62 - Chữ
vạn có ý nghĩa gì ? [^]
Chữ Vạn là một trong 32 tướng
tốt của Phật. Theo kinh "Trường A Hàm" thì đó là tướng
tốt thứ 16 nằm trước ngực của Phật. "Đại Tất Già ni
càn tử sở thuyết kinh" quyển 6 nói đó là tướng tốt thứ
80 của Thế Tôn Thích Ca, nằm trước ngực. Trong "Thập địa
kinh luận" quyển 12 có nói, khi Bồ Tát Thích Ca chưa thành
Phật, giữa ngực có tướng chữ Vạn kim cương, biểu thị
công đức trang nghiêm. Đó chính là tướng công đức trước
ngực mà người ta thường nói. Nhưng "Kinh Phương Quảng Đại
Trang Nghiêm" quyển 3 có nói đầu tóc của Phật cũng có 5
tướng chữ Vạn. Trong "Hữu bộ Tỳ nại Da tạp sự" quyển
29 nói : Ở lưng của Phật cũng có tướng chữ Vạn. Chữ
Vạn chỉ là phù hiệu mà không phải là chữ viết. Nó biểu
thị điềm lành tuyệt diệu không gì so sánh được, gọi
là điềm lành hải vân. Vì vậy, trong kinh "Đại Bát Nhã"
quyển 381 nói rằng : chân tay và trước ngực của Phật đều
có "Cát tướng hỷ toàn" để biểu thị công đức của Phật.
Phù hiệu chữ Vạn có chữ
ngoặc sang bên phải, có chữ ngoặc sang bên trái. Theo "Tuệ
lâm âm nghĩa" quyển 21. "Tuệ Uyển âm nghĩa" và kinh "Hoa Nghiêm"
thì tất cả có 17 chỗ nói tới hình chữ Vạn ngoặc sang
bên phải. Trong cuốn "Đà La Ni tập kinh" quyển thứ 10 có
in tượng "Ma Lợi chi Thiên" tay cầm quạt vẽ hình chữ vạn
ngoặc sang bên trái, còn có hình chữ Vạn dưới chân Phật
Dược Sư ở chùa Dược Sư Na Ra Nhật Bản cũng ngoặc về
bên trái. Nhưng hình vẽ phần lớn là ngoặc về bên phải.
Thời kỳ xa xưa, các giáo chủ Ấn Độ giáo, như Tỳ Thấp-Nô-Cập-Khắc-Lợi
Tân-Na đều có hình chữ vạn trên ngực. Theo truyền thuyết
Ấn Độ cổ, phàm là những Thánh vương chuyển luân cai trị
thế giới đều có 32 tướng tốt. Phật là một thánh vương
trong Pháp cho nên cũng có 32 tướng tốt. Điều này đã được
ghi trong kinh "Kim Cương Bát Nhã".
Gần đây, thỉnh thoảng có
sự tranh luận về chữ Vạn ngoặc sang phải hay ngoặc sang
trái, đại đa số đều cho rằng ngoặc sang phải là đúng,
ngoặc sang trái là sai. Nhất là trong những năm 40 của thế
kỷ 20, Hít-le của Châu Âu cũng dùng hình chữ Vạn để làm
phù hiệu cho chủ nghĩa quốc xã. Sau đó thì có nhiều cuộc
tranh luận hơn, có người nói, Hít-le dùng chữ Vạn ngoặc
bên trái, Phật giáo dùng chữ Vạn ngoặc sang bên phải. Thực
ra thì ở thời đại Vũ Hậu Tắc Thiên đời Đường đã
có chữ Vạn rồi, đọc là chữ "Nhật" tượng trưng cho "mặt
trời", chữ ấy ngoặc sang bên trái. Hít-le dùng chữ Vạn
hình góc nghiêng, Phật giáo dùng chữ hình vuông. Còn Ấn Độ
giáo thì lấy chữ ngoặc sang bên phải biểu thị thần nam
giới, ngoặc sang bên trái biểu thị thần nữ giới, còn Đạo
Lạt-Ma ở Tây Tạng thì dùng chữ ngoặc sang bên phải, đạo
Bon-pa thì dùng chữ ngoặc sang bên trái.
Căn cứ vào công trình nghiên
cứu của Tiến sĩ Quang Đảo Đốc ở trường đại học Quốc
Sĩ Quán Nhật Bản thì chữ Vạn vốn không phải là chữ viết,
bắt đầu từ thế kỷ 8 trước Công Nguyên đã thấy ghi trong
đạo Bà-la-môn ở lồng ngực của thần chú Tỳ Thấp Noa
với ký hiệu là vátsa, chứ không phải là chữ viết, cho
tới bắt đầu từ thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên mới
được dùng trong kinh Phật. Đến thế kỷ thứ nhất sau Công
Nguyên lại đổi tên là svastiko, vốn là tướng hình trôn
ốc túm lông đầu con trâu, lại biến thành lông ngực của
thần chủ Tỳ Thấp Noa, sau đó trở thành một trong 16 tướng
tốt, rồi lại thành một trong 32 tướng tốt.
Tóm lại, trong Phật giáo, dù
là ngoặc sang bên phải hay ngoặc sang bên trái, chữ Vạn đều
dùng để tượng trưng trí tuệ và lòng từ bi vô hạn của
Phật. Chữ Vạn ngoặc ra hai bên biểu thị sự vận động
vô hạn của Phật lực, kéo dài vô hạn tới bốn phương,
mở rộng vô cùng tận, luôn luôn không ngừng tế độ chúng
sinh vô lượng ở thập phương, cho nên cũng chẳng nên chấp
hình chữ Vạn ngoặc phải hay ngoặc trái.
