c
-
Kinh Hiền
Ngu
-
Thích
Trung Quán dịch
-
Phẩm
thứ hai mươi lăm
-
TÁN
ĐÀN NINH
CHÍNH tôi được nghe: Một thời đức
Phật ở nước Xá Vệ, tại vườn cây của ông Cấp Cô Độc
và Thái Tử Kỳ Đà, cùng với một ngàn hai trăm năm mươi
vị đại Tỷ Khưu ơ đó.
Khi bấy giờ có năm trăm người
ăn mày, bằng ngày cứ theo Phật và chư Tăng xin ăn, ngoài
ra không xin ai hết, đã lâu năm vẫn không thôi. Khi đó tự
bảo nhau rằng:
- Lũ ta sống nhờ dưới bóng Phật
và chư Tăng, đã lâu ngày, xét rằng: Cứ như thế này mãi
cũng vô ích, ngày qua tháng lại, không lại hoàn không, một
mai quỷ Vô Thường tới bắt, chúng ta nhờ thế lực gì cứu
thoát, chi bằng chúng ta xin Phật xuất gia tu đạo, cầu giải
thoát là tối diệu.
Bàn xong họ đến lễ Phật bạch
rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn, chúng
con bạc phúc sinh nơi hạ tiện, mong ơn cao cả hàng ngày được
sống dưới bóng Từ Quang, hôm nay bọn chúng con tất cả năm
trăm người một lòng thành kính cầu xin xuất gia tu đạo,
cúi mong từ bi tế độ! Sợ rằng chúng con là kẻ ăn xin,
vào chúng tu hành làm nhơ tiếng của ngôi Pháp Vương, việc
đó có được xin Ngài chỉ giáo?
Phật dạy! Pháp của ta thanh tịnh,
không phân biệt giàu, nghèo, sang , hèn, cũng ví như nước
trong sạch, đem rửa những đồ nhơ bẩn thì các vật quý
vật hèn, của tốt của xấu, trai hay gái đều trong sạch
cả. Pháp của ta ví như lửa cháy, tất cả núi, sông, đá,
đất, hoặc trên trời dưới biển muôn vật bất luận lớn
nhỏ, nếu đốt đều cháy tiêu tan. Pháp của ta cũng như hư
không, con trai, con gái, giàu nghèo, sang hèn, ai cũng có thể
vào được.
Nghe Phật nói xong, tất cả bọn
đều vui mừng! Cúi đầu lạy sát đất đồng thành xin nhập
đạo tu hành.
Phật nói: - Thiện Lai Tỷ Khưu!
Tất cả năm trăm người đều rụng
hết tóc, áo Cà Sa thấy mặc tại mình, biến thành những
Vị Sa Môn tu hành không bao lâu đã dứt hết lậu nghiệp,
thành ngôi A La Hán.
Khi đó trong nước các nhà hào trưởng
và nhân dân hay tin Phật cho những người ăn mày xuất gia
nhập đạo, họ rất không bằng lòng và nói:
- Những kẻ ăn mày hèn hạ, Phật
cũng cho họ xuất gia đứng vào hàng Tăng chúng. Chúng ta có
tác phúc mời Phật và chư Tăng, quyết không cúng dàng bọn
họ, và cũng không thể cho họ ngồi giường chiếu của nhà
mình được.
Thái Tử Kỳ Đà biết thế, sửa
soạn cơm chay chu đáo, sai người đi mời Phật, dặn rằng:
- Anh đi mời Phật và chư Tăng,
chứ không mời bọn ăn mày.
Người đó đến lễ Phật và bạch
rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Thái
Tử Kỳ Đà ngày mai xin mời Thế Tôn và chư Tăng đến vương
cung thụ trai, cho Hoàng gia được ân triêm công đức, song
Thái Tử có dặn con, không mời những ông ăn mày, xin Ngài
từ bi hỷ xả cho?
Phật mỉm cười nhận lời!
Sáng mai lúc sắp đi phó trai, Phật
bảo năm trăm Khất Sĩ rằng:
- Hôm nay ta và các Thánh Tăng đi
phó trai tại nhà Thái Tử Kỳ Đà, các ngươi đi sang xứ Uất
Đan Việt ở bắc phương, lấy thứ lúa tám cánh, mang về
nhà Thái Tử, nơi ta phó trai, rồi cứ theo thứ tự mà ngồi!
