69 -
Quan điểm của Phật giáo đối với các hiện tượng thần
bí như thế nào ? [^]
Không phải chỉ có tôn giáo
mới có hiện tượng thần bí, người không tin tôn giáo cũng
có hiện tượng thần bí nhưng giải thích đó chỉ là ảo
giác. Còn người bình thường, thì mê hoặc, không hiểu thế
nào cả, nói là không nhưng thực tế là có, nói là có nhưng
không lấy gì làm bằng chứng. Còn những người có niềm
tin tôn giáo thì bất luận thuộc tầng lớp nào, miễn là
có lòng tin thuận thành, làm đúng pháp thì đều có cảm ứng
và linh nghiệm hoặc nhiều hoặc ít. Còn thái độ của Phật
giáo xưa nay, đối với các hiện tượng thần bí, vẫn không
phủ định, nhưng cũng không xem trọng.
Nếu có người nào đó có
được cảm ứng thần bí thì vội cho đó là mình được
phép thần thông hay tin rằng Phật, Bồ Tát hiển linh, như
vậy là không đúng. Phật và Bồ Tát tuy vẫn cảm ứng với
chúng sinh nhưng không hiện thành tướng, tuy không thành tướng
nhưng vẫn có sức mạnh, đó chính là tác dụng cảm ứng
tùy cơ độ sinh của Phật, Bồ Tát. Thế nhưng các Ngài không
dùng một mô thức nhất định nào, cũng không dùng một người
nhất định, nhưng những người và vật đó không thể tự
xưng mình là đại biểu cho Phật và Bồ Tát.
Nếu có người dù là tăng
hay tục, dù là Phật tử hay ngoại đạo, bỗng xưng là hóa
thân của Phật hay Bồ Tát tuy anh ta không có mưu đồ dùng
đại vọng ngữ để được tôn kính, cúng dường, thì anh
ta cũng chỉ có thể là quỷ thần hay ma nhập vào con người
anh ta rồi làm những điều dị lạ để mê hoặc quần chúng.
Anh ta có thể có vài linh nghiệm nhưng anh ta không có tác dụng
gì đối với họa hay phúc của người khác. Do vậy, những
người chính tín Phật giáo không nên làm những trò như thế,
và cũng không tin những người làm trò như thế.
Căn cứ vào lịch sử Phật
giáo thì chỉ có một Phật Thích Ca Mâu Ni, chưa có một vị
Phật thứ hai. Nếu có người tự xưng là Phật, dù là thân
gì của Phật đi nữa cũng là đại vọng ngữ. Bề ngoài thì
anh ta cũng hành đạo dạy đời nhưng trên thực tế thì làm
mê hoặc nhân tâm, không để cho nhân tâm đại chúng nỗ lực
trong cuộc sống bình thường mà chạy theo cầu phước và
được gia hộ.
Đối với Bồ Tát cũng vậy.
Khi Phật còn tại thế, chỉ có một Bồ Tát là Di Lặc, được
Phật thọ ký, sau đây 56 ức vạn năm sẽ thành vị Phật
thứ hai ở thế giới này. Còn các Ngài như Quan Âm, Văn Thù,
Phổ Hiền, Địa Tạng v.v... đều không phải là những nhân
vật lịch sử, mà là những vị Bồ Tát được Phật giới
thiệu để chúng ta biết mà thôi. Còn những vị như Mã Minh,
Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân v.v... đều là luật sư Đại
thừa Ấn Độ. Người đời sau xét ngôn hạnh của các Ngài
đã suy tôn là Bồ Tát. Ở Trung Quốc, đại sư Trí Khải lập
ra Tông Thiên Thai được người đời sau gọi là Tiểu Thích
Ca ở Đông Độ, nhưng Ngài tự gọi là Phàm phu có đức tin.
Các thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ cũng được suy tôn là hóa
thân của Phật A Di Đà, nhưng cá nhân Ngài không hề tự xưng
như vậy. Còn Ngài Địa Tạng ở Cửu Hoa Sơn vốn là con Vua
nước Tân La (Campuchia ngày nay) xuất gia lấy pháp danh là Địa
Tạng. Người đời sau nói Ngài là hóa thân của Bồ Tát Địa
Tạng, nhưng bản thân Ngài không tự xưng là như vậy.
Những người có chính tín
ở Tam Bảo, đối với tất cả chúng sinh, nên xem như là Phật
và Bồ Tát vị lai, cũng là do Phật và Bồ Tát hóa hiện,
nhưng thân hiện tại của họ là phàm phu.
Nếu có những người tự xưng
là Phật hay Bồ Tát, có thể nói đời quá khứ, chuyện vị
lai của anh, thậm chí biết rõ cả bối cảnh lịch sử của
anh và những người thân thuộc với anh thì anh cũng không
nên bị mê hoặc. Quỷ thần cũng có khả năng như vậy. Bản
thân anh nên trì chú, tu định đúng pháp cũng sẽ có quyền
năng đó. Nhưng đấy không phải là phép thần thông, mà chỉ
là sức mạnh của trì chú, sự cảm ứng của quỷ thần,
hay là kết quả của việc sai khiến quỷ thần, nhiều nhất
thì đấy là sức mạnh của thiền định. Những người đó
nói chuyện vị lai của anh không hẳn là chính xác, còn nói
chuyện quá khứ đời anh thì làm sao cụ thể chi tiết bằng
cá nhân anh được. Còn như nói chuyện kiếp trước thì lại
càng mênh mang, không có bằng cớ gì ! Cần chú ý là đúng
theo luật nhân quả, chuyện gì phải xảy ra, thì sẽ xảy
ra, quỷ thần muốn giúp cũng không làm được gì. Chỉ có
làm điều thiện, tránh điều ác, siêng năng, tinh tiến mới
có thể thay đổi tình thế mà thôi. Người học Phật nên
tin là tương lai của mình chính ở trong tay mình, nên cố gắng
tránh ác, làm điều lành, làm điều Phật làm, nói lời Phật
nói, học những điều các vị Bồ Tát học...
