c
-
Kinh Hiền
Ngu
-
Thích
Trung Quán dịch
-
Phẩm
thứ ba mươi tám
-
CÁI
SỰ
CHÍNH tôi được nghe: Một thời đức
Phật ở nước La Duyệt Kỳ, tại tinh xá vườn Trúc. Lúc
ấy tôi đương tọa thiền trong rừng tự nghĩ rằng:
- Đức Phật xuất thế thực là
một điềm lạ lùng, độ người nhiều như vậy. Sự ăn uống
đầy đủ, hơn nữa lại được hết khổ, tất cả vua, quan,
dân chúng được lợi ích vô cùng tận. Vì sao? Vì Ngài vạch
đường chỉ lối, cho thoát khỏi tam đồ ác đạo, đời vị
lai được hưởng phúc báu trên cõi nhân thiên, hơn nữa lại
được đạo Niết Bàn. Nghĩ thế rồi tôi đứng dậy về
tinh xá. Khi đó đức Thế Tôn đương thuyết pháp cho đại
chúng nghe. Tôi mặc áo chễ vai bên hữu, tới trước quỳ
gối bên hữu xuống đất, chắp tay, chiêm ngưỡng rồi đem
ý nghĩ trên bạch Phật.
Phật dạy: - A Nan! Ông nghĩ như
thế phải đấy, Như Lai ra đời cũng rất lạ, vì tất cả
chúng sinh được lợi ích lớn, và cũng không cứ gì ngày
nay thế đâu, đời quá khứ ta cũng đã làm lợi ích cho nhiều.
- Kính lạy Ngài! Đời quá khứ
Ngài làm lợi cho chúng sinh thế nào, cúi xin nói lại cho chúng
con được biết?
- A Nan! Đời quá khứ tính số kiếp
A Tăng Kỳ đã quá lâu, cũng Châu Diêm Phù Đề này, có bốn
con sông, và hai ông vua nước lớn. Một ông tên là Ba La Đề
Bà (Tàu dịch Phạm Thiên), ông này chiếm cứ ba con sông, nhân
dân giàu thịnh, nhưng quân sự kém.
Một ông tên là Phạt Sà Kiện Đề
(Tàu dịch: Kim Cương Tụ), ông này có một con sông, dân chúng
ít, nhưng quân sự giỏi.
Vua Kim Cương Tụ thầm nghĩ như
vầy:
- Quân ta hùng mạnh, có một con
sông ít nước, vua Phạm Thiên quân lực kém, chiếm giữ ba
con sông, phải sai người sang đòi lại một con sông, nếu
trả thì ta chơi thân với, có của gì tốt ta sẽ biếu, nếu
gặp sự nguy biến ta sẽ đem quân sang cứu; nếu không, ta
sẽ mang quân đánh lấy lại!
Nghĩ thế rồi triệu các quan Đại
Thần vào bàn việc nước. Sau cuộc hội nghị, nhà vua sai
sứ mang thư sang cho vua Phạm Thiên, như trên đã định.
Vua Phạm Thiên xem thư xong, thần
nghĩ như vầy:
- Giang sơn đất nước là của cha
ta để lại, chớ không phải ta cướp đoạt của hắn mà
hắn đòi.
Nghĩ xong bảo Sứ giả rằng:
- Giang sơn đất nước không phải
tự ta mà có, đây là của cha ta truyền lại, vô cớ đem trả
cho chúa nhà ngươi, cả một sự vô lý. Nếu chúa nhà ngươi
dùng quân lực chiến đấu, thì ta đây cũng không hẹp gì!
Sứ giả về nước tâu vua như lời
nói trên. Vua Kim Cương Tụ đem đại hùng binh sang đánh một
trận. Quân vua Phạm Thiên thất trận chạy tán loạn! Thừa
cơ, quân Kim Cương Tụ đuổi tới kinh thành, vây bốn mặt.
Quân vua Phạm Thiên sợ không dám
ra chiến đấu, các quan thấy sự nguy ngập nên tâu rằng:
- Tâu Bệ Hạ! Quân họ mạnh, quân
ta yếu. Bệ Hạ tiếc chi một con sông mà để di hại cho muôn
dân, không chừng còn mất nước là đàng khác, cúi xin Bệ
Hạ trả lại cho họ còn có tình nghĩa hơn.
Nhà vua đồng ý, sai người ra thưa
với vua Kim Cương Tụ rằng:
- Tâu Bệ Hạ! Chúa công tôi xin
chấp thuận lời yêu cầu trước của Bệ Hạ, để trả lại
một con sông, và dâng vua thêm một người con gái. Từ đây
trở đi nếu nước nào có vật gì quý thì tặng lẫn cho nhau,
gặp lúc nguy hiểm thì sẽ bênh vực nhau!
