7
- Định nghĩa và phạm vi của sát sinh [^]
Về nguyên tác mà nói thì trọng
tâm của giới không sát sinh là không giết người. Cho nên
giết người là tội nặng, giết các loại động vật khác
là tội nhẹ. Chúng sinh cố nhiên là nhất loại bình đẳng
như nhau. Nhưng chỉ có loài người là có thể gây nghiệp
ác (còn gọi là "hắc nghiệp" - nghiệp đen) mà bị đọa xuống
làm quỷ hoặc xuống địa ngục. Cũng chỉ có loài người
mới có thể tu hành nghiệp thiện (còn gọi là "bạch nghiệp"
- nghiệp trắng) mà được lên thiên đường, ra khỏi ba cõi,
cho đến thành Phật. Còn các loài chúng sinh khác, trừ một
số trường hợp ngoại tệ rất ít, nói chung là không biết
thiện, ác là gì, chỉ có những hành vi tự nhiên tùy nghiệp
mà chịu báo chứ không có tạo tác của tâm ý. Cho nên con
người là khí cụ để chở đạo (Đạo khí) chỉ có con người
mới có thể tu đạo và có thể hoằng đạo. Vì vậy giới
sát lấy việc răn cấm không giết người làm căn bản.
Giết người phải có đủ
ba điều kiện : 1 - biết đó là người; 2 - có dự định
mưu sát; 3 - giết chết. Không đủ ba điều kiện ấy thì
chỉ gọi là làm bị thương hoặc ngộ sát, không hình thành
tội giết người. Về con người, thì không kể tuổi tác,
sang hèn, đã thành hình hay chưa thành hình người, đã có
trí khôn hay chưa có trí khôn, đã khẳng định là người
thì không được giết. Cho nên không được sát hại, cũng
không được lấy danh nghĩa cái chết an lạc để xử lý cho
người tự họ muốn tìm cái chết hoặc những người tàn
phế đã trở thành vô tri vô giác.
Nếu làm trái với những điều
đó tức là phạm tội giết người. Ngày nay giới y học hô
hào những người có điều kiện cho các bộ phận cơ thể
để ghép cho người cần thay thế, như lấy giác mạc của
mắt, lấy quả thận và các bộ phận khác của cơ thể để
ghép cho người khác. Đó là lấy một phần cơ thể của những
người đã không còn khả năng xử dụng nó nữa, làm cho nó
sống lại. Đó là việc làm đáng khuyến khích. Nếu họ cho
khi còn sống có nghĩa là đã được sự đồng ý tự nguyện
của họ. Nếu sau khi họ chết mới dùng để lắp ghép thì
trước đó phải được họ xác nhận đồng ý khi còn sống.
Nếu không làm như thế thì người chết có thể còn một
phần quyến luyến, chấp trước đối với di thể của mình
mà sinh tức bực oán giận, thậm chí còn ảnh hưởng tới
ý nguyện chuyển sinh thiện đạo hoặc con đường vãng sinh
tịnh độ của họ.
Những người chết một cách
tự nhiên thì thông thường trong khoảng 12 giờ thần thức
chưa lìa hẳn, vẫn còn phần tri giác. Theo quan điểm y học
mà xem xét thì chưa hẳn là đã chết thực sự.
Nhưng nếu họ làm di chúc để
lại nói rõ việc cho một bộ phận cơ thể của họ để
cứu chữa tính mạng của một hoặc nhiều người khác thì
đó là hạnh Bồ Tát xả thân cứu người. Vì vậy, nếu khi
còn sống, người tự nguyện cho cơ thể có viết di chúc để
lại thì việc lấy bộ phận cơ thể của họ để lắp ghép
cho người khác không thành vấn đề phải bàn đến.
Trong cuộc sống hằng ngày
của chúng ta, vì lý do giữ gìn môi trường vệ sinh tất phải
xử lý vấn đề diệt ruồi, nhặng, muỗi, kiến, châu chấu,
bọ ngựa, chuột v.v… Điều này đã có định lệ ngay từ
khi Phật còn tại thế. Trong nhà tắm của các Tỳ kheo do bồn
tắm lâu ngày không dùng, nên đầy rẫy sâu nhỏ. Các Tỳ
kheo làm công việc dọn dẹp không biết xử lý như thế nào
? Phật nói "phải làm sạch nước bẩn, dọn nhà tắm cho sạch".
Tỳ kheo hỏi "sẽ làm hại đến sâu bọ". Phật nói : "đó
không phải là làm hại đến côn trùng mà để duy trì môi
trường vệ sinh của con người mà phải quét tước, dọn
dẹp, không phải là mục đích sát thương loài côn trùng cho
nên không coi là sát sinh. Đương nhiên không được phun thuốc
có chất độc để giết hại côn trùng chỉ dùng các phương
thức quét tước, dọn dẹp tiêu độc để phòng ngừa hoặc
ngăn cản không cho côn trùng xâm nhập sinh sôi nẩy nở. Nếu
môi trường vệ sinh được giữ gìn ngăn nắp, sạch sẽ và
được tiêu độc thì dẫu có côn trùng cũng không nhiều lắm.
Trong lúc cày cấy cũng khó
tránh khỏi làm tổn hại đến côn trùng, nhưng vì cuộc sống
của bản thân chúng ta, không những lúc cày cấy mà cả khi
đi, khi chạy thường ngày và khi làm các công việc khác chúng
ta cũng vô ý giết hại côn trùng. Vì vậy chỉ có thường
xuyên niệm Phật A Di Đà, nguyện cho các loài chúng sinh ngu
si vô trí sau khi chết được chuyển sinh thiện đạo hoặc
siêu sinh tịnh độ thì coi như không phạm giới sát sinh. Tất
nhiên là nếu cẩn thận đề phòng, giảm bớt những cơ hội
làm sát thương côn trùng thì đó là biểu hiện của lòng
từ bi. Nếu đã biết rằng tự mình gây ra sát sinh mà trong
lòng không hối hận thì tức là không có lòng từ bi.
Đối với các loài rắn độc,
thú dữ cùng các loài côn trùng độc hại khác thì đó là
do nghiệp kiếp trước của chúng khiến nên như thế. Chúng
làm hại con người nhưng không có mưu mô định trước, tuy
có hành vi ác nhưng không có ác tâm, vì vậy không xem chúng
gây ra nghiệp sát sinh. Loài người cần có sự cảm thông
và bảo hộ chúng.
Đối với xã hội ngày nay
mà nói thì không những con người có khả năng phòng ngừa
không để chúng gây hại mà còn có thể hoạch định một
phạm vi không gian khiến cho chúng được sinh tồn, hoặc hạn
chế khả năng sinh sôi nẩy nở quá nhiều của chúng để
chúng khỏi trở thành mối đe dọa đối với con người. Ở
đây chúng ta nên dùng các phương pháp phòng ngừa chứ không
nên dùng phương pháp hủy diệt, không những nhằm bồi dưỡng
lòng nhân từ của loài người mà cũng là để làm hết trách
nhiệm đối với việc bảo vệ môi trường thiên nhiên.
