c
-
Kinh Hiền
Ngu
-
Thích
Trung Quán dịch
-
Phẩm thứ mười
bốn
-
HÀNG
PHỤC LỤC SƯ
CHÍNH tôi được nghe: Một thời đức
Phật ở thành Vương Xá, tại vườn Trúc cùng với một ngàn
hai trăm năm mươi vị Tỳ Khưu ở đó.
Vua Bình Sa là người mến mộ Phật
giáo, ông theo Phật nghe thuyết pháp đã lâu, và thực hành
tu tiến, nên bấy giờ ông đã chứng được sơ quả, bởi
vậy, lòng tin của ông lại càng kiên cố. Ông thường dâng
thuốc thang, áo cà sa, giường đệm, món ăn quí lên cúng Phật
và chư Tăng; ông rất tôn trọng, những người hay làm điều
lành, và khi tới đâu, ông cũng khuyên người tu theo Phật
giáo.
Trong nước ông có bọn Phú La Na
Lục Sư, làm giáo chủ ngoại đạo, cũng thời đó, nhưng ra
đời trước Phật ít năm, họ đem tà thuyết để dối bịp
dân, những kẻ cuồng si không biết nhận xét chánh tà theo
họ rất đông. Song em nhà vua cũng theo học bọn chúng, làm
một con tin thuần cẩn, trí óc ngâm chìm dưới nguồn sau của
bọn họ. Đem tiền của cung cấp đã lâu ngày, tài sản bị
khuynh vong, gia đình bại hoại, cũng như kẻ bị bùa mê, bánh
mến, không khác.
Đức Phật ra đời như vầng thái
dương, xuất hiện luồng quang minh, soi khắp không gian muôn
loài ấm áp, cây cỏ xinh tươi; ánh tuệ sáng đã tung tỏa
khắp muôn phương, biết bao người đắc quả thành công trên
đường giải thoát. Kẻ không biết theo một đạo giáo chân
thật, khác gì loài rùa nằm dưới đầm sâu, cóng rét chịu
quanh năm, mà không biết có ánh mặt trời trên đại địa,
cũng như em vua Bình Sa, chịu buộc mình nơi tà giáo ngoại
đạo, không biết nhận xét chánh tà.
Vua Bình Sa thương em mê muội, với
tính cố chấp, hết sức thuyết đạo lý của Phật giáo cho
nghe, và giục em mời Phật; phải tôn kính Phật, phải bỏ
tà đạo, người em vẫn không chịu nhận lời và thưa rằng:
- Thưa anh! Muôn triệu người trên
vũ trụ bao la, mỗi người một ý nghĩ khác nhau, không ai giống
ai; mỗi người có sự nhận xét riêng, mỗi người có một
sở thích riêng, anh theo giáo lý đạo Phật, anh khen Phật hay,
tôi theo phái Lục Sư dĩ nhiên tôi hợp với lý trí của tôi
là phải là đúng, là cao, tôi mới theo, nhưng anh đã nói tôi
sẽ mời thầy tôi và Phật đàm luận về đạo lý hơn kém
sẽ bày tỏ.
Nhà vua cười nói: - Hay lắm! Nay
mai chú mời luôn đi, nhưng chú phải cam đoan với tôi. Nếu
Phật hơn thì chú phải bỏ thầy chú theo Phật cùng tôi, nếu
Phật kém tôi sẽ bỏ Phật để theo cùng chú!
- Vâng! Dĩ nhiên.
Ngày mai vua Bình Sa lên bạch Phật
rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Muốn
cho toàn quốc dân thoát khỏi vòng ác đạo, cùng được hưởng
sự an vui từ đời này cho đến kiếp khác, con nhận thấy
ngoài sự giáo hóa của Ngài ra thì không có đạo giáo nào
hơn được, dân con có bọn Lục Sư, cũng đường một tôn
giáo, đem những tà thuyết mị dân, đưa người vào hố sâu
hang hiểm làm mồi cho hùm, beo, lang sói, chết đọa tam ác
đạo. Con có người em cũng theo bọn chúng, hết sức răn bảo
mà không chuyển lòng, con định bảy ngày nữa, mời Thế Tôn
ra thí tràng, sau đó cho tìm bọn Lục Sư tới, để Ngài hóa
phục dẹp bỏ đạo tà, hiển dương chánh đạo, một yếu
điểm nhất là muốn cho quần chúng biết sức thần biến
và đạo lý của Ngài để họ tự bỏ rơi bọn Lục Sư, cúi
xin từ bi hoan hỷ cho chúng con được trượng thừa công đức!
Đừc Phật mỉm cười nói:
- Việc ấy cũng nên, làm Nhân Chúa
có trách nhiệm mở mang trí óc khôn sáng cho dân, làm gấp
ta vui lòng!
Nhà vua hoan hỷ lễ tạ lui ra, khi
về hạ lệnh cho toàn quốc biết rằng:
- Quốc dân nên biết! Trong bảy
ngày nữa, đức Thế Tôn và Lụ Sư dẽ đàm luận về đạo
giáo, ai muốn biết, thì đến nơi thí tràng.
Em vua Bình Sa sửa soạn bàn, ghế,
tòa ngồi rất trang nghiêm, tới ngày thứ bảy Lục Sư tới
trước tiên, em vua trịnh trọng mời lên ngồi tòa cao đẹp,
các nhà văn hào dân chúng đến đông như kiến cỏ, nhưng
không thấy Phật đến, người em vua hỏi:
- Anh giục tôi mời ông Cù Đàm
(Phật) các thầy tôi và dân chúng tới đông sao không thấy
Ông ấy tới?
- Chú đã đi mời Ngài chưa.
- Chưa!
- Chú sai người đi mời Ngài hoặc
chú đi, hôm trước tôi mời Ngài đã hứa.
Đương nói thì Phật đến, vua Bình
Sa ra đón Phật, khi vào tới nơi, những tòa cao đẹp bọn
Lục Sư đã ngồi hết cả, thấy thế nhà vua nóng lòng, nhưng
không biết nói sao, chỉ riêng trách em mình. Đức Phật và
chư Tăng phải ngồi tất cả những hàng ghế dưới.
Khi Phật ngồi yên tĩnh chừng được
ba phút, bỗng nhiên thấy Ngài và chư Tăng ngồi trên ghế
cao, bọn Lục Sư ngồi dưới chót, Lục Sư hổ thẹn đứng
dậy, em nhà vua lại vác ghế lên cao mời Lục Sư ngồi, ngồi
xong chừng một phút lại thấy ghế dưới chót, Phật ngồi
trên cao, cứ như thế đến ba bốn lần, nhưng vẫn bị ngồi
hàng ghế cuối, tới đây họ biết không có năng lực gì
địch thủ, nên chịu ngồi ngượng ở đó.
Khi dâng nước, họ cứ theo thứ
tự, tòa trên dâng trước, tòa dưới dâng sau. Đầu tiên dâng
lên Phật.
Phật nói:
- Dâng Thầy của các ngươi trước,
dâng ta sau cũng được!
Theo lời Phật phán bảo, họ đưa
nước dâng Lục Sư, khi giơ bình rót, tắc không chảy, sau
dâng Phật, rót chảy, Phật rửa tay xúc miệng xong, làm phép
chú nguyện.
Xong việc trà nước bắt đầu dâng
cơm, họ dâng Phật trước, Phật nói:
- Hôm nay các ngươi không phải vì
ta mà thết bữa cơm nay, ta chỉ là khách, Thầy các ngươi
là mục đích hơn, ngươi hãy dâng Thầy ngươi trước để
Thầy ngươi chú nguyện cho.
Theo lời Phật dạy, bắt buộc họ
mời Lục Sư chú nguyện, lúc chưa mời không sao, sau khi mời
họ nhìn thấy Lục Sư hai hàm răng cắn chặt, không thấy
nói năng cầu nguyện gì, chỉ biết giơ tay làm hiệu, xua những
người ấy đến chỗ Phật, Phật làm phép chú nguyện xong.
Bắt đầu dâng món ăn, Phật nói:
- Hãy dâng Thầy các ngươi trước!
Họ phải theo lời Phật dạy, khi
dâng lên Lục Sư, các món ăn bay bổng lên hư không lơ lửng
trên đó và không rơi, làm cách nào cũng không thể lấy được,
chờ khi dâng món ăn lên Phật và Tăng Chúng xong, thì các món
ăn ấy rơi xuống trước mặt Lục Sư.
Khi dùng cơm xong, Phật gọi em vua
bảo rằng:
- Khanh mời thầy khanh thuyết pháp
trước đi.
Người em mời thuyết pháp, Lục
Sư im thít không nói năng gì, té ra hi hàm răng cắn chặt lúc
nào không biết, đồng thời bọn chúng giơ tay làm hiệu; ý
nói đến mời Phật thuyết pháp còn ta bị câm họng ráo trọi.
Bọn đồ đệ của Lục Sư biết
thầy mình thất thế và kém hẳn đã có ý chán nản phát
ra tự đáy lòng, bấy giờ em vua và dân chúng lại lễ Phật
và mời Ngài thuyết pháp.
Trước khi Phật thuyết pháp quả
đất động chuyển sáu lần, hào quang năm sắc chiếu khắp
đại thiên thế giới. Đức Phật như một đấng cha hiền
thương đàn con dại, như một bực đại Giáo Sư đối với
kẻ sơ tâm mới học, với đại chúng Ngài ra những lời hòa
nhã dịu dàng, diễn thuyết các pháp, tính, tướng, phân biệt
nghĩa lý sâu huyền, thế gian, và xuất thế gian.