Trong số hàng ngàn người,
cũng có một vài người, do phúc báo đời trước do kết quả
tu hành đời trước nên có khả năng bẩm sinh biết chuyện
quá khứ và vị lại. Lúc tuổi còn nhỏ, khả năng này biểu
lộ rõ rệt. Lớn lên, vì công việc bận rộn nên khả năng
đó kém đi rồi biến mất.
Ở thời hiện đại, do trí
thức phổ biến, trình độ học vấn được nâng cao, những
người có năng lực thần bí bẫm sinh có thể vận dụng lô-gic
và quan điểm khoa học để tìm hiểu giải thích các nguyên
lý của họ. Những người học Phật, cũng có thể dùng tri
thức Phật pháp, từ ngữ Phật pháp để giải thích cho người
khác biết thực chất của hiện tượng thần bí. Cũng có
một số người vì nhân duyên nào đó có phương pháp tu hành
riêng gọi là Mật pháp. Đại pháp hay Vô thượng pháp để
dạy cho người khác tu hành như mình, rồi cũng có thể có
những cảm ứng thần bí và quả thực cũng đạt được một
vài hiệu quả. Song có thể xảy ra hậu quả không hay: vì
mời quỷ đến thì dễ, mời quỷ đi thì khó, đã dùng phương
pháp như vậy thì rất dễ bị quỷ thần khống chế, bản
thân mình mất ý chí tự do. Nhẹ thì cũng giống như những
người bình thường, nặng thì sinh ra tinh thần bất ổn, từ
lời nói cho tới cử chỉ, mắt nhìn đều khác người thường.
Nếu muốn thoát ly sự khống chế đó, và sẵn có ý chí cương
quyết thì cũng phải cố gắng một hai năm mới khôi phục
trở lại tâm trạng bình thường.
Lại có người không tự xưng
mình là Phật, Bồ Tát, nhưng lại xem là người truyền thừa
trực tiếp lời dạy và sự ấn chứng của Phật và Bồ Tát.
Ở đây có ba khả năng : Một là tu hành thiền định, và
trong thiền định hiện ra cảnh giới thần bí. Thứ hai là
trong mộng hiện cảnh giới mộng. Thứ ba là trong lúc thức
tỉnh nghe được, thấy được hiện tượng thần giáng. Nếu
là cảnh giới trong thiền định, thì đó quyết không phải
là cảnh giới định sâu sắc. Bởi vì cảnh giới định sâu
sắc không phải có tâm, không phải vô tâm, không có cảnh
giới, không có Phật và Bồ Tát xuất hiện. Nếu có Phật,
Bồ Tát xuất hiện trong cảnh giới định, thì cũng giống
như mộng ảo. Người ngủ say cũng thường có mộng. Nhưng
tính chất của hai loại mộng khác nhau. Trong loại mộng thứ
nhất, con người tương đối tỉnh hơn. Trong định mà thấy
có cảnh giới này khác là do tâm loạn vẫn còn, nhất tâm
chưa thành tựu, nhưng sự cảm giác về niệm cảnh cũng mất.
Dó đó, trong mộng hay là trong định mà thấy Phật và Bồ
Tát đều không phải là Phật và Bồ Tát thật mà là Phật
và Bồ Tát phát sinh từ nội tâm.
Một loại cảnh giới khác
giống như hiện tượng cảnh giới giáng linh của linh môi
vậy. Đó là quỷ thần huyễn hiện giống như Phật, hoặc
phát ra âm thanh, tự xưng là Phật, Bồ Tát. Người không có
chính kiến rất dễ bị mê hoặc bởi hiện tượng này, và
bị quỷ thần mê hoặc và trở thành công cụ thi thố sức
linh thiêng của thần. Tuy rằng trong kinh Phật có nói Phật
pháp có thể do quỷ thần, hay là thần tiên nói, nhưng nếu
lời nói ấy không phù hợp với ba pháp ấn, thì đó không
phải là Phật pháp mà là ngoại đạo. Nói chung, quỷ thần
cũng hay mượn danh hiệu Phật, Bồ Tát trong lời lẽ mượn
nhiều từ ngữ Phật học, nhưng tri kiến của họ không thoát
ra ngoài được phạm vi của quỷ thần thuộc cõi dục giới.
Cho nên để xem xét những lời lẽ có phải là Phật pháp
hay không thì phải dùng... ba pháp ấn là chư hành vô thường,
chư pháp vô ngã và Niết bàn tịch tịnh để ấn chứng.
Đó là trừ bỏ phiền não,
phá chấp trước.
70
- Có thể dùng những hiện tượng vật lý để giải thích
những hiện tượng thần bí được không? [^]
Cái gọi là hiện tượng vật
lý là chỉ những hiện tượng và động lực như từ trường,
từ lực, sóng điện, cảm ứng điện, hình ảnh, ánh sáng,
tốc độ ánh sáng, nhiệt năng, khí năng, sự thay đổi của
khí v.v.... được dùng trong vật lý học. Cái gọi là những
kinh nghiệm thần bí nói chung là chỉ cảm ứng và cảm thụ
của sức mạnh thần linh, con đường đúng đắn là thông
qua phương pháp tu hành, làm cho tâm lực, thể lực và các
giác quan v.v... phát sinh tác dụng khác thường khiến cho giữa
người tu hành và các Bồ Tát, chư thiên và các quỷ thần
có tác dụng cảm ứng.