Nói chung người mới học Phật
thường chưa hiểu rõ định nghĩa thế nào là chúng sinh. Hơn
nữa ngày nay lại càng có người cho rằng thực vật cũng
có sinh mệnh, thực vật cũng có tình cảm, nếu nói không
sát sinh thì không nên sát sinh đối với động vật đã đàng,
mà cũng không nên sát sinh cả đối với thực vật nữa. Kỳ
thực thì sinh mệnh có thứ lớp của nó. Thực vật là loài
chúng sinh vô tình, động vật là loài chúng sinh hữu tình.
Cái gọi là chúng sinh có thể chia làm ba cấp : Loại cao cấp
là loài người, có đủ 3 điều kiện : 1 - có tế bào sống;
2 - có phản ứng thần kinh; 3 - có đủ tư tưởng và trí nhớ.
Loại cấp thấp là thực vật chỉ có tế bào sống không
có thần kinh và trí nhớ. Tuy có phản ứng về sống chết,
không có cảm ứng vui sướng, đau khổ càng không có tư tưởng
và trí nhớ, nên gọi là loài vô tình. Loại cấp trung là
động vật. Chỉ có ít loài như chó, khỉ, ngựa, voi v.v…
là động vật bậc cao, có một trí nhớ nào đó, nhưng không
có khả năng tư duy. Còn các động vật loại thấp thì ngoài
phản ứng thần kinh bản năng, không có tư tưởng và trí
nhớ, nhưng chúng có thần kinh tức có cảm giác đau khổ,
biết sợ chết, vì vậy loài sâu, kiến đều có bản năng
tự nhiên biết trốn tránh khi có nguy cơ tử vong. Thực vật
thì không như thế. Cho nên giới hạn định nghĩa sát sinh
là các loại động vật biết sống chết không phải cả loài
thực vật.
Phật răn cấm các Tỳ kheo
không được chặt phá cây cỏ, đối với các loài vi sinh
vật như vi khuẩn thì theo quan điểm sinh vật học vì đó
là các loại sinh vật năm ở giữa động vật và thực vật,
không có thần kinh, lại không có tư tưởng và trí nhớ, không
thuộc chúng sinh hữu tình,, có thể nói đó là những thực
vật có hoạt động, nên giết vi khuẩn không phải là sát
sinh.
Đối với các loài vi sinh vật
ở dưới nước thì ngoài các vi khuẩn ra còn có những sinh
vật tương đối cao cấp tuy không có thần kinh nhưng có thể
xếp vào loài động vật. Vì thế khi Phật còn tại thế các
Tỳ kheo khi dùng nước đều dùng nước đã qua túi lọc nước,
làm như vậy là để lọc ra những chúng sinh nhỏ bé nhưng
tương đối lớn, còn những loại sinh vật tương đối nhỏ
thì không đáng kể. Như vậy là dựa trên quan điểm từ bi,
không nở lòng trông thấy các loài chúng sinh vật mà không
cứu độ. Còn đối với những loài mà mắt thường không
thể thấy, hoặc tuy trông thấy nhưng không phân biệt được
là loại hữu tình hay loại vô hình thì không cần phải biết
đến.
Phật giáo chủ trương không
sát sinh chủ yếu ở tinh thần từ bi, coi chúng sinh đều bình
đẳng, tất cả chúng sinh đều có quyền sinh tồn và tự
do. Mỗi người chúng ta đều sợ bị giết hại, đều lo sợ
chết chóc, các chúng sinh khác đều như vậy. Các chúng sinh
tuy phân biệt sang hèn, cao cấp. Nếu người người đều phát
huy tinh thần từ bi bình đẳng đó thì thế giới của chúng
ta nhất định sẽ hài hòa, hòa bình, giúp đỡ, kính trọng,
yêu mến nhau, hòa hợp với nhau không có sự ngăn cách, sẽ
không có một người nào bị cố ý giết hại. Tuy nhiên trong
kinh Phật có nói : "Sát sinh thì chịu quả báo. Giết người
thì phải đền mạng, ăn củ người nửa cân thì phải trả
tám lạng". Điều đó đã nói rõ sự thực của luật nhân
quả. Quả báo là có thực, nhưng cũng không phải là tuyệt
đối không thể cải biến được. Bồi dưỡng tấm lòng từ
bi mới là trọng điểm của việc không sát sinh, cũng chính
là tinh thần của Phật và chư Bồ Tát giáo hóa độ thế.
8 -
Vì sao phóng sinh ? phóng sinh như thế nào ? [^]
Phóng sinh bắt nguồn từ kinh
Phật Đại Thừa, thịnh hành ở Trung Hoa, Tây Tạng, truyền
sang Nhật Bản và các nước láng giềng Triều Tiên, Việt
Nam. Hoạt động phóng sinh dựa trên tinh thần từ bi và bình
đẳng giữa chúng sinh, và quan niệm nhân quả của sinh tử
luân hồi. Nếu vừa giữ giới sát, lại vừa phóng sinh thì
công đức gấp bội. Những tỷ dụ kinh nghiệm cảm ứng về
phóng sinh, sách sử nói đến rất nhiều.
Trong kinh "Tạp bảo tạng" quyển
4 có ghi chép sư phụ của một Sa di biết Sa di này sẽ chết
trong vòng 7 ngày, nên cho phép anh ta về thăm nhà, 7 ngày sau
sẽ trở lại, nhưng không giải thích rõ lý do. Anh ta lên đường
về nhà, thấy nước trong một cái ao thoát ra một khe hở,
đe dọa một ổ kiến ở bờ ao. Bầy kiến nháo nhác chạy
trốn nhưng không kịp với tốc độ nước tháo ra. Anh Sa di
thấy vô số con kiến ắt phải chết đuối bèn lấy áo cà
sa của mình bồi đất vào để đắp lỗ hổng ở bờ ao,
cứu thoát bầy kiến. Sa di về thăm nhà 7 ngày, rồi trở lại
ra mắt sư phụ. Sư phụ thấy Sa di kinh ngạc vô cùng, hỏi
anh ta mấy ngày qua có xảy ra chuyện gì đặc biệt không.
Tưởng rằng sư phụ nói mình phạm giới, làm việc bậy bạ
nên lo sợ nói rằng không làm việc gì sai trái. Sư phụ là
A la hán dùng thiên nhãn biết rõ là anh Sa di này đã làm một
việc thiện nhỏ là cứu sống một bầy kiến, nhờ vậy mà
khỏi phải chết yểu, được sống cho đến già.
Các tín đồ Phật giáo đều
biết rõ căn cứ của phóng sinh. Có hai bộ kinh. Một là "Kinh
Phạm Võng Bồ Tát Giới", trong đó có nói : "Mọi người hãy
lấy từ tâm mà phóng sinh, vì tất cả đàn ông là cha của
mình, tất cả đàn bà là mẹ của mình, mình chính là từ
ở đó mà sinh ra. Vì vậy chúng sinh trong sáu cõi đều là
cha mẹ ta, giết họ mà ăn là giết cha mẹ, và giết cả bản
thân mình nữa. Tất cả đất và nước là thân trước của
ta, tất cả lửa và gió đều là bản thể của ta, cho nên
thường làm việc phóng sinh, đời đời thọ sinh. Nếu người
đời khi thấy việc giết hại súc vật thì nên cứu chúng
thoát khỏi khổ nạn, thường giáo hóa nói về giới Bồ Tát,
cứu độ chúng sinh".
