe những điều trái tai, gai mắt.
- Mình
ơi ! em thề trọn đời yêu thương mình ! phục vụ cho mình
! mà mình có thương yêu em chút "xíu" nào không !, tiếng người
đẹp õng ẹo.
- Ơ
! thương lắm !
- Mình
buồn ngủ phải không ? để em gãi lưng và quạt cho mình ngủ
nhé !
Nhìn
cảnh người đẹp tận tụy chăm sóc, cưng chiều chồng mà
Vua đau lòng xót dạ. Cũng may, chẳng bao lâu, thì có tiếng
ngáy vang như sấm của tên đàn ông, khiến Vua mừng mừng
tủi tủi rón rén lên tiếng :
- Em
Ubbari ! em Ubbari !
- Nầy
lão già kia ! người lầm rồi ! Ở đây chẳng có ai tên đó
cả ! Hãy tránh ra xa, giữ yên tịnh để chồng ta ngủ !
- Ubbari
chính là tên nàng đó ! Nàng nguyên là vợ ta…
- Ê
! thằng già dịch ! Ngươi ăn nói bậy bạ, ta vặn họng ngươi
bây giờ ! Ta đẹp đẽ sang trọng như vầy mà ngươi dám mở
miệng nói ta là vợ của kẻ già khù, sói sọi, xấu xí như
ngươi sao ?
- Nàng
ơi ! Ta tạm mang thân nầy thôi, chớ thực ra ta là loài người
!
- Xí
! Loài người hả ! thứ quái vật xấu xa đó có gì quí giá
mà ngươi khoe khang !
- Ta
là Vua của loài người, cai trị một đất nước hùng mạnh,
phồn thịnh và sung túc. Nàng kiếp trước là vợ ta, là bực
mẫu nghi thiên hạ, quyền uy tột bực, được muôn người
hầu hạ… Ta thương yêu nàng khôn nguôi, nên tìm đến đây
đưa nàng trở lại kiếp người mà an dưỡng giàu sang phú
quí…
- Hứ
! Làm gì có xứ sở nào mà đẹp đẽ, thơm tho, sung sướng
hơn xứ sở nầy! Làm gì có người chồng nào đẹp trai, anh
hùng hơn người chồng nầy ! Dù người nói thật, thì ta cũng
chẳng thèm mơ mộng đến người nào khác, thế giới nào
khác nữa ! Thôi đi tên già dịch ! đừng có mong bịa chuyện
hoang đường để dụ dỗ gái tơ nữa ! Hãy tránh xa đi, nếu
cứ nói dang ca ta sẽ gọi chồng ta thức dậy trị tội ngươi
đó !
- Ubbari
ơi ! ta chính thực là chồng nàng ! chỉ có ta mới thực sự
yêu nàng chí tình tha thiết mà thôi !
- Ê
! cha già nầy điên khùng rồi ! ngươi mà lãi nhãi nữa thì
đừng trách ta sao ra tay ác độc đó nghe !
- Xin
nàng hãy tin tưởng ta ! theo ta trở về với loài người thì
sẽ hiểu rõ đâu là sự thật…
- Anh
ơi ! thức dậy mau lên ! có thằng cha già nầy nó cứ "thả
dê" em hoài nè ! Anh trị tội nó đi !
- Cha
già nầy tới số rồi ! tao quyết vặn cổ mầy ! mổ bụng
mầy !, tiếng tên đàn ông giận dữ hét vang.
Nhìn
vẻ mặt hung tợn, thân hình vạm vỡ của tình địch, Vua
đâm ra sợ hãi cuống cuồng nắm tay vị sư già chạy trối
chết. Trong vừa vượt khỏi vũng "hương mã thủy", thoát cái
Vua biến trở lại hình người, mình mẫy lấm lem sực nức
mùi phân và nước tiểu ngựa hôi hám, mà chẳng lưu tâm.
Vua vẫn kinh hoàng tiếp tục chạy một mạch về hậu cung,
rồi ngẩn ngơ nhìn xác chết đã hôi thúi của hoàng hậu,
buông tiếng thở dài.