Về đại thể, có thể dùng
quan điểm vật lý học đối chiếu với nhau để giải thích
tác dụng khác thường hoặc lực lượng siêu tự nhiên đó.
Cho nên, tôi cũng đã từng nói tới việc phát triển sức
thần thông, về nguyên tắc, người cũng có khả năng tu hành
thành công nếu tu hành đúng phép tắc.
Nếu có thể tập trung tâm
sức đến mức độ nào đó, thì sẽ có khả năng chuyển
biến sự vật đó là thông qua tác dụng hướng dẫn của
sóng từ và sóng điện, tạo ra một lực điều khiển. Bởi
vì toàn bộ vũ trụ là một khối từ trường lớn, bất cứ
sự tồn tại của một vật thể cục bộ hoặc cá biệt nào
đó đều không thể thoát ly khỏi hệ thống chính thể. Trong
một hoàn cảnh lớn, phương hướng của nó vốn là không
thể thay đổi được, nhưng chỉ cần phụ thêm những nhân
tố khác nhau thì có thể xảy ra những thay đổi phương hướng
của chính thể.
Người tu hành do sự điều
chỉnh tâm lực của mỗi người có thể làm cho sóng từ và
sóng điện phải chịu ảnh hưởng trong phạm vi tâm lực của
mình do vậy mà thay đổi vị trí quan hệ vốn có, có thể
làm nảy sinh những hiện tượng mà trong lòng họ tưởng tượng
mong muốn. Những người mà tâm lực càng mạnh, phạm vi ảnh
hưởng càng rộng, thời gian duy trì càng lâu thì công năng
sản sinh ra sự thay đổi càng nhiều, đó là sức mạnh thần
túc thông. Nhưng chưa có người có thể bằng tâm lực cá
nhân mình làm thay đổi vận mệnh của nhân loại và quy luật
tự nhiên của vũ trụ.
Còn như thiên nhãn thông và
túc mạng thông thì có quan hệ đến ánh sáng và khí. Cái
gọi là túc mạng thông là có thể biết được quá khứ.
Nếu có thể làm cho bản thân mình cách quả đất càng xa,
những hiện tượng, những sự vật thấy được xảy ra ở
trái đất thì lúc ấy ánh sáng cũng tụt lùi càng chậm. Đó
chính là thông qua tốc độ ánh sáng để nhìn quả đất.
Ngày nay, ở nơi cách xa quả đất 3000 năm ánh sáng, điều
ta nhìn thấy chính là tất cả những sự việc xảy ra trên
trái đất trước đó 3000 năm ánh sáng.
Tất nhiên những người có
túc mạng thông không cần thiết phải dùng mắt thịt mà là
dùng sức tâm linh hoặc lửa cảm ứng, độ nhạy cảm của
họ thì người thường không thể suy nghĩ tưởng tượng được.
Cho nên, không cần thiết phải trở về nơi cự ly xa để
xem xét hiện tượng đã qua của lịch sử.
Do ánh sáng và hình ảnh vô
cùng lẫn lộn hỗn tạp thay đổi khôn lường, những người
sức thần thông kém không những không trông thấy những việc
xảy ra đã lâu đã xa ma ngay cả những việc gần nhất cũng
không thấy rõ ràng, chỉ có thể thấy được đại khái lờ
mờ. Chỉ có chư Phật và các đại Bồ Tát có thần lực
vô hạn mới có thể thấy rõ mồn một những sự việc xảy
ra ở nơi xa xăm và đã lâu. Khí là động lực do hiện tượng
vật chất sinh ra.
Khí không có màu sắc, mùi
vị nhưng có năng lượng vật chất. Những hiện tượng đã
từng phát sinh, tức là có quỹ tích có thể tuân theo, càng
có thể thụt lùi lại để truy cứu. Cho nên, túc mạng thông
không nhất định là phải thông qua cự ly, tốc độ ánh sáng.
Chỉ dựa vào tốc dộ ánh sáng và cự ly ánh sáng để giải
thích nguyên lý thời gian quay trở lại.
Thiên nhãn thông biết về tương
lai cũng là một loại hình thái hạt giống được tích tụ
do nghiệp lực của mọi người tạo nên. Nhân hạt giống
đó càng mạnh, khả năng sinh ra kết quả càng lớn, khả năng
nhìn về phía trước càng xa. Điều đó cũng giống như từ
một hạt giống mà trông thấy một cây lớn, cũng giống như
từ một nguyên tử dự kiến sẽ sinh ra kết quả của một
năng lượng nguyên tử.
