(Với
tất cả lòng ngưỡng mộ, chân thành kính dâng hòa thượng
Trí Thiền, vị thiền sư đã dâng hiến trọn đời mình cho
dân tộc và đạo pháp)
Ngoài
công việc ruộng nương rẫy bái, làng xã quanh thị trấn Rạch
Giá, mỗi vùng đều sở trường một ngành nghề đặc biệt.
Sóc Soài sản xuất nồi, An Hòa đánh cá làm khô, Tà Niên
dệt chiếu, loại chiếu hoa vừa đẹp, vừa bền, nổi tiếng
khắp cả miền Tây. Người địa phương đã ca ngợi tài nghệ
của gái Tà Niên, trai An Hòa bằng lời ca dao tả chân mộc
mạc và rất gợi hình như sau:
-
Gái
Tà Niên, mồm viền chỉ đỏ
-
Trai
An Hòa lớn nhỏ xỏ xâu. (1)
Chú sáu
Trinh lẩm nhẩm lời ca dao, thấm ý nhìn người vợ Tà Niên
duyên dáng của mình mỉm cười. Hình ảnh người vợ đảm
đang ngồi dệt chiếu, dưới ánh trăng dễ thương làm sao,
chú khao khát muốn khoác tay nàng âu yếm, nhưng thím bận bịu
bù đầu, đâu còn lòng dạ nào "chiều chồng" được. Chú
thơ thẩn nhìn trăng, lòng bỗng nôn nao nhớ đến mùa trăng
rộn ràng của hai mươi năm về trước. Ngày ấy, tại Sân
Chim, cách chốn nầy chẳng xa, đoàn nghĩa quân của cố lãnh
binh Nguyễn Trung Trực, đã đồng thề nguyền xả thân diệt
giặc Pháp xâm lăng cứu nước. Thế nhưng, tiệc lớn chẳng
thành, nghĩa quân tan nát, chủ tướng Nguyễn Trung Trực (2)
bị Tây xử trảm, còn chú thì phải đơn thân trốn lánh tại
chốn nầy hơn sáu năm rồi. Chú xúc động cất tiếng ngâm
nga:
-
"Chim
quyên xuống núi ăn trùng
-
Anh
hùng lỡ vận lên nguồn đốn than"
Người
anh hùng lỡ vận thời nay, không có cơ hội làm than như người
xưa, thôi thì đành vào bưng, nhổ lát mang về cho vợ dệt
chiếu, làm phương kế sinh nhai. Sống êm đềm bên vợ hiền
con ngoan, mà người trai lỡ vận thỉnh thoảng vẫn ngậm ngùi
nhớ lại lời nguyền đuổi giặc ngoại xâm thuở trước.
Đôi mắt chú bỗng rực sáng niềm tin khi chú nhìn sang đứa
con trai đang ngủ yên trên chõng. Chú tin mãnh liệt là thế
hệ mai sau, thế hệ của thằng bé Đồng, sẽ anh dũng trương
cờ khởi nghĩa đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi nước
nhà. Nghĩ đến tương lai của con, lòng chú bỗng chùn lại
! Đời thằng bé không thể bị chôn chặt ở chốn nầy !
Nó phải được học hành. Nó phải được đào luyện chí
khí để sẵn sàng dấn thân cho tổ quốc như cha của nó.
Chú
suy nghĩ miên mang khá lâu, rồi mới ngập ngừng lên tiếng:
- Má
thằng Đồng à ! Tui muốn bàn với má nó chuyện nầy !
Thím
ngưng tay, trìu mến nhìn chồng chờ đợi:
- Có
việc chi không Ông ?
- Tui
có lỗi đã dấu diếm má nó chuyện nầy. Tui sinh trưởng
tại cù lao Gieng (3), thuộc gia đình theo đạo Gia Tô đã mấy
đời. Khi vua Tự Đức ban dụ cấm đạo, cha tui cùng vài vị
trong ban nhà thờ, đã bị bắt đưa về Gia Định trừng trị.
Hai năm sau người được thả về, thì cửa nhà tan nát, nên
gia đình tui phải lưu lạc sang vùng Cái Dầu, Cao Lãnh sinh
sống qua ngày. Khi bọn Pháp xua quân tấn chiếm ba tỉnh miền
Đông, bọn chúng đã cho người đi móc nối những con chiên
tản lạc về cộng tác với chúng. Chủ trương giúp Pháp chiếm
nước cai trị để được tự do tín ngưỡng, vừa để trả
thù cho thời bị khủng bố, vừa lại được "sớm sâm banh,
tối sữa bò" hấp dẫn lạ lùng, hầu hết những gia đình
họ đạo cù lao Gieng đã hân hoan cộng tác với giặc, mà
nổi tiếng nhất phải kể đến tên Tổng đốc Lộc, hắn
tự cho mình có quyền tàn ác với đồng bào, trung thành với
mẫu quốc, vì cha hắn đã bị tù đày bởi dụ cấm đạo.
Cha tui là một trong những người đầu tiên được mời cộng
tác, nhưng người đã cương quyết chối từ. Quan niệm của
người là tuy nhà vua sai lầm trong việc cấm đạo và ngược
đãi giáo dân, nhưng việc đòi hỏi tự do tín ngưỡng phải
sử dụng bằng phương cách nào khác, chớ không thể bằng
hành vi phản quốc "cõng rắn cắn gà nhà", mang đất nước
dâng cho ngoại bang cai trị để được hành đạo. Thấm nhuần
tình yêu nước sắt son của phụ thân, khi Pháp xua quân ồ
ạt tràn xuống ba tỉnh miền Tây, tuổi mới mười sáu, tui
đã xung phong vào hàng ngũ dân quân chiến đấu bảo vệ thành
Long Hồ. Thành mất, dân quân tan nát, tui lâi được tin cụ
Nguyễn Trung Trực, đang ẩn náo tại vùng Sân Chim, huyện An
Biền, bờ biển Rạch Giá, chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp,
nên vội vàng tìm đến. Nghĩa quân được phân chia đội ngũ
và huấn luyện cấp tốc cho một trận tử chiến với kẻ
thù. Tui sớm được tín nhiệm và được chủ tướng chọn
làm cận vệ, để cùng chủ tướng giả dạng thường dân
vào thành Rạch Giá nghiên cứu thành lính Sơn Đá của địch.
Cuộc điều nghiên hoàn tất, đầu tháng sáu, nghĩa quân được
điều động về Tà Niên, ẩn trú tại trại ruộng của phó
tướng Lâm Quang Ky dưỡng sức một tuần. Đến đêm 10.06.1868,
tức mùng 3 tháng 5 năm Mậu Thìn, chủ tướng hạ lệnh chia
quân thành nhiều toán nhỏ, dùng thuyền theo rạch Tà Niên
di chuyển trong đêm đen, lặng lẽ đổ quân lên bờ rạch
Lăng Ông, nằm án binh cho đến 4 giờ sáng. Đoạn, đúng y
theo kế hoạch quân ta chia thành ba cánh, len lỏi đến sát
thành Sơn Đá, mới reo hò thị uy, rồi ồ ạt xung phong công
phá thành địch. Bất ngờ bị tấn công, súng đạn tối tân
trong thế cận chiến trở thành vụng về, hàng ngũ địch
rối loạn và tan rã nhanh chóng. Chỉ trong một thời gian ngắn,
trận địa kết thúc, với bảy mươi ba xác địch quân, gồm
50 tên người Pháp. Nghĩa quân cũng bắt sống 6 tên lính khố
đỏ và tịch thu trên 100 cây súng cùng vô số đạn dược.
Trong đám tù binh nầy, có tên Lượm là người cùng họ đạo
với tui tại Cù Lao Gieng. Hắn khóc lóc nhắc nhở tình quen
biết xưa, năn nỉ tui tìm phương cứu giúp. Tui mủi lòng xin
chủ tướng cho hắn cơ hội, được đoái công chuộc tội.
Điểm tui chẳng hề nghĩ tới, là từ vụ cứu tên Lượm,
mà nhiều nghĩa quân biết tui vốn thuộc gia đình đạo Gia
Tô giòng, rồi họ bắt đầu xầm xì, hoài nghi lòng trung quân
ái quốc của tui. Chủ tướng thương yêu tin tưởng tui như
một đứa em nuôi cũng bắt đầu dè dặt. Người chuyển tui
sang phục vụ dưới quyền của phó tướng, ở lại giữ thành
Rạch Giá, trong khi người đưa đại quân đón giặc tại cảng
Lục Dục, Núi Sập. Quân Pháp đưa toàn lực quân sĩ, từ
các tỉnh Vĩnh Long, Mỹ Tho ồ ạt phản công tái chiếm Rạch
Giá, quân ta bị tan rã nhanh chóng, chủ tướng phải rút quân
về Hòn Chông, rồi ra Phú Quốc tiếp tục chiến đấu. Tui
kẹt trong toán quân phó tướng Lâm Quang Ky bị thất lạc không
theo kịp đoàn quân của chủ tướng, đành phải lui về Sân
Chim, rồi ngã ngũ. Chỉ vì tui theo đạo Gia Tô, mà tui bị
nghi ngờ, do đó không được kề cận chiến đấu sống chết
bên chủ tướng, tui đau lòng vô hạn. Điểm dầy vò tui hơn
nữa, là tên Lượm sống sót lại có dịp lập công to với
người Pháp. Hắn ruồng bắt nghĩa quân trốn tránh quanh thị
trấn, khủng bố những gia đình yêu nước. Ngoài ra, cũng
chính hắn xúi giục Pháp bắt giữ mẹ của chủ tướng tại
Hà Tiên, bắt dân chúng các vùng yểm trợ nghĩa quân đem ra
hành hạ, làm phương kế áp bức cụ Nguyễn ra đầu thú.