Bộ kinh thứ hai là "Kinh Kim
Quang Minh" quyển 4 (phẩm con ông trưởng giả Lưu Thủy) kể
lại chuyện ngày trước Phật Thích Ca tu hạnh Bồ Tát. Thời
ấy Phật Thích Ca làm con ông trưởng giả Lưu Thủy. Một
lần Người đi qua một cái hồ lớn. Trời đại hạn. Có
người đắp đập trên thượng nguồn để bắt cá, làm cho
mức nước hồ thấp xuống, hàng vạn cá lớn, cá bé có nguy
cơ bị chết. Con trưởng giả muốn cứu bầy cá, nhưng không
thể lên tận nguồn để phá đập chắn, bèn tâu với quốc
vương phái đến 20 con voi lớn, chở nước tới, đổ đầy
hồ, cứu sống đàn cá.
Kinh "Phạm Võng" là chỗ dựa
lý luận của phóng sinh. "Kim Quang Minh" là chỗ dựa để xây
ao phóng sinh. Các bộ kinh Đại Thừa khác như "Lục độ tập
kinh" quyển 3, ghi chép việc mua rùa để phóng sinh. Cuốn "Đại
Đường Tây Vực Ký" của Huyền Trang cuốn 9 kể chuyện Tháp
Nhạn. Ở nước Magadha thuộc Trung Ấn Độ có một ngôi chùa
Tiểu Thừa, do một vị Tỳ kheo tu không giữ giới ăn ba loại
thịt thanh tịnh là các loại thịt không thấy giết, không
nghe giết, không vì mình mà giết. Có một ngày, một Tỳ kheo
không có thịt ăn, chính lúc đó ở trên trời có một bầy
nhạn bay qua, Tỳ kheo bèn nói với đàn nhạn "Hôm nay, có vị
Tăng không có thịt ăn, vì không ai cúng dường. Các vị Đại
Bồ Tát biết là thời cơ đã đến rồi". Bầy nhạn nghe thấy
như vậy, đều sa xuống mà chết. Vị Tỳ kheo ấy vốn không
tin Đại Thừa, không tin chim nhạn có thể là Bồ Tát, nên
nói ra câu trên để chế diễu Đại Thừa. Không ngờ chính
các Bồ Tát đã hiển hiện làm nhạn để giác ngộ cho anh.
Các Tỳ kheo Tiểu Thừa trong chùa lấy làm xấu hổ và bảo
nhau : "Đây là các vị Bồ Tát, ai mà dám ăn". Từ nay về
sau phải dựa vào Đại Thừa, chúng ta sẽ không ăn ba loại
thịt thanh tịnh. Rồi xây tháp thờ chim nhạn.
Có thể thấy phóng sinh có
gốc rễ ở giới sát. Cũng có thể nói phát triển giới sát
thêm một bước, thành ra phóng sinh. Giới sát chỉ là ngăn
không làm ác, là hành vi thiện thụ động. Phóng sinh cứu
mạng là hành vi thiện tích cực. Nếu chỉ ngăn ác, mà không
hành thiện thì không phải là tinh thần của Phật pháp Đại
Thừa. Vì vậy mà Trung Quốc, từ thời Bắc Tề Lương đến
nay, có phong trào không ăn thịt không sát sinh. Phong tục phóng
sinh cũng từ đó được phát triển dần dần từ triều đình
đến dân thường, từ chúng Tăng đến người trần tục đều
coi trọng ăn chay.
Chính phủ Dân quốc hiện nay
cũng định kỳ cấm giết hại súc vật một số ngày trong
năm, từ trung ương đến địa phương để cầu mưa, xua đuổi
tai họa, người ta cũng tổ chức phóng sinh và cấm giết hại
súc vật. Võ Đế nhà Lương xuống chiếu cấm sát sinh để
cúng tế. Tỳ kheo Tuệ Tập đời nhà Lương, nguyện tự đốt
hai cánh tay, đi khắp nơi khuyên phóng sinh. Đời Tùy, đại
sư Trí Khải phát động phong trào xây ao phóng sinh, giảng
các kinh "Kim Quang Minh" và "Pháp Hoa" để tuyên truyền xin bỏ
tiền mua lương thực để nuôi cá. Đời Trần Tuyên Đế,
Vua sai quan Tế Tửu Từ, Khắc Hiếu viết "Bài Bia về việc
thiền sư Trí Khải" tu ở chùa Thiền núi Thiên Thai tổ chức
phóng sinh. Điều đó mở đầu cho việc ghi chép các hội phóng
sinh và các ao phóng sinh ở Trung Quốc. Từ đó về sau từ
đời nhà Đường, nhà Tống đến nhà Minh, đời nào cũng
có phát triển việc phóng sinh. Đời vua Đường Túc Tôn, có
viết bài bia về ao phóng sinh. Đến đời Tống, hai đại sư
Tuân Thức và Tri Lễ cũng ra sức tán thán việc phóng sinh.
Cuối đời nhà Minh có đại
sư Liên Trì là một trong những cao tăng rất tích cực tuyên
truyền việc phóng sinh. Đại sư viết các bài "Như Lai không
cứu nghiệp sát", "Ăn thịt", "Ăn chay" in trong tập "Trúc song
tùy bút", lại viết các thiên thư như "Mặc áo lụa ăn thịt",
"Giữ giới sát được sống thọ", "Ao phóng sinh", "Thầy thuốc
giới sát sinh", "Vì bệnh ăn thịt". Trong tập "Trúc song tùy
bút", lại có các bài "Sát sinh là tội ác lớn trong đời
người", "Làm người không nên sát sinh", "Làm người không
nên ăn thịt chúng sinh để khuyến khích giới sát và phóng
sinh". Ngoài các bài viết về "ăn chay", ông còn viết các bài
"Nghi thức phóng sinh", "Giới sát phóng sinh", để bày vẽ các
nghi thức phóng sinh cho mọi người. Thời hiện đại có sách
của đại sư Hoàng Nhất, các tập tranh về "Bảo vệ cuộc
sống" của Phong Tử Khái "6 cuốn". Ngoài ra còn có Cư sĩ Thái
Niệm Sanh đề xướng việc giới sát phóng sinh biên tập những
câu chuyện về chủ đề "Động vật cũng có linh tính và
cảm ứng" thành sách với nhan đề "Động vật còn như vậy".
