Arizona
đích thực là chốn quê hương lý tưởng của giòng giống
xương rồng. Xương rồng độc tôn sinh sôi vùng sa mạc, đồi
núi khô cằn. Xương rồng lại lũ lượt xâm lăng đến thành
thị, dàn chào dọc đường phố, lểnh nghễnh khắp công viên,
vườn tược sang trọng, trên cương vị một thứ kiểng thời
trang, thanh lịch. Xương rồng là niềm tự hào của người
dân Arizona. Người ta ca tụng, mở kỹ nghệ khai thác, làm
luật bảo vệ giòng giống, và hình ảnh loài xương rồng
Saguaro (1) độc trụ, hình dáng to lớn tròn như cây
cột đình, hiên ngang sừng sững thi gan với khí hậu khắc
nghiệt sa mạc, được long trọng chọn làm biểu tượng chánh
thức của tiểu bang Arizona. Arizona còn được nổi tiếng là
xứ sở có vầng thái dương đủ cả bốn mùa. Mặt trời
thu đông, trong sáng, ấm áp đã biến vùng sa mạc nắng cháy
thành nơi giải trí lý tưởng cho hàng triệu du khách qui tụ
về, chơi golf, tắm nắng và trốn lạnh…
Chú
Năm trôi giạt về Tucson, Arizona khá lâu mà vẫn chưa mấy
cảm tình với loài xương rồng gai góc. Chú cũng kị với
mặt trời Arizona hừng hực, lầm lì thiêu đốt giết người
ở mức 110 độ F, trong suốt mùa hè. Thời gian nầy, ngoài
lúc bất đắc dĩ phải lái xe đi làm, chú chủ trương đóng
kín cửa, trốn biệt trong nhà. Thế nhưng, vừa được Thịnh
điện thoại báo tin đã tìm ra tung tích của Hoàng, rủ chú
về San Diego họp mừng bạn cũ, thì chú vội vã cấp tốc
lên đường. Hoàng, người bạn thâm giao của chú, bị kẹt
lại nước nhà trong biến cố 1975, học tập tám năm, rồi
được sang Mỹ đoàn tụ với gia đình từ mấy năm về trước.
Thế nhưng, chú mới liên lạc với Hoàng đôi lần bằng điện
thoại, chưa kịp viếng thăm thì Hoàng bỗng biến dạng không
rõ nguyên nhân. Lần nầy, quyết tâm không để mất dấu người
bạn thân, chú Năm nôn nóng phóng xe như bay trên xa lộ số
8 tìm về San Diego. Mặt trời càng lúc càng hung hăng, chiếu
ánh nắng chói chang như xuyên thủng khung kính đậm màu, khiến
chú cảm thấy rát bỏng cả mặt, đầu óc ngầy ngật khó
chịu. Chú điều chỉnh cho hệ thống máy điều hòa không
khí hoạt động tối đa, bất chấp những bảng cảnh cáo
bên đường khuyên tài xế đình chỉ sử dụng máy lạnh tại
vùng sa mạc hoang vắng. Xe chạy cả trăm dậm mà hai bên đường
toàn sỏi nứt nẻ, rải rác đây đó, chỉ còn vài cụm xương
rồng trơ vơ bám víu sống còn trên vùng đất chết. Chú Năm
lầm bầm cằn nhằn : "Xứ gì tàn tạ khô khan ! Miền Nam mình
nắng cũng nóng quanh năm, mà cây cối vẫn xanh um bốn mùa,
chớ đâu tệ như vầy ! Người Mỹ dở quá ! có phương tiện
như họ mình sẽ dẫn nước về, biến sa mạc thành khu trồng
tỉa dễ như chơi. Khí hậu nầy trồng cây ăn trái miền Nam
thì hết "xẩy" ! Mơ mộng đến vườn xoài, mận, vú sữa,
ổi… đơm trái nặng trĩu cành, chú vô cùng sung sướng với
kế hoạch không tưởng của mình." Chú chợt cười xòa khi
nhớ đến miếng đất con con sau nhà, chú bê bối không săn
sóc để cỏ hoang mọc loạn cào cào, mà nay lại tơ tưởng
chuyện kinh thiên động địa khẩn đất sa mạc lập vườn.