- Như
thế đó, tâu bệ hạ ! người ta tạo tác bao nhiêu ác nghiệp
để cưng chiều xác thân nầy, nhưng cuối cùng thì có ai giữ
mãi được đâu ? Người ta phải liệng bỏ thân xác, và cả
tài sản, danh vọng, thân quyến… để tùy theo nghiệp lực
cuốn lôi mà trôi nổi trong lục đạo luân hồi…
Vua
sực tỉnh cơn mê, quỳ lạy cảm tạ nhà sư, thì chỉ còn
thấy bóng dáng của người lẫn khuất xa xa…
Sư
Thạch Phen chuẩn bị mẫu chuyện đạo chu đáo, hi vọng qua
câu chuyện Phật tử sẽ nhận chân được lẽ vô thường
mà cũng thấm nhuần lý nghiệp báo, hầu luôn luôn khởi tâm
niệm làm lành, tránh xa điều dữ. Thấy vẻ mặt vui tươi
hớn hở của Điền, sư hi vọng tìm được người góp ý
cho thời pháp linh động hơn, nên vội cất tiếng hỏi han
:
- Con
có nhận xét gì qua chuyện vua Assaka !
Điều
trớ trêu là Điền, tuy vẫn thường viếng thăm chùa chiền,
nhưng chàng trai trẻ "yêu cuồng, sống vội" đó, trong lòng
lúc nào cũng hừng hực chuyện tình yêu nóng bỏng, còn lý
vô thường vô ngã, lý nghiệp báo nhân duyên… thì chẳng
mảy may nhớ nghĩ đến. Đang lởn vởn trong đầu mối tình
vương giả, Điền thành thật đáp :
- Vua
Assaka hay thiệt ! Ông dám đánh đổi nửa giang san để cứu
mạng người yêu, kể ra cũng đa tình đáo để !
- Đa
tình thì có ! nhưng coi bộ hèn quá ! Chẳng dám liều mạng
sống chết vì tình thì cũng chẳng ra gì ! Kim Hên thích chí
bổ túc.
- Đúng
vậy ! yêu thì phải "hùng", dám liều mạng vì tình ! dẫu
có chết thì cũng làm thứ ma "phong lưu trang nhã" !
Hai
người đẹp : Kim Sa và Lọp rạng rỡ nghe hai chàng trai tán
dương thuyết si tình, trong khi sư Thạch Phen ngao ngán thở
dài, thương cho kẻ dại khờ, đang mờ mịt đắm chìm trong
vòng tình ái nghiệt oan… Để tránh thời pháp khỏi chuyển
biến thành buổi mạn đàm về tình ái lăng nhăng, sư Thạch
Phen vội cắt ngang phần thảo luận, rồi tiu nghỉu tuyên bố
chấm dứt thời pháp.
Trời
chiều mát mẻ, bọn trẻ rủ nhau ra ao Bà Om ngoạn cảnh. Vừa
đến nơi, hội ý cái nháy mắt ám hiệu của Điền, Hên vội
đưa cô giáo Lọp đi riêng về hướng rừng thưa. Điền và
Kim Sa, tiếp tục đi chầm chậm trên con đường đất lồi
lỡm đấp quanh bờ ao. Hai người ngây ngất hàn huyên đủ
mọi đề tài, đề tài nào cũng hấp dẫn đặc biệt cả,
dù đó là chuyện phấn son duyên dáng hay chuyện lính tráng
hào hùng. Mỏi chân thì họ dừng lại dưới tàng cây dầu,
cây sao già. Hồ rộng, cây to là hai ưu điểm của ao Bà Om.
Loại cây tuổi trên hai trăm năm nầy, vẫn ngạo nghễ vươn
mình cao ngất rợp bóng mát cả vùng, mà mớ rễ to chằn chịt
trồi lên mặt đất lại chu đáo biến thành thứ ghế ngồi
thiên nhiên ngộ nghĩnh dị kỳ. Hai người rủ nhau ngồi lắt
lẻo trên một cái rễ nhô cao lơ đảng ngoạn cảnh hồ. Cả
hai bỗng chú ý đến đôi le le đang tung tăng bơi ra giữa hồ,
trững giỡn lặn hụp trong vùng sen chen chúc lá xanh, điểm
vài đóa hoa trắng lác đác. Chàng le le bỗng "nịnh đầm"
âu yếm rỉa lông nàng, khiến cô nàng e lệ gục gặc đầu…
- Đôi
le le nầy ! hạnh phúc anh nhỉ !, Kim Sa lên tiếng.
- Tuyệt
thật ! Ước gì chúng mình…
Điền
đáp nửa chừng rồi bỏ lửng, vì thật ra sự lặng yên đó
lại chuyên chở tình ý miên man hơn. Tình yêu đến với họ
dễ dàng, tự nhiên mà dường như cũng kỳ diệu vô cùng.