Nhưng trong xã hội hiện đại, khoa học kỹ thuật tiến bộ,
mật độ nhân khẩu tăng nhanh, không gian sống bị thu nhỏ
lại, muốn có một ao phóng sinh, một khu vực phóng sinh tuyệt
đối an toàn là tương đối khó khăn. Ở nước Mỹ và Đài
Loan hiện nay có các khu vực bảo vệ dã thú. Ngoài ra cũng
có người do lòng thương yêu loài vật và muốn bảo vệ thiên
nhiên đã khuyến khích dân chúng không nên giết, bắt bừa
bãi, tránh phá hoại sự điều hòa phối hợp tự nhiên của
sinh vật, tránh nguy cơ diệt chủng đối với loài động vật
hiếm. Điều này phù hợp nhưng không hoàn toàn tương đồng
với tinh thần phóng sinh của đạo Phật. Nếu chúng ta thả
tất cả động vật được phóng sinh vào các khu bảo vệ
động vật… thì sẽ có nguy cơ bão hòa, số động vật tăng
nhan tới mức phải hạn chế.
Do đó, chúng ta đến đâu để
phóng sinh ? Nếu là cá thì có người câu hay thả lưới, nếu
là chim, thì có người dùng súng bắn, hay dùng lưới vây bắt.
Ở các chợ bán chim, bán cá ngày nay, thường không phải là
động vật hoang dã, mà đại bộ phận là do người ở các
ao cá, vườn chim. Những động vật này căn bản không thích
ứng với hoàn cảnh tự nhiên, phóng sinh chúng cũng như sát
sinh. Phóng sinh loài nhỏ, chúng sẽ bị những loài lớn ăn
thịt. Phóng sinh loài lớn, chúng sẽ bị săn bắn đưa vào
bếp các quán ăn. Hơn nữa, giống chim, loài cá đều có thói
quen của chúng. Có những loài cá nhất định phải sống trong
những hoàn cảnh nhất định như chất nước, độ sâu, độ
chảy, mua giống cá sông thả vào biển hay mua và thả cá biển
vào sông đều thành vấn đề. Loại chim nuôi ở công viên,
không quen săn mồi trong hoàn cảnh tự nhiên không biết rau
quả nào trong rừng có thể dùng làm thức ăn. Nếu thả chúng
vào rừng sẽ bị đói hoặc bị các động vật khác hoặc
các loài chim ăn thịt.
Trong tình hình như vậy, có
cần phóng sinh hay không, có nên phóng sinh hay không ? Điều
này rõ ràng là một sự thực không may mắn. Sự hạn chế
của hoàn cảnh tự nhiên làm cho cuộc vận động phóng sinh
ngày càng khó khăn.
Thực ra, ý nghĩa phóng sinh
là ở nơi động cơ của phóng sinh mong muốn kéo dài thọ
mạng của sinh vật. Còn kéo dài được bao lâu thì chúng ta
phải có trách nhiệm khảo sát, nghiên cứu như muốn thả
chim thì phải nghiên cứu xem thả loài chim gì, thả ở đâu,
thả vào lúc nào mới an toàn, có kết quả.
Đối với loài cá, tôm, cua
v.v… cũng phải như vậy. Trước hết phải nghiên cứu tập
quán sinh thái, nguồn gốc của chúng, rồi chọn thời cơ thích
đáng nhất để thả chúng ở những nơi an toàn thích hợp
nhất. Nhưng nếu không may, hôm nay chúng được thả, sang ngày
hôm sau chúng bị bắt thì cũng đành chịu vậy.
Mục đích của chúng ta là
phát động lòng từ bi, tinh thần cứu tế của người phóng
sinh. Còn số phận của động vật được phóng sinh ra sao,
thì còn tùy thuộc vào nhân quả họa phúc và nhân duyên của
chúng nữa. Miễn là khi phóng sinh chúng ta thành tâm cầu cho
chúng được thoát nạn. Hãy vì chúng mà nói Tam Quy, nói Phật
pháp, phát nguyện hồi hướng. Chúng có thể nhờ đó mà thoát
ly được các thân khác loài, chuyển tái sinh làm người, sinh
lên cõi trời, vãng sinh tịnh độ, phát tâm Bồ đề, độ
thoát chúng sinh sớm thành Phật đạo. Trong việc phóng sinh,
chúng ta chỉ cần tận tâm, tận lực mà làm. Như vậy là
tốt.
9
- Phật tử kiếm tiền với thái độ như thế nào ?[^]
Có người hỏi : Buôn bán thì
không thể nói thật. Thí dụ ông Vương bán dưa, tất phải
khen dưa ngọt, nếu không như vậy, sẽ không có ai mua. Như
vậy, thì Phật tử có thể buôn bán không ? Buôn bán có phạm
giới vọng ngữ hay không ?
Lại có người hỏi : Người
học Phật không được có tâm tham, mà nên bố thí. Đi buôn
là để có thật nhiều lãi, phải chăng đi buôn là trái với
Phật pháp ?
Lại có người hỏi : Phật
tử có thể mua cổ phiếu đầu tư, cho vay, mua bán bất động
sản được hay không, vì những việc đó đều mang tính chất
đầu cơ ?
Lại có người hỏi : Phật
tử có thể buôn bán lương thực, thực phẩm hay không ? Nếu
lương thực thực phẩm đó có được dùng để nuôi gia súc,
thì phải chăng làm như vậy là khuyến khích nghiệp sát sinh
?
Đúng vậy, những vấn đề
trên đây là những vấn đề cần phải thảo luận và nghiên
cứu. Khi Phật Thích Ca còn tại thế, xã hội Ấn Độ chia
làm bốn đẳng cấp :
Thứ nhất là đẳng cấp giáo
sĩ Bà-la-môn, lo công việc tôn giáo.
Thứ hai, đẳng cấp Sát-đế-lợi
lo công việc quân sự, chính trị.
Thứ ba, đẳng cấp Phệ-xá,
lo việc công thương.
Thứ tư, đẳng cấp Thủ Đà
La làm các công việc thấp hèn như sát sinh v.v…
Đức Phật Thích Ca chỉ không
khuyến khích làm các công việc của đẳng cấp Thủ Đà La,
còn thì tán thành các ngành nghề khác trong phạm vi cho phép,
đủ thấy các Phật tử hoạt động công thương là chính
đáng.
Còn như nói buôn bán là hành
vi dối trá lừa người thì điều cần phải bàn bạc. Bởi
vì đó không phải là thủ đoạn cần thiết mà do tập quán
và tâm lý của con người nói chung tạo nên. Hàng thật, giá
thật vay mượn chỗ đáng tin cậy, đó là đạo đức nghề
nghiệp đáng có của nhà công thương. Mà chỉ có sự trung
thực mới có thể làm to, làm lâu dài. Nếu không thì vì sao
nhiều nhà buôn trương chiêu bài : "Cửa hàng này lâu hàng
chục năm, thậm chí hàng trăm năm".
Làm một người Phật tử mà
có thể làm người khác ngờ rằng mình có thể lừa lọc
họ, dối trá họ thì đó không phải là thái độ đúng đắn
của người Phật tử mà thậm chí không phải là một nhà
tiểu thương nữa.
Tất nhiên, chúng ta biết có
những cửa hàng nói thách giá, nhưng cũng có những cửa hàng
không bán hai giá. Có thể khi bắt đầu buôn bán có thể kém
đi một ít, lợi nhuận còn ít, nhưng về lâu về dài, sẽ
được tín nhiệm, nhờ đó mà thu lãi.