Niềm cảm ứng tan biến, chú mới lưu ý thấy chiếc xe lăn
bánh có phần nặng nề và chậm hẳn lại, dù chú đã đạp
lút ga. Chú hốt hoảng nhìn lên thấy đèn báo động máy quá
độ nóng chớp liên tục. Chú vội lách xe vào lề, tắt máy,
mở nấp đầu máy, thấy bình nước sôi sùng sục, khói tuôn
mù mịt. Chú hi vọng xe chỉ bị cạn nước bình, châm thêm
nước thì đi được, nhưng điểm ngặt nghèo là làm sao chú
đào đâu ra thứ nước nầy ! Đi gấp quá, chú chẳng dự
phòng mang theo chút nước uống, huống gì nước châm bình
xe. Chú bối rối nghĩ, trời nắng thiêu đốt dễ dầu gì
tìm được người tốt bụng ngừng lại để giúp đỡ, chú
chỉ có một phương pháp là chờ máy nguội rồi cố gắng
nhích từ từ đến trạm xăng gần nhất để sửa chữa. Rủi
ro mà xe trục trặc nặng không lết nỗi, chú dám ngủ đường
ngủ xá chớ chẳng chơi. Chú áo não nhìn theo những chiếc
xe xuôi ngược vùn vụt, mà chỉ biết thở dài thườn thượt.
Bất ngờ, ngoài sự mong đợi của chú, một chiếc xe cà tàn
bỗng lách vào lề, thắng đứng lại, rồi một chàng thanh
niên da sậm như tượng đồng, to lớn, mập mạp tươi cười
bước xuống. Chú Năm thoáng mừng, chen lẫn chút nghi ngại
: người tốt bụng và kẻ gian đều có thể xuất hiện lúc
nầy ! Người lạ vồn vã :
- Chào
anh ! xe anh bị trục trặc ra sao ?
- Ơ
! chào chú ! xe bị quá độ nhiệt, bình nước bốc khói !
- Nếu
vậy thì chẳng có chi trầm trọng ! chỉ chờ bình nước nguội
châm thêm coolant thì đi được.
Chú
Năm nhăn nhó :
- Khổ
nỗi là tôi quên mang nước bình xe theo chớ !
- Đừng
lo ! tôi có sẵn đây ! xin biếu anh vậy !
Chú
Năm ái ngại nài ép người thanh niên nhận tiền bán lại
bình coolant nhưng anh ta một mực lắc đầu.
Đưa
cho chú Năm bình nước, anh lại lên tiếng :
- Tôi
ở đây chơi với anh nửa giờ, chờ xe anh nguội châm nước
bình, rồi nổ máy an toàn thì tôi mới yên tâm...
- Có
lẽ không hề chi đâu ! Anh giúp đỡ tôi như thế nầy là
quá đủ rồi, tôi không dám để anh chịu thiêu đốt dưới
ánh nắng khủng khiếp nầy thêm nữa !
- Chẳng
hề gì đâu ! Tôi đã quen khí hậu chốn nầy. A ! muốn tránh
nắng thì mình núp dưới bóng cây xương rồng vậy !
Cây
xương rồng độc trụ saguaro bên đường thuộc loại kỳ
lão nên nhú ra được hai nhánh, hình dạng giống như một
người khổng lồ đang giơ hai tay mời mọc. Cái thân gai góc
khó ưa không ngờ tạo cho chú một bóng mát lý tưởng giữa
vùng sa mạc. Chú Năm bỗng khám phá được nét tươi mát của
giống xương rồng, mát như tình người cao đẹp mà người
thanh niên lạ vừa trao, khiến chú cảm động nghẹn ngào.
Chú lại cảm thấy chút xấu hổ vương vấn, khi nhớ lại
lúc thanh niên vừa dừng xe, chú vốn có thành kiến với màu
da, nên để chụt dạ nhỏ nhen nghi ngờ người.
Trong
câu chuyện hàn huyên, chú Năm được biết anh chàng tên Tony,
sinh viên triết học đại học Tucson đang trên đường về
thăm nhà tại San Diego.
- Dường
như, rất ít người Việt Nam sinh sống vùng nầy ! Tony lên
tiếng dọ hỏi.