Thương dân lành và cũng nhận thấy vận nước đã hết phương
cứu vãn, cụ Nguyễn giải tán nghĩa quân, rồi ra trình diện
để chịu án trảm quyết tại chợ Rạch Giá. Nghĩa quân còn
sống sót đành ngậm ngùi nuốt hận làm dân bị trị, họ
lầm lũi trở về quê chôn kín lòng yêu nước của mình trong
nếp sống tầm thường, an phận. Với tui, cuộc chiến vẫn
tiếp tục. Tui về vùng U Minh, hợp sức với hai anh em Đỗ
Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự lập căn cứ chống giặc. Sau bốn
năm, căn cứ bị phá hủy, tui bèn tìm đến cậu Hai Lãnh,
cánh quân còn lại của đức cố quản Trần Văn Thành, tại
Láng Linh để chiến đấu cho đến khi lực lượng tan rã.
Cuối cùng, tui lại cùng một số chiến hữu lập một tổ
chức đượm màu sắc tôn giáo là "Tứ Ân Hiếu Nghĩa", để
âm thầm kết hợp những phần tử yêu nước đưa về vùng
Thất Sơn sinh sống, chờ ngày dựng cờ khởi nghĩa. Việc
lớn đang hình thành đầy hứa hẹn, bỗng có người biết
chuyện xưa, xầm xì rằng tui theo đạo Gia Tô, và có liên
hệ mật thiết với tên Lượm phản phúc. Từ đó, ngay những
chiến hữu đã từng sống chết bên nhau với tui cũng để
dạ nghi ngờ, khiến tui phẩn uất rời bỏ anh em ra đi. Từ
lâu, nỗi căm hận tên Lượm vẫn canh cánh trong lòng, nay thì
nó càng bùng dậy mãnh liệt, cơ hồ, nếu như tui không hạ
sát hắn, thì chính tui cũng không sống nỗi. Lòng đã quyết
định, tui tìm về Rạch Giá, xin làm phu vác gạo cho nhà máy
xay lúa Vĩnh Hiệp, để điều tra tông tích tên Lượm. Hắn
được thăng chức đội, được quan Tây tin tưởng, nên càng
ra công khuyển mã phục vụ quan thầy hãm hại những phần
tử yêu nước. Theo dõi hắn một thời gian, tui biết hằng
đêm hắn luôn đi một mình đến nhà tình nhân tại xóm Bánh
Tầm để vui thú. Tui chọn ngày 12 tháng chín âm lịch năm
1880, ngày giỗ thứ 12 của chủ tướng để ra tay. Đến ngày
giờ định sẵn tui lẻn vào nhà, uy hiếp con đàn bà, nhét
giẻ khóa chặt mồm, trói gô lại. Tui viết bản án tử hình
kể rõ tội ác hắn làm, rồi ung dung chờ hắn đến nạp
mạng. Điểm trục trặc bất ngờ, hôm đó, chẳng biết có
công tác chi không mà hắn lại dẫn theo hai tên đàn em, võ
trang súng ống đầy đủ. Nếu tui theo ngõ sau phóng đi thì
an toàn, nhưng âm mưu theo dõi đã lỡ cỡ, cơ hội thanh toán
hắn sẽ không còn nữa, nên tui liều mạng ở lại. Hai tên
cận kệ lẩn quẩn ngoài sân, hắn thản nhiên xô cửa vào
nhà. Không thấy tình nhân ra đón, lên tiếng gọi vẫn im lặng,
nên hắn nghi ngại lăm le khẩu súng ngắn, rón rén bước vào
buồng. Tui nện hắn một cây song hồng xiểng niểng, rồi
đâm một nhát dao thấu tim. Hắn chết không kịp nổ súng,
nhưng tiếng hét thảm khốc của hắn cũng làm kinh động cả
xóm. Tui phóng chạy thoát thân theo ngả sau, bị hai đàn em
hắn rượt nà, nổ súng ầm ỉ, khiến bọn lính trong đồn
cũng túa ra chận hết các ngả vào ra khu xóm. Tui len lỏi trốn
chạy trong các hẻm sau nhà, vô tình thấy ngôi chùa Tam Bảo,
nên đánh liều leo qua rào, gặp thầy Vĩnh Thùy xin người
cứu giúp… Còn phần sau đó, thì bà đã hiểu rõ rồi, tui
bất tất phải thuật lại nữa !
Chuyện
xảy ra trên sáu năm rồi, mà mỗi khi nhớ lại thím Trinh cũng
thẹn thùng chín cả người. Thím nguyên là một sa di ni, tuổi
đôi mươi, tu học tại ni viện Vạn An, Sa Đéc. Cô sa di sắp
thọ giới Thức Xoa Ma Na, nên xin thầy cho về chùa Tam Bảo,
Rạch Giá một thời gian, để được người anh ruột, tức
sư Vĩnh Thùy giảng dạy thêm về luật nghi. Đêm đó, vừa
chợp mắt bỗng có những tiếng súng nổ vang, cùng với tiếng
hò hét đuổi bắt hung phạm. Nghe tiếng gõ cửa nhè nhẹ,
cô ni sợ điếng quấn mền kín mít im lặng, nhưng sư Vĩnh
Thùy lại nhanh nhẹn ra mở cửa, đón người lạ vào. Hai người
thầm thì đôi câu, rồi thình lình sư đưa người lạ vào
phòng cô ni, lên tiếng: "Diệu Thường ! cứu người là Phật
sự tối thượng. Cô hy sinh cứu người nhé !". Cô ni chưa
hiểu cứu người bằng cách nào, thì đã nghe tiếng lính la
ó trước cổng chùa, sư trụ trì bước ra ngoài, còn kẻ lạ
mặt thì vội vàng, chui tuốt vô mền nằm co rút sát với
cô ni. Cô ni vừa hổ thẹn vừa sợ hãi, không biết phản
ứng ra sao, cả người run rẩy như đang lên cơn sốt rét nặng.
Tuy nhiên, khi bọn lính được sư Vĩnh Thùy dẫn đi khám xét
khắp nơi, sắp vào phòng sư cô, thì cô bỗng cảm thấy có
sức mạnh phi thường hỗ trợ, cô bình tỉnh ôm sát người
lạ vào lòng, gọn gàng như ôm một chiếc gối dài. Bọn lính
thấy căn phòng trống trải, chỉ có cô ni bệnh hoạn, mặt
mày đỏ nhừ, trùm mền kín mít, không có chi đáng ngờ nên
bỏ đi lục soát nơi khác. Về sau, khi biết người lạ, là
một nghĩa sĩ hết lòng với đất nước, cô ni sung sướng
thấy hành động hy sinh cứu người của mình thật không uổng,
dù vậy cô vẫn thẹn thùng không dám nhìn, dám nói gì với
anh ta. Sư Vĩnh Thùy cho người lạ ẩn náu thêm ba ngày chờ
nội vụ lắng dịu, rồi mới giúp người lạ giả dạng thành
tu sĩ, gởi đến chùa Sóc Veng xa xôi lánh nạn. Giải quyết
xong vụ rắc rối nầy, sư Vĩnh Thùy lại khám phá ra vụ rắc
rối thứ hai, cũng nhức đầu không kém. Cô em vốn là một
tu sĩ tu hành tinh tấn, bỗng nhiên trở nên trì trệ giãi đãi.
Cô chểnh mảng công phu, lơ là học hỏi luật nghi, và cứ
thẩn thờ mơ mộng. Sư đành cho cô em xả giới hoàn tục,
đứng ra dàn xếp cuộc hôn nhân cho hai người, rồi đưa họ
về quê nhà tại Tà Niên sinh sống. Trong sáu năm yêu đương
hạnh phúc, lần đầu tiên thím mới nghe chú thố lộ niềm
tin tôn giáo, thím hơi ngạc nhiên mà vẫn nhu hòa lên tiếng:
- Tui
thật không ngờ ba nó theo đạo Gia Tô ! Tui chưa biết đạo
Gia Tô như thế nào, nhưng chắc cũng dạy ăn hiền ở lành
mà ! Ơ ! mà ba nó theo đạo nào, đối với tui cũng như vậy
! tui chỉ biết có đạo thờ chồng mà thôi…
- Cám
ơn má nó không nỡ trách tui ! Ngày xưa, mỗi khi bạn bè đồng
chí hướng khám phá ra tôn giáo tui, họ đều nghi ngại và
xa lánh tui. Tui bị ám ảnh điều đó, nên mấy lần định
khai rõ chuyện khác biệt tôn giáo cho anh Vĩnh Thùy và má nó,
mà tui ngần ngừ rồi không dám. Tui sợ mình khai ra, rủi má
nó không "ưng" tui nữa thì sao ?
- Ba
nó theo đạo nào thì lòng tận trung ái quốc của ba nó vẫn
trong sáng như trăng rằm, những chiến hữu đã từng sống
chết bên nhau với ba nó, vì chút thành kiến sai lầm lại
nghi ngờ ba nó, quả thật rất đáng trách.
- Má
nó à ! tui phải chịu dày dò đớn đau cả đời vì thành
kiến bất công đó, nhưng chính ra, tui không oán trách ai hết.
Bà nghĩ coi ! nhìn qua nhìn lại, ai chẳng có nhận xét là phần
lớn những kẻ theo Tây phản quốc đều là người Gia Tô
giáo. Nguyên nhân xa xôi bắt đầu từ lập trường của những
vị cố đạo. Họ chỉ thiết tha với sự nghiệp truyền giáo,
họ là người ngoại quốc chỉ yêu nước họ, trung thành
với nước họ, chớ đâu có chút tình với nước mình, họ
lại phải trải qua thời cấm đạo gian khổ, nên họ chỉ
chờ đợi bọn xâm lăng đến là đón rước, và hô hào khuyến
khích con chiên ra cộng tác với họ. Khi Tây đã đặt xong
nền đô hộ, lập guồng máy cai trị thì họ cũng tích cực
tiến cử người ra phục vụ, do đó, vô số bọn vô lại
đua nhau xin làm kẻ tân tòng, vào đạo để làm bàn đạp
xây dựng vinh hoa phú quí… Kẻ bàng quan, quơ đũa cả nắm,
nghi ngờ tất cả người Gia Tô giáo phản quốc cũng là chuyện
bình thường.