Nhưng Phật pháp không tách
rời lý luận nhân duyên, sự biến đổi của nhân duyên quyết
định bởi một đơn nguyên của toàn bộ hoàn cảnh. Chỉ
cần một đơn nguyên nào đó có biến hóa, sự phát triển
của chính thể trong tương lai sẽ khác với kết quả dự
kiến. Vì vậy, Phật tuy thấy rằng chúng sinh sau này đều
có thể thành Phật, nhưng không thể thọ ký cho từng chúng
sinh một. Nếu chưa thấy được pháp tính, thậm chí lòng
tin chưa được xác định thì Phật cũng không có cách nào
định thời gian trở thành Phật cho họ. Cái gọi là định
thời gian tức là dự báo cho một chúng sinh nào đó trải
qua bao nhiêu thời gian, cúng dường, gần gũi bao nhiêu bậc
tôn thờ Phật, thì nhất định thành Phật. Ví dụ như Thế
Tôn Thích Ca trước khi thành Phật, chưa thấy Phật Nhiên Đăng,
chưa từng được bất cứ vị Phật nào thọ ký, tu hành một
thời gian dài đến thời đại Phật Nhiên Đăng, mới được
dự báo thời gian thành Phật. Kẻ phàm phu đắm chìm trong
biển khổ sinh tử, lúc chìm, lúc nổi như sống trong đêm
dài vô tận. Phật tuy có Thiên nhãn minh nhưng không có cách
nào thọ ký cho họ. Nếu chưa nhập được nhẫn vị, tâm
hướng chưa định, nhân duyên tế độ của mỗi người chưa
gặp thì Phật cũng không có cách nào nắm vững được.
Vì vậy, tuy có thể lấy hiện
tượng vật lý để giải thích một vài hậu quả thần bí
nhưng cũng không thể tin mù quáng khoa học là vạn năng, bởi
vì phạm vi hiểu biết của khoa học vĩnh viễn là có hạn.
Tu hành Phật pháp và công năng mà việc tu hành sinh ra là vô
hạn, nếu chỉ dùng hiện tượng vật lý mà trí thức khoa
học thấy được của loài người để giải thích suy đoán
lực trí tuệ và lực thần thông của chư Phật, Bồ Tát thì
cũng giống như lấy thước đo biển, dùng ống sậy mà nhìn
trời. Nhưng chúng ta có thể lấy những hiểu biết khoa học
để giải thích những hiện tượng thần bí của những bậc
đại tu hành. Đó chẳng qua chỉ là tiến hành giải thích
một cách thô thiển cho những người chưa có kinh nghiệm nội
chứng và kinh nghiệm thần bí. Không thể cho rằng khoa học
thực sự có thể đạt tới mục đích thuyết minh, giải thích,
nếu không thì đảo lộn đầu đuôi.
Nay có một số nhân sĩ có
một ít kinh nghiệm thần dị, dùng danh từ khoa học và lý
luận phát hiện khoa học mũi nhọn để giải thích danh từ
kinh Phật, nghiên cứu những điều mà Phật đã thấy, đã
chứng. Nếu nói đó là sự vận dụng phương tiện nhất thời
thì đương nhiên có thể có được, nhưng nếu nói đó là
cảnh giới Bồ Tát, Phật, thì không thể được.
Giải thích Phật học chính
xác nhất, an toàn nhất vẫn là lấy kinh để giải thích kinh,
lấy Phật pháp giải thích Phật pháp. Có người dựa vào
sự nhận biết bằng giác quan thứ 6 của họ, mượn các danh
từ khoa học giải thích hiện tượng thần bí trong kinh Phật,
đương nhiên cũng không chính xác. Cái gọi là "chỉ có Phật
và Phật mới có thể biết được nó", thế giới kinh nghiệm
của chư Phật và chư đại Bồ Tát không phải là điều mà
kẻ phàm phu có thể nắm được, làm sao có thể dùng hiểu
biết kinh nghiệm thần dị nhỏ bé và sự hiểu biết đối
với những hiện tượng vật lý vặt vãnh để giải thích
được cảnh giới thần thông cao diệu của chư Phật, Bồ
Tát ! ?
71
- Có nên dùng quan điểm khoa học để giải thích phật pháp
hay không ? [^]
Cái gọi là khoa học tức là
dùng phương pháp suy lý, phân tích giải thích quy nạp để
quan sát giải thích hiện tượng tự nhiên. Đúng về mặt
lý luận mà nói, khoa học thuộc phạm vi lô-gic. Đứng về
mặt thực dụng mà nói, khoa học là một tổ chức có hệ
thống. Có thể diễn đạt ngôn từ một cách có lý, có lẽ,
đó là khoa học lô-gic. Có thể có công dụng thực tế, đó
là khoa học thực nghiệm.
Thế nhưng khoa học lý luận
lô-gic không nhất định phát triển thành khoa học thực dụng.
Tuy lý luận lô-gic là cơ sở khoa học thực dụng, nhưng nó
phải qua thực nghiệm để chứng minh là có tác dụng, có
thể thực hành được, có ích thực sự với con người. Do
đó khoa học phát triển luôn luôn đổi mới thường xuyên,
dùng những lý luận mới để phủ định các quan niệm cũ,
dùng kinh nghiệm mới bác bỏ những thành quả cũ, xưa. Tuy
nhiên khoa học cũng không phải là chân lý tối cao, tối hậu.
Hơn nữa phạm vi mà khoa học
thảo luận rất là hẹp vì hạn chế trong những điều kiện
đã biết hay sắp biết. Thậm chí, có những nhà vật lý có
thành tựu lớn nhất vẫn cần sự khải thị của thân và
Thượng đế, như là cần có nguyên lý khoa học tối cao vậy,
đó là điều mà các học giả đều thấy. Mẹ của khoa học
là triết học, mà mẹ của triết học là tôn giáo. Tôn giáo
mớí là nguồn gốc của vũ trụ, là cái gốc lớn của nhân
sinh. Dùng triết học để thảo luận về tôn giáo đã có
chỗ bất cập rồi, huống hồ lại còn dùng khoa học để
nghiên cứu những điều huyền bí của tôn giáo. Đúng như
Lương Khải Siêu nói : "Phật giáo không phải tôn giáo, không
phải triết học, không phải khoa học". Chúng ta có thể nói
Phật giáo hàm xúc tôn giáo, triết học và khoa học. Nhưng
nó không phải là khoa học, triết học, tôn giáo. Nó không
phản đối tôn giáo, triết học và khoa học, nhưng cái thực
tế của nó vượt ngoài phạm vi của tôn giáo, triết học
và khoa học.