Chỉ mấy giờ bên nhau, mà Điền nghe nhu mình đã gặp gỡ,
yêu nhau, thề thốt tự kiếp nào rồi.
- Điền
ơi ! anh hứa suốt đời ta sống bên nhau nghen anh !
- Sống
làm vợ chồng ! chết cũng thành ma vợ chồng ! Anh thề chẳng
để ai cướp đoạt em đâu !
*
*
*
Kinh
nghiệm xương máu từ Tết nguyên đán năm Mậu Thân, lệnh
cấm trại một trăm phần trăm nghiêm khắc ban hành. Để bảo
vệ cho đồng bào vui hưởng một ngày xuân an vui, đêm ba mươi,
đơn vị địa phương quân của Điền cẩn thận chia nhau nằm
bờ, ngủ bụi để đề phòng những hành động khủng bố
tàn khốc có thể xảy ra. Tình hình nói chung có vẻ yên tỉnh.
Ngoài những loạt súng nổ vang dội thay cho tiếng pháp vào
lúc giao thừa, không có một vụ đột kích nào xảy ra. Trời
sáng dần, không khí chiến tranh chết chóc nặng nề, nhường
chỗ cho một ngày Xuân đầy mộng đẹp.
Trại
lính nhộn nhịp hẳn lên. Những túp lều ọp ẹp của gia
đình binh sĩ rạng rỡ với cụm vạn thọ, cành mai vàng. Đám
trẻ con thường nhựt trần trụi cũng xúng xính áo quần mới.
Người ta bắt đầu qua lại viếng thăm, long trọng chúc mừng
năm mới. Náo nhiệt nhất là đám trẻ con, lo le phong bì đỏ
đựng tiền "lì xì", gầm đầu quanh bàn lắc bầu cua cá cọp,
cãi vã nhau chí chóe. Điền đang loay hoay diện bộ đồ "vía",
chuẩn bị đi viếng thăm chúc Tết đơn vị trưởng, chợt
có người cận vệ hấp tấp vào báo cáo :
- Trình
thiếu úy ! quốc lộ số 4 tại ngã tư Sambour bị đấp mô
! lệnh tiểu khu giao cho mình phải cấp thời giải tỏa !
Điền
tức bực buôn tiếng chửi thề "… Mẹ nó!", rồi đột nhiên
chàng bỗng rùng mình, linh tính báo nguy một điềm hung hiểm
khó lường. Chàng bức rức nghĩ mình đã sơ hở không cử
người nằm kích ở điểm đó, và lo ngại, tai họa có thể
đột ngột xảy ra cho người dân lành ngày đầu năm nếu
họ bất cẩn vượt mô khi lính chàng chưa phá hủy kịp. Điền
hấp tấp ra lệnh đàn em di chuyển ngay, mà vẫn chưa yên lòng,
nên lại tất tả bước nhanh theo.
Niềm
lo lắng của Điền vơi dần khi cảnh tượng những chiếc
xe kiên nhẫn đậu dài dài, tương phản với vẻ mặt nhăn
nhó sốt ruột của giới hành khách lăn xăn qua lại, hiện
ra trước mắt. Chợt có chiếc xe lam ba bánh đầy người từ
đàng xa trờ đến. Người tài xế thắng xe lại, ngần ngừ
giây phút, rồi táo bạo lái xe leo lề chạy sát mí mô đất
hung hiểm. Điền hốt hoảng, cất tiếng la ngăn cản nhưng
chỉ còn kịp nghe thấy một tiếng nổ long trời, hất tung
chiếc xe lam lên cao, bụi đất văng mù mịt. Điền hối hả
phóng nhanh đến cấp cứu. Chiếc xe sụp bẫy mìn gãy đôi,
thì con người có lẽ khó lòng sống sót. Thảm cảnh máu đổ,
thịt rơi, tiếng kêu la khóc thét hãi hùng, đến nỗi những
người lính chiến từng quen thuộc cảnh chết chóc nơi chiến
trường vẫn lợm giọng buồn nôn. Người tài xế cấm đầu
dưới ruộng, ruột gan lòng thòng. Trên mặt lộ lầy nhầy
thân xác người hành khách bị gãy cổ, đứt lìa cánh tay