- Đành
vậy ! nhưng không thể chụp mũ tất cả mọi người được
! Những người theo đạo Gia Tô như cụ Nguyễn Trường Tộ,
Huỳnh Tịnh Của…, đều là những nhân vật chân chính yêu
nước kia mà…
- Lòng
tui tui hiểu, tui lại được má nó hiểu, thì tui đã an ủi
lắm rồi.
Chú
cất tiếng thở dài, nghĩ ngợi mông lung một thoáng, rồi
mới ngập ngừng tiếp lời:
- Hôm
nay, bỗng dưng tui đem vấn đề nầy bàn với má nó, vì chợt
nghĩ đến tương lai thằng Đồng. Nó phải tiếp tục sự
nghiệp cánh mạng của tui, nhưng không phải bằng đường
lối chiến đấu đơn độc và vô vọng như tui. Nó phải được
học hỏi văn minh xứ người, về nước phục vụ dân tộc,
tạo nền tảng cho công cuộc vận động cứu nước sau nầy.
Nó phải được đưa ra tỉnh để đi học mới được !
- Phải
rồi ! mình gởi nó vào chùa Tam Bảo với thầy Vĩnh Thùy đi,
thím sốt sắng góp ý.
- YÙ
tui hơi khác má nó ! Tui muốn đưa con ra gởi cho vị linh mục
chánh tòa Rạch Giá. Đưa con về với nhà thờ, thật ra tui
cũng vì chút tình riêng là muốn thằng Đồng tiếp tục giữ
giềng đạo của ông nội nó, nhưng phần khác, tui lại nghĩ
trong hoàn cảnh hiện nay, chỉ có cha cố mới đủ điều kiện
giúp con mình xuất dương ăn học thành tài được !
- Ba
nó muốn thằng Đồng giữ đạo ông nội, tui không dám ngăn
cản, nhưng tui sợ quá hà !… Ba nó tới lui nhà thờ, rủi
có ai phát giác tung tích ba nó ngày xưa, thì nguy hiểm đến
chừng nào !…
- Má
nó yên tâm ! người trong đạo thương yêu nhau như đại gia
đình. Tui về với nhà thờ, thì họ yêu thương đùm bọc
tui, chớ đâu ai làm chuyện kẻ vạch, hại tui; huống chi,
chuyện tui theo ngài Nguyễn Trung Trực đánh chiếm thành Rạch
Giá đã xảy ra 20 năm rồi, ai mà quan tâm đến, còn vụ tên
Lượm thì chỉ mình tui đơn độc ra tay hoàn toàn bí mật
kia mà !
Thế
rồi, mặc dù thím buồn hiu phản đối ngầm, chú vẫn cương
quyết đưa con về Rạch Giá, tìm gặp cha sở. Chú xúc động
ngắm nhìn ngôi giáo đường uy nghi, tràn ngập tin yêu chiêm
ngưỡng tượng chúa Jêsus trên thập tự giá, hân hoan tham
dự thánh lễ tôn nghiêm, những hình ảnh quen thuộc mà bao
năm trời lăn lóc hoạt động chống Pháp chú đã xa rời,
mất mát. Chú cũng cực kỳ cảm động khi có dịp thố lộ
tất cả những bí ẩn đời mình cho cha sở trong buổi lể
Xưng Tội. Cha sở cũng cảm động không kém. Cha hân hoan đón
nhận chú, như người cha già thân thương đón đứa con ra
đi biền biệt vừa trở về nhà. Người long trọng hứa sẽ
nâng đỡ bé Đồng ăn học để trở thành người hữu dụng
mai sau. Để đánh dấu ngày trở lại thánh đường của chú
Trinh, Cha sốt sắng tổ chức một ngày đặc biệt để giới
thiệu chú với bổn đạo. Trong dịp nầy, cha đã nhắc lại
thí dụ của Chúa Jêsus, về thái độ người cha vui mừng,
tha thứ hết tội lỗi của đứa con hoang đàng, vừa trở
về nhà. Để nhấn mạng rằng Chúa luôn mở rộng vòng tay
sẵn sàng đón rước những con chiên sa ngã lầm lạc biết
quay về, Cha nhắc lại nguyên văn câu Thánh Kinh: "Chúng ta hãy
ăn mừng, vì con ta đây đã chết mà bây giờ lại sống, đã
mất mà bây giờ lại thấy được…" (4). Kế đó, cha mở
rộng đề tài, hướng vào đời sống thực tế, để phân
tách đâu là nẻo chánh tà ? Thế nào là hoang đàng hư hỏng
? Thế rồi, cha lôi Chúa đứng bên phe nhà cầm quyền người
Pháp, coi điều đó là một chân lý rõ rệt không cần phải
tranh luận gì nữa, để phê phán mọi hành động phản loạn,
chống nhà nước Bảo Hộ là hành động chống lại Chúa,
là hoang đàng hư hỏng… Chú Trinh xa nhà thờ chẳng qua vì
hoàn cảnh, chớ chú chẳng hề quên Chúa, chối bỏ Chúa bao
giờ. Bài giảng ám chỉ chú là đứa con hoang, kể ra hơi quá
đáng song chú vẫn kiên nhẫn nhận chịu. Thế nhưng lập luận
đồng hóa Chúa với người da trắng thống trị, chống Pháp
có nghĩa là chống Chúa, phục tùng Chúa đồng nghĩa với phục
tùng người Pháp, thì chú cực lực phản đối. Chú không
dám phạm thượng cắt ngang bài giảng, nhưng khi cha vừa dứt
lời, chú liền dõng dạc lên tiếng:
- Thưa
cha ! hôm nay con trở lại nhà thờ là để về với Chúa, chớ
không phải về để cộng tác với những kẻ xâm lăng đất
nước của con !
Đoạn
chú dẫn bé Đồng đi ngay, không quay đầu lại một lần.
Chú nghĩ thà chịu cho con dốt hơn là để nó bị nhồi vào
đầu thứ tư tưởng nô lệ quái đảng đó.
Chú
Trinh thua buồn trở về Tà Niên an phận với nếp sống quê
mùa thường nhựt. Ba hôm sau, trong khi chú đang ơ hờ ngủ
yên, thình lình toán lính mật thám, do Đội Phèn chỉ huy bao
vây nhà, xông vào bắt giữ chú. Chú chỉ kịp nhắn nhủ vợ:
"Em lo cho thằng Đồng" thì đã bị bọn chúng lôi đi.
Thím
Trinh theo ngay ra tỉnh, gởi con cho sư Vĩnh Thùy, để rảnh
tay đôn đáo lo thăm nuôi chồng. Chỉ hai ngày sau thì có tin
chú chết, chú xé áo quần kết thành sợi dây, treo cổ tự
tử trong phòng giam. Người ta sử dụng niềm tin tôn giáo để
dụ dỗ chú, rồi tra tấn chú, để tìm biết thêm đồng đảng
cùng những điều liên quan đến các tổ chức chống Pháp,
và chú đã quyết định chọn thái độ vĩnh viễn im lặng.
Thím Trinh lẳng lặng lãnh xác chồng đem về miếng vườn
sau nhà tại Tà Niên chôn cất. Có lẽ, khi chọn chú, biết
rõ cuộc đời cách mạng của chú, thím đã ý thức trước
tai họa nầy, nên thím bình tỉnh chịu đựng, không than khóc
như những người đàn bà khác. Ngờ đâu, bề ngoài điềm
tỉnh chỉ nhằm che dấu nỗi đau thương ngùn ngụt bên trong.
Chỉ mấy tháng sau, đang ngồi ủ rũ bên mộ chồng, thím bỗng
trúng gió ngã gục, thím chết cho tròn ước nguyện "sống
đồng tịch, đồng sàn, chết đồng quan, đồng quách", chữ
"Đồng" mà thím đã dùng để đặt tên con.
*
* *
Thiền
sư Trí Thiền, tục danh Nguyễn Văn Đồng (5), trầm ngâm đứng
trước bàn thờ tổ quốc trang nghiêm, vừa được thiết lập
để chuẩn bị cho buổi lễ cầu siêu đặc biệt sẽ chánh
thức khai mạc vào bảy giờ chiều. Trên bàn thờ hiển hiện
hình ảnh hiên ngang của cố lãnh binh Nguyễn Trung Trực, với
hai câu đối:
-
"Hỏa
hồng Nhật Tảo, oanh thiên địa !
-
Kiếm
bạt Kiên Giang, khắp quỷ thần…"
Bên cạnh
lại có bài vị của cụ Nguyễn Văn Trinh và phu nhân, hai người
có liên hệ huyết nhục với thiền sư. Năm nào, chùa Tam Bảo
cũng âm thầm chờ đến nửa đêm ngày 12 tháng 9 âm lịch
mới trang nghiêm hành lễ tưởng niệm người xưa. Lần nầy
lễ tưởng niệm ngày giỗ thứ bảy mươi được tổ chức
công khai, ngày giờ thông báo cho Phật tử trước cả tuần
lễ, và do đó, bọn mật thám đã lồng lộng dọa nạt cản
ngăn đồng bào đến tham dự. Bao năm qua, bọn cầm quyền
Pháp đã cấm đoán gắt gao, khủng bố trừng trị những ai
dám bàn bạc nhắc nhở đến cụ Nguyễn Trung Trực. Có một
lần chẳng biết kẻ vô danh nào lén đặt bài vị của người
vào bàn thờ miếu Cá Ông. Thế rồi dân chúng rỉ tai nhau,
lũ lượt đến lễ lạy. Khi viên chánh tỉnh Renault hay biết,
y nổi trận lôi đình hạ lệnh dẹp bài vị, và lần lượt
cách chức ban hội tề làng Vĩnh Thanh Vân, về lỗi vô tình
dung dưỡng việc thờ phượng nầy. Tóm lại, tổ chức lễ
tưởng niệm là một thách thức đối với chế độ thực
dân, hậu quả nguy hiểm khó ước lường. Sư Trí Thiền đã
tiên liệu mọi việc, sư biết trước buổi lễ sẽ bị cản
ngăn, phá hoại, chùa sẽ bị theo dõi khủng bố trả thù.