63
- Hoa sen biểu thị cái gì trong Phật giáo ? [^]
Trong kinh Phật có nói, hoa sen
trên thế gian này chỉ có 10 cánh, hoa sen trên cõi trời có
trên trăm cánh, hoa sen trên cõi Tịnh độ có đến trên 1000
cánh. Hoa sen biểu thị tình trạng từ phiền não đi đến
thanh tịnh, bởi vì hoa sen sinh ra ở nơi ô uế, nở trên mặt
nước, có ý nghĩa sâu sắc là sinh trưởng ở nơi ô uế mà
không bị dơ bẩn. Hoa sen gồm có gương sen, hạt sen, cánh
sen. Gương sen để người ta ngắm nghía vẻ đẹp, hạt sen
thì để ăn. Hạt sen có thể trồng và sinh ra nhiều cây sen
khác. Hoa sen nở trong nước vào mùa hè viêm nhiệt. Viêm nhiệt
biểu thị sự phiền não, nước biểu thị sự thanh tịnh,
mát mẻ đưa lại cảnh giới thanh tịnh mát lành cho con người
bị phiền não trên thế gian. Đó là cái đức, cái đẹp mà
hoa sen tượng trưng. Con người giải thoát ra khỏi phiền não,
được sinh ở cõi Tịnh độ Đức Phật, đều được sinh
ra từ hoa sen.
Chúng sinh trong ba cõi do dâm
dục mà sinh ra. Các bậc Thánh ở cõi Tịnh độ đều sinh
ra từ hoa sen. Vì vậy, hoa sen biểu hiện công đức thanh tịnh,
trí tuệ thanh cao.
Tượng Phật mà chúng ta đã
thấy và các bậc Thánh hiền trong nước Phật Tịnh độ được
giới thiệu trong Kinh Phật đều dùng hoa sen làm bệ ngồi.
Hoặc ngồi hoặc đứng trên đài sen các vị đều thể hiện
pháp thân thanh tịnh, báo thân trang nghiêm.
64
- Đốt đỉnh đầu, đốt cánh tay, đốt ngón tay có cần thiết
hay không ? [^]
Căn cứ vào Kinh Phật nguyên
thủy và giới luật Tỳ kheo, thì hủy hoại, làm thương tổn,
đầy đọa thân xác của mình đều là những việc Phật không
cho phép. Ngoại đạo tu khổ hạnh của Ấn Độ dùng lửa,
dùng nước, dùng dao và các hình thức tự đầy đọa mình
làm cho thân xác bị khổ, xem đó là phương pháp tu hành nhằm
mục đích chuộc tội để cầu mong sự khoan hồng. Nguồn
gốc của phương pháp tu hành này có thể liên quan đến việc
dùng động vật, thậm chí dùng cả người còn sống để
tế thần. Các loại thần muốn ăn máu nên lấy thịt sống
cúng dâng cho thần để biểu lộ lòng thành kính của mình.
Những phương pháp khổ hạnh đó không phải là những phương
thức và phương pháp tu hành của Phật giáo. Vì vậy mà giới
luật Tỳ kheo quy định hễ người nào mà chân tay bị tàn
phế, năm giác quan không đầy đủ thì không được thọ giới
Tỳ kheo.
Trong kinh điển Đại thừa
có ghi chép việc đốt đỉnh đầu, đốt cánh tay và đốt
ngón tay. Tỉ dụ, trong kinh "Phạm Võng Bồ Tát giới" điều
16 có nói : "Nếu không đốt cánh tay, ngón tay của mình cúng
dường chư Phật thì không phải Bồ Tát xuất gia". Trong Phẩm
"Bán sự Bồ Tát Dược Vương" cũng có ghi chép về đốt thân
để cúng dường Phật. Trong đó có nói : "Nếu đã phát tâm
muốn trở thành Vô-thượng-chánh-đẳng-chánh-giác thì có
thể đốt đầu ngón tay, đầu ngón chân để cúng dường
tháp Phật". Điều này hơn cả việc xem đất đai, thành quách,
vợ con, núi rừng, sông ngòi và các báu vật để cúng dường.
Việc tu khổ hạnh của Đại thừa là xuất phát từ phương
thức tu hành của Đức Phật Thích Ca. Trước đây, khi còn
tu hành đạo Bồ Tát, Người đã nhiều lần xả thân để
cúng dường. Tỉ dụ như để cầu một bài kệ của ác quỷ
La-Sát, Người đã không tiếc hy sinh thân mình. Lại một trường
hợp khác, thấy một con hổ đói vì thiếu thức ăn mà mấy
con hổ con sắp chết đói, Người đã xả thân để cứu sống
bầy hổ. Điều này là căn cứ vào tinh thần Bồ Tát khó
làm là có thể làm được, khó nhẫn nhục mà có thể nhẫn
nhục được mà đề xướng hướng dẫn việc tu khổ hạnh.
Bản thân việc tu khổ hạnh
khác với việc tu khổ hạnh của Thần giáo, cũng khác với
việc lấy máu của người sống để tế Thần. Trong truyện
"Cao Tăng" của Trung Quốc có thiên "Vong Thân" và thiên "Di Thân"
chuyên sưu tập những thí dụ về các vị cao tăng xả thân
để tu hành. Từ cổ xưa đến nay, điều gian nan khó khăn
bậc nhất là cái chết. Làm người ai lại không yêu, không
tiếc cái thân xác của mình. Nếu vứt bỏ xác thân của mình,
hoặc dùng lửa đốt thân của mình thì cần phải có một
quyết tâm rất lớn, một tinh thần chịu đựng, chịu khổ
rất cao.