- Arizona
thì rất ít, nhưng tại Nam Cali thì người Việt tập trung
rất đông đảo, sinh sống đủ mọi ngành nghề, có những
khu thương mãi toàn người Việt. Về phương diện tín ngưỡng
thì có những nhà thờ, hội thánh riêng cho người Việt, chùa
chiền thì tổ chức theo truyền thống Việt Nam cũng đã xây
dựng được cả trăm ngôi !, chú Năm hừng chí khoe khoang.
- Cả
trăm ngôi chùa không chống đối nhau để cùng hướng dẫn
tinh thần cho đồng bào, Phật giáo Việt Nam thật đáng khâm
phục !
Chú
Năm bỗng nhiên ngượng ngập, ấp úng đáp :
- Thật
ra, thì trước đây cũng có rất nhiều phe nhóm kình chống
nhau loạn xạ. Nhưng gần đây, nhờ lờ詠kêu gọi thống thiết
của vị lãnh đạo Phật giáo trong nước, Phật giáo Việt
Nam tại Hoa Kỳ đã kết hợp được trong một tổ chức thống
nhất, tuy vẫn có vài phe nhóm lẻ tẻ mơ làm lãnh tụ, tăng
thống, còn hậm hực đứng ngoài giở các trò bôi lọ, chụp
mũ như những kẻ thế tục, làm đau lòng người Phật tử
chân chính !
- Chuyện
đó cũng là thường tình mà ! tôn giáo nào chẳng vậy ! đạo
Chúa của tôi cũng chia rẽ như vậy đó !, Tony an ủi.
- Thế
Tony thuộc hội thánh nào ? Lutheran church chăng ?
- Tôi
không thuộc hội thánh nào cả, dù tôi là một con chiên thuần
thành !
Thấy
chú Năm lộ vẻ ngạc nhiên, Tony tiếp lời :
- Tôi
có quan niệm lạ lùng là không mấy thích tổ chức tôn giáo
! Tổ chức càng lớn thì chân lý càng bị đóng khuôn cứng
ngắt, ép buộc tín đồ phải rập theo lối nhìn một chiều,
đầy thành kiến, bóp chết sáng tạo, và sức sống sinh động
của thánh Chúa. Người ta đã nhân danh Chúa để giết Chúa
và bôi lọ Chúa. Vả chăng, tổ chức tôn giáo nào chẳng biến
dạng thành nhóm thế lực, bè phái, mang chiêu bài thánh thiện
để bao che nhũng lạm lường gạt tín đồ. Tôi có câu chuyện
vui liên quan đến điều nầy, chẳng biết anh thích nghe chăng
?
- Dĩ
nhiên, tôi thích lắm chứ !
- Câu
chuyện không nhất thiết đóng khuôn vào một tôn giáo nào,
tôi là người Cơ đốc nên xin kể chuyện tôn giáo tôi :
"Xưa
lắm rồi, vào một buổi chiều đông lạnh lẽo tại một
lữ quán vắng vẻ miền Đông Hoa Kỳ, tình cờ hợp mặt ba
nhà giáo sĩ trẻ trên bước đường phụng sự Chúa. Cả ba
đều nguyện dấn thân cho lý tưởng rao giảng đạo Chúa cao
cả, nhưng lại thuộc ba tổ chức nhà thờ khác nhau, nên tuy
cùng mang chung sứ mệnh mà câu chuyện lại lạt lẽo lạnh
lùng. Thình lình, có tiếng gõ cửa và một nông dân trẻ xuất
hiện, khiến ba nhà truyền giáo khấp khởi mừng thầm. Cả
ba mừng rỡ săn đón "con mồi", hi vọng tìm được một con
chiên ngoan đạo, đặt nền móng cho tổ chức của mình tại
đây ! Sau những câu chào khách sáo chiếu lệ, thanh niên chưa
kịp ngồi yên, thì vị giáo sĩ thứ nhất đã lên tiếng dọ
dẫm :
- Con
có điều chi bất an, mà trông có vẻ bơ phờ mệt nhọc dường
ấy !