Thế nhưng sư vẫn cương quyết tiến hành, với tất cả niềm
tin là buổi lễ sẽ thành công, và tinh thần ái quốc của
người xưa sẽ được khơi dậy mãnh liệt trong lòng người
dân tỉnh nầy.
Dù
đã là bậc cao tăng, tuổi gần sáu mươi, nhưng vừa nhìn
đến bài vị song thân, lòng sư bỗng xúc động mãnh liệt.
Sư nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ căn nhà bé nhỏ Tà Niên ngập tràn
hạnh phúc cho đến khi bọn người hung ác vây bắt cha. Cha
mẹ đột ngột qua đời, bé Đồng được cậu Vĩnh Thùy đem
về chùa nuôi dưỡng. Cũng ở tại chánh điện nầy, năm mươi
năm trước, thằng bé đã quì ở đó nghe cậu tụnh kinh cầu
siêu cha mẹ. Thằng bé sục sùi rơi lệ, và có lần không
kềm hãm nỗi, nó đã khóc ngất lên, khiến cậu cũng xúc
động, ngưng đọc kinh, ôm chặt cháu vào lòng an ủi. Đó
là bài kinh cầu an không lời nhiệm mầu nhất mà bé Đồng
đã đón nhận được từ tuổi ấu thơ. Thế rồi, cậu bé
được cậu cho thọ giới sa di, ban cho pháp danh Trí Thiền.
Sư được cho theo học trường tỉnh, và đồng thời, cũng
được sư phụ khổ cộng giảng dạy nội điển thâm sâu.
Sau khi thọ tỳ kheo giới, sư lại cần mẫn tham dự các khóa
hạ tại các tổ đình miền Nam: Tập Phước, Vĩnh Tràng, Tây
Hưng… để trau dồi giới đức. Ngoài ra, sư cũng được
tu học một thời gian khá lâu tại chùa Phi Lai, núi Voi, thuộc
vùng Thất Sơn, Châu Đốc. Đây là ngôi tổ đình của giáo
phái Bửu Sơn Kỳ Hương, một chi phái thuần túy Việt, đề
cao sứ mạng hưng long đạo pháp, song song với trách vụ xả
thân bảo vệ non sông. Chùa cũng có liên hệ mật thiết với
công cuộc chiến đấu chống Pháp tại rừng Bảy Thưa, Láng
Linh, do đức cố quản Trần Văn Thành lãnh đạo. Thời gian
sống tại đây với vị tôn túc, vốn là chiến hữu của
phụ thân ngày trước, đã ảnh hưởng khá sâu đậm đến
hoằng nguyện xả thân cho dân tộc và đạo pháp của sư.
Sau
khi sư phụ Vĩnh Thùy qua đời, sư kế vị trụ trì chùa Tam
Bảo năm 32 tuổi, và bắt đầu sự nghiệp phát huy đạo pháp.
Sư phát động phong trào học Phật tu thân trong tỉnh. Sư thuyết
pháp giản dị mà sâu sắc. Sư biết sử dụng lối kiến giải
phù hợp với khoa học, vạch rõ được những tập tục mê
tín ngoại đạo lẫn lộn trong chùa, do đó, giới trí thức
trong tỉnh đua nhau theo sư học hỏi Phật Pháp. Giới bình
dân không phù hợp với giáo lý cao siêu, sư tùy bệnh cho thuốc,
cổ xúy họ pháp môn niệm Phật tu tâm. Nhằm thay đổi lối
đóng góp cho đạo pháp một cách tiêu cực - phó mặc chuyện
chùa chiền cho quý thầy - của giới cư sĩ, nhân dịp trùng
tu ngôi chùa cũ hư mục, sư đã vận dụng họ vào ban hưng
công tái thiết. Sự đóng góp nhiệt thành của giới cư sĩ
như một luồng gió đầy sinh khí phát động công cuộc chấn
hưng Phật giáo tỉnh nhà. Sư lại chịu khó đi lưu động
thuyết pháp độ sanh khắp nơi, không nệ chốn vắng vẻ ít
người. Địa điểm nào cần dựng chùa cho Phật tử có nơi
quy ngưỡng sư liền thành lập. Do đó, chỉ trong vòng mười
năm, sư tạo dựng đến chín ngôi già lam rải rác khắp tỉnh
Rạch Giá. Song song với công cuộc hoằng pháp, sư còn chủ
trương đưa Phật giáo đi vào cuộc đời, xoa dịu bớt những
nỗi thương đau của người dân nghèo bị trị. Đạo đức
của sư vang lừng khắp miền Nam, lan rộng đến Nam Vang. Nơi
nơi thỉnh sư về thuyết pháp, giảng dạy kinh luận. Năm 1931,
sư đã tích cực yểm trợ phong trào chấn hưng Phật giáo
nước nhà của tổ Khánh Hòa, và đảm nhận chức vụ cố
vấn cho Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học. Hội bị vài cư
sĩ khuynh loát, sinh hoạt đình trệ. Sư Khánh Hòa lui về Trà
Vinh thành lập Liên Đoàn Phật học xã, rồi đổi thành Hội
Lưỡng Xuyên Phật Học, để chăm lo việc đào luyện tăng
tài. Sư Trí Thiền ủng hộ tài chánh mạnh mẽ cho hai tổ
chức nầy, nhưng sư nhận thấy mục tiêu khiêm tốn đào tạo
tăng tài không đáp ứng nỗi nhu cầu khẩn thiết của đất
nước. Phật giáo phải đi vào cuộc đời, tích cực xoa dịu
thương đau người dân, tiêu trừ tệ trạng dốt nát nghèo
đói, và nếu cần, phải đứng lên chống nạn bốc lột kinh
tế, lũng đoạn thị trường của những kẻ thiếu lương
tâm. Đó là lý do khiến sư đã đứng lên vận động giới
tu sĩ Phật giáo trong tỉnh kết hợp thành tổ chức thống
nhứt lấy tên Hội Phật Học Kiêm Tế năm 1937 và cho ra đời
tạp chí Tiến Hóa hai tháng sau đó. Vì công việc đa đoan
sư đã ủy thác tờ báo Tiến Hóa cho sư Pháp Linh và sư Thiện
Chiếu đảm trách. Hai vị nầy, một người rất tán đồng
lề lối nhập thế của tân tăng Nhựt Bổn, người cảm tình
với duy vật biện chứng, nên có luồng dư luận nghi ngờ
tờ báo thân Nhựt và thân cộng. Sư đặt trọng tâm vào việc
hoằng pháp, phát triển cơ sở Phật giáo và đẩy mạnh công
tác xã hội từ thiện: tổ chức cứu trợ nạn nhân bão lụt
năm Đinh Sửu, đẩy mạnh phong trào bình dân giáo dục và
phòng thuốc phước thiện, có đông y chẩn bệnh, có nơi tạm
trú cho bệnh nhân ở xa… Sư cũng chánh thức thành lập Viện
Mồ Côi đặt tại Rạch Giá và dự trù thành lập Viện dưỡng
lão tại Tam Bảo Từ Tôn, Hòn Quéo.