Nhưng phương pháp tu hành bình
thường phải lấy hành vi con người làm tiêu chuẩn, lấy
tư tưởng luân lý của con người làm cơ sở. Nếu việc làm
trái với lẽ thường tình, người bình thường không thể
làm được, thì bản thân mình phát sinh những phiền não lớn,
lại làm cho người khác dị nghị. Tu hành nên căn cứ vào
tinh thần Phật giáo nguyên thủy, phải tu hành với thân của
mình ở thế gian, phương pháp tu hành phải được đông đảo
đại chúng tiếp nhận. Nếu nhấn mạnh đến hạnh Bồ Tát
đặc thù mà xem nhẹ tính chất con người của thế gian, tính
chung của nhân loại và tính phổ biến của xã hội thì rất
khó đạt chức năng cảm hóa thế gian một cách rộng khắp,
nếu không thì chỉ có thể làm cho người ta đánh giá hành
động kỳ quặc khác thường mà thôi. Có thể giành được
sự tôn kính của một vài người nào đó, nhưng không đạt
được hiệu quả làm cho Phật pháp được phổ cập.
Trong thời đại cũng đã có
những ví dụ về việc thiêu đốt thân mình như thiền sư
Kinh An 8 ngón tay đã thiêu đốt 2 ngón tay. Hòa thượng Quảng
Đức tự thiêu ở Việt Nam. Ở Đài Loan cũng có một số
pháp sư thiêu đốt một ngón tay nhằm đạt tới một tâm
nguyện nào đó. Tấm lòng và dũng khí của những người đó
đáng được tán thưởng, nhưng chúng ta không nên bắt chước,
nếu không thì sẽ đi chệch con đường chân chính của Phật
Pháp.
Còn việc đốt đỉnh đầu
tuy là có căn cứ, nhưng ngoài Trung Quốc ra không có nước
nào lại có tập quán như vậy. Ở Trung Quốc sau cách mạng
văn hóa đã khôi phục lại việc truyền thọ Tam đàn đại
giới cũng đã phế bỏ tục lệ này, chỉ có Đài Loan còn
tồn tại nhưng tục lệ này cũng không được duy trì bao lâu,
nên chúng ta không cần thiết phải nhắc đến nữa. Còn việc
đốt trên đầu 12, 9, 6, 3 hoặc 1 vết sẹo... không có ý nghĩa
gì lớn chỉ là biểu hiện lòng thành kính của mình mà thôi.
Chúng ta rất không tán thành việc đốt đỉnh đầu này.
65
Học Phật tại gia và học Phật xuất gia có gì khác nhau ?
[^]
Cư sĩ có thể nói về quy y
được không ? Cư sĩ có thể giảng kinh được không? Cư sĩ
có thể hóa duyên được không ? Cư sĩ có thể trụ trì chùa
và viện được không ? Cư sĩ có thể vì tín đồ mà niệm
kinh, tụng và sám hối, siêu độ được không? Cư sĩ có thể
tham gia và can thiệp vào công việc của người xuất gia được
không ?
Thường có người hỏi 6 vấn
đề trên đây. Theo lý lẽ mà nói thì tất cả điều đó
là công việc của tăng chúng xuất gia, không phải là điều
mà cư sĩ phải làm, nếu làm thì mất lập trường học Phật
tại gia. Nếu không thì nên xuất gia, không nên một mặt thì
không ly tục xuất gia, mặt khác lại bắt chước cuộc sống
của xuất gia, muốn hưởng thụ quyền lợi của con người
xuất gia. Học Phật tại gia là để thu được lợi ích của
Phật pháp, hộ trì Tam Bảo, và sự ủng hộ bên ngoài của
Tam Bảo, không phải là cốt lõi của Tam Bảo.
Nhưng thời đại đã thay đổi,
người xuất gia ít đi, số người cần Phật pháp và Phật
sự lại tăng lên. Ở những nơi không có người xuất gia
hoặc rất ít người xuất gia thì cũng cho phép cư sĩ tại
gia nói về ba quy. Ba quy là tôn kính Phật, Pháp, Tăng (Tam quy).
Nghĩa là tăng nói về ba quy không phải là cư sĩ tại gia nói
ba quy, quy y tăng không phải là quy y cư sĩ tại gia.
Tóm lại cư sĩ không thể làm
quá chức phận của mình tự xưng là vị sư để người khác
quy y nhưng họ có thể thay mặt cho một vị Đại đức, Pháp
sư nào đó trong tăng bảo để tiến hành ba quy ở nơi mà
không có người thuyết pháp. Thế nhưng đối với chúng sinh
nói chung, bất kỳ Phật tử nào cũng có thể tùy lúc nói
ba quy làm cho chúng sinh trồng được thiện căn, làm nhân cho
việc độ thoát sau này.
Nói về giảng kinh thuyết pháp
thì khi Đức Phật còn tại thế đã có cư sĩ thay thế Phật
nói pháp, thậm chí còn có trưởng giả, cư sĩ thay thế Phật
giảng pháp cho chúng tăng. Như trong kinh Đại thừa có cư sĩ
Duy Ma Cật nói pháp, cũng có ghi chép Bà Thắng Mạn nói pháp,
do đó việc cư sĩ nói pháp không thành vấn đề.
Theo thói quen xưa nay thì cư
sĩ không lấy việc nói pháp để nhận những vật tiêu dùng
cho sinh hoạt vì họ đã có phương thức sinh sống riêng của
mình, không được dựa vào nói pháp để sinh sống. Nhưng
trong thời đại hiện nay, tất cả mọi công việc hoằng pháp
nên chuyên nghiệp hóa. Nếu cư sĩ lấy việc hoằng pháp làm
chuyên nghiệp thì nên có thù lao để bồi dưỡng và chi phí
về xe cộ đi lại cho họ. Nhưng nếu lấy việc giảng kinh
nói pháp làm thủ đoạn kiếm tiền, để được cúng dường
nhiều rồi phát triển không hạn chế việc này thì đó không
phải là thái độ nên có của người cư sĩ học Phật. Ngoài
ra cư sĩ hiện nay và sau này làm công tác phục vụ cho tính
chất chuyên nghiệp và việc giáo dục văn hóa Phật giáo cũng
nên nhận một sự đãi ngộ thích đáng để duy trì sinh hoạt
của gia đình.