- Dạ lạy Đức Thế Tôn, chúng
con xin thụ giáo.
Khi Phật đi khỏi các vị La Hán
dùng thần túc bay đi lấy lúa, trở về như đàn chim nhạn
trên hư không, tới vương cung từ từ hạ xuống, oai nghi đĩnh
đạc, bước vào thứ tự ngồi nghiêm chỉnh.
Thái Tử thấy các vị này có thần
túc tướng mạo oai nghiêm, phúc đức đầy đử, khen thầm
trong bụng! Tự nghĩ: Hôm nay nhà ta có phước lắm! Mừng lắm!
Tới trước Phật quỳ thẳng chắp
tay bạch rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Các vị
Hiền Thánh Đại Đức từ đâu lại, cúi xin Ngài chỉ giáo?
- Phật nói: Kỳ Đà! Chắc ông không
biết! Các vị Tỷ Khưu này trước đây là người ăn mày,
mới theo ta tu học đã chứng thánh quả, bữa qua Thái Tử
không mời, hôm nay sang xứ Uất Đan Việc lấy lúa tám cánh
về ăn đấy!
- Thế Tôn công đức vô lượng
vô biên khó tả xiết, những người ăn xin đứng vào hàng
hèn hạ nhất còn được đặc ân cao quý, đời hiện tại
an lạc, lai sinh nhàn cư đạo Vô Vi. Lòng đại bi vô cùng cực
không bỏ sót một chúng sinh nào.
Bạch rằng: Kính lạy đức Thế
Tôn! Các vị Tỷ Khưu quá khứ trồng nhân lành gì? Tu công
đức gì? Nay được gặp Thế Tôn! Và không rõ tại tội gì
sinh nơi nghèo khổ phải đi ăn mày, kính xin Ngài chỉ giáo
cho!
Phật dạy: Kỳ Đà ông nên biết:
Đời quá khứ không biết lượng nào kiếp số, cũng Châu
Diêm Phù Đề này, có một nước lớn tên là Lợi Ba La Nại,
nước ấy có một quả núi rất lớn tên là Sự Bạt Ta (Tàu
dịch là Tiên Sơn). Trước những thời cổ xưa, có các thứ
Đức Phật tu trong núi này, thời nào không có Phật lại có
các vị Bích Chi Phật, hoặc có các vị Tiên Sĩ, chứ không
bao giờ vắng các vị Hiền Thánh.
Thời đó, núi này có hai ngàn vị
Bích Chi Phật, gặp lúc hỏa tinh xuất hiện kéo dài mười
năm, đồng ruộng khô khan, không cày cấy gì được, nhân
dân bị đói khát đau khổ. Lúc ấy có ông Trưởng giả tên
là Tán Đàn Ninh, nhà giàu thóc gạo nhiều, ông thường
cung cấp cho các đạo sĩ. Hôm ấy có một ngàn vị Bích Chi
Phật đến nói với ông rằng:
- Thưa Trưởng giả! Chúng tôi ở
trong núi, gặp lúc hạn, nhân dân đói thiếu, đi xin không
được, Trưởng Giả có thể cung cấp cho chúng tôi ở tại
đây tu hành được không? Bằng không chúng tôi sẽ đi nơi
khác!
Đáp: - Kính xin quý vị ngồi chơi
để chúng tôi trả lời sau!
Ông gọi người coi kho hỏi:
- Thủ kho! Gạo còn nhiều không?
Có thể cúng dàng được một ngàn tu sĩ ở tại đây được
không?
- Dạ! Thưa Trưởng giả! Số thóc
gạo còn rất nhiều, có thể cúng dàng được.
Ông ra đáp lời rằng:
- Dạ! Thưa quý vị, chúng tôi xin
thành tâm cúng dàng, quý vị hoan hỷ và xin ở luôn tại nhà
tôi cho tiện.
Hôm sau lại có một ngàn vị nữa
đến thưa với ông rằng:
- Thưa Trưởng giả! Chúng tôi có
một ngàn vị tu tại núi này, Ngài có thể cúng dàng được,
thì quý hóa lắm, bằng không phải đi nơi khác.
- Dạ! Xin quý Ngài ngồi chơi!
Trưởng giả gọi thủ kho hỏi:
- Anh xem có thể cúng dàng được
một ngàn vị nữa không?
- Dạ! Thưa Trưởng giả đủ.