Ngày nay có người chủ trương
rằng, trong thời đại khoa học văn minh này, phải đứng từ
góc độ khoa học để giới thiệu Phật giáo. Đây cũng là
điều tốt. Lấy trí thức khoa học để thuyết minh lý luận
Phật pháp, khiến cho người ta tin tưởng khoa học có thể
tiếp thu Phật pháp. Làm được thế, có gì là không phải
? Thế nhưng, khoa học thuộc phạm vi trí thức tự nhiên. Khoa
học chỉ có khả năng thuyết minh một phần của muôn vàn
hiện tượng tự nhiên. Tỉ dụ quần thể vũ trụ ở ngoài
hệ thái dương vẫn còn thuộc về cảnh giới không thể biết.
Thậm chí, đối với 9 hành tinh lớn trong Thái dương hệ,
sự hiểu biết của con người vẫn còn hạn chế.
Ngoài ra đứng trên quan điểm
y học để xem xét hiện tượng thân tâm của con người thì
y học Trung Quốc cho rằng, cho đến nay phạm vi của Tây y
chỉ là giải phẩu xác chết vật chất mà thôi còn y học
Trung Quốc cũng nghiên cứu tới khí mạch trong thân người,
tức là hiện tượng của thân người sống. Còn nói về môn
chữa bệnh tâm thần, ngoài việc sử dụng ma túy, thuốc an
thần, cưỡng chế ở một nơi thì không còn biện pháp nào
khác. Chữa bệnh tâm lý thì có thể dùng kinh nghiệm mà phân
tích, suy đoán, hướng dẫn. Nhưng không có cách nào để đi
vào chiều sâu tinh thần bệnh nhân được, tức là một loại
hoạt động vô hình có sức mạnh ở trong vật chất, ở trên
mặt đất. Nếu dùng các thuật như phù chú của quỷ thần
để trị bệnh, thì đôi khi cũng có hiệu nghiệm nhưng đó
không còn thuộc phạm vi của khoa học, và bị phê phán là
hiện tượng mê tín.
Phật pháp cứu người, độ
thế ngay từ đầu đã lấy tâm làm chủ, tâm tức là tinh
thần, có thể được thuyết minh dựa vào hai danh từ phiền
não trí tuệ. Phiền não mà tăng thì tinh thần hỗn loạn,
trí tuệ mà tăng thì tinh thần được sáng láng. Nếu tinh
thần hỗn loạn thì dù có dùng các phương pháp tôn giáo,
triết học để xử lý, cũng không giải quyết được vấn
đề một cách lâu dài vĩnh viễn. Nhưng nếu có được ánh
sáng của trí tuệ soi chiếu, thì vấn đề gì cũng giải quyết
được hết dù là thuộc phạm vi tinh thần. Chính vì vậy
mà khi còn tại thế Đức Phật không giải thích gì nhiều
về hiện tượng tự nhiên của thế giới vật chất. Tỉ
dụ, các vấn đề thế giới hữu biên hay là vô biên, thế
giới có hay không có điểm bắt đầu ? Vì Phật cho rằng
những vấn đề đó không có quan hệ gì đến mục đích giải
thoát khởi phiền não. Điều quan trọng là dùng phương pháp
tu hành như thế nào, để giải thoát phiền não, mở mang trí
tuệ. Cái mà Phật giáo gọi là trí tuệ không phải là cái
tâm phân biệt, nhận thức mà cái tâm tư trí tuệ không phải
là cái tâm phân biệt, nhận thức mà là tự tại không chấp
trước. Mà tâm đã được tự tại rồi, thì mọi hạn chế
về câu thúc, về vật chất hay tinh thần đều không còn nữa.
Đối với Phật giáo Ấn Độ
ngày xưa, phạm trù tâm bao quát cả hiện tượng tự nhiên
và vật chất. Do đó có câu "Vạn pháp duy thức, tam giới
duy tâm". Cái tâm phiền não gọi là thức. Cái tâm thanh tịnh
gọi là trí. Phàm đối với bất cứ hiện tượng nào có
chấp thủ, vướng mắc thì đều thuộc về tâm phiền não.
Phật pháp không coi trọng việc tìm hiểu hiện tượng các
pháp, mà coi trọng việc chuyển thức thành trí. Nếu không
thì dễ bị lầm lẫn gốc và ngọn, chấp các hiện tượng
như huyễn như hóa là sự thực. Thể của tâm là không hình
không tướng, cũng không lìa hình tướng, còn khoa học thì
chỉ xét đến hiện tượng mà hiện tượng thì thay đổi
nhiều và luôn thay đổi, khoa học không thể cung cấp một
chứng minh tối hậu và cứu cánh về sự thực được. Nhiều
nhất, khoa học chỉ có thể cố gắng tiến lên trong tình
huống nếu đau đầu thì chữa đầu, đau chân thì chữa chân
mà thôi. Như Lão Tử nói: "Cái sống là hữu hạn, cái biết
là vô hạn. Lấy cái hữu hạn để thỏa mãn cái vô hạn,
nguy thay". Phái đạo giáo theo chủ nghĩa tự nhiên, hiểu biết
đứng đắn vật chất, còn Phật pháp cho rằng, hiểu biết
về vật chất là chuyện thừa. Với cái tâm sáng, vật chất
sẽ tỏ rõ. Chỉ hiểu biết tự nhiên và hòa mình vào tự
nhiên không bằng bỏ được ngã chấp. Khoa học chỉ nghiên
cứu và phân tích thế giới vật chất, cho nên không thể
nào thuyết minh được chân lý của Đạo Phật.