Đại chúng nghe xong có rất nhiều
người được giác ngộ, em vua Bình Sa chứng được Pháp Nhãn
Tịnh, ngoài ra còn có người sơ quả cho đến tam quả, còn
những vị xuất gia được lậu tận, có vị phát tâm vô thượng
chứng quả bất thoái. Toàn thể đại chúng dự hội hôm ấy
ai ai cũng phân biệt được chánh tà, họ phát tâm tin kính
ngôi Tam Bảo, trở về quy y Phật, thờ Phật làm Thầy và
bỏ rơi bọn Lục Sư, không cúng dàng thừa sự chúng nữa.
Tới đây mọi người đều đứng
lên, ca tụng những công đức Ngài đã ban cho và phát nguyên
xin theo làm đệ tử, đảnh lễ lui ra.
Lục Sư vừa bị nhục, vừa mất
thể diện căm hờn tụ tập lại một nơi bàn kế để trả
thù đức Phật, họ ra nơi rừng vắng học tập các phép lạ,
và nghiên cứu các kỹ thuật.
Lúc ấy Thiên ma Ba Tuần thấy đồ
chúng của mình thua Phật, dân chúng chán ghét, tất nhiên đạo
của họ không truyền bá được, y liền bay xuống hóa làm
hình Lục Sư tới để biểu diễn các phép lạ, và truyền
phép cho Lục Sư, xong lại bay về Thiên Đàng.
Lục Sư sau khi được phép của
Ba Tuần truyền thụ vui mừng quá! Tự đắc chí cho là cao
diệu, là tối thắng, chúng tập hợp bàn nhau rằng: - Hôm
trước bọn ta bị nhục, mọi người phải ly tán, giờ đây
xem sự thần biến của Thầy chúng ta truyền thụ, có dư để
hàng phục ông Cô Đàm Sa Môn, bây giờ yêu cầu vua lập một
cuộc thi thần thông, để xem hơn thua thế nào, bàn nhau xong
họ lên tâu rằng:
- Tâu Bệ Hạ, chúng tôi sẽ có
đủ pháp lực tài năng thần biến, xin Bệ Hạ lập một cuộc
đấu phép với Phật, để cho quốc dân biết tài năng của
chúng tôi.
Nhavua cười nói: - Lũ bây thực
là ngu si quá, Phật có đạo đức cao siêu phép thần túc vô
ngại, các ngươi muốn thi với Phật, chẳng khác lửa đom
đóm muốn tranh ánh mặt trời, nước vết chân trâu đem ví
với biển cả, hoại Dã Can lại muốn thi hùng với muôn sư
tử, đống đất tổ kiến đem ví với lực cao núi Tu Di, những
hình lớn nhỏ coi thấy rõ ràng, thấp kém lại muốn nghển
cao, các ngươi sao lại ngu lỗ quá như vậy?
Lục Sư nói: - Tâu Bệ Hạ! Ngài
chưa biết phép luật của chúng tôi, đó là Ngài thiên vị,
tự cho ông Cô Đàm (Phật) là người tuyệt đối không còn
ai hơn, chúng tôi quyết thử tài một phen hay dở Ngài sẽ
rõ!
Vua nói: - Tại sao bữa trước các
ngươi không đem tài ra đối phó, nay còn nói khéo nói khôn
làm chi?
- Tâu Bệ Hạ! Hôm đó chúng tôi
chưa đủ phép lực, bây giờ có đủ khả năng đối thủ!
- Không sao! Muốn thì ta sẽ lên
thưa với Phật, nhưng chỉ sợ các ngươi tự để nhục cho
hậu thế!
- Tâu Bệ Hạ! Chúng tôi xin hẹn
bảy ngày nữa, Bệ Hạ hãy cho dân chúng sửa sang nơi thí
tràng bằng phẳng.
Sau khi Lục Sư ra về, nhà vua lên
xe đi đến chốn Phật, lễ xong quỳ gối chắp tay thưa rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Bọn
Lục Sư còn rắc rối quá; hôm qua chúng lên xin thi thần lực
với Thế Tôn, con đã lấy lý luận phân trần và la mắng
nhưng bọn chúng còn ra vẻ không chịu. Vậy kính xin Ngài ra
sức thần biến để hóa phục bọn tà ác trở về chánh đạo,
nhân đấy con và dân chúng được coi sự thần thông biến
hóa của Ngài.
Phật nói: - Hãy biết thế, ta tự
tri thời.
Vua Bình Sa lễ tạ lui ra, về vương
cung sắc lệnh cho quân dân sửa sang nơi thí trường, đặt
bàn ghế, kê tòa ngồi cao đẹp cúng Phật, chung quanh kết
hoa, treo phan phướn, các ngả đường kéo biểu ngữ để cổ
động cho dân chúng đến xem.
Tới ngày thứ bảy Đức Phật và
các vị đệ tử, từ thành Vướng Xá đi sang nước Tỳ Xá
Ly, nước ấy có bọn ông Luật Xương và nhân dân ra đón
rước.
Buổi sáng ấy, dân chúng thành Vương
Xá xôn xao, không biết Phật đi đâu, hỏi thăm mãi mới biết
Ngài đi sang nước Tỳ Xa Ly.
Lục Sư hay tin Phật đi, không ở
lại đấu phép đắc chí nói:
Ông Cô Đàm (Phật) trí tuệ và
thần biến kém, biết sức không địch nổi nên tìm đường
tẩu thoát, thế mà mọi người còn do dự không tin.
Tâm ngã mạn của Lục Sư lên cao
quá, tự tuyên bố rằng:
- Chúng tôi sẽ đuổi cho tới cùng.
Được tin Phật sang nước Tỳ Xá
Ly, vua Bình Sa lập tức sai sửa soạn lương thực năm trăm
con ngựa, năm trăm xe, tổng số quan quân mười bốn ức người,
sang nước Tỳ Xá Ly, Lục Sư cũng theo vua sang, chúng thưa với
Luật Xương rằng:
- Thưa Ngài! Chúng tôi tới đây
muốn để thi thần thông, và đàm luận về thực tính với
ông Cô Đàm, xin Ngài cho ông ấy rõ, và hẹn bảy ngày nữa
sẽ bắt đầu!
- Vâng! Quí Ngài muốn thế, tôi
sẽ thưa với Phật giùm.
Luật Xương tới lễ Phật thưa
rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Bọn
Lục Sư si mê quá! Tự nói có đạo lực nên xin lên thi thần
biến. Vậy kính xin Thế Tôn hàng phục bọn gian ác ấy!
Phật nói: Hãy biết thế, ta tự
tri thời!
Luật Xương lễ tạ lui ra, về sửa
soạn nơi thí tràng, lương thực các đồ cúng dàng trọng
hậu, dân chúng nôn nao, chờ ngày để xem cuộc đấu thần
thông.
Sáng ngày hôm sau, Phật và Tăng
chúng đi sang nước Châu Diệm Di, vua Ưu Điền đem quan quân
ra đón tiếp. Cũng buổi sáng ấy nhân dân nước Tỳ Xá Ly
xôn xao hỏi nhau rằng:
- Sáng nay Đức Phật đi đâu?
- Có người nói: Đức Phật và
chúng Tăng sang nước Câu Diệm Di buổi sáng sớm.
Lục Sư thấy thế, tâm ngã mạn
lại càng lên cao, và đắc chí lắm, bảo nhau phải theo đuổi
cho bằng cùng.
Được tin Phật đi khỏi ông Luật
Xương đem năm trăm cỗ xe chở lương lực và bảy ức người
cùng với vua Bình Sa sang nước Câu Diệm Di.
Lục Sư vào yết kiến vua Ưu Điền
rồi thưa rằng:
- Tâu Hoàng Đế! Sa Môn Cồ Đàm,
tự biết lực không địch nổi, nên thầy trò phải trốn
sang đây, xin Hoàng đế cho chúng tôi thi thần thông với ông
ấy!
- Vâng! Quí Ngài muốn thế tôi sẽ
thưa với Phật giùm!
Ngày mai vua Ưu Điền lên bạch Phật
rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn, Lục
Sư ngày qua lên yêu cầu để thi thần thông, kính lạy Ngài
có nhận lời ấy không!
Phật nói: - Hãy biết thế, ta tự
tri thời!
Vua Ưu Điền lễ tạ ra về, sửa
soạn nơi thí tràng chờ Phật định ngày đối thí. Sáng hôm
sau Phật và Tăng chúng đi sang nước Việt Kỳ, vua Chuân Chân
Đà La cùng với nhân dân ra nghinh tiếp đức Thế Tôn.
Hôm sau người nước Câu Diệm Di
không thấy Phật, xôn xao hỏi nhau thì có người nói:
- Phật và chư Tăng sang nước Việt
Kỳ sáng qua.
Hay tin Phật đi khỏi, Lục Sư và
vua Ưu Điền, vua Bình Sa và quan quân dân chúng, cũng đi sang
nước Việt Kỳ. Lục Sư vào yết kiến Chuân Chân Đà La và
trình bày ý kiến của mình, sau yêu cầu vua làm thế nào được
đấu phép với ông Cô Đàm.
Đáp: - Vâng, quí Ngài muốn đấu
tôi sẽ thưa với Phật."
Vua Chuân Chân Đà La lễ lên Phật
xong, rồi quỳ thưa những ý định của Lục Sư.
Phật nói: - Hãy biết thế, ta tự
tri thời!
Nhà vua lễ tạ lui ra, về cung sắc
lệnh cho quân sửa soạn và trưng bày nơi thí tràng, sắp tới
ngày thi Phật và chư Tăng lại sang nước Đặc Xoa Thi Lợi,
vua Nhân Đà Bà Di cùng với quan quân ra đón rước.
Hay tin Phật đi khỏi, vua Chuân Chân
Đà La với năm ức người, cùng với Lục Sư vua Bình Sa và
tất cả đều theo Phật sang nước Đặc Xoa Thi Lợi.