Vua Kim Cương Tụ đồng ý rút quân,
rồi đem người con gái ấy về làm vợ.
Qua một thời gian cô có thai, và
luôn có một chiếc tán thất bảo che trên đầu, đi, đứng,
nằm, ngồi thường như vậy. Mãn kỳ sinh được cậu con trai,
thân sắc vàng, tóc xanh mướt, có bóng sáng lóng lánh nơi
thân thể. Từ khi sinh cậu ra, thì cái tán ấy lại che trên
đầu cậu.
Nhà vua với các thầy tướng vào
xem, các thầy đều khen! Và tâu vua rằng:
- Tâu Bệ Hạ! Quý hóa lắm. Thái
tử nhân tướng đầy đủ, đức lực viên mãn, trên đời
có một không hai!
Nghe tướng sư nói, nhà Vua và Hoàng
hậu rất vui mừng! Lại nhờ đặt tên cho Thái Tử.
Theo cổ truyền, đặt tên phải
căn cứ vào hai việc:
-
Điềm lành.
-
Tinh tú.
Tướng sư tâu vua rằng:
- Tâu Bệ Hạ! Khi hoài thai có điềm
gì lạ không?
- Trong khi hoài thai, có tán bằng
thất bảo che trên đầu.
- Tâu Bệ Hạ! Cứ theo điềm này
xin đặt là: Sái La Già Lợi (Tàu dịch: Cái Sự).
Thái tử đến tuổi trưởng thành
thì vua chết, an táng cho vua xong, Thái tử lên nối ngôi, chấp
chính được vài năm, thường đi chơi các miền quê để quan
sát dân sự làm ăn.
Trời nắng như đốt, những người
nông phu cởi trần trùng trục, với con trâu kéo cày, tiếng
kêu "cót két", dưới bãi đất lầy một cách lao khổ, đọa
đày thể xác.
Nhà vua hỏi tả hữu rằng: - Những
người này làm gì khó nhọc thế?
- Tâu Bệ Hạ! Nước lấy dân làm
gốc, dân lấy thóc làm mạng sống, nếu không làm lụng khó
nhọc, thì không lấy gì bảo tồn được mạng sống của
dân; dân nếu nghèo thì nước phải nguy vong!
Nhà vua nói: - Nếu phúc đức của
tôi được làm vua, thì nhân dân không phải cấy cày, thóc
lúa tự nhiên có đủ ăn dùng.
Nhà vua nguyện xong, thì tất cả
trong nước nhà ai cũng có lúa thóc, tuỳ lòng ước muốn thứ
lúa nào, thì có thứ lúa ấy, từ đó nhân dân không phải
cày cấy, thức ăn tự nhiên có sẵn.
Thời gian sau, nhà vua đi ra lần
thứ hai, thấy những người dân, đẵn củi, gánh nước, giã
gạo mồ hôi nhễ nhại, coi rất khó nhọc. Nhà vua hỏi các
quan rằng:
- Những người này làm gì mà lao
khổ như thế?
- Tâu Bệ Hạ! Nhân dân mong ơn Bệ
Hạ, được lúa thóc tự nhiên, không phải cày cấy. Nhưng
phải xay giã, kiếm củi nấu chín mới ăn được; vì thế
họ còn phải khó nhọc!
Nhà vua nói: - Nếu phúc đức tôi
được làm vua, thì xin cho dân nước tôi, khi muốn thì các
món ăn tự nhiên hiện ra trước mặt.
Nhà vua nói sao được vậy. Từ
đó nhân dân đều được các món ăn tự nhiên chứ không
phải làm.
Qua thời gian ấy vua lại đi chơi,
thấy người kéo bông, se chỉ, dệt vải may áo, vua hỏi rằng:
- Những người này làm gì, coi vẻ
khó nhọc như thế?
- Tâu Bệ Hạ! Nhân dân nhờ ơn
đức hóa của Bệ Hạ, được món ăn tự nhiên, giờ đây
họ dệt vải để may áo mặc.
Nhà vua nói: - Nếu phúc đức của
tôi được làm vua, thì khiến cho những cây cối trong nước
sinh ra các thứ áo!
Nói xong, tất cả cây cối trên
mặt đất đều sinh ra các thứ áo xanh, vàng, đỏ, trắng,
tuỳ theo ý muốn của từng người ưa thích.
Qua thời gian ấy vua lại đi chơi,
thấy các người dân đua nhau làm các thứ âm nhạc, hỏi rằng:
- Những người này họ làm cái
gì như vậy?