Về việc hóa duyên thì điều
đó có nghĩa là để những người không tiếp xúc với Phật
pháp có cơ hội tiếp xúc với Phật pháp. Vì vậy người
Tỳ kheo lần theo các nhà để khất thực để hóa thiện duyên,
mục đích không phải là để ăn uống mà để trồng thiện
căn, tin Phật và học Phật pháp. Người ta hiện nay nói đến
hóa duyên là liên tưởng đến việc đòi người ta tiền,
đó không phải là ý cơ bản của Phật pháp. Tất nhiên là
thông qua việc khất thực để gia chủ bố thí, hai bên đều
có lợi, song không thể nào đảo ngược đầu đuôi, không
được bề ngoài thì đưa Phật pháp cho người ta mà mục
đích là để kiếm tiền. Hiện nay phần lớn hóa duyên là
để xây dựng các chùa và viện, rất ít vì cuộc sống của
cá nhân, cũng có một số là do đoàn thể chùa, viện và cá
nhân triển khai, đẩy mạnh công việc từ thiện giáo dục
văn hóa. Thí dụ như in kinh, mở trường học, xây bệnh việc,
nhà mồ côi, các cư sĩ tất nhiên cũng nên tham gia. Trong lịch
sử cận đại Trung Quốc, có một khất sĩ tên là Vũ Huấn
lấy việc xin cơm để xây dựng trường học. Việc cư sĩ
hóa duyên để ủng hộ Tam Bảo tất nhiên là đúng vì phúc
lợi xã hội cũng là đúng. Nhưng nếu là nhằm xây nhà tư
nhân hoặc lấy danh nghĩa nhà thờ Phật, chùa, viện mà xoay
sở kiếm lợi cho cá nhân thì làm trái với luật nhân quả.
Kinh Pháp Hoa gọi chùa viện
là tháp miếu, vốn là xá lợi để cúng Phật, sau này mới
được dùng để lưu giữ pháp bảo của Phật. Ở những nơi
có Phật, có pháp thì nhất định phải có các tăng chăm sóc
bảo quản, vì vậy, bên cạnh tháp miếu có phòng ở các tăng,
đó là hình tượng hoàn thành việc trụ trì Tam Bảo. Người
thế tục gần gũi với Tam Bảo, nếu ở trong chùa viện là
để học uy nghi và cuộc sống tu hành của người xuất gia.
Họ phục dịch cho chúng tăng gọi là trồng ruộng phúc.
Trong kinh Phật chưa có tỉ
dụ về cư sĩ trụ trì chùa viện nhưng trong thời đại gần
đây, Phật giáo Nhật Bản lấy cư sĩ tại gia làm trung tâm.
Họ ở trong chùa viện, sinh đẻ nuôi nấng con cái, đời đời
nối nghiệp nhau, đó là gia tộc những người lấy tôn giáo
làm chức nghiệp, khác với tu sĩ tại gia. Ngoài ra còn có
Dương Nhân Sơn, Âu Dương Tiệm, Hành Thanh Tịnh thời kỳ
đầu Dân Quốc cũng đều lấy danh nghĩa cư sĩ để chủ trì
sự nghiệp giáo dục Phật pháp và văn hóa. Họ đều có đạo
trường nhưng không gọi các đạo trường là chùa, viện,
tỉ dụ như tịnh xá Kỳ Viên, nơi khắc kinh Kim Lăng, học
việc Chi Na Nội...
Ngày nay không thiếu những
tỉ dụ về các cư sĩ chủ trì các loại đạo trường. Họ
dùng các tên như tịnh xá học hội, học viện, liên xã, rừng
cư sĩ, hội cư sĩ, chứ không dùng tên các chùa viện. Nếu
cư sĩ nhứt định phải chủ trì chùa viện thì có thể đó
là Lạt Ma của Mật giáo thuộc phái tại gia, hoặc là thầy
cúng của thần đạo giáo chứ không phải chủ trì. Bởi vì,
chủ
trì chùa viện là những người đại diện chủ trì Tam Bảo,
cư sĩ không phải là một trong Tam Bảo ấy, làm sao có thể
chủ trì được ? Cả danh và thực đều không phù hợp như
vậy là trái ngược với luân lý Phật giáo.
Đã là Phật tử thì phải
niệm kinh, sám hối. Phật giáo khuyến khích việc tập trung
lại cùng nhau tu hành. Khi còn sống và sau khi chết nên có
người cùng tu hành với mình, niệm Phật giúp nhau siêu độ.
Do vậy, cư sĩ tất nhiên có thể niệm Phật giúp người khác,
siêu độ cho người ta.
Những môn đồ trai giáo thường
ngày không kính trọng tăng bảo, nhưng hễ có người nào qua
đời cần siêu độ thì lập tức đến siêu độ cho vong linh
người chết và học những kinh Phật, bài sám hối mà tăng
ni thường dùng để có mặt ở đạo trường. Đã thuộc về
các đoàn tụng kinh, đội sám hối có tính chất nghề nghiệp
thì tất nhiên họ không tránh khỏi được tính công lao và
hưởng thù lao, những hiện tượng này Phật pháp không cho
phép.
Cũng có người hỏi cư sĩ
có thể dùng chiêng trống để tụng niệm không ? Vấn đề
này không nên đặt ra, chỉ cần dùng những dụng cụ ấy
để tụng kinh, sám hối, tu hành theo đúng nghi thức Phật
giáo chứ không được dùng làm phương tiện để kiếm tiền,
sinh sống. Vấn đề là ở chỗ sau khi dùng chuông trống tụng
niệm rất có thể người này, người nọ mời mọc rất bận
rộn đến nỗi phải bỏ nghề nghiệp vốn có của mình biến
Phật sự tụng kinh, sám hối làm nghề của mình, đó là điều
cần phải phòng ngừa. Cư sĩ tại gia có nhiều cách sinh sống,
nếu dùng phương pháp tu hành để nuôi sống thì tuy không
chết đói cũng không trở nên giàu có, người cư sĩ chính
tín lẽ nào lại lao vào những công việc này sao ?