Lục Sư vào yết kiến vua Nhân Đà
Bà Di và khoe khoang những lời cao đại rồi nhờ vua giới
thiệu để thi thần thông với Phật. Nhà Vua nhận lời, lên
bạch Phật rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn, hôm qua
Vua các nước và quan quân đến đây đông lắm về việc thi
thần thông với Lục Sư, cúi xin Ngài Từ Bi ra phép thần hàng
phục kẻ tà đạo, để cho tất cả chúng sanh trong Châu Diêm
Phù Đề theo về chánh giáo.
Phật nói: - Hãy biết thế, ta tự
tri thời!
Ngày thi gần tới, đức Phật lại
sang nước Ba La Nại, vua Phạm Ma Đạt hay tin Phật tới, đem
quan quân ra biên giới đón Phật về thành.
Buổi sớm mai dân chúng nước Đặc
Xoa Thi Lợi, mang các món ăn ra đường đón Phật và Chư Tăng
không thấy, hay tin Phật sang nước Ba La Nại, khi đó vua Nhân
Đà Bà Di, vua Bình Sa, Lục Sư và tất cả các ông vua đều
theo Phật sang nước Ba La Nại.
Lục Sư vào yết kiến vua Phạm
Ma Đạt và trình bày ý kiến của mình, lại yêu cầu vua làm
cách nào được thi thần thông vời Phật, nhà vua nhận lời.
Sáng hôm sau vua Phạm Ma Đạt lên
bạch Phật rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn, Lục
Sư hôm qua lên xin thi thần thông với Ngài, cúi lạy Ngài ra
phép thần biến tiêu diệt bọn ác quỉ hại dân vô ích.
Phật nói: - Hãy biết thế, ta tự
tri thời!
Đêm ấy và Tăng chúng đi sang Ca
Tỳ La Vệ.
Hay tin Phật tới, ông Thích Chủng
Bối và đại chúng ra đón Phật về Kinh.
Sớm ngày mai, dân chúng nước Ba
La Nại mới biết đức Phật đi du hóa nơi khác.
Hay tin Phật đi khỏi, vua Phạm Ma
Đạt, vua Bình Sa, Lục Sư và tất cả quan quân các nước,
đi theo Phật, sang nước Ca Tỳ La Vệ.
Lục Sư vào yết kiến ông Thích
Chủng Bối và trình rằng: Đến đây mục đích để thi thần
thông với Phật, nhà vua nhận lời, và hứa sẽ thưa với
Phật giừm.
Ngày mai ông lên lễ Phật xong bạch
rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn, Lục
Sư cố tình theo Ngài đòi thi thần thông, cúi xin từ bi hoan
hỷ dẹp bỏ lũ ngoan cố mị dân, cho toàn cõi theo về một
mối!
Phật nói: - Hãy biết thế, ta tự
tri thời!
Ông Thích Chủng Bối sắc lệnh
sửa sang nơi thí tràng, và ấn định ngày thi, xong sắp tới
ngày thi, đức Phật và Tăng chúng sang nước Xá Vệ, vua Ba
Tư Nặc nghe tin Phật tới đem quan quân ra biên giới đón.
Ngày mai ông Thích Chủng Bối mới
hay tin Phật đi khỏi. Ông Thích Chủng Bối đem chín ức người,
vua Bình Xa, Lục Sư và Vua quan dân chúng các nước, đồng
thời kéo sang nước Xá Vệ.
Lục Sư vào tâu vua Ba Tư Nặc rằng:
- Tâu Bệ Hạ! Chúng tôi muốn thi
thần thông với ông Sa Môn Cù Đàm đã qua bao nhiêu nước,
sắp kỳ thi ông tự biết không có lực địch nổi nên cùng
đại chúng lẩn trốn sang đây, mong Bệ Hạ cho chúng tôi được
thi thần thông với ông ấy!
Vua Ba Tư Nặc mỉm cười nói: -
Đức Phật có phép thần túc vô ngại, khi mới thành đạo,
Thiên Ma Ba Tuần, thiên biến vạn hóa còn phải phục đầu
xưng tội, quy y làm đệ tử, lũ ngươi đã ra gì, kẻ hèn
mạt, thấp hèn, sao có thể đối với ngôi Đại Pháp Vương
được.
Lục Sư nghe nói, nổi giận khí
sắc biến đổi, tỏ vẻ bực tức vô cùng nói:
Chẳng qua Ngài quá ư thiên lệch
nói thế, Ngài đã biết thần biến của chúng tôi chưa?
Nói xong ra về, tỏ vẻ bất mãn
trước nhà vua.
Ngày mai vua Ba Tư Nặc đến chốn
Phật đầu mặt lễ sát đất quỳ thẳng chắp tay bạch Phật
rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Bọn
Lục Sư ân cần xin thi thần thông, cúi xin ngài ra sức thần,
tiêu diệt bọn con buôn không vốn, bịp bợm một cách giả
đạo đức, nếu để chúng thì dân tộc trên thế giới này
bị đau khổ về vật chất lẫn tinh thần, vì chúng đủ mưu
mô mánh khóe lừa gạt lòng người. Xong những người trí
thức mới hiểu biết tâm thâm đọc của bọn chúng.
Phật nói: - Hãy biết thế, ta tự
tri thời!
Lần này vua Ba Tư Nặc quyết định
mời Phật để đấu thần thông, ông sắc lệnh cho quan quân
sửa sang nơi thí tràng bằng phẳng, bàn ghế tòa ngồi trang
nghiêm, treo cờ phan phướn, lọng, kéo biểu ngữ, kết hoa
treo đèn, mua rất nhiều hương hoa trình bày rất đẹp đẽ,
ông lên điện nơi đức Thế Tôn ngự, ân cần tha thiết cầu
thỉnh. Phật thấy ông nhiệt tâm thành khẩn, nên Ngài nhận
lời. Giữa ngày mồng một tháng mười hai Phật ra thí tràng,
Lục Sư với vua các nước, dân chúng đều đến đông đảo.
Ngày ấy vua Ba Tư Nặc sửa soạn
các món ăn ngon lành, buổi tinh sương dâng Phật một cành
dương. Phật dùng nạo răng, nạo xong Ngài vẩy bựa xuống
đất, tự nhiên sinh ra những cây cối xanh om, um tùm râm mát,
cao đến năm trăm do tuần, cành lá rườm rà, sinh ra những
bông hoa to như vòng bánh xe, kết thành những quả to, bằng
cái bình đựng năm đấu lớn, cành cây gốc rễ hoa quả thuần
bằng thất bảo, vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô,
hổ phách v.v…, màu sắc tươi đẹp, phát sinh ra những ánh
sáng lấn mặt trời, mặt trăng, người được nếm mùi vị
quả ấy, thấy sung sướng ngon lành một cách siêu nhiên, nghĩa
là trên thế gian chưa từng có, hương thơm tung tỏa, khắp
không gian, qua mũi ai, họ thấy tính tình vui vẻ, gió hương
ấy thổi tới đâu, làm cho muôn vật hớn hở xinh tươi, các
cành lá đều phát ra những tiếng thuyết pháp, trong đại
hội im phắc không một tiếng động để đón nghe những âm
thanh dịu dàng hòa nhã, nghe vui không chán! Càng nghe càng cảm
mến đạo mầu vô thượng, tất cả mọi người trong đại
hội thấy sự biến hóa của cây này, tâm sinh tin kính ngôi
Tam Bảo càng thêm khắng khít. Sau Phật giải đáp những nghĩa
lý sâu huyền cho hợp với lý trí mọi người nên tất cả
đều được hiểu ngộ, khi đó những người nhiệt tâm cầu
Phật Pháp kết quả được sinh thiên, một số rất đông.
Ngày thứ hai, vua Ưu Điền thỉnh
Phật cúng trai. Hôm ấy đức Phật hóa ra hai quả núi báu
đứng hai bên, núi này toàn bằng vàng bạc trân bảo hợp
lại thành năm sắc huy hoàng, coi rất đẹp đẽ, trên núi
có những cây mọc thành từng hàng, hoa quả tốt tươi, trong
núi phát ra những mùi thơm ngào ngạt, một trái núi trên đỉnh
sinh ra thứ lúa tám cánh, lúa này là một thứ lúa quý nhất
trong các lúa, nếu đem nấu cơm thì mềm dẻo hương vị thơm
ngon; một trái, ở trên đỉnh có thứ cỏ mềm nhũn thơm tho,
béo bổ, những loài súc sinh tới ăn, ăn rồi khí lực sung
túc có ánh sánh, phát sinh trí tuệ, tâm tình hòa vui.
Tất cả mọi người thấy phát
hiện hai trái núi lạ thường, và họ được ăn quả thấy
an vui, thân thể cường tráng hết bệnh tật hết sầu não,
nên họ một lòng tín ngưỡng ngôi Tam Bảo, đức Phật tùy
theo căn cơ để diễn thuyết nghĩa lý cao diệu nhân quả luân
hồi cho hợp với trình độ của họ, ai nấy trí óc khai sáng
thấu rõ đạo mầu, phát tâm cầu đạo Bồ đề, kết quả
sinh thiên một số rất đông.
Đến ngày thứ ba, vua Chuân Chân
Đà La thỉnh Phật cúng dàng, buổi sáng sớm ông dâng Phật
chén tịnh thủy, Ngài súc miệng rồi nhổ xuống đất, chốn
đó tự nhiên thành một cái ao mỗi bề dài hai mươi dặm,
quanh bờ ao thuần bằng ngọc thất bảo trộn lẫn nhau, các
sắc phát ra chiếu sáng tưng bừng, nước đủ tám công đức,
dưới lòng ao thuần cát thất bảo, trong ao có tám thứ hoa
sen lớn như vành bánh xe, xanh, đỏ, trắng, hồng, tía, biếc
đủ các sắc, lan tràn bốn mặt, ánh sáng của hoa tùy theo
các sắc phát sinh, làm sáng choang trời đất.