Công
việc đa đoan, nhưng sư vẫn dành thời giờ tổ chức lễ
tưởng niệm người anh hùng dân tộc, và buổi lễ, may mắn
đã diễn ra êm đẹp, không bị phá hoại như những nguồn
tin dọa nạt lúc đầu. Điều đáng tiếc lại xảy ra trong
nội bộ. Một biên tập viên Tiến Hóa xuyên tạc buổi lễ,
chỉ trích cố lãnh binh Nguyễn Trung Trực là tay sai phong kiến
nên không đáng được đề cao. Sự kiện nầy thúc đẩy sư
đi đến quyết định chấn chỉnh nhân sự tờ báo, một quyết
định sư đã manh nha khi nhận thấy tờ báo bắt đầu vượt
khỏi tầm kiểm soát, bài vở quá khích có thể gây nguy hại
đến kế hoạch hoằng pháp và từ thiện xã hội trường
kỳ của sư. Sư Pháp Linh và sư Thiện Chiếu bất mãn bỏ
đi. Sư Trí Thiền liền cho người liên lạc với ông cử Võ
Ngọc Hoành, một nhân sĩ thuộc phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục
đang bị Pháp giam lỏng tại Sa Đéc, để nhờ giới thiệu
cây viết khác và bọn mật thám Pháp tại Sa Đéc bắt được
tin nầy. Tình hình chính trị thế giới cuối năm 1939 đã
xoay chiều. Pháp thua trận nhục nhã tại chánh quốc, và Nhựt
đang hùng hổ gây hấn mưu toan bành trướng thế lực tại
vùng Đông Nam Á. Bọn cầm quyền Pháp tại Đông Dương buộc
lòng ve vãn nhượng bộ Nhựt, không dám công khai đụng chạm
đến những phe nhóm chánh trị người bản xứ được Nhựt
đỡ đầu. Mặt khác, chúng hiểm độc ra tay đối phó với
hiểm họa Nhựt, bằng cách ngấm ngầm bóp chết ngay trong
trứng nước các phe nhóm toan móc nối Nhựt. Luận điệu thân
Nhựt của tờ Tiến Hóa trùng hợp mối liên lạc mật thiết
của sư Trí Thiền và nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục, đã là nguyên
nhân thúc đẩy bọn Pháp ra tay hạ độc thủ. Chỉ hai tuần
sau vụ lủng củng nội bộ, bọn Mật Thám từ Sa Đéc đã
kéo về Rạch Giá hợp với đám địa phương, bao vây chùa
Tam Bảo lúc nửa đêm khám xét bắt sư Trí Thiền và người
đệ tử là sư chú Thiện Ân, tục danh Trần Văn Thâu đem
về sở mật thám khảo tra. Theo biên bản, mật thám khám phá
được 40 tạc đạn nội hóa cùng những tài liệu liên quan
đến Xứ ủy Nam Kỳ cất giấu tại chùa. Cũng theo biên bản
thì hai trái lựu đạn gài nơi bàn vong đã nổ tung trong khi
mật thám lục soát làm một người đội tên Xuôi bị thương
nhẹ ở tay. Sư chú Thiện Ân bị tra tấn dã man và nhận tội
một mình, không khai ai là đồng đảng. Có thể sư chú không
chịu nỗi đòn bộng đành nhận tội cho xong, cũng có thể,
sư chú hy sinh nhận tội một mình để sư phụ Trí Thiền
khỏi bị tra tấn. Điểm mà sư Trí Thiền tin chắc là người
đệ tử không dại dột mang những thứ nguy hiểm đó, hơ
hỏng lưu giữ tại chùa, nơi mà thiện tín tự do ra vào hành
lễ, vừa là nơi làm báo, trường học, bệnh xá chẩn bệnh
cho thuốc, viện cô nhi… Chỉ có những kẻ đi bắt người
mới đủ khả năng và điều kiện sản xuất rồi mang tới
chùa vu oan giá họa. Họ muốn múa rối, tung hỏa mù, vẽ vời
biên bản hại người cách nào chẳng được. Do đó, tuy chụp
cho tội ghê gớm là tổ chức vũ trang phá rối trị an, mà
ngoài mấy trái lựu đạn thô sơ gài tại bàn vong !!! và lời
nhận tội yếu ớt của sư Thiện Ân, thì không còn bằng
chứng nào khác; không đồng lỏa, không đoàn viên tham gia,
không người sản xuất vũ khí, cũng không hề có các vụ
rải truyền đơn, gài lựu đạn phá hoại nào xảy ra tại
Rạch Giá cả… Thế nhưng, hồ sơ buộc tội hàm hồ đó
lại kết thúc nhanh chóng, nội vụ đưa ra trước tòa Đại
Hình Saigon để cuối cùng chúng cũng long trọng tuyên án: Tử
hình Trần Văn Thâu tức Thích Thiện Ân và phạt Nguyễn Văn
Đồng tức Thích Trí Thiền chung thân khổ sai. Thời gian qua,
sư Trí Thiền và đệ tử luôn bị kiểm soát gắt gao, nghiêm
cấm liên lạc, giam riêng, nên thầy trò không có cơ hội nào
trò chuyện riêng tư cả. Sau khi Tòa đã tuyên án, việc nghiêm
cấm không còn nữa, đám tù nhân thành án gom lại một nơi
để chờ đợi lên đường về khám lớn, sư Trí Thiền mới
có dịp đứng cạnh đệ tử. Thầy trò trầm lặng nhìn nhau,
bao nhiêu thương yêu tràn ra trong ánh mắt nhưng chẳng ai thấy
cần thiết mở lời. Mãi đến khi sắp giã biệt, sư chú Thiện
Ân mới khe khẽ ngâm nga:
-
Thân
xác nào có chủ
-
Hình
hài vốn lai không !
-
Đem
đầu kề gươm bén
-
Như
chém ngọn gió Xuân. (6)
Sư Trí
Thiền mỉm cười. Sư cánh cánh thầm lo người đệ tử hiên
ngang không sợ chết nầy, không hành nỗi hạnh hỷ xả để
rồi cứ mang mang ôm ấp thù hận trong lòng. Bây giờ sư mới
an tâm chia tay. Sư sung sướng nghe đệ tử nguyện đón cái
chết nhẹ nhàng, mát mẻ như đón ngọn gió xuân…
Trước
vành móng ngựa cũng như bao lần bị tra tấn lấy khẩu cung,
sư Trí Thiền vẫn giữ được thái độ trầm tỉnh thong dong
của bậc chân tu, khiến cho những kẻ hung hăng thô lỗ không
còn chút tình người cũng phải sinh tâm kính trọng. Tuy vậy,
khi trở về phòng biệt giam, thui thủi một mình sư cũng nghe
lòng mình se thắt lại. Sư chẳng vương chút hận thù, chẳng
bợn lòng tiếc nuối sự nghiệp bọt bèo tan tác, cũng không
đau đớn lo âu thân phận tù tội đọa đày. Thế nhưng, sư
lại bâng khuâng vận nước, bồn chồn nhớ nghĩ đến đám
dân nghèo mất nơi nương tựa, trẻ con thất học bụi đời,
trẻ mồ côi, người bệnh hoạn không tiền thang thuốc…
Do đó, khi tọa thiền sư cứ bị phân tâm. Sư chọn phương
pháp dụng công giản dị như sổ tức quán, tức đếm hơi
thở, mà cũng bị lầm lộn mãi. Cuối cùng sư phải vận dụng
đến pháp môn trì chú. Sư tụng chú đại bị liên tục. Tụng
chú thì phải chăm chỉ theo dõi từng tiếng Phạn trúc trắc
khó đọc, nên không còn nhớ nghĩ chuyện gì khác. Nhờ vậy,
chỉ trong vòng một tuần lễ, sư cởi bỏ được những nỗi
niềm xao xuyến trong tâm, và lần lần cảm thấy thong dong
tự tại trong tù ngục.
Đầu
thu năm1942, sư bị giải giao bằng tàu ra Côn Đảo. Tù nhân
cùm dính chùm hai người với nhau bị tống xuống hầm tàu
dồn nén như cá mòi hộp. Khẩu phần được phát một lần,
rồi cửa hầm đóng lại. Địa ngục nổi trở nên tối tăm,
nóng bức kinh người. Mùi mồ hôi, mùi dầu, mùi mốc, ngột
ngạt khiến đầu óc bọn tù choáng váng, ngầy ngật. Ra khơi
chừng năm giờ, tàu lại bị sóng to trồi lên sụp xuống,
khiến cho bọn tù nhân, vốn bị nóng bức ngột ngạt hành
hạ, say sóng lê lết ói mửa, tiêu tiểu bừa lên nhau. Địa
ngục nổi vừa là địa ngục lắc lư, địa ngục phẩn tiểu
tối tăm, hôi hám, bẩn thỉu, nóng bức ngột ngạt, khổ sở
không kể xiết. Sư Trí Thiền là người duy nhất không bị
say sóng, có lẽ nhờ sư để bụng đói, sư đã nhường phần
ăn của mình cho người bạn tù trẻ. Sư kéo người bạn cồng
chung tay ngồi dựa sát bên, sư nâng đầu người khác ngữa
lên đùi, vuốt ve an ủi. Sư nhỏ nhẹ khuyên lơn mọi người
đừng sợ hãi, đừng chán nản, vì sóng gió nào rồi cũng
qua đi. Hốt nhiên sư khám phá rằng hoằng nguyện Quán Thế
Âm, xoa dịu thương đau chúng sanh ngày trước của sư, vẫn
có thể thực hiện được ngay trong ngục tù, dù với phương
tiện hạn hẹp tại chốn nầy. Sư không nhất thiết phải
làm thầy, phải tụng kinh, gõ mõ nữa. Sư cứ tùy tiện, tùy
duyên mà làm. Ai cần đến sự nâng đỡ của người cha, sư
sẽ là người cha bao bọc họ. Ai cần đến sự nâng niu của
bà mẹ, sư sẽ là bà mẹ vỗ về an ủi họ. Ai cần đến
sự chăm sóc của người con, sư sẽ là đứa con ngoan hiền
hiếu thảo phụng dưỡng họ. Trong lặng yên, lòng sư lại
hân hoan rộn ràng tiếng ca:
-
Hốt
nhiên trong địa ngục
-
Chợt
khám phá đạo tràng
-
Thân
gông cùng xiềng xích
-
Hoằng
nguyện vẫn thênh thang…
Cuối
cùng tàu cũng cập bến Côn Sơn, tù nhân từng cập dắt díu
lê lết lên bờ trình diện ban cai ngục trên đảo và liền
được lệnh đứng nghiêm để nghe những lệnh lạc mới phải
tuân hành. Bọn tù nhân vừa trải qua mấy ngày đường thê
thảm, đầu óc lờ khờ, tay chân quờ quạng… ngây dại không
thi hành đúng chỉ thị liền bị ngay một trận đòn tối
tăm mặt mũi, không hiểu rõ nguyên nhân. Đây là trận đòn
khai tâm, dằn mặt bọn tù mới đến, lần nào cũng xảy ra
như một cái lệ, vì lý do trừng trị thì lúc nào bọn cai
ngục bươi ra cũng có. Sau khi phân loại, sư Trí Thiền với
tội danh đầu đảng phản loạn nguy hiểm, liền bị tống
vào lao kỹ luật trại số 1, nhằm trừng trị những thành
phần ngoan cố: tấn công giám thị, chủ mưu phá ngục, vượt
ngục, giết lính giết bạn tù… Tù nhân bị trừng trị thẳng
tay, khẩu phần ăn bị giảm, ngày đêm xiềng xích, mỗi ngày
chỉ được phép ra ngoài sưởi nắng một giờ. Tù nhân bị
hành hạ dai dẳng, thân tâm kiệt quệ, bại liệt gầy còm,
ngây ngây dại dại như một bóng ma nằm cú rũ trong góc phòng
u tối để chờ đợi đến giờ ân huệ, vận dụng hết chút
hơi tàn còn lại bò lê lết ra ngoài hưởng chút không khí
trong lành. Sư mang thông điệp yêu thương tươi mát vào lao
kỹ luật. Sư gợi chuyện, thuật những mẫu chuyện đạo
nội dung vui tươi, để tạo dựng được những nụ cười
làm tan loãng bớt không khí sầu thảm nơi đây. Xây dựng
được nhịp cầu cảm thông, sư bắt đầu khuyên họ áp dụng
phương pháp niệm Phật tu tâm. Tiếng niệm Phật ngăn chận
nỗi niềm nhung nhớ thế giới bên ngoài cùng chuỗi đời
quá khứ buồn thương. Tiếng niệm Phật cũng xóa tan đi mối
sầu lo cho tương lai mờ mịt. Mỗi tiếng niệm Phật là một
bước quay về thế giới Cực Lạc, mỗi tiếng niệm Phật
là một niệm an tịnh hiện tiền ngay chốn tù đày. Mỗi ngày
ba thời, sau khi sư thỉnh ba tiếng chuông miệng "boong ! boong
! boong !", cả lao đồng nghiêm chỉnh thiết tha cất tiếng
niệm "Nam mô A Di Đà Phật". Song song với việc tu tâm, sư
khuyên họ cố gắng cử động tay chân, mỗi giờ rủ nhau
ngồi lên đứng dậy, xoa bóp tay chân cho máu huyết lưu thông.