Còn những công việc của người
xuất gia thì đó là công việc của chúng tăng, tăng ni quản
tăng ni, cư sĩ không nên tham gia, cũng không thể can thiệp,
cũng như anh không phải là thành viên của đoàn thể nào đó
mà lại can thiệp vào công việc của đoàn thể đó, tham gia
đã không được huống hồ lại can thiệp vào ? Cái gọi là
công việc của chúng tăng là tình trạng thanh tịnh trong cuộc
sống, trong uy nghi giới luật của người xuất gia, là sự
va chạm, mâu thuẫn giữa các chúng tăng với nhau. Nếu cư
sĩ thắc mắc thì chẳng khác gì anh không phải là quân đội
mà vào doanh trại quân đội phán xét, bàn luận kỹ luật
quân đội, hoặc xử lý công việc của quân nhân.
Người xuất gia vốn cùng một
thể và vì là người phàm phu, nên giữa họ với nhau có thể
có mâu thuẫn. Nhưng giữa chúng tăng không có sự thù oán
nhau, càng không thể có những mối thù không đội trời chung,
có những va chạm nhỏ thì giải quyết êm đẹp ngay, nên thường
dùng phương thức không rõ ràng dứt khoát để xử lý những
việc nhỏ nhặt trong chúng tăng. Nếu cư sĩ nhúng tay vào,
thì ngược lại xé to sự việc ra làm cho lời ra lời vào
nhiều thêm. Vì vậy, cư sĩ vào chùa viện phải nhiệt tâm
hộ trì không được giúp người này, nói người nọ, bàn
chuyện phải trái tạo nên những rối rắm cãi cọ. Nói một
cách thông thường, không nên xem mặt tăng mà xem mặt Phật,
vì tin Phật, học Phật mà anh hộ trì Tam Bảo, gần gũi với
chùa viện, do đó không nên vì thấy những hiện tượng chúng
tăng không làm đẹp mắt anh mà sinh ra hiềm nghi tự chuốc
lấy phiền não.
66
- Có thể duy trì truyền thống lấy tăng chúng xuất gia làm
trọng tâm của Phật giáo được không ? [^]
Đây là một vấn đề hết
sức sâu sắc.
Phật giáo từ Ấn Độ truyền
sang Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, và Việt Nam đã hơn
2500 năm nay chưa từng nảy sinh vấn đề này. Nhưng 100 năm
trước đây, ở Nhật Bản do thời đại thiên hoàng Minh Trị
thực hiện chính sách duy tân và để tăng thêm nhân khẩu,
thực hiện khuếch trương ra bên ngoài nên đã dùng mọi sức
ép với tăng chúng xuất gia buộc họ phải lấy vợ, ăn thịt.
Từ đó về sau, Phật giáo Nhật Bản dần dần chuyển thành
tập quán cư sĩ tại gia trụ trì các chùa, viện. Họ là những
người kinh doanh chùa viện chuyên nghiệp nhưng được người
ta xem như là tăng chúng. Sau đại chiến thế giới thứ II,
Triều Tiên cũng xuất hiện giáo đoàn Phật giáo tại gia,
cho đến nay Triều Tiên có hai phái xuất gia và tại gia cùng
tồn tại với nhau mà không hòa hợp với nhau. Ở Trung Quốc,
Hồng Kông và các khu vực Bắc Mỹ cũng dần dần có các tổ
chức Phật giáo cư sĩ độc lập. Họ không chống lại các
tăng đoàn xuất gia cũng không nhất định là những người
ủng hộ các tăng đoàn xuất gia. Tất nhiên do những quan niệm,
tiêu chuẩn từ trước đến nay nên cư sĩ không thể đại
diện cho tăng bảo chưa có người nào lấy danh nghĩa là cư
sĩ để táo bạo tiếp nhận sự quy y của các tín đồ. Song
hiện tượng này có thể duy trì được bao nhiêu lâu mà không
biến chất ? Điều này phải do lực lượng hoằng pháp của
tăng đoàn xuất gia mạnh hay yếu, số lượng nhân tài nhiều
hay ít mà quyết định. Nếu trong chúng tăng không có nhân
tài, không thể lãnh đạo các đệ tử của bốn chúng thì
ngày mà Phật giáo Trung Quốc chuyển sang lấy cư sĩ tại gia
làm trung tâm không còn xa xôi lắm nữa.
Trong thời Phật và vài trăm
năm sau khi Phật nhập Niết bàn, trong chúng tăng xuất hiện
nhiều bậc kiệt xuất, cư sĩ tại gia noi theo chúng tăng để
tu học Phật pháp. Đó là hiện tượng bình thường. Đến
thời kỳ Phật giáo Đại thừa phát triển thì xuất hiện
quan niệm lấy cư sĩ tại gia làm trung tâm. Tỉ dụ như cư
sĩ Duy Ma trong kinh "Duy Ma" là một ví dụ tốt nhất. Ở Trung
Quốc vào cuối đời nhà Minh và về sau Phật giáo cư sĩ cũng
dần dần được phát triển. Từ đầu những năm Dân Quốc
đến nay cũng có không ít những cư sĩ như đại sư Ấn Quang,
thường lấy cư sĩ làm đối tượng để nhiếp hóa chúng
tăng. Từ nay về sau có thể duy trì được địa vị truyền
thống hay không thì phải xem trong tăng chúng có người có
khả năng cảm hóa được cư sĩ để quy y họ làm đệ tử
của Tam Bảo hay không ?