Thấy thế tất cả đại chúng đều
vui mừng và ca ngợi Phật có đức vô lượng vô biên.
Phật quan sát tâm niệm của từng
cá nhân xong, Ngài tùy theo lý tưởng của mỗi người, để
thuyết pháp, sau cuộc thuyết pháp này được rất nhiều người
phát tâm cao thượng tăng phần phúc nghiệp, sinh thiên rất
đông.
Đến ngày thứ tư, vua Nhân Đà
Bà Di thỉnh Phật cúng dàng, ngày hôm ấy đức Phật làm cho
nơi bảo địa đó, bốn mặt tự nhiên có tám dòng nước,
sức chảy mạnh và xoáy kêu thành tiếng, phát ra những âm
thanh mầu nhiệm thuần nói các pháp: "Ngũ Căn" "Ngũ Lực" "Lục
Độ" "Thất Giác" "Bát Đạo" "Tam Minh" "Lục Thông" "Tứ Đẳng"
"Đại Từ, Đại Bi", mọi người nghe rồi đều được giác
ngộ và quán triệt đạo lý, tăng phần phúc tuệ, kết quả
sinh Thiên rất đông.
Ngày thứ năm, vua Phạm Ma Đạt
thỉnh Phật cúng dàng, hôm ấy nơi miệng đức Phật phóng
ra hào quang sắc vàng bao trùm khắp cõi đại thiên; hào quang
ấy soi phải chúng sinh nào, thì "ba độc", "năm ấm" của chúng
sinh ấy tiêu tan, thần tâm an lạc, cũng như các vị Tỷ Khưu
nhập đệ tam thiền. Khi đó mọi người đều vui vẻ tán
thán kính mến đức Phật rất tha thiết. Sau khi nghe thuyết
pháp xong ai nấy đều khai tỏ lý trí, phát đạo tâm, tiến
tu phúc tuệ, một số khá nhiều.
Đến ngày thứ sáu, ông Luật Xương
thỉnh Phật, hôm đó đức Phật làm cho tất cả mọi người
trong đại hội tâm hiểu biết lẫn nhau, mỗi người đều
có thể hiểu ý nghĩ của từng người, họ đang nghĩ thiện
hay nghĩ ác, chí hướng hay hành nghiệp thế nào. Thấy thế
ai cũng kính sợ Phật! Những sự mến mộ và vui mừng lại
càng nồng nhiệt. Sau khi được nghe lời giảng của đức
Phật, ai nấy sung sướng tâm trí mở mang, kết quả sinh Thiên
cũng nhiều.
Ngày thứ bảy, ông Thích Chủng
Bối thỉnh Phật. Hôm đó Phật dùng sức thần tức vô ngại,
khiến cho mọi người trong hội tự thấy mình làm vua Chuyển
Luân, có đủ cung điện, quan quân, ngọc nữ, thất bảo, lại
thêm một ngàn người con, vua các quan văn võ đều đến triều
phục nơi mình. Thấy thế ai cũng kinh hoảng ngơ ngác, không
biết tại sao? Sau đó tự thấy như một giấc chiêm bao, ai
cũng chứng tỏ do sức thần của Đức Phật hóa hiện, nên
lại càng tăng phần tín hướng và phát tâm vô thượng Bồ
Đề, kết quả sinh Thiên rất đông.
Đến ngày thứ tám, vua Đế Thích
thỉnh Phật, ngày đó vua Đế Thích bày tòa sư tử trang trí
nơi Phật ngự, thuần bằng bảo vật trên thiên cung hương
trời, nhạc trời, các món ngon quý dâng Phật, một bầu không
khí khác hẳn với trần gian.
Đức Phật và Tăng Chúng bước
ra, theo sau có vua Đế Thích, vua Phạm Vương, các ông Thiên
Tử, tiếp đến quan quân, dân chúng. Tới nơi Phật thăng tòa
ngồi yên tĩnh, vua Đế Thích đứng hầu bên tả, vua Phạm
Vương đứng hầu bên hữu tất cả đại chúng yên lặng,
chờ đón đức Thế Tôn thuyết pháp và hiện thần biến cho
xem, muôn ngàn triệu con mắt đều chiếu hướng đức Thế
Tôn.
Đức Phật dung nhan như vầng nhật
nguyệt, hào quang sáng chói tựa núi vàng, miệng tươi như
hoa nở, cất lời nói âm thanh vang xa khắp thế giới đại
thiên, muôn loại chúng sinh đều hiểu thấu.
Khi đó Ngài cất cánh tay vàng, vịn
xuống tòa ngồi, tự nhiên có tiếng gầm lớn, vang động
như sét đánh, mọi người đều giật mình run sợ! Ở dưới
tòa sư tử của Ngài nhảy ra năm vị Đại Thần Quỷ nhìn
như mặt sắt da đồng gầm tiếng như muôn sư tử thét, chạy
xông lại kéo bọn Lục Sư xuống đất đạp tòa ngồi gẫy
tan nát, tiếp đến Kim Cương mật Tích, tay cầm chày Kim Cương,
trên đầu đầy lửa bốc lên vùn vụt, xông lại đánh bổ
vào đầu Lục Sư.
Lục Sư hoảng hồn chạy tán loạn,
vừa thẹn vừa nhục, bị thần Kim Cương đuổi, cùng đường,
nên chúng đâm đầu xuống sông chết cả. Còn chín ức đồ
chúng trở lại theo Phật cầu xin làm đệ tử. Thể theo lòng
từ bi, Phật cũng dung thứ và thâu nhận.
Phật nói: - Thiện Lai Tỷ Khưu.
Nói xong, những người ấy rụng
hết tóc, áo trên mình biến thành áo Cà Sa, biến thành các
vị Sa Môn theo Phật tu hành, không bao lâu hết lậu nghiệp
thành La Hán.
Ngày thứ chín, vua Phạm Thiên thỉnh
Phật. Ngài hóa thân cao lớn tới cõi trời Phạm Thiên uy nghiêm
hiển hách phóng hào quang sáng lớn, tưng bừng khắp cõi Đại
Thiên thế giới, khi đó đại chúng ai ai cũng nghe thấy tiếng
nói:
Phật vì tất cả chúng sinh, diễn
thuyết pháp yếu, khiến cho đại đa số người phát tâm cầu
Phật, kết quả sinh Thiên nhiều không kể xiết.
Ngày thứ mười, Tứ Thiên Vương
thỉnh Phật. Lúc ấy đức Phật dùng phép Tam Muội vô ngại,
khiến cho mọi người thân ấy đều phóng quang minh, và đương
thuyết pháp cho đại chúng nghe.
Trong đại hội hiển nhiên tai nghe,
mắt thấy những thần thông biến hóa vô ngại của đức
Thế Tôn, ai nấy đều tha thiết tôn kính Ngài như đấng Cha
Lành. Sau được nghe Ngài giải thích sự diệu dụng của tâm
Chân Như vô ngại thể tánh bất diệt vô sinh của mỗi chúng
sinh đều có, nên nhiều người giác ngộ dự vào hàng "Bất
Thoái" còn những người đắc quả sinh Thiên rất đông.
Ngày thứ mười một, ông Tu Đạt
thỉnh Phật. Hôm đó đức Phật đương ngồi trên tòa cao
tự ẩn hình đi phóng quang minh sáng lòa trời đất, phát ra
những tiếng dịu dàng, diễn thuyết phân minh các pháp yếu.
Đại chúng nhiều người thấu tỏ đạo mầu, phát tâm vô
thượng chứng ngôi A Duy Việt Chí, đắc quả sinh Thiên khá
đông.
Ngày thứ mười hai, ông Cư Sĩ Chất
Đà La thỉnh Phật cúng dàng. Ngày đó Phật nhập phép từ
bi tam muội phóng quang minh sắc vàng, so khắp cõi đại thiên,
hào quang ấy soi vào chúng sinh nào, thì chúng sinh ấy hết
tâm "Tam độc" nảy tâm Từ bi, lại có con mắt "Bình đẳng"coi
chúng sinh như cha như mẹ, như anh, như em, lòng yêu không thêm
bớt, sau khi thuyết pháp nhiều người lên ngôi "Bất Thoái"
và đắc quả sinh Thiên khá nhiều.
Ngày thứ mười ba, vua Chuân Chân
Đà La thỉnh Phật. Khi Phật thăng tòa ngồi yên tĩnh, nơi
rốn Ngài phóng ra hai tia hào quang tỏa ra hai bên, cách thân
bảy "nhận" (tức 56 thước) trên đầu hào quang đều có hoa
sen, trên hoa có đức Phật hóa hiện, hình tướng cũng như
đức Phật Thích Ca, các đức Phật ấy nơi rốn cũng phóng
hào quang tẻ ra hai bên cách bảy nhật, trên những tia hào
quang đều có hoa sen, trên hoa sen có đức Phật hóa hiện,
cứ như thế chuyển biến lan tràn khắp cõi đại thiên, ai
coi thấy cũng ngạc nhiên, vừa sợ vừa mừng, trộn lẫn!
Lúc ấy đức Phật theo trình độ
của từng người mà thuyết pháp nên nhiều người đắc quả
sinh Thiên không kể xiết.
Ngày thứ mười bốn, vua Ưu Điền
thỉnh Phật. Hôm đó ông ra sắc lệnh cho các hàng hương hoa
phải đem các thứ hương tốt, hoa tươi, quý đẹp vào dâng.
Buổi sáng sớm Hoàng Đế Ưu Điền,
Hoàng hậu hoàng phi thể nữ quan quân, âm nhạc ra thí tràng,
nhìn thấy Phật ngồi tòa sư tử nghiễm nhiên như quả núi,
hai mắt chiếu tinh quang, trông rất tôn nghiêm, ông và toàn
thể gia đình cúi đầu lễ Phật rồi dâng hoa lên cúng dàng.