- Chán
chường quá cha ạ ! con vợ của con cuỗm hết tiền bạc,
cuốn gói theo tình nhân, con truy tầm cả tuần nay mà vẫn
không ra manh mối !
- Ôi
! trong cuộc sống giả tạm nầy tình tiền nào chẳng tan rã
! chỉ có kẻ biết tin Chúa mới khơi mở được cuộc sống
miên viễn tại chốn thiên đàng hoan lạc !, nhà truyền giáo
thứ hai lên tiếng.
- Cha
ơi ! con nản tình đời quá ! con không còn tin tưởng được
ai ! con chỉ muốn tự kết liễu sinh mạnh mình mà thôi !
- Con
ạ ! tình người đối với nhau khi vơi khi đầy, khi yêu thương,
khi thù hận, sao bằng trao trọn niềm tin mình trong tình thương
bao la của Chúa. Chúa thí thân chịu đóng đinh trên thập tự
giá để chuộc tội cho loài người, Chúa thương yêu, đùm
bọc, che chở cho từng con chiên nhỏ, dù là thứ con chiên
hư hỏng lạc bầy…
- Nầy
con ! con có bao giờ nghe đến Hội Thánh X chưa ? nhà truyền
giáo thứ ba đột ngột hỏi.
Tốn
công săn đón, màu mè gợi ý mà bị kẻ khác mưu toan "cưỡm"
mất con mồi, nhà truyền giáo thứ nhứt hậm hực :
- Nầy
cậu trẻ ! con phải cẩn thận để tránh sa vào bẫy rập
của những tổ chức dùng chiêu bài tôn giáo để lường gạt
tín đồ ! Họ quanh co giải thích sai lệch Thánh Kinh, lợi
dụng tôn giáo cho mưu cầu chính trị, kinh tài… mờ ám.
- Ơ
! tệ hại như bọn bày trò chữa bịnh nan y bịp để vét
tiền tín đồ, nổ "xì căn đan" thối um tại Los Angeles phải
không Ngài ?
- Thối
đâu bằng chuyện mấy nhà giáo sĩ tằng tịu với đám đàn
bà con gái, bốc hốt cả bầy con nít… báo chí đăng tải
rùm beng tại Boston phải không các vị !
Thế
rồi mỗi người một câu, vị nào cũng cố bới lông tìm
vết nhơ của hội thánh kẻ khác, dìm tất cả xuống bùn
để tuyên dương chỉ có tổ chức mình mới chánh thống,
mới đích thực là con đường một chiều duy nhất đưa về
nước Chúa. Thời thuyết giảng khởi đầu có vẻ thánh thiện,
bỗng chuyển biến thành trận cãi vã hậm hực, dai dẳng,
không có cơ chấm dứt vì chẳng ai chịu thua ai. Muốn định
phân thắng bại cần có kẻ bàng quang làm trọng tài phân
xử. Thế nhưng, thình lình lúc nầy chẳng có ai hiện diện,
ngoài anh chàng William thất thiểu, khờ khạo, nên ai cũng muốn
kéo chàng William về phe mình. Do đó, anh nông dân lù khù vô
tích sự bị lôi vào vòng chiến, bị bắt buộc phải đảm
nhận chức quan tòa bất đắc dĩ xử kiện cho ba nhà truyền
giáo khả kính. Anh chàng ba phải chỉ biết ấp a ấp úng "xử
huề" :
- Theo
tôi, ba vị đều hay, đều đúng cả…
- Không
thể nói mập mờ như vậy được ! anh đừng sợ mất lòng
họ cứ xác định cho họ biết ai chánh ai tà, ai phù hợp
thánh Chúa, ai mập mờ theo quỉ satan…
- Ơ
! chuyện quí vị tranh luận là chuyện thiên đường, chỉ
biết chắc là đúng hay sai tại thiên đường, vậy tại sao
quí vị không chịu khó chờ đến khi về đó mà phân rõ trắng
đen !