Người ta nói chung có tâm lý
"nuôi con phòng già", "tích cốc phòng cơ", "buôn bán thì nhất
bản vạn lợi, muốn cho cuộc sống cá nhân được đảm bảo,
muốn cho con cháu đời đời được ăn no mặc ấm". Nhưng
ngày nay, thời thế đã thay đổi, quan niệm đã khác xưa.
Các nhà kinh doanh lớn hiện nay, không nên thấy lợi ích riêng
của mình mà phải cống hiến trí tuệ, tài năng của mình
cho phúc lợi quần chúng xã hội, thực hiện cái gọi là "lấy
ở xã hội và dùng cho xã hội", nhằm mục đích hoàn thành
sự nghiệp của mình. Vì phụng sự lý tưởng đem lại hạnh
phúc cho nhân loại nên họ không có tham tâm. Những người
bình thường với khả năng trí tuệ của mình tuy không có
cống hiến gì lớn lao cho xã hội nhưng ít nữa cũng có thể
giải quyết được nhu cầu sinh hoạt cá nhân, cũng như nhu
cầu sinh hoạt của gia đình và những nhân viên giúp việc.
Đó là sự hỗ trợ lẫn nhau, và mỗi người đáp ứng nhu
cầu riêng của mình.
Do vậy, mỗi người phải phát
huy khả năng của mình, bất kể vốn liếng, trí tuệ và sức
lực như thế nào ? Người Phật tử đi buôn bán, không chỉ
được quan tâm đến lợi ích riêng tư, mà bỏ rơi lợi ích
của người khác. Vì xã hội là một "đoàn thể" người,
chúng ta làm bất cứ việc gì trong xã hội cũng đều có quan
hệ với người khác, đều tác động lẫn nhau và giúp ích
cho nhau.
Chúng ta phải có quan niệm
vừa lợi ích cho mình vừa lợi cho người trong việc kiếm
tiền để có số lợi nhuận tương xứng, và phải biết chi
tiêu hợp lý số tiền kiếm được, không được chi dùng
tiền vào hưởng thụ vật chất và thỏa mãn hư danh. Như
vậy tránh được cái tiếng "kiếm tiền là do tham lam".
Trong kinh "Thiện Sanh" có nói,
thu nhập của cư sĩ tốt nhất nên chia làm bốn phần để
xử lý :
-
Chi cho sinh hoạt gia đình.
-
Chi cho vốn liếng kinh doanh.
-
Dự trữ phòng xa.
-
Cho vay lấy lãi.
Ở Ấn Độ, cách đây hơn 2500
năm, phân phối như vậy thực sự là an toàn hợp lý. Ngày
nay hai khoản dự trữ phòng xa và cho ngân hàng vay lấy lãi
có thể nhập làm một. Ngoài ra, nên dành riêng một khoản
để dùng cho 3 việc. Một là phụng dưỡng cha mẹ. Hai là
giúp đỡ bạn bè thân và người giúp việc. Ba là cúng dường
Tam Bảo. Bốn phần trên là để đảm bảo cuộc sống bản
thân được ổn định, ba phần sau là để phụng dưỡng cha
mẹ vì lợi ích xã hội và vì tôn giáo.
Theo Phật pháp thì phải có
nghề nghiệp chân chính, tức là nghề nghiệp lợi cho mình
mà không hại cho người khác. Như vậy thì làm sao mà nói
rằng bản thân kiếm tiền mà lại làm cho người khác mất
vốn phá sản ? Tuy nhiên phải thừa nhận rằng do trình độ
quản lý và năng lực cao thấp khác nhau, quan niệm về lề
lối kinh doanh khác nhau, quan hệ xã hội cũng bất đồng cho
nên rất có thể cửa hàng này, công ty này làm ăn có lãi,
cửa hàng kia, công ty kia bị thua lỗ.
Điều căn bản là trong quan
hệ làm ăn buôn bán không được dối trá. Nếu trong quan hệ
đó có người mua hay bán bị thua lỗ thì đấy không phải
là trách nhiệm của chúng ta. Nói tóm lại người Phật tử
làm bất cứ điều gì cũng với lòng thật, lòng thành, đối
xử với người khác bao giờ cũng một lòng thành thực. Còn
kết quả xảy ra thế nào thì cũng có thể không cần bận
tâm áy náy.
Buôn bán cổ phiếu nhà cửa
trong thế giới hiện đại là bình thường, chính phủ các
nước đều chấp nhận. Các công ty thông qua bán cổ phiếu
để huy động vốn nhàn rỗi của tư nhân, tập hợp vốn
để kinh doanh các nghề có lợi cho quốc tế nhân sinh. Do đó
mua bán cổ phiếu là việc làm chính đáng. Có một số người
nắm trong tay một số lượng lớn cổ phiếu, thao túng làm
cho cổ phiếu khi lên, khi xuống, như vậy là không đạo đức.
Chỉ có các nhà tư bản lớn mới thao túng được cổ phiếu,
những người đầu tư bình thường chỉ có thể căn cứ giá
cổ phiếu lên xuống mà mua hay bán cổ phiếu. Trong xã hội
mà nền tài chính ổn định, việc thao túng cổ phiếu là
phạm pháp. Các xí nghiệp lớn tuy nắm trong tay một số lượng
lớn cổ phiếu cũng không được thao túng thị trường, làm
cho giá cổ phiếu lên xuống nếu không thì chịu lấy hậu
quả xấu.
Việc mua bán nhà cửa cũng
là một hành vi thương nghiệp chính đáng. Nếu mua bán bất
động sản với giá cả hợp lý, không ép giá xuống khi mua,
không nâng giá lên khi bán, thì việc mua bán nhà đất không
có gì là sai trái và Phật tử có thể làm.
Đối với việc cho vay lấy
lãi, Phật tử có thể cho ngân hàng hay cơ quan tín dụng vay,
đó cũng là một loại đầu tư. Dùng một khoản tiền nhỏ
lưu chuyển giữa người ta với nhau hoặc tập trung đầu tư
vào một số xí nghiệp lớn cũng là phương tiện lợi mình,
lợi người, làm cho kinh tế xã hội phồn vinh, đó là việc
làm nên khuyến khích. Nhưng nếu cho vay với lãi cao thì rất
nguy hiểm, thường bị mất cả vốn. Người Phật tử không
thể cho vay nặng lãi, bản thân vừa không bảo đảm lại
vừa bóc lột người khác quá đáng, làm thương tổn đến
lòng từ bi, tốt nhất là không được làm.
Ngày xưa người ta tính có
đến 360 nghề nghiệp buôn bán. Trong xã hội công thương nghiệp
hiện đại, số ngành nghề lên đến 3600 loại, Phật tử
chúng ta nên tránh các nghề có liên quan đến nghiệp sát,
nghiệp dâm, nghiệp trộm cắp, cờ bạc, nói dối, rượu chè,
nhưng không thể xác định được dứt khoát được ngành
này, ngành họ là không thể làm. Tỷ dụ, như mở rạp chiếu
bóng, chuyên chiếu những phim đồi trụy, thì tất nhiên là
không được. Nhưng mở rạp để chiếu những phim có tính
chất giáo dục và giải trí thì đó là một ngành nghề chân
chính. Mua bán lương thực để cho người ta dùng hoặc sau
khi gia công sẽ dùng vào công nghiệp thì được.
