c
-
Kinh Hiền
Ngu
-
Thích
Trung Quán dịch
-
Phẩm
thứ mười lăm
-
CỨ
ĐÀ THÍ THÂN
CHÍNH tôi được nghe: Một thời đức
Phật ở nước La Duyệt Kỳ, tại núi Kỳ Xà Quật.
Đức Thế Tôn khi đó bị cảm chứng
phong, các đệ tử đi triệu ông Kỳ Vực Y Vương vào điều
trị, ông hòa ba mươi hai vị dược tô dâng lên và bạch Phật
rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Thời
khí năm nay bất hòa, biến nhiều thứ bệnh lạ, con thành
kính luyện thứ thuốc này, cúi xin mỗi ngày dùng ba mươi
hai lạng.
Đức Thế Tôn hoan hỷ nạp thụ
và chú nguyện cho ông.
Thuở đó ông Đề Bà Đạt Đa thường
đem lòng ghen ghét với Phật, tự cao tự đại, ý muốn ngang
hàng với Phật, nghe biết Phật uống dược tô cũng gọi ông
Kỳ Vực luyện thuốc cho uống.
Khi ông luyện xong dâng Ngài và thưa
rằng:
- Thưa Ngài! Thuốc này mạnh lắm,
mỗi ngày chỉ dùng được bốn lạng!
Ông Đề Bà Đạt Đa hỏi: - Phật
uống ngày mấy lạng?
- Thưa Ngài! Phật uống mỗi ngày
ba mươi hai lạng!
Ông Đề Bà Đạt Đa hỏi:
- Vì lẽ gì Phật uống nổi ba mươi
hai lạng mỗi ngày? Ta chỉ uống được bốn lạng thôi?
- Thưa Ngài! Phật khác! Ngài khác!
Nếu Ngài uống như Phật, tất bị tổn thương đến thân
thể!
- Ta uống cũng có đủ lực tiêu
hóa, thân ta, thân Phật khác chi, để ta uống coi, có hiệu
lực như Phật không!
- Thưa Ngài! Việc đó xin tùy ý,
nhưng xảy ra chúng tôi không chịu trách nhiệm!
- Dĩ nhiên! Ông khỏi lo.
Ông Đề Bà Đạt Đa cân đủ ba
mươi hai lạng uống luôn một lúc, uống xong ông ngã quay lơ,
sùi bọt mép như đống xà bông, vật giường trên, lăn xuống
giường dưới, kêu lên rầm rĩ.
Đức Thế Tôn thương ông đau đớn,
nên Ngài từ xa duỗi cánh tay vàng, bằng lực thần thông tới
xoa đầu cho ông, thuốc ấy nhờ sức từ bi được tiêu hóa,
bệnh hoạn tan không, thân tâm an lạc! Nhìn lên thấy tay Phật,
ông tự nói rằng:
- Tất Đạt có nhiều phép lạ,
với đời vô dụng, giờ lại học nghề thuốc đều cầu
danh lợi.
Tôi (A Nan) nghe thấy ông thốt ra
lời vô nhân nghĩa quá nên quỳ xuống bạch Phật:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Ông Đề
Bà Đạt Đa vô ân bất nghĩa quá! Ngài cứu cho khỏi, không
cảm ơn thì thôi, lai thốt ra những lời tệ bạc, sao lại
có những lòng dạ như vậy? Luôn luôn chỉ một niềm ghen
ghét với Thế Tôn?
Phật bảo tôi rằng:
- A Nan! Đề Bà Đạt Đa, chẳng
những ngày nay mang lòng nham hiểm hại ta đâu, đời quá khứ
đã dùng mưu này kế khác hại ta.
Tôi lại thưa rằng: - Kính lạy
Ngài, không hay đời quá khứ ông ấy làm hại thế nào, cúi
xin chỉ giáo cho chúng con được rõ?
Phật dạy: - Ông hãy nghe kỹ, tôi
vì ông mà nói!
- Dạ! Con xin đón nghe.
Phật dạy: - A Nan! Ông nên biết,
đời quá khứ cách đã rất lâu kiếp A Tăng Kỳ tới số
không thể tính xuể, cũng ở Châu Diêm Phù Đề này, có một
nước lớn tên là Ba La Nại, ông vua nước ấy tên là Phạm
Ma Đạt tính nết hung tàn không có từ tâm, lại ham mê sắc
dục làm tổn thương cho muôn loài, nọc độc nằm chặt trong
đáy lòng.