Theo tôi được biết thì hiện
nay có nhiều Đại đức, cư sĩ tu học Phật nhưng không yêu
cầu chúng tăng cử hành nghi thức quy y Tam Bảo. Vì trong "Lục
tổ đàn kinh" có nói : "Nếu muốn tu hành thì ở nhà cũng
được, không phải chỉ ở chùa mới tu được. Ở nhà mà
tốt thì như người phương Đông có tâm thiện, ở chùa mà
không tu thì như người phương Tây có tâm ác. Tâm mà thanh
tịnh đó là Tây phương tự tính". Có một số cư sĩ tự
cho mình có trình độ cao không chịu chào chúng tăng, không
chịu xưng là đệ tử. Theo các kinh điển nói về Tịnh độ,
việc quy y Tam Bảo không phải điều kiện để được vãng
sinh Tây phương tuy rằng "Kinh Quán Vô Lượng Thọ" chủ trương
những ai muốn đạt từ trung thượng phẩm trở lên đều
phải thọ tam quy, phải thọ đủ các giới nhưng những bậc
hạ sinh trung phẩm, hạ sinh hạ phẩm thì không quy định phải
thọ ba quy, chỉ cần khi lâm chung khẩn thiết niệm danh hiệu
A Di Đà Phật là được.
Tất nhiên là Trung Quốc lấy
tư tưởng văn hóa Nho giáo làm hình thức chính thống đã
trải qua hàng nghìn năm mà chưa hề bị mai một. Tin Phật
giáo mà sùng Nho, hoặc sùng Nho và tin Phật đều là thái độ
ngoại giao đối với chúng tăng. Tuy đã từng có những hoàng
đế, thái tử, tể tướng, đại thần Lương Vũ Đế, Vũ
Tắc Thiên, Đường Tuyên Tôn, Trương Thượng Anh đã vái chào
các vị cao tăng, Đại đức như là đệ tử nhưng đó vẫn
chỉ là thiểu số. Do vậy, từ xưa đến nay, các Phật tử
Trung Quốc tuy rất đông nhưng tỉ lệ những Phật tử quy
y Tam Bảo làm đệ tử của Tam Bảo lại không nhiều. Phật
giáo chủ trương dựa vào pháp, không dựa vào giáo đoàn,
lấy Tam Bảo làm trung tâm, không lấy những cá nhân đặc
biệt làm đối tượng.
Người Trung Quốc xưa nay có
quan niệm "người có thể hoằng đạo chứ đạo không hoằng
người", xem trọng người, xem nhẹ pháp, nếu xuất hiện trên
đời những cao tăng cả học lẫn hành đều xuất sắc, trí
tuệ và từ bi đều ngang nhau thì tự nhiên hình thành nên
cục diện lấy tăng bảo làm trung tâm của Phật giáo.
Thế nhưng tình huống từ nay
về sau có thể càng gay go hơn. Bởi vì, trước nền văn minh
khoa học, trào lưu dân chủ khuynh hướng tự do, muốn làm
cho đông đảo quần chúng ủng hộ chư tăng và quy y thì phải
trả giá tương xứng. Thật ra không nên nêu vấn đề có thể
đảm bảo cho tăng bảo là trung tâm của Phật giáo hay không
? Nếu coi trọng việc bồi dưỡng tích lũy tài năng của chúng
tăng và ứng dụng một cách thích đáng, do không có sự phiền
lụy của gia đình và trói buộc của việc đời nên về mặt
học vấn tu hành trí lực và lời nguyện, chư tăng đều hơn
các cư sĩ tại gia. Chúng ta không cần thiết phải tranh luận,
lo lắng, xem trong tương lai ai là trọng tâm của Phật giáo
? Nhưng phải xem chúng tăng của chúng ta trước viễn cảnh
của tương lai có nắm được sự tùy duyên bất biến không
mà quyết định.
67 -
Trong tương lai còn có người xuất gia không ? [^]
Qua tỉ dụ của "Lục tổ đàn
kinh" và "Kinh Duy Ma Cật" nêu lên có thể thấy rằng tại gia
cũng có thể tu hành, tu hành không nhất định phải xuất
gia. Do sự biến đổi của hoàn cảnh xã hội, do sự chuyển
biến của phương thức sinh hoạt của loài người nên số
người muốn xuất gia và có thể xuất gia tất nhiên mỗi
ngày một ít đi. Hiện nay, có những công xưởng và công ty
có thể có hàng nghìn, hàng vạn người cùng làm việc với
nhau nhưng rất hiếm thấy xuất hiện những tăng đoàn xuất
gia có hàng trăm người và hàng nghìn người. Bởi vì, những
nhân viên cùng làm việc với nhau trong các công xưởng đều
có gia đình riêng, sinh hoạt gia đình và hoàn cảnh công tác
của họ tách biệt riêng ra. Thời gian rảnh rỗi, sau khi làm
việc khẩn trương gay go và đơn điệu, họ phải nghỉ ngơi,
vui chơi v.v... Những người xuất gia thì khác. Từ sáng đến
chiều, từ khi trời tối đến khi trời sáng, ngày qua ngày,
năm này qua năm khác, họ đều sinh hoạt trong trạng thái thanh
đạm, đơn điệu, kỹ luật, tinh tiến, không phóng túng, trừ
phi những người có lòng kiên nhẫn và nghị lực to lớn bao
la, nếu không thì rất không dễ dàng thích ứng với hoàn
cảnh đó.
Trước kia các chúng tăng xuất
gia ở trong rừng rậm, núi sâu, không dễ dàng bị thế giới
vật chất cám dỗ. Còn hiện nay thì những chùa viện tương
đối lớn đều trở thành những nơi thắng cảnh, chúng tăng
ở các chùa viện không thể không tiếp xúc với thiện nam
tín nữ từ các nơi, với các quan khách đến thăm viếng.