chết tốt. Mấy người hành khách khác may mắn, thương tích
đầy người nhưng tình trạng có lẽ không đến nỗi nguy
kịch, đang rên rỉ, kêu khóc thảm thiết. Trong khi đó, dưới
thùng xe lam lật úp, một nạn nhân còn bị kẹt cứng, chẳng
biết mệnh hệ như thế nào ? Toán lính tự động phân chia
nhau cứu cấp người sống sót, thu dọn xác chết và giải
tỏa mô. Điền đích thân hô hào kẻ hiếu kỳ tiếp tay nâng
thùng xe lam hi vọng cứu mạng kịp thời nạn nhân đang bị
xe đè. Nhìn bàn chân kẻ xấu số vừa lộ ra, Điền liền
cảm thấy có nét gì quen thuộc, gần gũi quá. Chàng muốn
trốn tránh sự thật, dối lòng, không dám suy nghĩ gì cả,
nhưng hình dáng Kim Sa vẫn lảng vảng ám ảnh chàng. "Còn sớm
quá ! chắc nàng chưa rời nhà viếng thăm mình đâu !". Điền
cố gắng tự thuyết phục mình, nhưng nỗi sợ hãi cũng tràn
ngập khiến chàng run rẫy cả toàn thân. Điền bối rối lôi
nhanh xác nạn nhân ra ngoài, rồi bỗng thất thanh ôm chầm
gào thét : "Trời ơi ! em Kim Sa ! Ôi sao em lại ra nông nỗi
như thế này !". Điền hốt hoảng kêu gọi nàng tỉnh dậy,
sờ mũi, thăm dò nhịp tim của nàng… mà chẳng thấy tăm
hơi. Điền khẩn cấp mang nàng về bệnh viện tỉnh cứu chữa
nhưng chỉ nhọc công vô ích.
Niềm
khổ đau hành hạ không nguôi, nhất là càng suy nghĩ, Điền
lại càng tự trách mình là nguyên nhân để Kim Sa xuất hành
ngày Tết rồi tử nạn. Đầu óc chàng căng thẳng như sắp
nổ tung trước những ý tưởng dồn dập biến hiện đổi
thay vùn vụt. Khi chàng bỗng mềm yếu khóc lóc thương cảm,
lúc mơ ước tự sát theo nàng, và khi thì hùng hổ mưu tính
việc sống chết báo thù bọn ác nhân. Dù vậy, Điền cũng
tươm tất tham gia việc chung sự cho người yêu, với thái
độ vừa trầm tỉnh vừa lạnh lùng.
Theo
tục lệ người Việt gốc Miên, thân xác nàng sẽ được
hỏa táng, nhưng gia đình nàng thương con không chọn thứ áo
quan ván tạp thông thường, mà tẩn liệm nàng trong cái đỉnh
(3) gỗ đắc giá, đặt người chết vào theo kiểu ngồi chồm
hỗm, tay chân co lại, đầu chúi xuống, dáng điệu của một
hài nhi trong bụng mẹ.
Ba
ngày sau, quan tài nàng được đưa đến nhà thiêu Pachha cạnh
chùa Wat Ong, để chuẩn bị lễ hỏa táng. Ông Acha (4) thay
mặt thân nhân thỉnh sư Thạch Phen chủ lễ. "Giờ phút nghiêm
trọng sắp đến, xác nàng rồi sẽ thành mớ tro tàn", Điền
thầm nghĩ. Cơn khổ đau cùng tận bỗng bừng bừng nổi dậy
dày xéo tâm tư khiến chàng ràn rụa nước mắt. Điền cắn
chặt răng để đè nén khối hận thù đang muốn bật thành
tiếng hét nguyền rủa bọn sát nhân khát máu, nguyền rủa
cuộc chiến dơ bẩn và nguyền rủa cả cuộc đời phi lý
vô nghĩa nầy. Sư Thạch Phen lặng lẽ chấp tay rồi lần lượt
nhìn từng người, như để khuyên lơn, an ủi và chia xẻ niềm
khổ đau của họ. Trong ánh mắt từ bi của sư, Điền còn
cảm nhận được sự bình an vô bờ, bắt nguồn từ giòng
suối đạo pháp tươi mát.