Đề
nghị của quan tòa ba phải có mòi hợp lý, ba nhà truyền giáo
đồng giơ tay long trọng thách thức đối thủ gặp lại nhau
tại thiên đường đúng một trăm năm sau để giải quyết
một lần việc hơn thua. Hứa hẹn xong, cả ba mới ngầm thấy
có điều không ổn. Ai cũng tự tin mình là người duy nhất
được lên thiên đường còn đối thủ và tên nông dân ngu
muội chắc chắn phải bị thiêu đốt đời đời dưới mấy
từng địa ngục. Người ở thiên đường còn thong dong đi
lại, chớ kẻ ở địa ngục chịu trừng phạt thì đâu có
điều kiện léo hánh đến thiên đường. Trở ngại đó khiến
việc thực hiện cuộc gặp gỡ tại thiên đường trở thành
nan giải. May mắn là có vị đã nhanh trí tìm ra giải pháp
:
- Để
có thể hội đủ bốn người trong buổi họp mặt tương lai,
tôi đề nghị sửa đổi điểm hẹn là địa ngục, quí vị
đồng ý không ?
Trừ
anh chàng William miễn cưỡng gật đầu, ba nhà truyền giáo
hăm hở chấp nhận cuộc thách hẹn hào hứng nầy. Cuộc cãi
vã xô bồ, nhờ vậy mà có cơ chấm dứt.
Thế
rồi, giòng thời gian trôi nhanh, mỗi người mỗi ngả, ai cũng
bận rộn theo đuổi nếp sống lý tưởng riêng của mình,
và cuộc thách thức sôi nổi tại lữ quán miền Đông thuở
trước cơ hồ phai nhạt. Ba nhà truyền giáo trẻ, trở thành
những nhà lãnh đạo cao tột trong giáo hội của họ, nổi
tiếng là những bậc thánh đương thời được triệu triệu
người tôn kính. Dù vậy, cũng như mọi người, rồi đến
lúc họ phải từ giã cuộc đời, một mình trơ trọi ra đi.
Không
hò hẹ mà cả ba, kẻ trước người sau, đều được đưa
về một nơi. Thấy mặt nhau, nhớ đến lời thách hẹn năm
xưa, nhưng ba vị lơ là xa lạ, vì chốn nầy lửa cháy phừng
phừng, nóng thiêu đốt chết lên chết xuống, không đủ hơi
sức rên siết, thì đâu còn ý thức tranh luận hơn thua chi
nữa. Thời gian kéo dài cho đến một hôm, gian phòng đang nóng
bức bỗng êm dịu mát mẻ lạ thường, rồi một vị thiên
thần hào quang sáng ngời, xuất hiện. Ba vị mừng rỡ, quì
xuống long trọng làm lễ chào đón :
- Khải
bẩm thánh Phê Rô ! cả ba đồng cất tiếng.
- Thưa
quí Ngài, tôi không phải là thánh Phê Rô. Tôi là William. Hôm
nay, giữ đúng lời hẹn trăm năm về trước, nên tôi đến
để hầu chuyện với quí Ngài.
Ba
nhà tu hành ngỡ ngàng nhìn kẻ đối diện. Thật là bất ngờ
! thật là điều bất công vĩ đại khi những kẻ suốt đời
tận tụy hầu việc Chúa thì Chúa bỏ bê lạc lõng chốn nầy,
trái lại, tên nông dân tầm thường, ngu dốt, ngớ ngẩn,
lại được rước lên cõi Thiên đường ! Chắc có điều
gì mờ ám, lầm lộn sổ sách ở chốn thiên đình rồi !
- Xin
hỏi thiệt William nhé ! anh tìm được đường giây nào để
"móc nối" lên thiên đường, xin bày vẽ lại chúng tôi được
không ?
- Ơ
! ơ ! thật ra, thì tôi chỉ thực hành theo lời dạy của ba
vị, chớ chẳng có làm điều chi lạ lùng cả !