Tóm lại, Phật giáo không khuyến
khích nghiệp sát và không làm ngành nghề thuộc nghiệp sát,
phàm việc gì liên quan đến nghiệp sát thì nên tránh.
10
- Phật tử có thể có sinh hoạt tình cảm không ? [^]
Tình cảm là mối quan hệ giữa
nam và nữ, giữa bà con thân thuộc và giữa bạn bè với nhau,
cũng tức là tình ái, tình cảm thân thiết, tình hữu nghị.
Phật tử vẫn còn là phàm phu, nên không thể không có cha
mẹ, không thể không có bạn bè. Ngoài người xuất gia ra,
các Phật tử đều nên có vợ chồng. Phật gọi chúng sinh
là "hữu tình" tức là nếu không có ba loại tình nói trên
thì không phải là chúng sinh. Học Phật là chúng sinh phàm
phu học Phật.
Mọi sự tiếp xúc, quan hệ
giữa người với người, đều phải hợp tình hợp lý, hợp
pháp. Nếu Phật giáo chỉ nói ly dục riêng thôi thì không
có cách nào làm cho con người nói chung tiến đến cửa Phật.
Nếu sự giáo hóa của Phật không có thành phần tình cảm
thì rất khó giáo hóa chúng sinh.
"Từ bi" mà Phật pháp giảng
tựa hồ như khác với tình cảm. Nhưng cơ sở lòng từ bi
chính là tình cảm giữa người và người, người ta vẫn
thường nói đó là yêu. Nhưng yêu cũng có sự phân biệt "yêu
có điều kiện hay không có điều kiện", "hữu ngã" hay "vô
ngã". Lòng từ bi của Phật và Bồ Tát là vô ngã. Tình yêu
giữa người và người là hữu ngã. Tình yêu giữa bà con
thân thuộc là vô điều kiện. Tình yêu nam nữ, bạn bè có
thể là có điều kiện, cũng có thể là vô điều kiện. Theo
Phật pháp là phải từ tình yêu cơ sở đưa tới lòng từ
bi vô ngã.
Vì Phật, Bồ Tát là vô ngã,
chúng sinh không thể vô ngã, cho nên phải giáo dục hướng
dẫn chúng sinh từ lòng thương hữu ngã dần chuyển sang lòng
từ bi vô ngã, phải từ lòng thương có điều kiện thành
lòng thương vô điều kiện. Do đó, Phật giáo không thể yêu
cầu người ta từ bỏ sinh hoạt tình cảm được.
Phật tử nên giải quyết vấn
đề tình cảm như thế nào ? Gia đình là cơ sở của quan
hệ tình cảm. Cơ sở gia đình về mặt luân lý mà nói là
tình cảm ruột thịt. Nó được cấu thành từ quan hệ vợ
chồng, nam nữ, từ đó mở rộng phạm vi đến bạn bè thân
thuộc là những người ngoài gia đình và hoạt động của
xã hội mà hình thành nên sự cần thiết phải có tình cảm
thân thiết. Trung Quốc có câu tục ngữ "Ở nhà dựa vào chao
mẹ, ra ngoài dựa vào bạn bè", "phu xướng phụ tùy, bách
niên giai lão" tất cả đều dựa trên tình cảm làm cơ sở.
Không có tình cảm cũng như máy móc không có dầu trơn dễ
xảy ra trục trặc do ma sát mà bị hư hỏng. Mục đích của
Phật pháp là giáo hóa người phàm tục biến mâu thuẫn thành
hài hòa. Vì vậy Phật giáo có hai pháp môn không thay đổi
là trí tuệ và từ bi. Trí tuệ là lý tính, từ bi là cảm
tính. Dùng trí tuệ để chỉ đạo từ bi, vận dụng từ bi
có thể giúp cho tình cảm của con người phàm tục từ hỗn
loạn trở thành có trật tự, từ mâu thuẫn trở thành hài
hòa. Nếu tách rời tình cảm khỏi trí tuệ của lý tính thì
dễ buông lỏng, phóng túng dễ dẫn đến hậu quả vừa hại
mình, vừa hại người.
Có một bộ kinh Phật nhan đề
"Kinh lễ sáu phương" kể lại chuyện ở Ấn Độ, vào thời
Phật Thích Ca có một loại tín ngưỡng tôn giáo dạy người
ta chuyên lễ bái sáu phương. Một lần Đức Phật gặp một
thanh niên tên là Thi-Ca-La-Việt đang lễ bái sáu phương với
thái độ rất thành kính, bèn hỏi anh ta, lễ bái gì ? Thanh
niên không trả lời được, chỉ nói là làm theo lời dạy
của cha, khi cha còn sống, thường lễ bái sáu phương. Sau
khi cha chết, người con vẫn tiếp tục lễ bái sáu phương.
Đức Phật bảo : "Phật giáo cũng dạy lễ bái sáu phương
: hiếu thuận với cha mẹ là lễ phương Đông; kính trọng
thầy dạy là lễ phương Nam; vợ chồng hòa thuận là lễ
phương Tây; thương yêu bạn bè là lễ phương Bắc; săn sóc
người làm công, giúp việc mình là lễ hạ phương ("dưới")
tôn kính người xuất gia là lễ thượng phương ("trên"). Đồng
thời Người cũng nói, cha mẹ đối với con cái, thầy đối
với trò, người làm công đối với chủ, sa môn đối với
người thế tục cũng đều phải có thái độ và trách nhiệm.
Đó chính là những phạm vi tình cảm quan hệ luân lý giữa
người và người, khéo xử lý vấn đề tình cảm để có
cuộc sống tình cảm chính đáng là bước đầu tu hành theo
đạo Phật".
Phẩm "Phật đạo" trong kinh
"Duy Ma Cật" có ghi lại cuộc đàm thoại giữa Bồ Tát Phổ
Hiền và ông Duy Ma Cật. Bồ Tát Phổ Hiền hỏi : "Ông có
cha mẹ, vợ con, họ hàng quyến thuộc, bạn bè, như vậy có
phải là có quá nhiều phiền lụy chăng ?" ý nói "Duy Ma Cật
là đại Bồ Tát, lại có gia đình quyến thuộc làm sao mà
sống tự tại được ?" Duy Ma Cật trả lời : "Mẹ ta là trí
tuệ, cha ta là phương pháp độ chúng sinh, vợ con là niềm
vui với pháp nhờ tu hành mà có được, con gái ta là đại
biểu cho lòng từ bi, con trai ta là đại biểu cho tâm lành
và lòng thành thực, ta có gia đình nhưng gia đình ấy đại
biểu cho cái "không" tuyệt đối; học trò ta là tất cả chúng
sinh, bạn bè ta là các pháp môn tu hành khác nhau. Các cô gái
đẹp ca múa xung quanh ta là bốn loại phương tiện nhiếp hóa
chúng sinh".