Phật nhiếp phép thần túc biến
những hoa ấy thành một ngàn hai trăm năm mươi bảy cỗ xe
quý đẹp cao tới cõi trời Phạm thiên sáng như mặt trăng
đêm rằm các bảo vật có ánh sáng phản chiếu nhau tưng bừng
rực rỡ, như thần châu, tràng anh lạc, trang nghiêm nơi xe
ấy, vô cùng tráng lệ.
Trong các xe đều có các đức Phật
ngồi, phóng quang minh bao phủ ba ngàn cõi.
Đại chúng coi thấy sức thần biến
như thế, trong tâm vừa kính mến, vừa vui mừng pha trộn lẫn
nhau.
Đức Phật thuyết pháp cũng như
ông thầy thuốc tùy theo bệnh cho thuốc. Vì thế sau cuộc
thuyết pháp, có rất nhiều người phát tâm hướng đạo,
cũng có người được ngôi "Bất Thoái" kết quả sinh Thiên
cũng nhiều.
Ngày thứ mười lăm, vua Bình Sa
thỉnh Phật cúng dàng. Hôm đó Phật phán cho ông sửa soạn
các món ăn. Theo lời Phật dạy nhà vua sai người bày rất
nhiều chén bát và các đồ để chứa món ăn trên bàn, khi
bày xong tự nhiên các chén bát đầy các món ăn ngon quý trên
thiên cung, mùi cơm thơm ngào ngạt. Tất cả những người
trong đại hội ăn cơm xong thân tâm dũng mãnh an vui.
Sau bữa ăn, đức Thế Tôn chỉ
ngón tay xuống đất, ai ai cũng được nhìn thấy mười tám
Địa Ngục, và thầy rất nhiều tội nhân, những tội nhân
ấy, tự nói những tội ác của mình đã tạo đời trước,
nên nay họ phải chịu tội khổ.
Thấy thế ai cũng thương hại và
sợ hãi cho mình, nên thân thể đều run rẩy không yên!
Để cho mọi người chứng tỏ của
sự ác báo, có cụ thể, rồi Ngài phân tách những tội lỗi
đó cũng do từ nơi thân miệng ý gây nên, và Ngài vạch vẽ
những lối thoát khổ, nên nhiều người phát tâm đại đạo,
kết quả sinh Thiên rất nhiều.
Những tội nhân được thấy Phật
và nghe thuyết pháp, họ tự phát sinh lòng tôn kính quay đầu
về nơi Phật, thì những tội nhân ấy được sinh Thiên hoặc
sinh làm người tất cả.
Tới đây vua Bình Sa đến trước
đức Thế Tôn, năm thể gieo xuống đất, lễ xuống ba lần,
rồi quỳ thẳng chắp tay bạch Phật rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn, Ngài
có ba mươi hai tướng tốt đẹp, chúng con chỉ được coi
thấy tướng ở thân Ngài, hoặc ở tay Ngài, nhưng chưa từng
bao giờ được nhìn thấy luân tướng ở gan bàn chân, vậy
kính xin cho con và đại chúng ở đây được chiêm ngưỡng.
Theo lời cầu thỉnh của nhà vua,
nên Phật ngửa hai bàn chân lên. Đại chúng nhìn thấy trang
nghiêm nước da sáng suốt, những đường chỉ thẳng thắn
phân minh, rành rẽ, càng xem càng mến! Nhà vua mừng bạch rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Chẳng
hay đời quá khứ Ngài làm phước gì, được tướng đẹp
này, cúi xin chỉ giáo?
Phật dạy: - Đại Vương nên biết,
đời quá khứ ta tu thập thiện và đem thập thiện dạy cho
người ta cùng tu, cho nên được luân tướng như thế!
- Kính lạy Ngài! Khi tu và dạy người
nghe hãy như thế nào, cúi xin chỉ giáo cho chúng con được
biết.
Phật dạy: - Đại Vương muốn nghe
hãy chú ý nghe kỹ: Cách đây vô số kiếp A Tăng Kỳ, cũng
Châu Diêm Phù Đề này có một ông vua nước lớn tên là Đà
La Ni Di, thống trị tám mươi tư ngàn nước nhỏ, tám mươi
ức tụ lạc, một vạn quan Đại thần, hai vạn bà Phu nhân,
nhưng không ai có con. Nhà vua lo tuyệt tự không người kế
vị, nên thường hay cầu đạo ở miền Thiên Vương, được
ít lâu bà Tu Lê Bà La là đệ nhất Phu nhân có thai, lòng nhân
từ bác ái lại hay khuyên người làm lành. Mãn tháng khai hoa,
sinh được Thái Tử tướng mạo khôi ngô tuấn tú, một vẻ
trượng phu đầu phúc đức, những lỗ chân lông đều có
ánh sáng.
Khi bà sanh được Thái Tử nhà vua
vui vẻ khôn cùng! Triệu các thầy tướng đến coi. Các thầy
tướng đều khen ngợi và nói:
- Tâu Bệ Hạ! Hoàng tử có đầy
đủ phước đức oai nghi, sau này có thể trị an bốn bể,
thiên hạ phải tùng phục, muôn phương kính nể.
Nghe tướng Sư nói, nhà vua rất
hài lòng và nhờ đặt tên cho Thái tử.
Tướng Sư nói: - Tâu Bệ Hạ, trong
khi hoài thai có điềm tướng gì lạ không?
Đáp: - Khi đó Hoàng hậu có trí
tuệ thông sáng và nhân từ, lại hay khuyên người tu thiện,
còn các điềm lành cũng rất nhiều, nhưng có hai điềm ấy
lạ hơn.
Tướng sư nói: - Tâu Bệ Hạ! Cứ
theo Hoàng hậu có trí tuệ, và Hoàng tử có ánh sáng nơi thân
thể thì xin đặt Na Bà La Mãn (Tàu dịch: "Tuệ Quang")
Quả nhiên Thái tử lớn lên có
trí tuệ siêu nhân, tất cả các môn học thuyết đều thông
hiểu, các danh nhân hiền triết trên thế giới đều bái phục,
lực thông minh của Thái tử. Năm ấy Thái tử chưa đến tuổi
trưởng thành, thì vua cha băng hà (chết).
Trong triều các quan và nội cung
hoàng tộc làm lễ an táng vua xong. Giữa lúc ấy có đông đủ
tám vạn bốn ngàn vua nước nhỏ và triều thần văn võ bản
quốc hội họp, bầu Thái tử lên kế vị đại Quốc vương.
Thái tử nói:
- Kính thưa các Quốc vương quý
quốc và văn võ bá quan, bản triều tôi thực không có năng
lực đảm đương đại sự, xin suy tôn các vị có tài đức
trị dân!
Các quan đều thưa:
- Thưa Thái tử, đại vương đã
qua đời, chỉ sinh được mình Thái tử anh em không có một
ai, nếu Thái tử không chịu ra chấp chính bây giờ nhường
ai? Ai là người đương nổi?
Thái tử đáp: - Tôi nhận thấy
trên đời lắm kẻ tàn ác, nếu ra lệnh hành phạt họ, thì
tội ấy không phải nhỏ, nếu các Ngài trị dân chúng dùng
chánh pháp và bắt dân tu theo pháp thập thiện thì tôi sẽ
nhận chức bảo lãnh việc nước!
Các quan nói:
- Thưa Thái Tử! Xin Thái tử thăng
điện nhậm chức!
Theo lời nói, Thái tử thăng điện
nhậm chức.
Sau ngày Thái Tử lên làm vua, sửa
sang việc nước rất có chánh thể ích quốc lợi dân, bãi
bỏ hủ tục mê tín cờ bạc, mãi dâm, hút xách, rượu chè,
và bắt dân phải thực hành tu theo thập thiện. Thái tử có
đức lớn, lòng từ bi cứu thế cảm động trời đất nên
muôn dân vui vẻ tuân theo tu thập thiện, cải tà quy chính,
đổi ác làm lành.
Khi đó Ma Vương thấy nhà vua bắt
dân tu thiện, lòng đố kỵ nổi giận dùng mưu phá chánh sách
tu thiện của muôn dân, chúng muốn cho dân làm nô lệ chết
sa vào tam ác đạo, thực là đại ác nham hiểm vô cùng. Chúng
mật làm một phong thơ báo cáo cho vua các nước để phá hoại
sự giáo hóa tu thập thiện của nhà vua. Thư nói:
"Trước đây tôi có sắc lệnh cho
nhân dân tu theo pháp thập thiện nhưng xét ra không được
lợi ích gì! Chỉ luống công đau khổ thôi! Thực là một
việc không có kết quả cho nhân sinh. Vậy từ nay trở đi
cho muôn dân làm mười điều ác, các ông không được cử
phạt"
Vua các nước tiếp được lá thơ
ấy, lấy làm kỳ dị quá nói:
- Tờ chiếu chỉ của đại quốc
vương không biết tại duyên gì bắt dân bỏ điều lành làm
điều ác.
Sau các ông vua đều cho sứ thần
đến hỏi nguyên ủy của bức thơ.
Khi nhà vua nghe thấy nói có tờ
chiếu chỉ do chính mình hạ lệnh bắt dân bỏ thiện làm
ác, ngạc nhiên nói:
- Ta tuyệt nhiên không có sắc lệnh
như thế, tại sao có tờ chiếu chỉ này.
Lập tức nhà vua và các quan đại
thần bản triều lên xe đi các nước, quả nhiên đã thấy
nhân dân làm ác, đổi lệnh cũ, theo lệnh mới.
Ma Vương thấy nhà vua đi trên đường
lớn tự hóa làm người, đứng giữa đống lửa cháy ở bên
lề, kêu khóc thảm thiết, nhà vua đến tận nơi hỏi:
- Tại sao ngươi khóc?