- Tâu Bệ Hạ! Nhân dân mong ơn Bệ
Hạ, ăn mặc được đầy đủ, giờ đây họ làm các thứ
âm nhạc, để ca hát vui chơi cho khoái chí!
Nhà vua nói: - Nếu phúc đức của
tôi được làm vua, thì khiến cho các cây cối trên mặt đất,
sinh ra các đồ âm nhạc, theo ý muốn của từng người ưa
thích.
Nói xong, thì tất cả các cây trên
mặt đất đều sinh ra các thứ nhạc khí.
Qua thời gian sau, các quan bản triều
đến bái tạ! Nơi điện tiền nhà vua, khi tới bữa ăn, vua
lưu lại dùng cơm. Hôm ấy các quân được thưởng thức các
món ăn của nhà vua, nhận thấy ngon lành quá, nghĩa là chưa
từng được ăn bao giờ, ăn vào thân thể khỏe mạnh sung
sướng, họ đều tâu vua rằng:
- Tâu Bệ Hạ! Nhà Hạ Thần không
bao giờ có các món ăn này, vừa ngon lành lại vừa khỏe mạnh,
ăn vào thấy thân tâm an lạc.
- Nhà vua nói: - Các ông muốn thường
được thức ăn như hôm nay, cứ theo đúng giờ ăn của tôi
mà ăn, thì sẽ được các món ăn ngon lành.
Sau nhà vua sắc lệnh cho toàn quốc,
khi tới giờ vua ăn, phải đánh trống báo cho nhân dân biết.
Từ đó nhân dân hễ nghe tiếng trống báo, thì họ nghĩ đến
việc ăn, cho nên toàn thể dân chúng trong nước, ai ai cũng
được thức ăn ngon như nhà vua.
Khi đó vua Phạm Vương sai sứ sang
nói với vua Cái Sự rằng:
- Tại thời cha ngươi, ta cho một
con sông, bây giờ cha ngươi chết rồi thì trả lại cho ta!
Cái Sự bảo Sứ rằng:
- Bờ cõi giang sơn đây, cũng không
phải ta áp bức của nhà ngươi mà lấy. Song ta làm vua không
để mệt sức cho dân, nhưng đó là một việc nhỏ, hãy hoãn
lại, sau đây ta với chúa của nhà ngươi được gặp nhau,
để nói cái việc thiết yếu của giữa hai nước.
Sứ giả về tâu vua như lời nói
trên. Phạm Vương đồng ý, định ngày để gặp.
Ngày hẹn đã tới, hai ông đều
đem quân ra bờ sông giáp ranh giới, lên thuyền ra giữa sông
để tương kiến.
Vua Phạm Thiên thấy vua Cái Sự
thân sáng rực như núi vàng, tóc mượt như lưu ly, mắt sáng
tợ sao ngôi, mồm tươi như hoa nở, mũi thẳng, mặt vuông,
tai chùng, oai phong lẫm liệt, tự phát sinh lòng kính trọng,
cho rằng: - Một ông Trời Đại Phạm, hai người gặp nhau
bàn luận về việc đời nước sông!
Cái Sự nói: - Nhân dân nước tôi
sự ăn dùng tự nhiên có, không phải tạo tác mệt nhọc,
và cũng không phải thâu thuế phạt tiền, tôi không bao giờ
bắt dân công làm việc cho nhà vua.
Đương đàm luận thì tới giờ
ăn, quân gia của vua Cái Sự đánh trống. Vua Phạm Thiên run
sợ! Cho rằng họ bắt mình để giết, liền đứng dậy tạ
lỗi, chân tay lẩy bẩy.
Vua Cái Sự đứng lên đỡ ông ngồi
xuống và nói rằng:
- Nhà vua làm sao sợ hãi như vậy?
Đó là tới giờ ăn, quân đội của tôi đánh trống báo!
Vì theo đúng giờ ăn của tôi, thì dân chúng sẽ được nhiều
thức ăn ngon!
Vua Phạm Thiên chắp tay thưa rằng:
- Muôn xin Đại Vương thương đên
quốc dân chúng tôi, cũng được các món ăn tự nhiên và từ
nay chúng tôi xin hàng phục.
Từ đó vua Cái Sự cai trị tất
cả nhân dân các nước Châu Diêm Phù Đề.
Sau ngày đăng vị ngồi trên bảo
điện, quần liêu bách Quan đứng hầu túc trực suốt ngày
đêm.
Buổi sớm ấy, khi mặt trời mới
mọc, có xe Kim Luân bảo, bay từ phương Đông tới, vua Cái
Sự từ trên tòa bước xuống, quỳ thẳng chắp tay hướng
lên, lấy tay với, xe ấy dừng lại ngay, đẹp đẽ có quang
minh chiếu ra bốn mặt.