Tuy nhiên, thái độ khoa học
là cần thiết, nếu biết dùng nó làm phương tiện giáo hóa.
Vì vậy chúng tôi nói Phật giáo bao hàm cả khoa học, nhưng
không bị khoa học hạn chế.
72
- Quan điểm của Phật giáo về sinh mạng con người có hợp
với khoa học hay không ? [^]
Phật giáo trước nay vẫn cho
rằng, con người tái sinh vào thai là do quan hệ nam nữ luyến
ái mà có sinh mạng, như kinh Viên Giác nói "Tất cả chúng
sinh đều do dâm dục mà có sinh mạng" (Nhất thiết chúng sinh
giai do dâm dục nhi chính tính mạng). Nói cách khác, chúng sinh
sở dĩ có sống, có chết là vì nam nữ có tình dục và quan
hệ tình dục. Nếu không chặt đứt cái gốc tình dục đó
thì không có cách nào ra khỏi được vòng sống chết luân
hồi. Trong lúc đầu thai, phần lớn là do quan hệ tình dục
của cha mẹ trong phòng kín, khi cái thai đam mê người cha là
cái thai sẽ là nữ, nếu đam mê người mẹ thì thai nhi sẽ
là nam. Do đó mà con trai thường theo mẹ, con gái thường dựa
vào cha. Điều này cũng thể hiện một hiện tượng tâm lý
chung mà thôi.
Thế nhưng hiện nay, có vấn
đề thụ thai nhân tạo, hài nhi sinh ra không có quan hệ tình
dục giữa cha và mẹ. Chỉ cần lấy trứng đã thành thục
ở người mẹ, và lấy tinh dịch của người cha, cho tổ chức
thụ tinh trong ống nghiệm và sau khi thành thai rồi thì đặt
cái thai đó trong tử cung của người mẹ. Thụ thai như vậy,
Phật giáo giải thích như thế nào ? Có hai cách giải thích
việc đầu thai, nhập thai. Một là nhập thai khi cha mẹ hòa
hợp nhau, thần thức nhập thai có thể thấy các tướng như
cung điện, ánh sáng rồi trong khoảng khắc nhập thai. Hai là
thần thức nhập thai có chuyện báo ân, báo oán với cha mẹ,
không kể là ân hay oán đều do nghiệp mà nhập thai, chứ
không cần cha mẹ hòa hợp mà nhập thai. Chỉ cần nghiệp
lực chín muồi là thai có thể sinh do tinh dịch và trứng bị
thu hút vào nhau trong ống nghiệm, mặc dù không có quan hệ
tình dục trực tiếp giữa cha và mẹ.
73
- Thế giới quan Phật giáo có hợp với khoa học hiện đại
không ? [^]
Nói chung các bộ kinh A Hàm
thuộc Phật giáo nguyên thủy như Phẩm I "Đại lâu Thấu linh",
phẩm I "Kinh thế kỷ", phẩm I kinh "Nguyên nhân căn bản sinh
khởi ra thế giới" (khởi thế nhân bản kinh) đều nói trung
tâm của thế giới chúng ta là núi Tu Di. Bốn phương bao bọc
núi Tu Di là bốn châu lục lớn (đại châu). Châu lục phía
nam gọi là Nam Thiệm Bộ Châu, cũng gọi là Nam Diêm Phù Đeଠchính
là thế giới chúng ta đang ở. Núi Tu Di cao 84000 do tuần, sườn
núi bốn phía đều có cung điện, tức là cõi Trời của bốn
vị Thiên Vương. Trên đỉnh núi Tu Di có 33 cung điện, tức
là cõi Trời Đao Lợi. Thế nhưng, địa lý học và thiên văn
học hiện đại không tìm thấy núi Tu Di ở đâu, ba châu lục
khác, ngoài Nam Thiệm Bộ Châu cũng không rõ ở đâu ? Nếu
núi Tu Di trong thần thoại Ấn Độ chính là núi Hy Mã Lạp
Sơn tại phía Bắc Ấn Độ thì cũng tương đối thỏa đáng.
Truyền thuyết về núi Tu Di đã có từ trước thời Đức
Phật Thích Ca và được lưu truyền ở Ấn Độ. Kinh Phật
chỉ nhắc lại truyền thuyết xa xưa, nhưng không coi trọng
bao nhiêu vì giáo lý của Đạo Phật chỉ là nhằm giải quyết
vấn đề nhân sinh thực tế, chứ không phải dùng thái độ
khoa học để thuyết minh thế giới quan.
74
- "Thánh ngôn lượng" mà Phật nói có chịu được khảo nghiệm
không ? [^]
Căn cứ lý luận của Phật
pháp là dùng ba tiêu chuẩn để thuyết phục người khác.
Một là hiện tượng tức là dùng sự thực để chứng minh.
Hai là tỷ lượng, tức là vận dụng lô-gic để chứng minh.