Trong giờ ra ngoài phơi nắng, tù mạnh dìu tù yếu đi tới
đi lui, để tránh tình trạng nằm ủ rũ không cử động như
ngày trước. Người tê bại nặng quá, không đủ sức xê
dịch nỗi, sư đích thân xoa bóp chân họ, rồi khuyến khích
họ cố gắng nhích từng bước như đứa bé mới tập đi.
Lao kỹ luật, vốn vang danh là nhà lao chết, đã tràn đầy
sinh khí, ẩn hiện trong từng tiếng niệm Phật chân thành,
trên từng nét mặt tin yêu, trong thân thể gầy gò, tay chân
ngượng ngập…
Đầu
năm 1943, sư Trí Thiền được chuyển sang trại số 4, một
trại giam chánh trị phạm, trực thuộc sở củi. Qui chế trại
tương đối thoải mái: tù nhân mỗi ngày được đưa vào
rừng đốn củi, tuy phải làm việc cực khổ nhưng được
chút đỉnh tự do, được vận động và thở không khí trong
lành. Tù nhân chánh trị có tinh thần vững chãi, biết đoàn
kết và có tư cách nên giám thị cũng nể nang. Tù nhân, tùy
theo khuynh hướng chánh trị mà kết hợp mật thiết với nhau
thành nhiều nhóm, không thân thiện nhau cũng không công khai
chống báng nhau. Sư Trí Thiền không gia nhập nhóm vào. Với
ai, sư cũng tròn đầy hạnh nguyện Quán Âm, sư xả thân làm
cha mẹ, anh em, vợ con, bè bạn… để khuyên lơn, an ủi, đỡ
đần họ.
Chỉ
trong một thời gian ngắn, sư đã kết thân với hầu hết
mọi người, như một gạch nối cho các phe nhóm khác biệt.
Trở ngại duy nhất mà sư vấp phải là thái độ chống đối
ra mặt của Ba Lợi. Ba Lợi chỉ trích sư thiếu chất "sắt
máu", không ngùn ngụt thù hận như kẻ chân chính làm cách
mạng, sư là hiện thân của hạng cầu an cúi đầu trước
kẻ thù, mà còn khờ dại tiếp tục sử dụng tôn giáo ru
ngủ kẻ khác, vô tình làm công cụ phục vụ cho bọn thực
dân phong kiến thống trị nữa. Sư vận dụng mọi cách để
gần gũi với Ba Lợi, nhưng tất cả thiện chí dường như
vô ích.
Mùa
hè năm Quí Mùi, thời tiết Côn Sơn bỗng trở nên độc địa
khác thường. Bệnh dịch tả xuất hiện rồi hoành hành dữ
dội. Thế chiến thứ hai đang diễn ra khốc liệt, Âu dược
cực kỳ khan hiếm, không đủ mức dự trữ cho đám quản
trị trại tù và gia đình họ, huống hồ ban phát đầy đủ
cho bọn tù nhân. Tù nhân bệnh la liệt, bệnh xá không chỗ
chứa, nên chi tù bệnh nặng nhẹ gì cũng chỉ được phát
thuốc, và nằm trong trại cốc tự dưỡng bệnh. Tù nhân trại
số 4 vẫn phải vào rừng đốn củi, nhưng sư Trí Thiền tình
nguyện ở lại chăm sóc người bệnh. Sư thương yêu cưng
chiều từng người như bà mẹ lo lắng cho con, kể cả những
con bệnh khó tánh như Ba Lợi. Sau cơn ói mửa, Ba Lợi lả
người nằm thiêm thiếp, hơi thở yếu ớt tưởng như sắp
lìa đời. Thình lình trong cơn mê, hắn mấp máy từng tiếng
đứt khoảng:
-
Thiên
Đàng Địa Ngục hai bên
-
Ai
khôn thì nhờ, ai dại thì sa
-
Thiên
Đàng nhớ Chúa tưởng Cha
-
Đọc
kinh cầu nguyện kẻo sa linh hồn…
-
Linh
hồn phải giữ linh hồn
-
Đến
khi gần chết được lên Thiên Đàng…
Đây
là bài hát trẻ con trong trò chơi Thiên Đàng Địa Ngục phổ
biến trong các họ đạo, mà khi lên năm tuổi, theo phụ thân
đến nhà thờ, sư đã có dịp tham dự đôi lần. Thì ra Ba
Lợi chẳng phải là kẻ không tôn giáo, những lúc bệnh hoạn
khổ sở, hắn vẫn thầm mơ về Chúa. Thật là tội nghiệp
! Hắn đã phải che dấu niềm tin của mình bằng thái độ
chống báng tôn giáo quá khích, và giờ đây trong cơn mê mối
ẩn ức nằm sâu trong tiềm thức mới tự động tuôn trào.
Sư nghĩ Ba Lợi cần được sự nâng đỡ tinh thần và vật
chất của vị linh mục sở tại nên nhờ viên giám thị, thông
báo với cha có con chiên bệnh nặng chờ chết. Linh mục Jean
tức tốc đến nơi. Nhận thấy bệnh trạng của Ba Lợi đã
hiểm nghèo, linh mục đưa hắn đi bệnh viện chữa trị ngay.
Ngày
xưa khi sư phụ Vĩnh Thùy sắp từ trần, người dặn dò sư
giải quyết công án thiên đàng địa ngục của tổ Trí Tạng:
"Một vị cư sĩ hỏi tổ Trí Tạng:
- Có
thiên đàng, có địa ngục chăng ?
Tổ
đáp:
- Có
- Có
tam bảo: Phật, Pháp, Tăng chăng ?
- Có
- Hòa
thượng lầm rồi ! Con đã hỏi hòa thượng Cảnh Sơn, Ngài
nói tất cả đều không kia mà !
- Người
có vợ chăng ?
- Có
!
- Hòa
thượng Cảnh Sơn có vợ chăng ?
- Không
!
- Hòa
thượng Cảnh Sơn nói không là phải !"
Công
án thoạt nghe tương tợ như công án "có Phật tánh" và "không
Phật tánh" của tổ Triệu Châu (7), nhưng khi nhìn sâu vào
thì dường như có nét biến chuyển chập chùng kỳ bí. Thuở
ấy, sư quá bận bịu với công cuộc hoằng dương đạo pháp,
nên chỉ hiếu kỳ tham cứu một thời gian rồi bỏ quên lửng.
Nay vô tình nghe Ba Lợi thều thào bài hát Thiên Đàng Địa
Ngục, công án năm xưa bỗng trổi dậy mãnh liệt trong tâm,
rồi mối nghi tình lo lớn chụp phủ xuống không có chỗ nào
tránh thoát. Dẫu sư đi, đứng, nằm, ngồi, săn sóc bệnh
nhân, trò chuyện với người, hay làm bất cứ động tác nào
thì công án cũng bám cứng trong tâm, không phương cách gì
tách rời ra khỏi… Sư cảm giác như Tổ Trí Tạng đang đối
thoại với chính sư. Đối thoại đó lập lại như một điệp
khúc tiếp nối triền miên, mà âm diệu thì mỗi lần mỗi
khác. Cũng tiếng đáp "có và không" đôi khi sư nghe như dồn
dập khẩn thiết, khi thì nghiêm trang cổ quái, lúc lại đượm
về mỉa mai, trêu cợt, khinh đời. Sư bị bức bách trong trạng
thái lạ lùng nầy, một mình mình biết, một mình mình chịu,
chẳng có thầy bạn ở gần giải bày tâm ý. Trại giam nóng
bức, chật nứt người mà sư lại cảm giác như đang cô đơn
thất thiểu trong vùng Bắc cực buốt giá, mắt trao tráo nhìn
tảng băng công án chình ình nằm cản lối, tai lại nghe dồn
dập tiếng ca "Thiên đàng địa ngục hai bên. Ai khôn thì nhờ,
ai dại thì sa !". Ôi ! đó là trò chơi thuở bé hay là trò
chơi suốt cả cuộc đời: mải miết quay cuồng với phải
trái, thịnh suy, khôn dại… để chìm nổi theo địa ngục
thiên đàng.