Ông ra đáp lời quý vị rằng:
- Dạ! Thưa quý Ngài chúng tôi xin
thành tâm chúng dàng!
Ông cúng dàng hai ngàn vị Bích Chi
Phật, thuê năm trăm người hàng ngày để thổi cơm gánh nước
giặt giũ quần áo, hầu hạ các vị đầy đủ, và một người
coi đúng giờ đi mời các vị ăn cơm.
Bọn năm trăm người thấy sự hầu
hạ mỏi mệt, phát giận nói với nhau rằng:
- Chúng ta chịu sự cực khổ buổi
sớm ban hôm không được lúc nào nhàn rỗi cũng chỉ vì bọn
ăn mày này.
Người mời này nuôi một con chó,
mỗi khi đi mời cũng cho nó đi theo, một hôm mải chơi quên
không đi mời, con chó có linh giác, biết rằng chủ quên mời
nó tự đi đến chỗ các vị Bích Chi, cắn lớn mấy tiếng.
Các vị hiểu nó đến mời, chú nguyện cho nó thoát khỏi
thân súc sinh, sớm được gặp gỡ ngôi Tam Bảo.
Hôm đó thụ trai ngọ xong, các vị
nói với ông Trưởng giả rằng:
- Thưa Trưởng giả, trời sắp mưa
ông nên cấy lúa là được.
- Dạ! Các Ngài dạy bảo chúng tôi
xin thọ giáo.
Ông sai canh điền bắt trâu cày
ruộng, quả nhiên trời mưa, trồng các thứ lúa đều được
tốt tươi. Nhưng lạ thay, những cây lúa ấy sinh ra những
quả bầu, ông Trưởng giả cho làm lạ, đến hỏi các vị,
các vị nói rằng:
- Trưởng giả không lo! Cứ tưới
bón vun sới cho nó, một mai nó sẽ kết thành thóc gạo.
Sau ngày bầu chín, người ta mang
về bổ xem, quả nhiên thấy lúa ở trong đầy ăm ắp.
Ông Trưởng giả vui mừng, nhân
dân cho là điềm lạ! Vụ lúa này ông Trưởng giả được
rất nhiều thóc, chứa đầy kho đụn, còn thừa phân cấp
cho nhân dân, từ đó mỗi người được no nê sung sướng,
mưa thuận gió hòa, được mùa lúa tốt.
Khi đó bọn năm trăm người nói
với nhau rằng:
Năm nay được mùa lúa tốt no nê
sung sướng là do nơi các vị Đại Sĩ. Trước đây chúng ta
nói xấu các vị, phải đối trước quý Ngài tạ lỗi, kẻo
lại sinh chịu quả báo đau khổ.
Mọi người ai nấy đều sợ nghiệp
báo, nên cùng nhau đến trước các vị Bích Chi Phật, thụp
lạy thiết tha sám hối.
- Các vị thấy họ đã phát thiện
tâm, cũng vui lòng! Hỷ xả cứu tế.
Họ thấy các vị đã hoan hỷ rồi,
mọi người đồng thanh phát nguyện rằng:
- Nguyện cho chúng con được thoát
ba đường ác, lại sinh tri ngộ Hiền Thánh đắc quả giải
thoát!
Tới đây Phật nhắc lại rằng:
Thái tử ông nên biết: Năm trăm
người nói xấu các vị Bích Chi Phật thuở đó nay là năm
trăm vị ăn mày, vì một lời nói ác nên trong năm trăm đời,
phải đi ăn mày, cũng do có lòng sám hối phát nguyện, ông
Trưởng giả Tán Đàn Ninh, chính là tiền thân của ta, người
coi kho này là ông Tu Đạt, người đi mời hằng ngày, nay là
vua Ưu Điền, con chó lúc ấy vì cắn mấy tiếng, nên đời
đời được âm thanh tốt, nay là ông Mỹ Âm Trưởng giả.
Thái Tử Kỳ Đà và tất cả trong
Hoàng cung dân chúng nghe Phật nói xong, ai nấy đều cảm mến
lòng từ bi thương đời của Ngài một cách bình đẳng tuyệt
đối, nên nhiều người phát khởi lòng hướng theo tâm cao
cả, tiêu trừ tâm ngã mạn kiêu căng.
Lúc đó có người đắc sơ quả
cho đến tứ quả. Tất cả đều tạ lễ lui ra.