Ba là thánh ngôn lượng, tức là lời Phật được ghi lại
trong kinh. Hai tiêu chuẩn một và hai không thành vấn đề bàn
cãi,. vì dễ chấp nhận. Tiêu chuẩn thứ ba - tức thánh ngôn
lượng - hiện nay đang được tranh luận. Vì rằng các nhà
Phật học hiện đại vận dụng phương pháp luận, lịch sử,
khảo cổ học, ngôn ngữ học và quan điểm tiến hóa luận
để nghiên cứu kinh sách Phật giáo. Họ phát hiện thấy Phật
Thích Ca khi còn tại thế không để lại một bút tích nào,
một kinh Phật "thành văn" nào. Những kinh Phật được truyền
tụng sớm nhất cũng không phải kinh sách "thành văn" mà chỉ
là lời nói truyền miệng từ đời này qua đời khác.
Do địa bàn truyền giáo mở
rộng, thời gian càng lâu, nội dung kinh sách càng phong phú,
nên có những quan điểm giải thích kinh điển tỏ ra mâu thuẫn
nhau. Đó là nguyên nhân khiến cho trong Phật giáo sinh ra nhiều
bộ phái, về sau dần dần xuất hiện các kinh điển Đại
thừa. Nhưng dù cho Đại thừa hay Tiểu thừa, các kinh điển
đều được lưu truyền trong các bậc đại tu hành, và bất
cứ bộ phái Phật giáo nào cùng cho rằng kinh sách của họ
lưu truyền là đúng lời Phật dạy. Do đó hình thành cái
gọi là tư tưởng bộ chấp, tức là sự chấp thủ của bộ
phái. Mọi bộ phái đều cho rằng nội dung giáo lý mà họ
tin tưởng chấp nhận là thành ngôn lượng.
Hiện nay các học giả có thể
đem kinh điển các bộ khác, các hệ khác, thuộc các thời
đại khác nhau ra mà đối chiếu so sánh phân tích. Kết luận
của họ là : Trong các kinh điển thuộc các bộ phái có những
điểm gần giống nhau, có những điểm mâu thuẫn nhau, trước
và sau có chỗ tăng, có chỗ giảm. Nhưng nếu đối chiếu
với tất cả kinh điển Phật giáo mà phủ định tất cả
hoặc có thái độ hoài nghi thì không có cách nào để đem
lại lợi ích lớn cho loài người được. Và như vậy là
không hiểu công hiệu, phương tiện hóa độ của Phật giáo.
Thực ra vấn đề không phải bây giờ mới đặt ra. Ở Ấn
Độ, phê phán giáo lý, gọi tắt là phán giáo. Tỉ dụ, kinh
"Pháp Hoa" xếp các kinh Phật thành hai loại là Tiểu thừa
và Đại thừa. Kinh Lăng Nghiêm phân ra hai pháp môn "đốn và
tiệm". Kinh Hoa Nghiêm định khái niệm ba chiếu : Mặt trời
mới mọc, Mặt trời giữa trưa, và Mặt trời sắp lặn. Còn
kinh Niết Bàn dùng tỉ dụ năm dạng của sữa là : Sữa nước,
cao sữa (lạc), sanh tố, thục tố, và flôrút (đề hồ), sanh
tố và váng sữa. Thục tố cũng là váng sữa nhưng nấu chín.
Sau khi Phật giáo vào Trung Quốc thì có thuyết Nhất âm giáo
của Cưu Ma La Thập, thuyết 4 loại pháp luân của Đạo sanh,
học trò của La Thập. Bốn pháp luân đó là : Thiện tịnh,
Phương tiện, Chân thực, và Vô dư. Sau đó các tông Thiên
Thai, Hoa Nghiêm, Duy Thức v.v... cũng đều dựa vào kinh Phật
để có thuyết pháp giáo của mình.
Đối tượng giảng pháp của
Phật có nhiều trình độ và căn tính khác nhau, cho nên họ
tiếp thu giáo nghĩa và phương pháp tu hành cũng khác nhau. Tuy
nhiên, thời của người xưa đã qua lâu rồi. Sự phán giáo
của cổ nhân cũng dần dần không phù hợp với nhu cầu quan
điểm của người hiện đại nữa. Theo quan điểm hiện đại
thì lời Phật dạy (thánh ngôn lượng) có quan hệ mật thiết
đến giáo nghĩa căn bản của Phật pháp tức là ba pháp ấn
và bốn y cứ.
Ba pháp ấn tức là : Các hành
vô thường, Các pháp vô ngã, Niết bàn vắng lặng.
Đứng trên lý nhân duyên mà
xét, thì mọi sự vật và hiện tượng (tức là nội pháp)
đều là không rỗng, vô ngã. Nếu đứng trên lý nhân quả
mà xét thì các pháp đều là vô thường, khổ. Vô thường,
khổ là pháp thế gian. Vô ngã, vắng lặng là pháp giải thoát,
xuất thế.
Bốn y cứ là : Y pháp, bất
y nhân (dựa vào pháp, không dựa vào người), Y nghĩa bất
y ngữ (dựa vào nghĩa không dựa vào lời), Y liễu bất y bất
liễu nghĩa (dựa vào nghĩa rốt ráo không dựa vào nghĩa không
rốt ráo), Y trí bất y thức.
Cần dựa vào ba nguyên tắc
pháp ấn để xem lại mọi kinh sách Phật giáo, thì mới có
được Phật giáo thuần túy là thế nào...
Dùng bốn y cứ để lượng
định mọi kinh điển Phật giáo cũng dễ dàng phát hiện đâu
là Phật pháp, có thể tin cậy và nương tựa. Dựa vào tiêu
chuẩn đó thì có thể phân biệt được đâu là giáo nghĩa
căn bản của Phật pháp, và đâu là giáo nghĩa phương tiện,
do nhu cầu thế tục mà nói ra.