Nạn
dịch tả giảm dần, trại giam trở lại nếp sống thường
nhựt. Ba Lợi hoàn toàn bình phục, hắn trở lại đạo, và
được vị linh mục ưu ái thăm nom săn sóc. Hắn được chuyển
thành tù áo trắng, không phải đi đốn củi nữa, mà hàng
ngày lãnh nhiệm vụ quét dọn, chăm sóc cây kiểng tại nhà
thờ, tối mới về trại ngủ. Tuy nhiên, mối giao tình của
Ba Lợi và nhóm thân hữu của hắn có vẻ gượng gạo. Họ
cố tình tránh né hắn, hắn cuống quít vồn vã, thì họ lại
càng xa lánh. Dường như họ nghi ngờ, lo lắng y sẽ tiết
lộ những bí mật phe nhóm. Sư Trí Thiền thoáng thấy điểm
đó, và dự định khuyên Ba Lợi, nên nhờ uy thế của vị
linh mục để chuyển sang trại khác. Thế nhưng, sư lại đang
điên đầu với công án thiên đàng địa ngục, sư thở vào,
thở ra, cưa cây xẻ củi, cũng đeo công án dính cứng không
gỡ thoát được, nên chuyện hiểm nguy của Ba Lợi sư chỉ
thoáng nghĩ rồi bỏ qua tức khắc.
Đêm
đến sư ngồi tọa thiền, mối nghi càng mãnh liệt, công án
lồ lộ trước mắt, bao nhiêu tâm ý đặt vào đó, không mảy
may vướng bận chuyện bên ngoài. Sáng hôm sau vừa xả thiền,
sư nghe cả trại nhốn nháo tin Ba Lợi bị đâm chết. Ba Lợi
giận dỗi đám thân hữu bỏ sang nằm cạnh sư, sư chẳng
hay biết gì cả mới thật là kỳ lạ. Nội vụ được thông
báo ngay cho ban giám thị và cả trại bị giữ lại để điều
tra. Chúng cật vấn từng tù nhân, dụ dỗ, dọa nạt từng
người vẫn không tìm ra manh mối. Cuối cùng chúng đưa biện
pháp trừng phạt cả trại bằng cách cho tù ăn cơm không,
không có muối và thực phẩm nào khác. Chỉ trong năm ngày
thiếu chất muối, bọn tù kiệt sức nằm rên rĩ, có kẻ
điên loạn cào cấu cả mặt mày. Thế nhưng ai cũng tuân phục
nguyên tắc không nghe, không thấy, không biết… nên khổ sở
cùng cực mà chẳng chịu hở môi.
Sư
Trí Thiền đã phát hoằng thệ nguyện hành hạnh Quán Âm,
do đó, tuy sư đang thao thức mong giải quyết công án "thiên
đàng địa ngục", mà hạnh nguyện ban vui cứu khổ vẫn không
quên được. Sư đứng ra nhận tội một mình. Ngay sau đó,
biện pháp trừng trị trại số 4 được giải tòa, riêng sư
được chuyển sang chuồng cọp biệt giam, chờ viên thiếu
tá Chúa Đảo kiêm Giám Đốc Khám Đường xử lý. Tình hình
chính trị cuối năm 1943 trong đất liền rất rối ren, viên
Chúa Đảo không muốn bận tâm chở phạm nhân vô ra Saigon
để Tòa Đại Hình xét xử theo thủ tục bình thường. Hắn
xử trí những vụ sát nhân trong đảo theo đường lối riêng:
cho toán lính tin cậy đưa tù nhân đến bãi biển Tây Nam rồi
bắn sau lưng tù nhân, đoạn lập biên bản xác nhận tù nhân
bị hạ sát trên đường vượt ngục toan lội biển trốn
sang hòn Bà.
Phòng
biệt giam rất thuận tiện cho việc tọa thiền. Sư lại biết
ngày chết của mình đã gần kề, nên bao nhiêu tâm lực sư
dốc hết vào việc giải quyết công án. Điều trớ trêu là
càng hấp tấp thì càng đổ vỡ, mối đại nghi mà đôi lúc
sư tưởng như đã đạt đến đầu mé bỗng ì ra không xê
dịch thêm gì được. Đến nửa đêm, sư xả thiền, xoa bóp
tay chân, bước tới lui mươi phút cho giãn gân cốt, rồi tiếp
tục tọa thiền lại. Một chút thất vọng lóe lên khiến
sư phân tâm, động niệm chuyện xa gần. Một niềm vui len
lén đến với sư khi sư chợt nhớ đến hoằng nguyện xả
thân cho dân tộc và đạo pháp của mình, niềm vui đó bỗng
đổi thành chút xót xa khi sư nghĩ đến bọn ngoại nhân xâm
lược vẫn còn đang dày xéo nước nhà. Hốt nhiên, sư chợt
khám phá rằng trong niệm đầu sư còn lơ lửng ở chốn thiên
đàng mà niệm kế tiếp, thì sư đã bị lôi tuột xuống địa
ngục rồi. Sư lại bị trì kéo giữa thiên đàng địa ngục
hai bên, lại phải đối đầu với công án có vợ có thiên
đàng địa ngục, không vợ không thiên đàng địa ngục nữa
rồi ! Kẻ có vợ chắc đã thực nghiệm đủ mọi trò mật
ngọt đắng cay của tình yêu, họ bị sợi dây tình ái lôi
kéo chằng chịt giữa thiên đàng địa ngục, đó là sự thật
hiển nhiên rồi. Sư không vợ cũng như tổ Cảnh Sơn, thế
sao sư lại bị trôi lăn chốn thiên đàng địa ngục ? Sợi
dây nào đã lôi kéo sư đây ? Câu trả lời bỗng hiện ra
như một tia chớp. Sư tự khám phá mình cũng bị ràng buộc
bởi dây tình ái, thứ tình không thô kệch như tình chồng
vợ, mà ẩn hiện vi tế cao đẹp khó thấy như tình dân tộc,
tình đạo pháp… Còn tình nhiễm thì còn bị xâu vào xích
của mười hai nhân duyên luân hồi sanh tử. Còn tình nhiễm
là còn phân biệt đúng sai, khôn dại, vinh nhục…, còn mảy
may thương ghét, còn xoay tít trong vòng địa ngục thiên đàng.
Thế rồi, những ý niệm về biên giới, màu da, chủng tộc,
thiện ác, đúng sai… bỗng nhiên tan biến không còn tung tích.
Sư chợt thấy lòng nhẹ nhỏm, thênh thang, tình yêu bình đẳng
lồng lộng ngút ngàn.
Trong
chớp mắt khối nghi dằng dặc đè nặng bỗng vỡ tan thành
mảnh vụn, một niềm an lạc kỳ diệu bao trùm thân tâm sư.
Cả sơn hà đại địa, một toàn thể chiếu diệu, trong suốt,
trạm nhiên, vắng lặng… lồ lộ hiện bày, không còn gì
để nghi ngờ, không còn gì để mô tả nữa.
Sư
lắng chìm trong trạng thái kỳ bí nầy cho đến khi cửa phòng
giam mở, và viên giám thị lên tiếng giục:
- Đi
nhanh lên ! lão già !
Sư
từ hòa đáp:
- Cảm
tạ chú nhắc nhở ! đúng vậy, đã tới lúc ta nên ra đi rồi
!
Người
cai ngục không ngờ tên sát nhân đến lúc sắp đền tội
vẫn điềm tỉnh nhường ấy. Lạ nhứt là giọng nói của
lão sao hiền hậu quá, giống như người cha già thân thương
tâm sự với con. Mắt quen dần bóng tối, anh hiếu kỳ quan
sát lão tù nhân già, hai chân tréo nhau ngồi dưới đất, mặt
rạng rỡ, đang nhìn anh mỉm miệng cười. Bỗng nhiên anh cảm
giác một niềm vui kỳ diệu từ người tù nhân già trao đến.
Anh quyến luyến nhìn lão già thêm một lúc, rồi bồi hồi
lên tiếng:
- Ông
lão đi nỗi không ? tôi đỡ ông lão đi nhé !
- Chú
dễ thương quá ! Xin chú khỏi bận tâm. Ta đi mình "ênh" được
rồi !
Nói
xong lão già nhắm mắt lại, môi lão không động đậy mà
người cai ngục nghe văng vẳng như có tiếng ca:
-
Không
đúng sai khôn dại
-
Hết
địa ngục thiên đàng
-
Dạo
chơi nơi huyễn cảnh
-
Tùy
duyên lập đạo tràng…
Người
cai ngục cảm thấy lòng xao xuyến, anh ta linh cảm có điều
bất ổn, vội tiến tới sờ mũi, sờ ngực thì mới hay lão
tù nhân già đã vĩnh viễn ra đi rồi.
Ghi
chú:
1.
Tà Niên là địa danh xưa, nay thuộc xã Vĩnh Hòa Hiệp, Kiên
Giang. Hai câu ca dao tác giả nghe được có phần thô tục,
tác giả đã thay đổi 3 chữ cho nhẹ bớt, tuy kém phần dí
dỡm nhưng vẫn giữ nguyên ý khen gái Tà Niên khéo tay, nơi
kín đáo nào cũng thêu thùa làm đẹp và trai An Hòa cần cù
nên giống gì cũng đem xỏ xâu làm khô cả. Tác giả có lời
xin lỗi về hành vi tự tiện nầy.
2.
Cụ Nguyễn Trung Trực tên thật là Nguyễn Văn Lịch, người
làng Bình Đức, huyện Bến Lức, Long An. Cụ là vị anh hùng
kháng Pháp lừng lẫy với 2 chiến
công oanh liệt: đốt tàu
Espérance tại Nhựt Tảo và tiêu diệt đồn binh Săn Đá tại
Rạch Giá:
-
Hỏa
hồng Nhựt Tảo, oanh thiên địa
-
Kiếm
bạt Kiên Giang khắp quỉ thần.
-
(thơ
của cụ Huỳnh Mẫn Đạt)
Khi Pháp
xâm chiếm ba tỉnh miền Đông, cụ đã đứng lên hô hào thanh
niên tụ hợp dưới cờ để kháng địch. Ngày 10.12.1861, nghĩa
quân đã bắt thần tấn công thiêu hủy tàu Espérance của
Pháp neo tại lòng sông Nhật Tảo, thuộc ấp Nhựt Minh, quận
Tân Trụ và tiêu diệt trọn ổ lính Pháp. Một tiểu hạm
khác, neo tại sông Tra cũng bị nghĩa quân phá hủy 16.12.1862.