Để sửa sang chùa viện, hoằng dương Phật pháp, chúng tăng
không thể không thâm nhập vào trong dân, do vậy mà ảnh hưởng
đến sự thanh tịnh và trong lành của đời sống tu hành của
người xuất gia. Ngoài tướng mạo là tu hành, ăn chay, không
kết hôn và không có tài sản cá nhân ra, chúng tăng không
khác người tại gia. Vì vậy, những người có căn cơ thông
thường nếu không được những người đại diện thiện
trí thức dắt dìu, khích lệ động viên thì rất khó tự
động phát tâm xuất gia, sau khi xuất gia cũng rất khó mà
không thay đổi đến khi chết.
Tất nhiên là chư Phật ba đời
thành Phật đều đã là những đại tỳ kheo xuất gia. Những
vị La Hán trong lịch sử dù là trai hay gái cũng đều xuất
gia, các vị tổ sư các tôn phái thời cổ đại tuyệt đại
đa số cũng đều xuất gia. Phương thức sinh hoạt của người
xuất gia dựa theo giới luật nên tránh được nhiều phiền
toái và ràng buộc. Cá nhân xuất gia có thể tu học Phật
pháp tinh tiến và nâng cao trí tuệ. Đối với đông đảo
quần chúng xã hội mà nói thì họ có thể cống hiến toàn
tâm toàn sức của mình để hoằng pháp, giúp đỡ chúng sinh,
có những cố gắng rất lớn, cuộc sống của họ không ngừng
làm lợi cho mình làm lợi cho người khác, luôn luôn cảm thấy
tự do tự tại, rất thoải mái.
Ngày nào mà Phật pháp chính
tín còn tồn tại thì cánh cửa xuất gia mãi mãi được mở
rộng, vẫn có người đi theo con đường xuất gia. Dù không
còn xuất hiện hiện tượng hàng trăm hàng ngàn người cùng
ở cùng tu hành với nhau, nhưng dấu vết người xuất gia vẫn
còn tồn tại. Hoàn cảnh của người xuất gia sẽ phát triển
như thế nào trong xã hội tương lai thì chúng ta phải dùng
trí tuệ chúng ta để nghiên cứu một cách sâu sắc. Nếu
người xuất gia phát lời nguyện lớn thì trong bất kỳ tình
huống gian khổ khó khăn nào họ cũng có thể đạt bằng mọi
chông gai trở ngại đi theo con đường thênh thang rộng lớn
của mình.
68-
Quan điểm của Phật giáo đối với địa vị nữ giới như
thế nào ? [^]
Phật giáo gọi nữ giới là
ni chúng. Tỉ dụ về địa vị có liên quan đến ni chúng thường
được đem ra thảo luận là "phép tám kính" (bát kính pháp).
Theo phép tám kính thì ni chúng không thể ở độc lập mà
phải nương dựa vào nam chúng, không thể cùng ở với nam;
cũng không thể tách rời nam giới quá xa. Phải mời các trưởng
lão thượng tọa nam đến thuyết pháp dạy về giới ni chúng
nửa tháng một lần, ni chúng không thể trực tiếp đến thọ
giới trong ni tăng mà phải nam giới chứng minh. Tỳ kheo ni
tuy thọ giới 100 năm còn phải lễ bái nam chúng mới thọ
giới Tỳ kheo.
Do vậy, cho đến nay ni chúng
trước sau đều không có địa vị trong Phật giáo đặc biệt
là trong khu vực Thượng Tọa bộ ở Tích Lan, Miến Điện,
Thái Lan, người ta thậm chí còn không cho phép nữ trở thành
Tỳ kheo ni. Họ chỉ có thể trở thành những nữ tu hành sống
cuộc đời xuất gia mà không thọ giới xuất gia.
Thế nhưng hiện nay sau khi nữ
giới ở phương Tây gia nhập tăng đoàn Phật giáo, họ lên
tiếng đòi quyền lợi nam nữ bình đẳng. Họ cảm thấy ở
phương Đông nữ giới không có địa vị, nhưng quay trở về
xã hội phương Tây thì nữ Phật tử xuất gia ở đây càng
gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Đó là một hiện tượng
đặc thù. Bởi vì, đến phương Tây truyền bá Phật giáo
chủ yếu là nam chúng. Nam chúng vốn không phân biệt đối
xử với ni chúng, nhưng truyền thống của Phật giáo là như
vậy làm sao mà phá được. Then chốt là ở đấy.
Hiện nay ở Mỹ có một nhóm
ni chúng Phật giáo xuất gia xuất bản một quý san gọi là
tạp chí Kahawai với phụ trương là "Nữ giới với thiền"
(Journal of Women and Zen). Tạp chí đã ra được 9 số. Ở Tích
Lan cũng có một nhóm ni chúng phát tâm xuất bản một tổ
thông tin hàng tháng gọi là "parappvdvwa" với phụ trương "Nunslsland"
(đảo của ni chúng), tạp chí đã ra được 4 số. Tôn chỉ
của tạp chí này là đề cao địa vị của nữ giới trong
Phật giáo để đạt tới mục đích nam nữ bình đẳng. Trung
tuần tháng 2 năm 1987, Phật đà gia ở Ấn Độ đã triệu
tập đại hội tỳ kheo ni thế giới có tính chất lịch sử.
Trong tạp chí "Dương đại"
số 11 do Đài Loan xuất bản tháng 3 năm 1976 Dân Quốc, bác
sĩ Mỹ là Cổ Chính có viết một bài chuyên luận nhan đề
là "Phật giáo với sự xem thường nữ giới" nói rõ sự xem
thường nữ giới củ Phật giáo xuất phát từ Hóa Địa Bộ
thuộc hệ thượng tọa. Tỉ dụ như "phép tám kính" và nữ
giới có 5 trở ngại đều do Hóa địa bộ cường điệu ra.
Cái gọi là 5 trở ngại là nữ giới không thể thành Phật,
không thể thành ma vương, không thể làm thiên đế thích,
không thể làm phạm vương, không thể chuyển bánh thánh vương.