- Tâu Bệ Hạ! Tôi lúc tiền sinh
hay khuyên người tu thập thiện nên ngày nay bị quả báo thống
khổ như vậy!
Nhà vua nói: - Sao lại có chuyện
người tu thiện, mình phải chịu đau khổ?
Nhà vua hỏi tiếp:
- Thế! Anh khuyên người tu thập
thiện; mà anh phải đau khổ, thì những người được anh
khuyên tu kia có được phước lành gì không?
Đáp: - Tâu Bệ Hạ, những người
đó được phước nhiều lắm! Chỉ vì dạy người tu thập
thiện nên riêng mình phải chịu quả báo đau khổ, lửa đốt
suốt ngày đêm như vầy.
Đây là Ma Vương muốn làm thoái
tâm khuyến tu thập thiện của nhà vua, trái lại nhà vua nghe
xong rất vui vẻ đáp rằng:
Vâng! Phải lắm tốt lắm! Cốt
sao cho chúng sinh hết đau khổ tội lỗi, được phước báu
nhiều, còn mình chịu khổ có hận chi!
Ma Vương thấy nhà vua không thoái
tâm, liền ẩn hình biến mất rồi đi khắp các nước để
tuyên truyền cho dân tu thập thiện. Từ đó nhân dân đều
tu theo pháp thập thiện giữ gìn thân, khẩu, ý, ba nghiệp
hoàn toàn, chánh pháp lan tràn khắp thiên hạ, tất cả nhân
dân tòng phúc, nên đức của nhà vua mỗi ngày một lớn, vì
phúc lành ấy xe kim luân và thất bảo tự nhiên hiển xuất,
nhà vua bay đi giáo hóa khắp thiên hạ; Nhưng bao giờ nhà vua
cũng lấy pháp thập thiện làm đích để chỉ đạo.
Tôi đây Phật nhắc lại cho vua
biết rằng:
- Đai Vương! Vua Thi Đà Ni Di thuở
đó tức là Phụ vương của ta bây giờ (vua Tịnh Phạn), bà
Phu nhân sanh Thái tử lúc đó chính là thân mẫu của ta ngày
nay, vua Tuệ Quang dạy dân tu thập thiện là tiền thân của
ta. Cũng do đời ấy ta tự tu thập thiện và khuyên dân tu
thiện nên nay được phước báu nơi gan bàn chân có ánh quang
minh, và ngàn hoa tươi thắm như vậy.
Khi đó vua Bình Sa tới trước lễ
Phật quỳ thẳng chắp tay bạch Phật rằng:
Kính lạy đức Thế Tôn! Bọn Lục
Sư mê muội quá! Không biết lượng sức mình, vì lòng tham
danh trục lợi, đem tâm ghen ghét, đòi thi thần thông với
Ngài,
chúng tự nói: Phật làm được một phần, chúng sẽ làm được
hai. Sau khi bị sức thần thông của Thế Tôn làm trấn át,
chúng hết thế lực tẩu thoát, cùng đường đâm đầu xuống
sông tự tử, còn đồ đệ chạy tán loạn tự chúng gây nên
tai nạn muôn đời, con nghĩ lũ mê cuồng ấy không biết căn
duyên tại sao, xin Thế Tôn chỉ giáo?
Phật đáp: - Đại Vương! Nên biết
bọn Lục Sư chẳng những ngày nay tranh lợi tranh danh với
ta, mất thân mạng thế đâu! Đời quá khứ chúng đã tranh
với Ta một lần, nhưng đều bị thất bại. Ta lại đoạt
được cả đồ đảng của chúng nữa.
Vua Bình Sa lại bạch Phật rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Việc
đó thế nào cúi xin chỉ giáo?
Phật dạy: - Đại vương hãy để
ý nghe, trước đây đời quá khứ vô lượng vô số kiếp
A Tăng Kỳ cũng Châu Diêm Phù Đề này có một ông vua tên
là Ma Ha Xa Cừu Lợi, thống trị năm trăm nước nhỏ, vua có
năm trăm phu nhân nhưng chưa bà nào có con trai. Vua tự nghĩ
rằng: "Tuổi ta đã cao lại không có con để nối quốc vị,
một sớm băng hà lấy ai để bảo tồn chính thể của quốc
gia biết giao phó cho ai? Tất nhiên trong nước có sự tranh
giành tàn sát lẫn nhau nhân dân sẽ bị nguy ngập.
Nghĩ thế rồi chưa biết giải quyết
ra sao? Nên lúc nào ông cũng buồn!
Vua Đế Thích trên thiên cung biết
ý nghĩ của nhà vua như thế, liền từ trên trời bay xuống
hóa làm một ông thầy thuốc đến vương cung xin vào yết
kiến vua, và hỏi ngay ý nghĩ lo buồn của nhà vua. Nhà vua
cũng đem ý nghĩ của mình như trên nói cho ông rõ.
Ông trả lời rằng:
- Xin Bệ Hạ chớ lo! Để tôi đi
vào núi tuyết lấy các vị thuốc cho các phu nhân của Bệ
Hạ uống thì sẽ có thai.
Nhà vua nghe nói tâm buồn đã nguôi
nguôi, và bảo thầy thuốc rằng:
- Thưa Ngài nếu được như thế
thì còn gì hay hơn nữa.
Thầy thuốc từ biệt lên đường
vào núi, cách ít ngày lấy được rất nhiều dược thảo
đem về dâng vua, bạch rằng:
Nói rồi vái chào ra về, vua hỏi:
- Thưa Ngài, thuốc này sẽ lấy
bao nhiêu tiền?
Đáp: - Tâu Bệ Hạ, đây tôi xin
giúp Bệ Hạ chứ không lấy tiền.
Nói xong ẩn hình biến mất, nhà
vua thầm nghĩ: "Người này là thần nhân ủng hộ có lẽ hay
lắm, rất có kết qủa cho ta".
Sau khi Đế Thích về, nhà vua sai
người lấy sữa nấu lẫn với thuốc, dâng bà Đệ nhất
Phu nhân uống. Song bà chê bẩn và không tin, nên không chịu
uống thuốc đó, các bà Tiểu Phu nhân chia nhau uống hết quả
nhiên được ít lâu các bà ấy đều có thai, và đem sự kết
quả uống thuốc nói cho bà lớn biết. Bà lớn có ý hối
hận hỏi:
- Thuộc ấy có còn thừa chút nào
không?
Các bà đáp: - Thưa bà! Hết cả!
- Vậy các được thảo có còn không?
Các bà đáp: - Thưa bà hãy còn một
ít!
Bà Đại Phu nhân sai người lấy
sữa nấu thuốc dùng được ít lâu thấy có thai, bà vui mừng
thầm trong dạ và cũng không nói cho các bà biết.
Các bà Tiểu Phu nhân đầy tháng
đều sinh con trai, nhân tướng khôi ngô tuấn tú, nhà rất
sung sướng, vì các bà đã sinh được nhiều quý tử. Nhưng
vua vẫn áy náy trong lòng, là vì Đại Phu nhân chưa có con!
Một thời gian sau trăng tròn nguyệt
mãn, bà Đại Phu nhân sinh được cậu con trai, nhưng rất buồn
thay cho bà, cậu con trai của bà xấu quá, mặt mũi xù xì hình
như quỷ sứ. Buồn quá! Đặt lên là Đa La Hầu Đà (Tàu dịch
"Chu Ngột"), Hoàng hậu giao cho người vú nuôi nấng ở một
nơi và không cho ai biết.
Từ đấy trở đi trong nước vẫn
được thanh bình, nhân dân an lạc, sau khi các Thái Tử nhà
vua đều cưới vợ cho cả, duy Chu Ngột xấu quá nên nhà vua
không để ý tới.
Bấy giờ nước bên cạnh có sự
bất bình với vua Ma Ha Xa Cừu Lợi, mang binh tiến sang để
khởi chiến, năm trăm Vương Tử mang quân ra chống cự, song
bị thất bại chạy về.
Chu Ngột thấy thế hỏi:
- Hôm nay các anh ra chiến đấu thắng
hay bại, coi có vẻ sợ hãi thế?
Đáp: - Hôm nay chiến đấu bất
lợi, bị giặc đuổi lui!
Chu Ngột nói: - Các anh chớ lo, tôi
sẽ đánh đuổi cho bằng hết, tổ tiên chúng ta trước làm
Chuyển Luân Thánh Vương còn để lại trong Thiên Tự một
cái cung lớn và một cái bối, tôi sẽ dùng hai bảo vật ấy
đuổi giặc thành công. Chu Ngột vào Thiên Tự lấy cung và
bối đem ra giương thử, tiếng kêu như sấm, vang xa bốn mươi
dặm. Rồi một mình ra đi, khi tới chỗ giặc đóng quân, Chu
Ngột cầm bối thổi tiếng kêu như sét đánh, giặc nghe sợ
kinh hồn chạy tán loạn; như vậy không cần phải đánh cũng
tan. Khi dẹp yên được địch quân xong, trở về nhà, vua và
quần thần văn võ bá quan ra đón chào về cung, từ đó mới
được sự yêu đãi của Vương phụ.
Sau cuộc ăn mừng đuổi giặc nhà
vua nghĩ đến sự kết hôn cho Thái Tử, nhưng cũng khó, là
vì Thái tử xấu quá.
Thời đó có ông vua nước láng
giềng tên là Luật Sư Bạt Ta, có người Công Chúa xinh đẹp
nhưng chưa lấy chồng.
Một hôm nhà vua gọi quan đại thần
vào nói rằng:
- Vua Luật Sư Bạt Ta có một Công
Chúa nghe biết chưa lấy chồng, ta muốn nhờ ngươi sang xin
đẹp duyên cùng Thái Tử Chu Ngột, nhà vua có hỏi đến tướng
mạo của Thái Tử thì người coi tướng anh của Thái Tử
mà diễn tả bộ dạng cho biết.