75-
Quan điểm của Phật giáo đối với ngày "tận thế"
[^]
Ngày tận thế là một khái
niệm của Cơ-đốc-giáo, nhưng đó cũng là một sự thật.
Phật giáo chia quá trình sinh diệt của thế giới thành 4 giai
đoạn : Thành, trụ, hoại, không. Từ không mà sinh ra có. Giai
đoạn "có" lại chia thành 3 giai đoạn là thành, trụ, hoại.
Kết quả của hoại là quy về không. Trong thế giới của
chúng ta chỉ trong giai đoạn trụ mới có thể có hoạt động
của sinh mạng và sinh vật. Trong giai đoạn thành, các yếu
tố vật chất dần dần ngưng đọng hình thành nên 4 đại
là Đất, Nước, Lửa, Gió. Chỉ sau khi 4 đại được định
hình rồi thì hiện tượng hoạt động sinh mạng mới dần
dần được phát triển.
Dạng sinh mạng đầu tiên là
từ một thế giới khác hóa sinh mà đến, chứ không do một
vị thần hoặc một người nào sáng tạo ra. Giai đoạn Trụ
của thế giới là giai đoạn hoạt động sinh mạng. Nhưng
thế giới cũng dần dần chín muồi và đi đến chỗ suy lão
và cuối cùng chuyển sang giai đoạn Hoại, một giai đoạn
không còn thích hợp với sự sinh tồn của sinh vật nữa.
Đến lúc Hoại triệt để thì khối vật chất của thế giới
bị tan rã, và quy về giai đoạn Không. Sau đó do nghiệp cảm
của chúng sinh đồng loại ở thế giới 10 phương mà hình
thành một thế giới khác. Thế giới sinh diệt là do nghiệp
cảm của chúng sinh mà có.
Đối với Phật giáo, cái gọi
là ngày tận thế bắt đầu với giai đoạn hoại của thế
giới. Do vậy, Phật giáo không phủ định thế giới sẽ có
ngày tận thế nhưng quan niệm đối với vấn đề khác với
Cơ-đốc-giáo. Theo Cơ-đốc-giáo ngày tận thế xuất phát
từ ý chí Thượng đế. Khi ngày tận thế đến, thì Chúa
Trời xuất hiện, đưa những người được Chúa yêu lên Thiên
đường và đuổi những người Chúa không yêu xuống địa
ngục. Còn giai đoạn hoại của thế giới mà Phật giáo nói
là hiện tượng tự nhiên, do cộng nghiệp của chúng ta ở
thế giới này dẫn tới mà thành tựu. Khi trong thế giới,
không còn điều kiện để cư trú nữa thì các chúng sinh tùy
theo nghiệp lực của mình mà sẽ tái sinh sang các thế giới
khác.
Ngoài ra Mạt pháp một danh
từ Phật giáo. Trước thời mạt pháp có thời chánh pháp
và tượng pháp. Thời đại Phật Thích Ca tại thế, về nguyên
tắc là thời đại chánh pháp. Sau khi Đức Thế Tôn vào Niết
bàn, là bắt đầu thời tượng pháp. Thời này chỉ có hình
tượng của Phật là đại biểu cho Pháp. Sau một thời gian
nữa là thời mạt pháp, số người tin Phật ngày càng giảm
bớt, số người tu hành lại càng ít. Người tu chứng được
đạo Thánh cũng không còn một ai. Và cuối cùng, Phật pháp
cũng bị các tà thuyết và ham muốn thế tục làm cho mai một,
tiêu vong mất. Kinh Phật tuy vẫn còn, nhưng không ai tin và
thực hành. Do đó mà trong thời kỳ Phật Pháp tồn tại ở
thế gian này, hy vọng rằng chúng sinh hãy nỗ lực hộ trì
Tam Bảo, duy trì tuệ mạng để làm cho thời gian Phật Pháp
tồn tại ở đời này được kéo dài mãi mãi, đưa lại hy
vọng tương lai cho loài người. Do đó, khái niệm mạt pháp
của Phật Pháp không có gì là đáng sợ như khái niệm "tận
thế" của Cơ-đốc-giáo.
Nếu thiện căn của anh sau
này lại được tiếp tục bồi dưỡng phát huy, thì dù ở
thời kỳ mạt pháp và ở vào giai đoạn "hoại" của thế
giới đi nữa, anh cũng không tuyệt vọng. Trong vũ trụ bao
la, thế giới nơi anh sống chỉ là một tinh cầu nhỏ trong
Thái dương hệ. Anh có thể dựa vào thiện căn của mình mà
chuyển sinh mạng sang một thế giới khác để tiếp tục tu
hành. Nếu nghiệp lực của anh mạnh mẽ, đức tin của anh
kiên cố, thì anh có thể vãng sinh ở một cõi Phật. Thế
giới này bị hoại diệt, không có nghĩa là bước vào đường
cùng. Đó cũng là điểm rất không giống với ngày tận thế
của Cơ-đốc-giáo.
Ngoài ra Phật giáo tuy ở thời
kỳ mạt pháp, nhưng đối với cá nhân anh mà nói, chỉ cần
nỗ lực không lười biếng, anh có thể từ thời mạt pháp
chuyển sang sống trong hoàn cảnh thời tượng pháp, thậm chí
trong hoàn cảnh chính pháp.
| Giới
thiệu | 01 | 02
| 03 | 04
| 05 |
06 | 07 | 08
| 09 | 10
|