Điều này chứng tỏ đại chúng bộ ở vào thời kỳ cuối,
hữu bộ và hệ không của Đại thừa thời kỳ đầu đã
có những ý kiến khác nhau đối với quan niệm này. Bộ Kinh
Phật thuyết về "Long thi nữ" đã phản đối nhất thiết
bộ quan niệm về 5 loại trở ngại đối với nữ giới, nêu
rõ cuốn 22 và cuốn 50 của "Tăng nhất a hàm" đã thuật lại
những phụ nữ như những bà dì của Đức Phật là Đại
Ái Đạo, Tu Ma Đề không những có đầy đủ đức tin mà
còn cho rằng làm nữ giới là điều vinh quang. Kinh "Đạo thành
bát nhã" của Đại thừa hệ không, đã cực lực phản đối
lý luận chuyển hóa nữ làm nam giới thành Phật. Kinh "Duy
Ma Cật", kinh "Thuận quyền phương tiện", kinh "Chư Phật yếu
tập", kinh "A xà quán vương A thuật đạt Bồ Tát", kinh "Đại
tịnh pháp môn", kinh "Bảo nữ sở vấn", kinh "Phật thuyết
Tu Ma Đề Bồ Tát" và kinh "Phật thuyết và người phụ nữ
hiền thanh tịnh" v.v... đều nêu bật tác dụng của lý luận
không phân biệt nam nữ.
Trên thực tế, khi nghiên cứu
quan niệm đối với nam nữ trong thời đại Phật tại thế,
thì nên chú trọng đến sự bình đẳng cơ bản như chứng
quả la hán không phân biệt nam nữ, tu học Phật pháp cũng
nam nữ bình đẳng. Phật nói tất cả chúng sinh đều có khả
năng thành Phật, huống hồ là nữ giới. Gọi là Phật là
người được giải thoát triệt để, là người có trí tuệ
viên mãn và người cứu thế vô thượng, nam cũng có thể
thành Phật, nữ cũng không ngoại lệ. Nhưng xét về sinh tâm
lý của nữ thì chúng ta không thể - không phủ nhận nữ giới
nói chung so với nam giới thì yếu đuối hơn, nhu nhược và
có tính ỷ lại nhiều hơn. Vì vậy, để bảo vệ các ni tu
đạo và sinh hoạt được an toàn, khuyến khích họ trở thành
những chúng tăng xuất sắc ở cửa Phật thì các tỳ kheo
nam nên giành một phần công sức giúp đỡ các ni, nhưng đó
không phải là áp đặt họ, phân biệt đối xử với họ.
Như đối với những tỳ kheo ni có danh tiếng như bà dì của
Đức Phật, ai lại không tôn kính ? Trong kinh Phật có đề
cập đến việc nữ giới là nguồn gốc kích động tình dục
và tham dục của Tỳ kheo. Để ngăn ngừa ngọn lửa tình dục
thiêu đốt, nên đối với tỳ kheo ni có nói rằng thân nữ
giới không trong sạch, lấy thân thể nữ giới làm đối tượng
mà tu lối quán bất tịnh. Đó là phương pháp để áp dụng
và cách thức đề phòng trong quá trình tu trì chứ không phải
là phân biệt đối xử với nữ giới.
Trong nữ giới cũng có những
bậc trượng phu, những anh hùng nhưng xét cho cùng thì không
có nhiều vĩ nhân như nam giới. Thế giới hiện nay lên tiếng
ca ngợi nam nữ bình đẳng, đảm bảo quyền lợi cho giới
nữ nhưng hiệu quả chưa được rõ rệt. Trong số 160-170 quốc
gia trên toàn thế giới hiện nay có những phụ nữ đã trở
thành nguyên thủ quốc gia. Trong mấy chục năm gần đây đã
có bà Mayer, Thủ tướng Ixraen, bà Găng-đi ở Ấn Độ, bà
Thát-chơ ở Anh, bà Auinô ở Philipin, Xri Lan Ca cũng có một
bà tổng thống. Lãnh tụ tôn giáo nổi tiếng thế giới là
bà tu sĩ Đức Thụy Sa được giải thưởng hòa bình No-ben
năm 1979. Trong giới công thương theo thống kê của tạp chí
Forbes số tháng 5 năm 1987, thì năm 1987 chỉ có 3 phụ nữ trong
số giám đốc của 800 công ty Mỹ có cổ phiếu trên thị
trường. Chúng ta biết rằng tỷ lệ nhân khẩu nam nữ trên
thế giới là xấp xỉ bằng nhau. Tại sao số phụ nữ kiệt
xuất nổi tiếng so với nam giới lại ít ỏi thế ? Vấn đề
là do truyền thống nữ giới chăm lo công việc gia đình nên
trở thành những vị anh hùng sau hậu trường. Hơn nữa, bản
thân nữ giới có những nhược điểm vốn sinh ra đã có.
Đó là một sự thật.
Chúng ta không nên nhấn mạnh
đến sự bình đẳng tuyệt đối giữa nam và nữ giới trong
Phật giáo mà phải tiếp thu lời giáo huấn của Đức Phật.
Cái gọi là "Pháp trụ pháp vị" tức là mỗi cái đều có
vị trí lập trường của mình, mỗi cái đều có phần riêng
của mình, mỗi cái đều làm hết trách nhiệm của mình, cái
này, cái nọ tôn trọng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Nếu
gặp trường hợp có 4 chúng nam nữ (tức ưu bà tắc, ưu bà
di, tỳ kheo, tỳ kheo ni) cùng hội họp thì nên xem tính chất
của cuộc họp để sắp xếp chỗ ngồi, đối với nữ giới
có tính chất đại biểu và có chức vụ quan trọng thì nên
bố thí họ ngồi ngang hàng bình đẳng với nam giới, nếu
cuộc họp có tính chất nghi thức thông thường thì chúng
tăng nam và chúng tăng nữ nên phân biệt mà ngồi.
| Giới
thiệu | 01 | 02
| 03 | 04
| 05 |
06 | 07 | 08
| 09 | 10
|