Sư
Thạch Phen bắt đầu thuyết pháp và đây là lần đầu tiên
trên đời Điền thực sự nghe pháp. Ngày trước, Điền ngồi
cạnh người yêu nghe sư dẫn dụ về cái chết của hoàng
hậu Ubbari, mà lòng hờ hững coi như sự sống chết chẳng
chút liên hệ gì với mình. Giờ đây đang cơn oằn oại khổ
đau, nội tâm rung chuyển kỳ lạ đã thúc đẩy chàng biết
thành khẩn lắng nghe, hầu đón nhận diệu lý thâm trầm thấm
sâu vào tâm tư mình. Sư kể câu chuyện Uraga Jãtaka (5), theo
đó, cả gia đình của người chết đều ý thức rốt ráo
lẽ vô thường nên đã đón nhận tin lìa đời của thân nhân
bằng thái độ điềm nhiên thanh thản. Lời phát biểu của
bà mẹ về cái chết của con, nhẹ nhàng và thâm thúy, đã
ban cho chàng niềm an ủi sâu xa :
"Không
ai mời mọc, nó đã đến !
Không
ai đuổi xô, nó vội ra đi !
Đến
như thế nào, nó đi như thế ấy !
Có
gì mà tôi phải âu sầu phiền muộn ?
Khi
con tôi hoàn tất đoạn đường nó đã trải qua !"
Thuyết
pháp xong, sư bắt đầu tụng kinh siêu độ "Trây lak Khana Sotta"
ba lần để nhắc kẻ sống người chết về lý vô thường,
vô ngã. Sư rưới nước dừa lên cổ áo quan, rồi ra hiệu
cho ông Acha châm lửa.
Ngọn
lửa bùng lên cao. Cha me Kim Sa khóc ngất lên và Điền cũng
ràn rụa nước mắt. Trong một thoáng Điền nghĩ là từ đây
chàng sẽ vĩnh viễn mất nàng. Khổ đau và hận thù lại đùng
đùng nổi dậy. Điền nghiến răng đè nén, mắt căm hờn
long lên. Phiền não đang chất ngất dày xéo, bỗng Điền bắt
gặp ánh mắt dào dạt từ bi của sư Thạch Phen nhìn chàng.
Tình thương của sư, phong thái an nhiên của sư lần lần thu
phục chàng, xoa dịu cơn khổ đau thù hận trong lòng. Nhờ
tiếp nhận được nguồn suối bình an của sư, Điền bắt
đầu lặng lẽ suy niệm những lời Phật dạy về cái chết,
Điền lẩm bẩm : "Nàng đã đến, nàng đã hoàn tất cuộc
hành trình, và nàng lại ra đi. Có ai sống mà không chết đâu
? Cớ sao mình lại phải đau buồn ?". Điền bình tỉnh nhìn
dàn hỏa, chàng hình dung lại hình dáng nàng khi liệm. Tư thế
ngồi như một bào thai trong đỉnh, bỗng gợi chàng một biểu
hiện của tư thế sẵn sàng chuyển kiếp. Thế rồi, Điền
chợt có cảm tưởng như mình đã khám phá ra ý nghĩa sâu
xa của sự sống và chết. Sanh và tử chỉ là một chuỗi
chuyển biến miên miên bất tận, nên thật ra cũng không sanh
cũng không diệt, chàng chẳng hề được mà cũng chẳng vĩnh
viễn mất nàng. Ôi tử sinh như thế đó : một cửa ngõ ra
vào, một trò chơi cút bắt trêu ghẹo khách trần ai. Trên
hỏa đài lửa vẫn phừng phực đốt cháy thân xác Kim Sa,
nhưng hình như Điền cảm thấy lòng mình nhẹ hẳn ra. Trong
ánh lửa lung linh, chàng cảm tưởng như từ tư thế bào thai,
nàng Kim Sa đã bàng hoàng sống dậy. Nàng chẳng hề chết.
Nàng vẫn an nhiên tự tại cất tiếng ca vang bài kinh "Không
đến không đi" (6), một nhạc phẩm mà chàng và nàng đã có
lần nghe những anh em Thanh niên Phụng Sự Xã Hội trình bày
:
"Thân
nầy không phải là tôi, tôi không kẹt vào nơi thân ấy.
Tôi
là sự sống thênh thang, tôi chưa bao giờ từng sinh mà cũng
chưa bao giờ từng diệt.
Nầy
kia, biển rộng, trời cao, muôn vàn tinh tú lao xao, tất cả
đều biểu hiện tôi từ nguồn linh tâm thức.
-
Từ muôn
đời tôi vẫn tự do
-
Tử sinh
là cửa ngõ ra vào
-
Tử sinh
là trò chơi cút bắt.