Đại thần vâng lệnh ra đi, sang
tới nơi lên tâu vua rằng:
- Tâu Bệ Hạ! Tôi là sứ thần
của vua Ma Ha Xa Cừu Lợi vâng lệnh sang đây, xin Bệ Hạ cho
Thái Tử Chu Ngột được làm Phò Mã của ngài.
Nhà vua hỏi: - Thái tử bao nhiêu
tuổi? Hình dáng ra sao? Học vấn thế nào?
Đáp: - Thái tử năm nay tuổi vừa
đôi tám, tướng người đẹp đẽ, sức lực hùng mạnh, trí
óc thông minh.
Nhà vua gật đầu nói: - Nhà ngươi
về tâu vua: Ta đồng ý gả Công Chúa cho Thái Tử. Đại thần
về tâu vua sự thỏa thuận của Quốc Vương láng giềng hứa
gả Công Chúa cho Thái Tử, vua rất hoan hỷ! Sai người sửa
soạn lễ vật đính lễ nghinh hôn, cuộc lễ này cũng rất
buồn cười: Là vì chú rể mượn!
Khi về đến hoàng cung yến tiệc
rất linh đình, mọi người vui vẻ ca hát mừng đôi loan phượng.
Nhưng có một điểm là Công Chúa khi về tới hoàng cung không
nhìn thấy mặt chồng.
Nhà vua dặn Chu Ngột ban ngày chớ
để vợ nhìn thấy mặt.
Theo lời Vương Phụ dặn, cứ tối
khuya im lặng. Chu Ngột mới đến để vui thú cùng vợ…
Chu Ngột đến, Công Chúa hỏi:
- Lúc ban ngày anh đi đâu không thấy?
Đáp: - Ban ngày anh phải đem quân
ra trấn các cửa ải, hồi này nước ngoài luôn luôn đem binh
sang xâm lược nước nhà, anh đều đẩy lui được bọn chúng,
nên mới có trọng thưởng của nhà vua.
Công Chúa hỏi: - Anh được trọng
thưởng những bảo vật gì?
- Trộng thưởng thứ nhất là được
em, ngoài ra thì không đáng kể.
Công Chúa nghe nói rất hân hạnh
vui dạ!
Một buổi nọ vợ các vương tử
hội họp với nhau, cô nào cũng khoe tài đức của chồng mình
có lực hùng mạnh, tươi đẹp, có công đuổi giặc dẹp nước
yên dân, có thiếu phụ khác lắc đầu lè lưỡi nói:
Thôi cô đừng nên nói nữa, chồng
cô xấu lắm, người chẳng khác, phải quỷ thì không, ban
ngày nếu cô nhìn thấy, cô sẽ thất kinh hoảng hồn.
Vợ Chu Ngột nghe nói khí sắc biến
đổi, vừa nhục vừa thẹn. Nhưng cố nhẫn lẳng lặng ghi
lại tâm. Trở về tư thất giấu đi một cái nến để nơi
kín, chờ tối chồng đến an nghỉ xong, cô đưa nến soi xem
mặt, quả nhiên thấy hình tướng đáng sợ hãi thật, xấu
thật, thực là trên đời chưa có một ai xấu đến như vậy!
Cô chờ chồng ngủ mệt, giữa đêm khuya thanh vắng ra xe trở
về nước nhà.
Trời vừa tảng sáng, Chu Ngột thức
giấc không thấy vợ; chạy trước nhìn sau tuyệt nhiên không
thấy ảnh bóng một ai, biết đích vợ mình đã bỏ đi; trong
lòng buồn tức, giận đâu nổi lên, ầm ầm vác cung cầm
bối lên ngựa đuổi theo không kịp. Khi tới nước kia nghi
trọ tại một nhà ông quan bên đó.
Thời ấy có sáu ông vua nước bên
cạnh, biết vua Luật Sư Bạt Ta có người con gái đẹp, hay
tin cô đã trở về nước, nên sáu ông đồng thời tiến quân
sang biên thùy, đưa thư cho vua xin cầu hôn.
Vua Luật Sư Bạt Ta rất phiền não,
trong lòng bối rối, vì không biết giải quyết thế nào? Nên
nhà vua cho triệu tập tất cả các triều thần văn võ bá
quan lại thảo luận.
Luật Sư Bạt Ta nói:
- Công Chúa hiện đã về tới bản
quốc, tôi vừa mới tiếp được sáu phong thư của sáu quý
quốc, xin đính hôn cùng Công Chúa, nếu cho một ông thì đối
năm ông kia làm thế nào cho khỏi gây lòng oán hận, giờ đây
bá quan giải quyết thế nào cho đẹp lòng cả thì hơn?
Có một ông quan đứng lên thưa
rằng:
- Tâu Bệ Hạ đem phanh công chúa
ra làm sáu phần, chia cho mỗi người một phần thì việc đó
sẽ yên.
Lại có một ông đứng lên thưa
rằng:
- Tâu Bệ Hạ bây giờ hãy ra một
tờ cáo thị như sau: Nếu ai có tài đánh đuổi được quân
giặc thì sẽ gả Công Chúavà chia nước cho một nữa, ngoài
ra còn ân thưởng rất nhiều.
Vua đồng ý viết bảng cáo thị.
Đa La Hầu Đà (Chu Ngột) nghe biết
giật bảng cáo thị, mang cung cầm bối xuất trận, thổi còi
giương cung bắn, các quan quân của sáu ông vua đều kinh khủng
chạy tán loạn mất cả. Chu Ngột tiến vào hạ thủ sáu ông
vua, thu bắt rất nhiều binh nhung sĩ chúng.
Vua Luật Sư Bạt Ta hay tin Chu Ngột
đã chiến thắng, thân ngự ra ngoài thành đón tiếp, và biết
rằng: Chính Chu Ngột con vua Ma Ha Xa Cừu Lợi, anh hùng đã
nổi tiếng, hơn nữa lại là con rể của ngài, nhà vua rất
hoan hỷ.
Sau khi về hoàng thành xong cuộc
yến tiệc ăn mừng thắng trận, nhà vua và bá quan suy tôn
Chu Ngột làm Đại Vương thống trị bảy nước.
Chu Ngột thăng điện nhậm chức
bảo lãnh chánh quyền, đặt lại các việc triều chính, sửa
đổi chính sách, mở mang văn hóa, đặt các lễ nghi theo chánh
giáo, dạy dân có đạo đức, phế bỏ hủ tục, và những
tà thuyết mị dân, xếp đặt các công việc xong xuôi rồi
cùng vợ kép quân về nước.
Hay tin Thái Tử Chu Ngột về nước,
nhà vua và các quan quân thân ra ngoài biên cương đón. Khi về
tới hoàng cung, nhà vua biết Chu Ngột có đủ tài đức, nên
cất làm Đại Vương. Chu Ngột không chịu tâu rằng:
- Muôn tâu Vương Phụ! Xin ở tại
ngôi, việc ấy sẽ chưa nên.
Nhà vua cũng phải chiều theo ý định
của Thái Tử, xong cuộc vui mừng này, quan quân đều giải
tán đâu về đấy.
Chu Ngột Thái Tử đưa vợ về cung
an nghỉ, lúc đó trách vợ ăn ở bạc tình, có ý phàn nàn
không thật làm giao kết lương duyên, trăm năm trọn đạo!
Công Chúa thưa rằng:
- Thưa Thái Tử! Vì Thá Tử xấu
quá, coi dữ dằn quá em rất kinh và hình như không giống người
nên em mạn phép ra đi.
Chu Ngột lấy gương soi thấy mình
quả nhiên xấu thật, sự thật không khác gì quỷ, tự nghĩ
rằng:
- Mình vị thân hình xấu ác, không
sống với vợ, để vợ sợ hãi cũng không nên.
Tự phát tâm chán ghét không muốn
có thân ấy nữa, ra nơi rừng xanh để tự sát, khi sắp buộc
dây treo lên cành cây, vua Đế Thích ở xa ngó thấy liền bay
đến tận nơi hỏi.
Chu Ngột đáp: - Tôi bị thân hình
xấu quá nên muốn tự sát ở nơi đây.
Vua Đế Thích khuyên can đem cho hạt
ngọc minh châu dặn rằng:
- Xin dâng tặng Ngài hạt ngọc minh
châu này để trên đầu, sẽ được thân hình đoan chính tươi
đẹp như tôi.
Chu Ngột cảm tạ nhận lấy bạt
châu để trên đỉnh đầu, quả nhiên thân thể đổi xấu
thành đẹp.
Khi trở về nhà, không bảo cho vợ
hay, đi luôn vào bảo tàng lấy cung và bối. Công Chúa thấy
chàng thanh niên tươi trẻ tự do vào lấy cung và bối, ngạc
nhiên hỏi:
- Anh là người nào dám tự tiện
vào lấy cung của chồng tôi?
Chu Ngột mỉm cười đáp: - Anh là
chồng của em đây!
Công Chúa nói: - Anh này điên dở,
chồng ta lẽ ta không biết sao? Anh là kẻ nào dám vô lễ tự
xưng là chồng ta?
Chu Ngột cười nấc cười nở đưa
tay lên đầu lấy hạt minh châu xuống, hiện lại nguyên hình
xấu, thấy sự biến chuyển lạ, Công Chúa nửa mừng nửa
lo hỏi tiếp:
- Tại sao có sự lạ như vậy, xin
nói cho tôi rõ?
Chu Ngột nói rõ câu chuyện được
hạt minh châu cho Công Chúa xem, Công Chúa vui mừng tin thực.
Từ đó vợ chồng yêu nhau không
có sự ngang trái nữa, và bỏ tên Chu Ngột đổi là Tu Đà
La Phiến.