Một hôm ông nằm mộng thấy con
thú lông vàng, trên những đầu lông tía ánh sáng sắc vàng
tỏa ra hai bên tả hữu. Khi tỉnh giấc ông tự nghĩ con thú
ta vừa mộng thấy trên đời này ắt phải có. Nghĩ rồi cho
triệu tập các người đi săn lại phán rằng:
- Các khanh! Hôm nay mời các khanh
vào đây, muốn nói một câu chuyện trong mộng của ta cho các
khanh rõ: Đêm qua vào lúc canh ba đương ngon giấc, ta thấy
một con thú, lông trên mình toàn sắc vàng, trên những đầu
lông phóng ra những tia sáng, ta chắc rằng trên rừng cũng
có loài thú như vậy các khanh tìm bắt lấy nó, rồi lột
lấy da cho ta, ta sẽ trọng thưởng cho con cháu các khanh bảy
đời được đầy đủ vật dụng ăn uống, nếu không để
tâm tìm bắt cho ta, ta sẽ tiêu diệt hết họ hàng nhà các
khanh.
Các người sợ toát mồ hôi! Nhưng
không biết trình bày làm sao! Đều lạy tạ lui ra.
Trở về họ hội họp lại một
nơi để giải quyết công việc nhà vua vừa giao phó như sau:
- Thưa các bạn, việc này rất khó
cho bọn mình: Nhận thấy từ thuở biết cầm cái súng đi
săn đến nay, tôi chưa từng nhìn thấy con thú như nhà vua
nằm mộng! Nếu bọn ta không bắt được con thú lông vàng,
họ hàng chúng ta sẽ bị hạ sát dưới tay cường quyền áp
bức của nhà vua. Chi bằng tụi mình đưa vợ con trốn sang
nước ngoài làm ăn cho thoát!
Một thanh niên tiếp rằng:
- Thưa quý bạn! Nhận thấy trong
núi này độc trùng ác thú rất nhiều, đường sá nguy hiểm,
có ngày đi không hẹn ngày về, ngụ ý của tôi chỉ mượn
người hộ là hơn!
Mọi người đều tán thành! Sau
mượn được một người đến, họ sẽ làm lời cam đoan
rằng: - Anh hãy tận tâm vào rừng săn hộ tôi con thú lông
vàng, trên đầu lông có ánh sáng, nếu anh được tốt lành
trở về, chúng tôi sẽ trọng thưởng cho anh một số vàng
bạc; nếu anh bị hại nơi rừng xanh, chúng tôi sẽ đem số
vàng bạc đó cho vợ con anh ăn dùng.
Người ấy tự nghĩ như vầy: -
Ta vì sự cứu người, dầu mất mạng cũng cam lòng.
Nghĩ xong nói: - Thưa quý bạn, tôi
xin bảo lãnh việc đó giúp quý bạn và tôi nguyện rằng nếu
được thành công mới trở về.
Họ đều vui mừng! Sắm sửa lương
thực tiền bạc để anh đi ăn đường.
Khi bắt đầu ra đi, mọi người
đều chúc anh được mọi sự tốt lành trở về, anh từ giã
ra đi, đi lâu ngày trải bao những sự gian hiểm, lương thực
gần hết, bị đói khát, thân thể gầy còm, sức lực mỏi
mệt, qua bãi sa mạc trời nắng làm cho bãi cát như rang, như
nấu, khí nóng bức lên ngùn ngụt, mồm khát, cổ khô, chỉ
còn chờ tắt hơi là qua đời. Đương lúc cùng cực đau khổ,
thốt ra lời nói:
- Ai là người có lòng từ bi, thương
đến tôi, cứu được thân mạng tôi giờ?
Trong núi ấy có loài dã thú tên
là Cứ Đà, lông vàng vì trên đầu lông có ánh sáng, nó nghe
thấy đằng xa có tiếng người kêu cứu; động lòng thương
dấn thân đi tìm qua những dòng suối nước lạnh, tới nơi
thấy một người nằm phơi trên mặt đất hình như sắp chết,
nó ủ ấp bằng thân của nó, hồi lâu tỉnh táo, nó bế tới
một khe nước, tắm gội cho mát, rồi đi lấy các thứ quả
ngon về cho ăn, ăn xong thân thể được khỏe mạnh.
Người đó khi tỉnh dậy tự nghĩ
như vầy:
- Con thú lông vàng này! Chính ta
đương đi săn bắt nó đem nộp cho nhà vua, song lúc ta gặp
cơn nguy biến, được nó cứu thoát, ơn ấy ta chưa đền đáp
nỡ đâu lại còn hại nó. Nhưng nếu không bắt nó nộp cho
nhà vua thì tất cả nhà những người đi săn kia đều bị
giết chết.