Rồi
có lẽ biết họ chẳng tin lời mình, thánh William dẫn giải
thêm :
- Ngày
đó, thất tình thất vọng định quyên sinh tôi may mắn được
quí vị nhắc nhở đến tình thương bao la của Chúa khiến
lòng tôi cực kỳ xúc động. Tôi thành khẩn lắng nghe nhưng
quí vị bận rộn hơn thua nhau không nhắc nhở gì đến Chúa
nữa. Thời may, trước khi đi ngủ, quí vị mỗi người quì
một góc, nghiêm trang, tha thiết cầu nguyện : "Lạy cha chúng
con ở trên Trời. Danh Cha được thánh, nước Cha được đến,
ý Cha được nên, ở đất như trời. Xin Cha cho chúng con bánh
mì đủ ăn ngày qua ngày. Xin tha tội lỗi chúng con, như chúng
con tha cho kẻ phạm tội nghịch cùng chúng con. Xin chớ để
chúng con bị cám dỗ. Xin cứu chúng con ra khỏi điều ác…
A men ! (2)." Tôi đón nhận những lời cầu nguyện
đó với tất cả chân thành, và trong giây phút tuyệt vời
đó, tôi bỗng nhiên từ bỏ cuộc đời phóng đãng của mình
để thường trực sống trong tình thương của Chúa. Nhờ ý
thức Chúa luôn ở trong tôi nên tôi hạnh phúc, tươi mát với
mọi người, mọi loài. Tôi cầu nguyện chỉ xin đủ ăn một
ngày, nên lòng tham lam giảm dần, biết sống giản dị đạm
bạc, để thương yêu chia xẻ, và đùm bọc kẻ khác. Tôi
hằng cầu xin tha tội, xin cứu khỏi đường ác, nên thường
quán sát tư tưởng và hành động mình để tránh bớt lỗi
lầm. Tội nguyện tha tội người nên loại bỏ được tính
sân hận, và phát triển được lòng khoan dung, nhân hậu…
Tôi đã thay đổi cả cuộc đời nhờ quí vị, quí vị chính
là những bậc ân nhân đã hướng dẫn tôi nương về Chúa,
nhờ vậy tôi mới có được ngày hôm nay.
- William
chỉ nghe có một câu cầu nguyện mà về cõi thiên đàng, còn
chúng ta suốt đời rao giảng đạo Chúa, sao lại ở chốn
nầy ! Tại sao lại có chuyện vô lý và bất công như vậy
?
- Quí
Ngài rao giảng đạo Chúa, nhân danh Chúa, nhưng quí Ngài có
thực sự "sống" trong Chúa hay không ? đó là vấn đề mà
quí Ngài mỗi người nên tự mình chân thành soi xét mình,
để tìm ra lời giải đáp…
Nhìn
lại con người thực của mình dấu kín mít sau bề ngoài đạo
đức thánh thiện là điều mà ai cũng muốn tránh né không
dám nhớ nghĩ đến, do đó, ba vị tuy vẫn ấm ức mà ngần
ngừ rồi yên lặng.
- Thôi
thì bỏ qua chuyện nầy đi, mình phải giải quyết thách thức
trăm năm trước chớ !
Sau
vụ đấu khẩu thuở thiếu thời, trên bước đường tranh
đua hoạt động, vì lợi danh xung đột, họ từng tung đòn
phép mánh mun đối phó nhau, nên hiềm khích theo tháng năm mà
chồng chất. Một vị vừa nhắc nhở, thì ba vị cùng phừng
phừng nổi giận.
- Bây
giờ Ngài là bực thánh, Ngài hiểu rõ đâu là sự thực. Xin
Ngài tuyên bố một lời Hội thánh nào thánh thiện, chân chính
nhất !
- Còn
gì phải hỏi nữa, chỉ có Hội Thánh X là chánh thống…
ngoài ra, chỉ toàn là thứ bịp bợm, rẻ tiền mà thôi…
- Nầy
tên tồi bại, vô liêm sĩ ! Tổ chức ngươi mới bịp bợm,
lưu manh…
Ngày
xưa, tuy cãi vã hậm hực nhưng nhờ lớp áo truyền giáo nên
lời lẽ quí Ngài vẫn chừng mực, giờ đây ở chốn nầy,
thì đâu còn gì để úy kị nữa, những ấm ức bình sanh
cứ tự do tuôn trào. Trận khẩu chiến do đó mà tăng thêm
phần hung hăng và thô lực.
Thánh
William chán nản, lắc đầu dợm bước đi, thì bị ba người
níu áo kéo lại, nhất quyết yêu cầu thánh phải tuyên bố
một lời cho biết rõ trắng đen : kẻ thắng người bại là
ai ? Thế rồi, thật thà nhân hậu như một nông dân chân chính,
Thánh từ tốn lên tiếng :
- Tôi
đâu có thừa thải thời giờ để phán xét người. Tôi phải
trở về thường trực chăm sóc thửa vườn của tôi chớ
!