Sau một thời gian Tu Đà La Phiến
muốn xây cất một thành trì lớn, tìm nơi đất bằng phẳng
cao mát rộng rãi, sắc lệnh cho nhân dân kiến lập tại đó.
Khi đó bốn ông Long Vương hóa hình
làm người, lại tâu vua rằng:
- Tâu Bệ Hạ, nghe biết Bệ Hạ
muốn xây thành, vậy dùng vật gì để làm?
Nhà vua đáp:
- Tôi làm bằng đất!
Long Vương thưa: - Sao ngài không
dùng thất bảo mà kiến thiết?
Đáp: - Thất bảo là thứ quý giá
nhất, và ít ỏi nhất, thành lớn, quý ngài tính lấy đâu
mà được?
Long Vương thưa: - Tâu Bệ Hạ! Để
chúng tôi xin cung cấp đủ cho ngài làm!
Long Vương nói xong, ngay bốn bên
khu vực đất ấy, biến thành bốn cái suối lớn. Long Vương
chỉ vào bốn cái suối ấy thưa rằng:
- Bệ Hạ dùng nước suối phương
Đông xây cất, thì thành này hóa ra ngọc lưu ly; dùng nước
suối phương Nam xây cất, thì thành này hóa ra vàng; dùng nước
suối phương Tây xây cất, thì thành này hóa ra bạc; dùng
nước suối phương Bắc xây cất, thì thành này hóa ra pha
lê.
Nhà vua nghe nói, cảm tạ Long Vương.
Bắt đầu xây cất, quả nhiên lời nói của Long Vương là
đúng.
Thành ấy quy vuông bốn trăm dặm,
trong thành làm các cung điện lầu các; mỗi cung quy vuông bốn
mươi dặm: Cung điện, đường đi, nhà lớn, nhà nhỏ, rừng
cây, ao tắm, trường thành, thuần bằng ngọc lưu ly, pha lê,
vàng, bạc, cực kỳ trang nghiêm đẹp đẽ, chẳng khác Thiên
Cung. Ngày hoàn thành này được bãy thứ báu ngọc tự nhiên
đầy kho đụn. Tu Đà La Phiến ngự trị thành này, từ đó
bắt đầu dạy dân tu theo mười điều lành (Thập Thiện).
Nói tới đây, Phật nhắc cho vua
Bình Sa biết rằng:
Bình Sa! Ông nên biết vua Ma Ha Xa
Cừu Lợi thuở đó hiện nay là Vương Phụ của ta (Tịnh Phạn
Vương), bà mẹ sinh Chu Ngột thuở đó nay là Thân Mẫu của
ta (Ma Da Phu nhân). Vương Tử xấu (Chu Ngột) thuở đó chính
là tiền thân ta, vợ Vương Tử xấu lúc đó chính là Cù Di
ngày nay; ông thân của vợ Vương Tử lúc đó ngày nay là ông
Ma Ha Ca Diếp. Sáu ông vua lúc ấy dùng binh sĩ áp bức để
lấy Công Chúa của vua Luật Sư Bạt Ta, chính là Lục Sư bây
giờ.
Thời ấy bọn ông ấy đã tranh
sắc thanh tài với ta, bị thất bại; ngày nay cũng do lòng
tham danh trục lợi, đòi đấu sức thần thông, không đủ
lực chống đỡ, cùng đường đâm đầu xuống sông tự sát,
còn chín ức đồ chúng quay về theo ta làm đệ tử.
Vua Bình Sa lại bạch Phật:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Thái
Tử Chu Ngột đời trước trồng nhân lành gì được sinh làm
con vua, có sức lực hùng mạnh và tại sao bị thân thể xấu,
cúi xin chỉ giáo cho chúng con được rõ.
Phật nói:
- Đó là một nhân duyên từ đơi蠱uá
khứ, tới nay đã vô lượng kiếp không thể tính được,
cũng Châu Diêm Phù Đề có một nước lớn tên Ba La Nại,
nước ấy có một ông tiên, tu trong núi tên là Luật Sư. Trong
núi ông tiên ấy có một vị Bích Chi Phật, người bị chứng
bệnh phong, một hôm ngài đến nhà hàng dầu, xin dầu muốn
để trị bịnh. Người chủ nhà hàng dầu phát lòng nóng giận
lớn tiếng la mắng nói:
- Đầu anh như Chu Ngột (gốc cây
cụt), như cục gỗ, tay chân phê tởm, khờ khờ khoạng khoạng
chỉ rình ròm xin người không đem tiền mua chỉ muốn lấy
không?
Tuy nói thế nhưng anh hàng dầu cũng
cho một chút dầu cặn, song Ngài cũng không buồn giận gì
lời nói lỗ mãng ấy, vẫn thản nhiên lấy dầu. Khi ra khỏi
nhà gặp vợ ông hàng dầu về, bà ta bả lả hỏi han, một
vẻ kính trọng nói:
- Khoái Sĩ từ đâu tới đây, dùng
dầu cặn làm gì?
Đáp: - Tôi dùng để chữa bịnh
phong.
- Thưa Ngài xin trở lại để con
xin dâng cúng thứ dầu tốt!
Ngài cũng hoan hỷ đi. Tớn nhà,
bà dâng một chén dầu trong trẻo, dâng rồi la chồng rằng:
- Anh thật không hiểu biết chi cả,
tại sao anh lại cúng Ngài dầu cặn, anh phải sám hối Ngài
cho khỏi cái tội của miệng anh.
Ông hàng dầu này cũng có thiện
tâm, hối hận trong lòng ra xin lỗi, Ngài cũng hoan hỷ. Khi
đó hai vợ chồng đều thưa với Ngài rằng:
- Thưa Ngài: Vợ chồng con xin nguyện
chung thân cúng dàng, ngài muốn dùng gì xin cứ lại đây chúng
con dâng.
Từ đó vị Bích Chi Phật hằng
ngày lại lấy các món ăn dùng và dầu.
Trước khi vào Niết Bàn, nhân cảm
cái ơn ấy vị Bích Chi Phật hiện ra mười tám phép thần
túc cho vợ chồng hàng dầu biết.
Bay trên hư không, trong mình phun
ra nước, dưới mình hóa ra lửa, thân thể khi phân khi hợp,
hiện biến rất nhiều phép lạ.
Vợ chồng hàng dầu thấy thế,
biết rằng Ngài đã đắc đạo vui mừng khôn xiết, tự hận
mình có lỗi nên bảo vợ rằng:
- Em hoan hỷ cúng dàng Ngài, tương
lai sẽ được nhờ phúc báo thì cho tôi chung hưởng và cùng
làm vợ chồng như nay nhé!
Đáp: - Anh đối với Ngài tệ ác
và cúng dầu cặn, sau này có sinh nơi nào, dĩ nhiên phải chịu
quả báo xấu, thì làm sao kết duyên cùng anh được?
Chồng nói: - Tôi cũng chịu sự
cực khổ làm ăn, của là của chung, đâu có phải một mình
em làm ra được, mà nói: không cho chung và không cho làm vợ
chồng. Nghĩa là phúc là phúc chung, đâu phải một mình em
hưởng được.
- Vâng! Nếu kiếp sau tôi có phải
làm vợ anh đi chăng nữa, nếu anh xấu đêm tôi sẽ bỏ anh
tôi đi!
- Nếu em đi anh sẽ đuổi cho bằng
được!
Hai vợ chồng nói xong, rồi hứơng
lên vị Bích Chi Phật thành tâm sám hối.
Khi đó Ngài bảo rằng:
- Do sự cúng dàng dầu của vợ
chồn anh, nên ta được khỏi bịnh, muốn cầu nguyện gì ta
cho tùy ý.
Hai vợ chồng hoan hỷ quỳ thẳng
chắp tay phát nguyện rằng:
- Kính xin Tôn giả, nguyện cho vợ
chồng con trên trời hoặc nhân gian, sinh chốn nào cũng được
tôn sang phúc tuệ đầy đủ, muốn gì cũng được toại ý.
Tới đây, Phật nhắc lại cho vua
Bình Sa biết rằng:
Nhà vua nên biết: Người hàng dầu
thuở đó chính là Chu Ngột, vợ của hàng dầu chính là vợ
của Chu Ngột thời ấy, thuở đó ông hàng dầu mắng vị
Bích Chi Phật thân người xấu như Chu Ngột (gốc cây tre cụt)
và tay như cái trục, lúc cho dầu có sắc giận tức. Vì thế
nên bị quả báo xấu, cũng theo đúng như khi phát lời nói
mắng vị Bích Chi Phật không khác, sau biết ăn năn sám hối
vui vẻ cúng dầu tốt, cho nên sinh xứ nào cũng được tốt
đẹp; cũng do sự cúng dầu nên được nhiều sức khỏe, ngàn
muôn người không địch nổi, hơn nữa lại còn được làm
Chuyển Luân Vương, hưởng phúc bốn cõi, năm món dục đầy
đủ thụ dụng. Thiện nghiệp hay ác nghiệp, báo ứng không
sai thù, vì thế tất cả chúng sinh phải nên giữ đạo làm
thiết yếu, cẩn thận nơi thân miệng, ý chớ nên dùng nó
mà tạo những điều xấu ác!
Phật nói xong vua Bình Sa và tất
cả vua, quan dân chúng các nước với bốn bộ đệ tử, trời
rồng, quỷ thần có người chứng quỉ thần, có người chứng
quả Tu Đa Hoàn, người được quả Tư Đà Hàm, quả A Na Hàm;
cho đến quả A La Hán, cũng có người gây nhân Bích Chi Phật,
cũng có người phát tâm Bồ Đề cho đến ngôi Bất Thoái,
tất cả đều hoan hỷ lễ kính dưới chân Phật mà lui.