Phẩm "Phật đạo" của kinh
"Duy Ma Cật" bao gồm mọi người và sự vật của đời sống
người tại gia. Duy Ma Cật không những bị những sự trói
buộc đó làm cho không được tự tại mà ngược lại biết
lấy trí tuệ lớn để vận dụng, phát huy lòng từ bi. Tuy
có cuộc sống tình cảm như những người bình thường khác,
nhưng ông có thế giới nội tâm và giải thoát tự tại của
mình.
Có thể thấy rằng các Phật
tử không cần từ bỏ cuộc sống tình cảm của mình, nhưng
phải lấy lý tính để chỉ đạo cảm tính dung hòa với lý
tính. Nếu có thể dùng trí tuệ của lý tính để chỉ đạo
cảm tính, thì cuộc sống sẽ vô cùng phong phú, thuận lợi,
dồi dào, lợi mình lợi người.
Nguyên tắc chỉ đạo và trí
tuệ của Phật pháp dạy chúng ta xử lý như thế nào đối
với vấn đề tình cảm, chứ không phải đòi chúng ta vứt
bỏ, bài xích hoặc ghét bỏ tình cảm. Nếu dùng tình cảm
không thích đáng, dùng tình cảm không có tiết chế thì sẽ
bị tai họa. Thí dụ : cha mẹ thương yêu con cái là chuyện
đương nhiên, nhưng nếu chiều chuộng thái quá thì con cái
sinh hư. Trai gái thương yêu nhau nhưng có quan hệ tình dục
trước khi kết hôn, hay ngoại tình thì sẽ xảy ra nhiều vấn
đề phức tạp cho gia đình và xã hội. Trong các mối quan
hệ giữa bạn bè với nhau, thầy trò với nhau, họ hàng với
nhau, chủ và người giúp việc với nhau cũng phải dựa vào
lý trí để thể hiện tình cảm, nếu không thì xảy ra phiền
phức.
Phật pháp không phản đối
cuộc sống tình cảm mà hướng dẫn chúng ta phải có cuộc
sống tình cảm như thế nào cho hợp lý và hợp pháp.
11
- Phật tử nên cử hành lễ tang thế nào? [^]
Trong lễ tang nên làm các "Phật
sự" như : tụng kinh, niệm Phật v.v… Nhưng trong nghi thức
lễ tang hiện nay ở Trung Quốc, người xuất gia chỉ tụng
kinh, không đứng chủ lễ tang. Vì các nghi thức lễ tang đều
do phái viên của tổ chức hội bảo trợ đảm nhiệm, Phật
sự chỉ là những công việc phụ.
Theo nghi lễ tang chính thức
của Phật giáo thì ngoài những người phụ trách lễ tang
thì chủ thể phải là một pháp sư xuất gia tụng kinh hộ
niệm cho người chết. Những người tham dự lễ tang nên có
quyển kinh Phật trong tay để tụng theo pháp sư chủ lễ, bài
kinh và bài kệ đọc nên ngắn gọn, như bài "Tâm kinh", "Chú
vãng sinh", "Kệ tán Phật", "Niệm danh hiệu Phật", "Kệ hồi
hướng". Chỉ cần đọc không cần xướng bởi vì trong số
người tham dự có nhiều người không biết xướng. Sau đó
vị pháp sư giới thiệu sơ lược tiểu sử, công đức học
Phật, làm điều thiện của người chết rồi nói đôi lời
ngắn gọn cầu cho người chết vãng sinh tịnh độ và an ủi
gia đình bạn bè của người chết.
Lễ tang gia đình và lễ tang
chung (dành cho bạn bè đoàn thể) nên tổ chức vào cùng một
ngày cho tiện, đồng thời nghi thức lễ tang nên tổ chức
giản đơn, long trọng, thời gian không quá một giờ, nhiều
nhất là một giờ rưỡi. Dùng ban nhạc hay hàng rào danh dự
đều là việc phô trương, hình thức. Những người không
phải là Phật tử cho rằng những hình thức đó có lẽ có
lúc có tác dụng an ủi người chết. Còn đối với các Phật
tử thì điều đó chỉ làm nhiễu loạn tâm người chết cầu
mong sinh nơi cõi Phật.
Xưa nay, lễ tang Phật giáo
chưa có quy định cụ thể. Nhưng ở Trung Quốc, vốn có các
nghi thức lễ tang gồm các khâu như di lưu, khi người còn
sống chưa chết hẳn và sau khi chết thì có các khâu như tắm
rửa, thay áo, đặt linh vị, túc trực bên linh vị, nhập quan,
đưa tang, mai táng, làm lễ cúng 7 ngày cho tới lễ cúng 100
ngày, v.v…
Theo pháp môn Tịnh độ thì
trong khâu "di lưu" (1) nên mời các thiện tri thức, kể cả
tại gia và xuất gia, đến hộ niệm, nói pháp, tụng kinh,
niệm Phật. Và trong vòng 12 giờ sau khi đương sự chết thì
tổ chức tắm rửa và tiếp tục hộ niệm. Bất cứ cử hành
nghi thức nào đều tổ chức hộ niệm cho tâm người chết
hướng về vãng sinh Tịnh độ. Tốt nhất là có các chư tăng
hộ niệm làm lễ, bằng không thì có thể nhờ bạn bè đồng
đạo, đồng tu giúp đỡ hộ niệm.
Phật tử
xử lý xác người chết như thế nào ?
Có thể đặt trong khám, hay
trong quan tài để hỏa táng hay đem chôn. Nếu là hỏa táng
thì đưa tro cốt lên chùa hay là đặt trong tháp để thờ,
hoặc đem chôn trong phần mộ. Nhưng dù hỏa táng hay chôn cất,
cũng nên dùng các nghi thức tụng niệm, đọc kinh, hồi hướng,
thay cho các nghi thức phô trương như cử nhạc hiếu và than
thuê khóc mướn v.v…
Ngày xưa, ở nông thôn có tập
tục, người già đều chuẩn bị sắm quan tài, áo tang để
cầu sống lâu dài và cầu đại cát đại lợi. Nhưng ngày
nay trong xã hội công thương nghiệp, phong tục đó cũng không
còn nữa mà cũng không cần thiết nữa.
Như trên đã nói, nghi thức
lễ tang theo Phật giáo cố gắng làm đơn giản, long trọng
và đặc biệt là trong thời gian lễ tang không được bày
chuyện sát sinh, làm cổ mặn, rượu thịt để thiết đãi
bạn bè hay là để cúng tế vong linh người chết. Ở làng
tôi tại tỉnh Giang Tô, vào dịp lễ tang, nhân dân chỉ làm
cổ chay để tiếp đãi những người đến tham dự, phúng
viếng. Bàn thờ linh vị chỉ có hoa quả, cổ chay để cúng
dường… có vòng hoa, giỏ hoa, trướng biển cũng giảm bớt
hay bãi bỏ, chỉ trừ một số giỏ hoa, hay vòng hoa của bạn
bè thân hữu đến như các đoàn đại biểu. Số tiền phúng
viếng ngoài phần để trang trải chi phí lễ tang và nhu cầu
sinh hoạt ra (nếu tang gia thuộc hạng người nghèo) còn thì
nên đem tất cả cúng dường Tam Bảo hay làm các công việc
hoằng pháp lợi sinh, các công việc từ thiện, để hồi hướng
cho người chết được siêu sinh tịnh độ.