Nói
xong, thánh William biến mất, để cho ba nhà đạo đức mặc
tình tiếp tục hơn thua, cùng lắm nếu như họ bày ra cuộc
thánh chiến thì cũng không phải là điều lạ lùng !".
Câu
chuyện kết thúc bằng thái độ khó hiểu "bỏ đi về chăm
sóc thửa vườn nhà" của thánh William khiến chú Năm sửng
sờ trong giây phút. Chú chợt nhớ mảnh vườn con con hoang
phế sau nhà cùng với kế hoạch khẩn đất sa mạc của chú,
rồi bỗng cười xòa. Chú vừa thấy rõ được con người
thật của chú : cả đời cứ vọng ngoại lăng xăng chạy
theo được thua, vinh nhục, thành bại…, luận bàn toàn chuyện
đại sự "trị quốc, bình thiên hạ", mà chẳng bao giờ nhìn
lại tâm buông lung của mình đang quay cuồng vọng động…
Chú lại khám phá ra sự kiện bất ngờ là chú vừa đón nhận
Phật Pháp tiềm ẩn trong câu chuyện vui của người ngoại
đạo. Thì ra, nếu biết mở tâm đón nhận, thì thế gian pháp
nào cũng có thể là Phật Pháp nhiệm mầu. Trời sa mạc nóng
thiêu đốt nhưng chú Năm cảm thấy an vui, thơi thới, nhẹ
nhàng : thân tâm chú vừa được rưới bằng những giọt nước
"pháp" cam lồ thanh lương, mát mẻ. Chú xúc động trang nghiêm
chấp tay hướng về Tony, kính cẩn lên tiếng :
- Xin
cảm tạ Tony nhắc nhở ! Tôi nguyện thường trực chăm sóc
vườn tâm của mình, không để cho các loại cỏ tham sân si
mọc tràn lan loạn xạ đâu !
Tảng
lờ như vô tình không hiểu biến chuyển nội tâm của chú,
Tony lảng sang chuyện khác :
- Ơ
! Có lẽ máy xe đã nguội rồi ! mình chuẩn bị lên đường
là vừa !
Thế
rồi Tony châm nước bình xe cho chú, chờ chú nổ máy xe an
toàn, rồi mới khoác tay từ giã ra đi. Chú Năm lặng lẽ chiêm
ngưỡng từng động tác của Tony. Đối với chú, đó là hình
ảnh sống thực của những vị bồ tát, xuất hiện trong mọi
hoàn cảnh, dùng hằng hà sa số phương tiện, thuận nghịch
để trao truyền Phật Pháp.
Ghi
chú
1.
Xương rồng Saguaro là loại xương rồng khổng lồ, hình dáng
như cột đình, với những hàng gai tua tủa, đặc biệt chỉ
sinh sôi trong lãnh thổ tiểu bang Arizona. Cây có thể cao đến
50 feet, nặng 3 ngàn pounds và sống lâu hằng hai thế kỷ. Xương
rồng lớn tương đối chậm : một tuổi chỉ cao 1 phân, 20
tuổi cở 1 thước, 30 tuổi chừng 2 thước. Bắt đầu từ
khoảng năm 35 tuổi, xương rồng trổ bông trắng, nhụy vàng
và kết thành những chùm trái chín đỏ, thơm và ngọt ngào.
Trái xương rồng là một nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng
của vài bộ lạc da đỏ thuở xưa. Khi đã thành lão niên,
khoảng 75 tuổi cây mọc nhánh, được gọi là những cánh
tay, tạo thành những hình thù đặc biệt.
2.
Tân ước, LUKE, chapter 11 : "… Lord, teach us to pray, as John also
taught his disciples. Anh he said unto them. When ye pray, say, Our Father
which art in heaven. Hallowed be thy name. Thy kingdom come. Thy will be
done, as in heaven, so in earth. Give us day by day our daily bread. And
forgive us for sins; for we also forgive every one that is indebted to
us. Anh lead us not into temptation; but deliver us from evil…"