-
Hãy cười
cùng tôi, hãy nắm tay tôi
-
Gặp
lại hôm nay, gặp lại ngày mai,
-
Chúng
ta sẽ gặp nhau nơi suối nguồn
-
Chúng
ta sẽ gặp nhau từng phút giây trên muôn ngàn nẻo sống……"
Tháng
1.1992
Ghi
chú
Chôlchnam
: lễ Vào năm mới của người Việt gốc Miên, nhằm vào mùa
trăng giữa tháng tư dương lịch.
Truyện
cổ tích Phật giáo về vua Assaka của người Việt gốc Miên
không rõ phát xuất từ kinh sách nào. Trong quyển sách "Người
Việt gốc Miên" của Lê Hương có ghi chuyện Vua Assaka và hoàng
hậu Ubbari, nhưng chi tiết có vài khác biệt với chuyện tác
giả nghe được.
Người
Việt gốc Miên theo tục lệ hỏa táng nên cổ quan của giới
bình dân thường chỉ dùng gỗ tạp, quàng từ một đến ba
ngày thì đưa ra nhà thiêu xác (pachha). Đối với các vị sư
sãi, hoàng thân hay những gia đình giàu sang, người ta có thể
chọn loại cổ quan đặc biệt là đỉnh. Cổ quan nầy hình
trụ, nắp hình nón chắc chắn nên có thể quàng cả năm,
rồi mới đưa đi thiêu.
Acha
: vị bô lão thông hiểu phong tục tập quán kinh điển, thường
được dân làng kính trọng thỉnh làm chủ lễ cúng dường,
tang ma, hỉ sự.
Uraga
Jãtaka : Đây là chuyện tiền thân Đức Phật ghi lại trong
bộ Túc Sanh Truyện, nội dung tạm tóm lược như sau : Gia đình
người nông dân có người con bị rắn cắn chết. Cả nhà
họp lại hỏa táng người vắn số, nhưng không hề khóc than
sầu não. Vị Trời Đế Thích ngạc nhiên, hóa hiện để hỏi
rõ từng người nguyên nhân nầy :
Người
cha giải đáp : "Con người rời bỏ cái vỏ mỏng manh nầy
khi đời sống trôi qua, cũng như con rắn lột da cũ bỏ đi.
Không lời ta thán nào làm động lòng đống tro tàn người
quá cố. Vậy sao tôi phải phiền muộn ?"
Người
mẹ đáp : "Không ai mời mọc nó đã đến. Không ai đuổi
xô nó vội ra đi. Có gì mà tôi phải âu sầu phiền muộn,
khi con tôi hoàn tất đoạn đường đã đi…"
Người
em gái đáp : "Dầu tôi có nhịn ăn và khóc than cả ngày, điều
đó có đem lợi ích nào không ? Than ôi ! nó chỉ làm thân
bằng quyến thuộc thêm bất hạnh…"
Người
dâu đáp : "Than khóc cái chết của người thân yêu cũng giống
như trẻ con khóc đòi chụp lấy mặt trăng…"
Người
tớ gái đáp : "Một lọ đất đã bể, ai có thể ráp lại
như cũ ? Than khóc người chết chỉ hoài công…"
6.
Kinh Giáo hóa người bệnh (Trung A Hàm số 28, Tăng Nhất A Hàm
số 51, Hán tạng tương đương với Kinh Giáo Giới Cấp Cô
Độc, số 143. Trung A Hàm, tạng Pali), nội dung ghi lại lời
thuyết pháp của Ngài Xá Lợi Phất cho Ông Cấp Cô Độc khi
vị nầy bị bệnh nặng hành hạ khổ sở. Ngài Xá Lợi Phất
khuyên cư sĩ quán niệm về mắt : "Mắt này không phải là
tôi, tôi không kẹt vào con mắt nầy"… Tiếp đến cư sĩ
được dạy quán niệm lần lượt đến tai, mũi, lưỡi, thân
và ý, rồi sang đến sáu đối tượng giác quan, sáu thức,
sáu yếu tố, năm uẩn, và ba thời : quá khứ, hiện tại,
vị lai. Đoạn Ngài Xá Lợi Phất chỉ dạy rằng các pháp
đều do nhân duyên sanh khởi và do nhân duyên mà hoại diệt;
nên thật ra, tự tính của các pháp là không sanh cũng không
diệt, không tới cũng không đi. Bài pháp đã được thầy
Nhất Hạnh trích dẫn và phổ nhạc dước nhan đề "Không
đến không đi"