Cha mẹ qua đời, con cháu vì
thương cảm khóc than là chuyện thường tình. Khi đức Phật
nhập Niết Bàn trừ các bậc A-la-hán đã được giải thoát
ra tất cả các đệ tử đều khóc. Nhưng trong lễ tang ngày
nay, nếu vì tục lệ mà tổ chức "khóc lóc để biểu thị
lòng thương cảm" thì không nên. Các Phật tử nên thay khóc
lóc bằng các Phật sự.
Thế thì khi nào làm Phật sự
vì người chết ? Và nên tiến hành làm Phật sự như thế
nào ?
Chú thích : (1) Một số
công việc làm với người hấp hối như thay quần áo, niệm
Phật.
12 -
Như thế nào là làm Phật sự ? [^]
Làm Phật sự là làm các công
việc học Phật, hoằng dương Phật pháp, đối tượng chủ
yếu là con người. Đọc kinh, nghe pháp, khóa tụng, giảng
kinh, bố thí, giữ giới, tu thiền, thực hành bát chính đạo,
và thực hành sáu pháp Ba La Mật v.v… đều là Phật sự.
Nhưng trong sinh hoạt dân gian
nói chung, không có quan niệm làm Phật sự như vậy. Thông
thường khi bà con bạn bè chết họ mời các sư Tăng đến
niệm Phật, tụng kinh, cầu cho vong linh người chết được
siêu độ, không trực tiếp tham gia những công việc Phật
sự đó, không tham gia tụng kinh niệm Phật, sám hối cùng
với các chư Tăng. Họ chỉ làm công việc thù tiếp bà con
thân thuộc, bạn bè đến phúng viếng, thậm chí còn đánh
bài để tiếp khách khứa. Tang gia xử sự như vậy chỉ là
làm theo tập tục, không phải là làm Phật sự, vừa bất
kính đối với Phật pháp, vừa vô lễ đối với vong linh
người chết.
Làm Phật sự phải có đầy
đủ lòng thành, cung kính, nghiêm túc trang trọng. Tang gia thân
thuộc của người chết phải tham gia tụng kinh niệm Phật.
Khi cần thiết các chư Tăng đến làm chủ lễ chỉ đạo,
hướng dẫn công việc Phật sự. Khi làm lễ không được
ồn ào, mất trật tự.
Phật sự không phải là nghi
thức, không được xem Phật sự như một nghi thức trong lễ
tang. Bạn bè, họ hàng người chết đều nên tham gia tụng
kinh, niệm Phật. Nếu không thì cũng phải đứng bên cạnh
với thái độ cung kính, trang nghiêm, lắng nghe và theo dõi
chư Tăng và người khác tụng kinh, niệm Phật, lễ bái. Làm
Phật sự trong lễ tang tức là mời vong linh người chết đến
nghe pháp, giải thoát nghiệp lực siêu sinh tịnh độ. Nếu
tổ chức lễ tang và Phật sự mà tang gia không trực tiếp
tham gia, thiếu lòng thành kính, thì công dụng đối với vong
linh người chết chỉ có rất ít mà thôi.
Nên tổ chức làm Phật sự
cho người chết trong vòng 49 ngày sau khi chết. Thông thường
con người sau khi chết nếu nghiệp ác quá nặng thì lập tức
đọa xuống ba cõi ác. Nếu có nhiều việc thiện thì cũng
lập tức được sinh lên cõi trời. Nếu tu nghiệp thanh tịnh
thì được siêu sinh tịnh độ. Dù cho người chết có bị
đọa vào ba đường ác thì công dụng của Phật sự là làm
giảm bớt nỗi thống khổ của người chết, cải thiện hoàn
cảnh của ba cõi. Nếu được sinh lên cõi trời thì sẽ làm
cho hạnh phúc của họ trên cõi trời càng thêm an lạc. Nếu
được sinh ở cõi tịnh độ thì có thể nâng cao thêm thứ
bậc ở đấy.
Kinh Địa Tạng chép rằng,
muốn giúp cho bà con quyến thuộc được siêu sinh tịnh độ
thì phải cung kính cúng dường chư Phật, Bồ Tát, đọc tụng
thụ trì kinh Phật. Theo Kinh "Vu Lan Bồn" thì phải có bố thí
cúng dường chúng Tăng xuất gia. Nói tóm lại, đứng trên
lập trường của bà con quyến thuộc người quá cố, dùng
tài sản của họ để lại làm các công việc bố thí, cúng
dường Tam Bảo, cứu tế kẻ nghèo, làm phúc lợi xã hội,
bố thí cho tất cả chúng sinh, khiến cho họ rời bỏ cái
khổ, được an vui, điều đó có công dụng giúp cho người
quá cố rời bỏ khổ, siêu sinh tịnh độ.
Trong vòng 49 ngày, kể từ phút
người thân nhắm mắt nên tổ chức niệm danh hiệu Phật
liên tục. Nếu khi còn sống, người thân tu pháp môn tịnh
độ hàng ngày niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà thì tất nhiên,
khi hộ niệm sẽ niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà… Bà con thân
thuộc người chết nên phân công luân phiên nhau niệm danh
hiệu Phật A-Di-Đà. Nếu người quá cố không tu pháp môn
nào thì vẫn nên niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà cho họ. Còn
nếu họ thường tụng một bộ kinh nào đó hoặc trì tụng
danh hiệu một đức Phật hoặc Bồ Tát nào đó thì tốt nhất
là thọ trì kinh đó, niệm các danh hiệu Phật, Bồ Tát đó
rồi hồi hướng công đức cho họ.
Theo tập quán ở Trung Quốc,
trong vòng 49 ngày, nếu ngày nào cũng làm Phật sự là tốt
nhất. Bằng không thì chỉ làm Phật sự trong 7 ngày đầu
hay trong 3 ngày đầu hay một ngày đầu mà thôi cũng tốt.
Sắp xếp như thế nào là do điều kiện nhân lực, vật lực
của gia đình.
Nói chung theo đạo Phật, cần
cử hành lễ tang ngắn gọn, trang nghiêm, long trọng. Tránh
mọi sự phô trương, lãng phí không cần thiết. Tài lực,
vật lực, nếu có, nên dùng vào các việc cúng dường Tam
Bảo, hoằng dương Phật pháp, bố thí kẻ nghèo v.v… rồi
hồi hướng công đức cho người quá cố. Nếu không như vậy
là không phải Phật sự mà là dựa vào nghi thức lễ tang
người chết mà phô trương sự hự vinh mà thôi. Tất nhiên
là không nên chôn theo người chết quần áo đắt tiền và
báu vật của họ, làm như vậy không có lợi ích gì thực
tế đối với người chết mà còn lãng phí của cải đồ
dùng.
| Giới
thiệu | 01 | 02
| 03 | 04
| 05 |
06 | 07 | 08
| 09 | 10
|