Nhà vua nói rằng: - Nếu tôi được
làm Chuyển Luân Vương, thì xin xe này ở lại đây!
Nói xong, xe Kim Luân ấy đứng trên
hư không trước điện nhà Vua, cách đất bảy cây Đa La, rồi
đó tượng bảo, thần châu, ngọc nữ, điển binh, điện tạng,
lần lượt bay tới.
Vua Cái Sự từ đó được làm Chuyển
Luân Vương, thất bảo đầy đủ, cai trị bốn thiên hạ,
tất cả chúng sinh nhờ đức hóa an vui sung sướng. Theo chính
sách của nhà Vua nhân dân tu theo mười điều lành:
-
- Không sát sinh
-
- Không trộm cướp
-
- Không tà dâm
-
- Không nói dối
-
- Không nói lưỡi đôi chiều
-
- Không nói ác
-
- Không nói đơm đặt
-
- Không tham lam
-
- Không giận tức
-
- Không si mê.
Sau khi mạng chung được sinh lên cõi
Trời tất cả.
Nói tới đây, Phật nhắc lại rằng:
- A Nan! Ông nên biết: vua Cái Sự
thuở đó, há phải là ai đâu, chính là tiền thân của ta
đấy; vua Kim Cương Tụ là thân phụ ta ngày nay (vua Tịnh Phạn),
và sinh ra vua Cái Sự, nay là mẫu thân ta (Ma Gia).
Bởi ta có từ tâm thương chúng
sinh, thường cho của cải, cho đạo pháp, để dắt dẫn họ,
vì nhân duyên ấy đến nay thành Phật, đặc tôn trong ba cõi,
không ai sánh kịp. Cũng vì thế chúng sinh biết tu tập lòng
từ bi rộng lớn, lợi ích vô biên.
Tôi lại thưa rằng: - Kính lạy
đức Thế Tôn! Không hay đời quá khứ, vua Cái Sự làm Chuyện
Luân Vương, tại nhân duyên gì mà được? Và khi nhập thai
đã có tán thất bảo che theo, kính xin nói cho chúng con được
rõ?
Phật dạy: - A Nan! Đời quá khứ
cách nay đã lâu lắm, tính số kiếp A Tăng Kỳ có đến vô
lượng, cũng Châu Diêm Phù Đề này, trong quả núi Tiên có
vị Bích Chi Phật, mắc chứng bệnh phong, thầy thuốc nói
phải dùng sữa bò mới khỏi.
Bấy giờ người lái buôn tên là
A Lợi Gia Mật La (Tàu dịch: Thánh Hữu). Ngài Bích Chi Phật
nói bệnh cho ông nghe và để ông cúng dàng sữa.
Ông lài buôn Thánh Hữu hoan hỷ
cúng dàng. Ngài dùng được ba tháng thì khỏi bệnh. Cảm ơn
ấy muốn cho thí chủ được ích lợi lớn nên Ngài bay lên
hư không đi, đứng, nằm, ngồi, thân phun ra nước lửa, lúc
hiện thân lớn đầy hư không, rồi thu nhỏ lại như chiếc
lông mùa Thu; cứ như thế biến hiện ra mười tám lần.
Ông Thấnh Hữu thấy thế rất vui
mừng! Và từ trên hư không hạ xuống để nạp thụ sự cúng
dàng. Qua một thời gian ngài nhập Niết Bàn.
Ông Thánh Hữu thương nhớ, làm
lễ hỏa thiêu cúng dàng, thu lấy Xá Lợi đựng vào bình vàng,
và xây một bảo tháp, để bình vàng Xá Lợi vào trong, lại
làm một cái tán che trên, hàng ngày đem hương hoa âm nhạc
cúng dàng, suốt đời thờ phụng.
Nói tới đây Phật nhắc lại rằng:
- A Nan! Ông nên biết: ông Thánh
Hữu do công đức cúng dàng vị Bích Chi Phật, nên được
phúc báo vô lượng kiếp, sinhl lên cõi Trời hoặc cõi nhân
gian, đều được tôn vinh sung sướng, khi ở thai có tán báu
che trên. Ông nên biết: Thánh Hữu thuở đó chính là tiền
thân ta đấy. Vậy tất cả chúng sinh bất luận xuất gia hay
tại gia cũng nên tu phúc làm sự nhiệp, đời đời kiếp kiếp
sẽ được lợi ích vô lượng vô biên như thế đó.
Bấy giờ tôi và mọi người trong
cuộc thuyết pháp này, ai nấy đều vui sướng phát tâm tu
phúc cúng dàng, cúi đầu tạ lễ lui ra.