Nghĩ thế rồi trong lòng rầu rĩ
khó giải quyết.
Cứ Đà hỏi: - Tại sao anh không
vui?
Anh rơi lệ đáp: - Tôi đương nghĩ
một việc riêng!
Cứ Đà hỏi tiếp: - Việc gì xin
nói cho tôi rõ!
- Việc này khó giải quyết và cũng
không dám nói.
Cứ Đà hỏi luôn: - Anh hãy nói
ra, nếu tôi có thể giúp được thì tôi xin giúp.
Anh chàng này ngẫm nghĩ hồi lâu
rồi thực tình nói mục đích bắt thú lông vàng cho Cứ Đà
nghe.
Cứ Đà hoan hỷ nói: - Việc không
khó, da của tôi có thể đem biếu anh được! Anh nên biết
rằng: Nếu cứ tính cái thân chết của tôi từ quá khứ tới
nay, vô lượng vô số, không thể đếm được. Nhưng xét rằng
những thân ấy chưa từng làm được việt gì hữu ích, hôm
nay tôi được đem cái da vàng mạng sống của tôi để cứu
người thì còn gì vui thú hơn. Vậy anh cứ việc lột lấy,
tôi vui lòng nhưng chớ làm tuyệt mạng tôi vội, với sự
cho anh đây tôi rất hoan hỷ, không hối hận chút nào!
Anh chàng đi săn nghe Cứ Đà nói
trong lòng vẫn băn khoăn hối hận bất đắc dĩ phải rút
dao lột da của Cừ Đà.
Đầu tiên anh đặt dao vào mũi,
rạch mạnh, máu tươi chảy ra như rót rồi kéo qua đầu xuống
tận đuôi, bắt tay vào kép xả ra hai bên.
Nhìn Cứ Đà vẫn thản nhiên không
hề dãy dụa, rồi nguyện rằng: - Tôi thành thực hy sinh da
tôi để cứu sống mọi người, nguyện đem công đức này,
hướng về tất cả chúng sinh, qua thoát khỏi biển khổ sinh
tử luân hồi về nơi Niết Bàn an lạc.
Lời của Cứ Đà phát nguyện vừa
xong, ba ngàn thế giới tự nhiên chấn động sáu lần, các
cung điện cõi Trời nghiêng ngửa, những Thiên Tử đều kinh
ngạc! Ngó nhìn xem chuyện chi, thấy Bồ Tát lột da bố thí
cứu sinh, họ bay xuống tận nơi, tung hoa cúng dàng ai nấy
đều sa nước mắt.
Lột da xong, thân thể Cứ Đà đỏ
như gấc chín, huyết chảy lênh láng, nhìn rất rùng rợn không
dám ngó lâu, ruồi kiến bâu xúm xít đầy mình, rỉa thịt
uống huyết. Đau quá! Định trở mình, nhưng sợ tổn thương
loài ruồi kiến, đành phải nhẫn khổ không dám động đậy.
Những loài ruồi kiến ấy nhân
được ăn thịt của Bồ Tát sau khi mệnh chết được sinh
Thiên.
Người được da mang về dâng vua,
nhà vua rất hài lòng, khen ngợi kẻ đã tử công phu vì ta;
ban thưởng cho tước lộc ngôi cao, vàng bạc rất nhiều.
Nhà vua dùng nó để trải nằm,
khi nằm cảm thấy tâm an vui khoái lạc.
Tới đây đức Phật nhắc lại
cho tôi biết rằng:
- A Nan! Ông nên biết: Cứ Đà có
phải ai đâu? Chính tiền thân của ta đấy, vua Phạm Ma Đạt
nay là ông Đề Bà Đạt Đa, những ruồi kiến ăn thịt uống
huyết của Cứ Đà thuở đó, khi ta mới thành Phật chuyển
Pháp Luân đều được đắc đạo sinh lên các cõi Trời, ông
Đề Bà Đạt Đa thời đó làm tổn thương tánh mạng ta cho
đến ngày nay không có một chút thiện tâm gì đối với ta,
suốt ngày chỉ muốn tìm cách để hại ta thôi!
Lúc đó tôi và tất cả đại chúng,
nghe Phật nói thế, ai nấy cũng buồn và cảm động! Nhiều
người thấy vậy gắng công cầu phép yếu, nên có người
được quả Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm cho đến quả
A La Hán, cũng có người gây nhân Bích Chi Phật, cũng có người
phát tâm Vô Thượng Đạo; có người trụ ngôi bất thoái,
ai nấy đều vui vẻ kính tin phụng hành tạ lễ mà lui.