Khi
Pháp lại đem quân thôn tính ba tỉnh miền Tây, cụ Nguyễn
Trung Trực được vua Tự Đức phái vào miền Tây tiếp tục
chiến đấu. Người về Sân Chim, huyện An Biên chiêu mộ anh
tài, kết nạp nhóm Ông Lâm Quang Ky, rồi đưa quân đột ngột
hạ thành sân đá Rạch Giá hạ sát 73 sĩ quan binh sĩ người
Pháp, đoạt được 100 súng đủ loại.
Khi
Pháp kéo đại quân phản công, nghĩa quân thế yếu phải rút
về Hòn Chông, rồi dong thuyền ra Phú Quốc lập căn cứ chiến
đấu. Bọn Pháp vây đánh không được, phải đem bọn Việt
gian Huỳnh Công Tấn, Trần Bá Lộc ra Phú Quốc, sử dụng
phương pháp khủng bố đê tiện: bắt giam mẹ cụ Nguyễn
và bắt dân lành bỏ đói phơi nắng để làm áp lực buộc
cụ Nguyễn ra đầu thú. Lực lượng đã kiệt quệ, nghĩ mình
trốn lánh chỉ tội nghiệp dân lành, cụ Nguyễn ra trình diện
nhận chịu án trảm quyết tại chợ Rạch Giá ngày 27.10.1868,
nhằm ngày 12.09 âm lịch năm Mậu Thìn.
Tương
truyền, trước khi bị hành quyết cụ đã sang sảng ngâm bài
thơ tuyệt mệnh:
-
Thư
kiếm tùng nhưng tự thiếu niên,
-
Yêu
gian đàm khí hữu long tuyền,
-
Anh
hùng nhược ngộ vô dung địa.
-
Bảo
hận thâm cừu bất đái thiên.
Thi sĩ
Đông Hồ đã dịch nôm:
-
Theo
việc binh nhưng thuở trẻ trai,
-
Phong
trần hăng hái tuốt gươm mài.
-
Anh
hùng gặp phải hồi không đất,
-
Thù
hận chang chang chẳng đội trời.
3. Cù
lao Giêng (người địa phương gọi là cù lao Gieng): cù lao
trên sông Hậu Giang, thuộc xã Tấn Mỹ, quận Chợ Mới, An
Giang.
4.
Kinh Thánh, Tân Ước, sách Luke, chương 15, từ câu 11 đến
32. Con thưa cùng cha rằng: Cha ơi ! tôi đã đặng tội với
trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Nhưng
người cha bảo đầy tớ rằng: Hãy mau mau lấy áo tốt nhứt
mặc cho nó; đeo nhẫn vào ngón tay, mang giày vào chơn. Hãy
bắt con bò mập làm thịt đi. Chúng ta hãy ăn mừng, vì con
ta đây đã chết mà bây giờ lại sống, đã mất mà bây giờ
lại thấy được. Đoạn, họ khởi sự vui mừng (trích nguyên
văn các câu 21, 22 và 23).
5.
Thiền sư Trí Thiền tục danh Nguyễn Văn Đồng, sanh năm 1882
tại Rạch Giá, con của cụ Nguyễn Văn Trinh và bà Nguyễn
Thị Trường ấu niên xuất gia với hòa thượng Vĩnh Thùy,
tại chùa Sắc tứ Tam Bảo, Rạch Giá. Năm 32 tuổi, sư tiếp
nhận trụ trì chùa Tam Bảo và khởi công đại tu bổ ngôi
cổ tự nầy. Sau đó, sư tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp
lợi sanh, tạo dựng thêm 9 ngôi chùa rải rách khắp tỉnh
Rạch Giá: Tam Bảo Hòa Thạnh tự Vĩnh Hiệp, Vĩnh Phước tự
Tà Niên, Bửu Hưng tự Gò Đất, Phước Hưng tự Ngăn Gừa,
Tam Bảo Từ Tôn Sóc Xoài, Tam Bảo Kỳ Viên hòn Quéo và Tam
Bảo Long Sơn hòn Đất. Song song với sự nghiệp hoằng pháp,
sư chủ trương đem đạo Phật vào cuộc đời để xoa dịu
thương đau của người dân nghèo khốn khổ. Sư tổ chức
Bình Dân học vụ dạy trẻ em nghèo thất học, mở phòng khám
bệnh Đông Y chẩn bệnh và phát thuốc miễn phí, tổ chức
cứu trợ nạn nhân bão lụt, lập cô nhi viện, xây dựng cầu
cho dân đi lại (cầu dài 100 nhịp từ bán đảo hòn Me ra tới
hòn Quéo) và chuẩn bị lập dưỡng lão viện. Ưu tư với
sự tồn vong của đạo pháp và dân tộc, sư quyết tâm lập
Hội Phật giáo Kiêm Tế và cho xuất bản tạp chí Tiến Hóa
để phổ biến tư tưởng Phật giáo nhập thế của mình.
Tờ báo được giao cho sư Pháp Linh tục danh Phan Thành Hòa
làm chủ bút, với sự phụ tá của sư Thiện Chiếu tục danh
Nguyễn Văn Sáng. Hai vị nầy một người thán phục Nhựt,
một người cảm tình chủ nghĩa duy vật biện chứng, do đó,
tờ báo bị nghi ngờ thân Nhựt và thân Cộng.
Cuối
năm 1938, mật thám Sa Đéc hợp với mật thám Rạch Giá lục
soát và bắt giữ sư Trí Thiền và người đệ tử pháp danh
Thiện Ân, biên bản ghi nhận khám phá quả tang tàng trữ 40
quả lựu đạn nội hóa để làm việc phản loạn, khi lục
soát hai trái lựu đạn đã nổ làm người đội tên Xuôi
bị thương. Tòa Đại hình Saigon xử tử hình thầy Thiện
Ân và phạt thiền sư Trí Thiền chung thân khổ sai, lưu đày
Côn Đảo. Sư đã từ trần ngày 26.6.1943, nhằm ngày 24.05 âm
lịch năm Quí Mùi, sau một thời gian dài tuyệt thực thiền
định.
Dù
chánh quyền Pháp rêu rao bắt sư Trí Thiền có bằng chứng
rõ rệt, nhưng trên thực tế nội vụ có rất nhiều nghi vấn:
- Sư
Trí Thiền là người làm việc thận trọng và tế nhị, sư
đã mời viên chánh tỉnh Dufour làm hội trưởng danh dự hội
Kiêm Tế, lập ban chấp hành với thành phần viên chức thân
chánh quyền có uy tín như: Đốc phủ Tôn Quang Huy, Đốc phủ
Đỗ Kiết Triệu, Đốc học Huỳnh Văn Yến…, thương gia,
địa chủ như Đỗ Khuôn Mậu, Nguyễn Đức Huê, Nguyễn Văn
Phụng, Giang Minh Xinh… Sư không khờ khạo tin tưởng với
40 quả lựu đạn nội hóa làm bằng hộp lon nổ không chết
ai, mà có thể tổ chức được lực lượng võ trang chống
Pháp; huống chi chùa Tam Bảo tấp nập kẻ vô ra như cái chợ,
ai đến cũng được, ai xin ngủ nhờ cũng không từ chối.
Chùa lại vừa là trường bình dân giáo dục, bệnh xá, phòng
chẩn bệnh phát thuốc, cô nhi viện… đâu phải là nơi lý
tưởng để chứa chấp vũ khí. Điểm nực cười hơn nữa,
ban đêm trong chùa lại gài sẵn lựu đạn: để bảo vệ cái
gì và để hại ai đây ?!!!. Vả chăng, nếu chuẩn bị tích
trữ vũ khí thì ít nhứt cũng đã có một số cán bộ cán
bộ nồng cốt, vận động truyền, thành lập đội ngũ, chớ
chứa vũ khí mà chỉ có hai ông thầy chùa thì làm sao khơi
khơi ôm mấy quả lựu đạn tấn công đồn bót được ?
Vụ
bắt bớ, lập biên bản chỉ là cách chụp mũ hai người của
chánh quyền Pháp đương thời, và nguyên nhân, như tác giả
đặt giả thuyết và viết trong truyện ngắn, vì chúng lo ngại
nhóm Tiến Hóa sẽ móc nối với Nhựt qua trung gian của ông
cử Võ Ngọc Hoành, một nhà nho thuộc nhóm Đông Kinh Nghĩa
Thục, bị Pháp chỉ định cư trú tại Sa Đéc. Chính vì vậy
mà chủ động vụ bắt bớ là mật thám Sa Đéc, mật thám
Rạch Giá chỉ đóng vai hỗ trợ, và họ đã nhắm vào sư
Trí Thiền và người đệ tử, chớ không cố ý bắt sư Thiện
Chiếu, người thực sự có khuynh hướng thân cộng. (Sư Thiện
Chiếu, sư Pháp Linh, thầy giáo Nguyễn Văn Quảng, Đông y sĩ
Trần Xuân Vân, chủ nhiệm Tiến Hóa Đốc phủ Đỗ Kiến
Triệu, đều được thoát nạn).
6.
Nguyên tác chữ Hán như sau:
-
Tứ
đại chi vô chủ
-
Ngũ
ấm vốn lai không !
-
Tương
đầu lâm bạch nhẫn
-
Du
tợ trảm xuân phong !
Tương
truyền khi thiền sư Tăng Triệu, bị đưa ra pháp trường xử
tử tình, sư đã coi cái chết như không thực có, coi như đao
phủ thủ chém gió xuân, chớ không dính líu gì với cái "không
sanh không diệt" cả. Sư đã bình thản ngâm bài thơ trên.
7.
Có người hỏi tổ Triệu Châu:
- Con
chó có Phật tánh không ?
- Không
!
Lại
có người hỏi tổ:
- Con
chó có Phật tánh không ?
- Có
!