Lời
nói đầu
Tập
sách này là một sự tập hợp các bài biên khảo đã được
đăng trong các tạp chí Phật giáo. Các bài : Triết lý quanh
đèn, Triết lý chiếc nôi, Cái nhìn, Những vấn đề sáng
tạo, Vài nét về thái độ giáo dục của đức Phật, Ðạo
đức Phật giáo, Chữ Hiếu và tình người, Giáo lý gặp gỡ
giữa Kim Cương và Nikàya, Tư tưởng Nguyễn Du qua truyện Kiều
và sự đóng góp vào sự nghiệp Dân tộc của Tư tưởng Phật
học đời Lý, Trần đã đăng trong Tập Văn của Trung ương
Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ hơn mười năm trước. Bài
Mẫu người giáo dục đã đăng trong Tư Tưởng Ðại Học
Vạn Hạnh năm 1973. Tác giả chọn tên của tập sách này là
Những
Hạt Sương và xem đó là nội dung của Hoa Ngọc
Lan, tập Hai - tiếp theo tập Hoa
Ngọc Lan, tập Một, xuất bản năm 1998, Nhà Xuất
Bản Thành Phố Hồ Chí Minh - thân ái gửi đến các bạn đọc
với tình cảm chân thành của một tu sĩ trẻ của Phật giáo
Việt Nam của hơn hai mươi năm về trước.
Tỷ
kheo Thích Chơn Thiện
(mùa
Xuân năm 2000)
Triết
Lý Quanh Ðèn
Nếu
thời bé tí được lời ru của mẹ ướp vào tâm hồn hương
nhạc và tình với những hạt mầm tư tưởng, thì lớn lên
đến tuổi biết hỏi và biết nghe, tuổi trẻ Việt Nam lại
được bố và ông bà kể cho nghe các chuyện cổ tích quanh
đèn. Ðây là những mẫu chuyện dễ nhớ và súc tích nói
về lịch sử, về tình yêu tổ quốc, quê hương, về phong
tục tập quán, về tín ngưỡng nhân gian, về con người và
thiên nhiên, vũ trụ, về tình người, tình đôi lứa, tình
gia đình và về túi khôn của loài người, hàm xúc nhiều
tư tưởng. Ðây gọi là triết lý quanh đèn. Nó cũng phong
phú, đa dạng được sàng lọc qua nhiều thế hệ, nhiều thời
đại. Những triết lý có hệ thống viết vào sách thì có
thể bị thất truyền vì chiến tranh, vì các sức mạnh xâm
lược, nhưng triết lý chiếc nôi và triết lý quanh đèn thì
không. Hệt như người xưa đã nói:
-"Trăm
năm bia đá cũng mòn
Nghìn
năm bia miệng hãy còn trơ trơ".
Mỗi
câu chuyện cổ tích là một bài học ngắn nhồi vào tư duy
của tuổi trẻ, nung nấu ý chí của tuổi trẻ, xây dựng
tình cảm cho tuổi trẻ và khích lệ, kích thích phát triển
các khả năng cần thiết cho tuổi trẻ. Nói tóm, triết lý
quanh đèn là một hình thức giáo dục của dân tộc. Ngày
ấy mỗi gia đình Việt Nam thật sự là một học đường
nhỏ.
Những
mẫu chuyện truyền khẩu được kể trong không khí gia đình
ấm cúng và đầy tình tự như rót sâu vào tâm tư tôi, không
bao giờ tôi có thể quên được. Chuyện kể có xen nhiều
nét thần kỳ, linh dị, nhưng đây là những hình ảnh biểu
tượng của sáng tác văn học, nghệ thuật, làm cho câu chuyện
trở nên sinh động và hấp dẫn, mà không phải là sản phẩm
của mê tín dị đoan.
Ðọc
lại Lĩnh Nam Chích Quái, Việt Ðiện U Linh tập, các chuyện
Tấm cám..., tôi thấy hầu như tất cả là những câu chuyện
quanh đèn của các gia đình Việt Nam. Vì là chuyện, nên triết
lý quanh đèn nói lên được nhiều lời ý hơn triết lý chiếc
nôi.
Về
anh hùng dân tộc, không làm sao tôi quên được các chuyện
về Trần Hưng Ðạo, Lý Thường Kiệt, Trần Bình Trọng, Lê
Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Triệu
Ẩu, Nhiếp Chính Ỷ Lan ... các chuyện kể từ thời vua Hùng
dựng nước cho đến nay rất là thu hút.
1.-
Chuyện đức Thánh Gióng hay gọi là Phù Ðổng Thiên Vương:
Là
chuyện nằm lòng thời tuổi trẻ ở quê của tôi. Tôi thích
lắm, bố tôi đã cắt nghĩa rằng:
- Con
hãy nhớ nước ta bị xâm lược nên tổ tiên ta đã căn dặn
kỷ: "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh". Vì vậy hình ảnh
Phù Ðổng, em bé ba tuổi bổng chốc vươn vai thành người
lớn quất ngựa dẹp giặc khi giặc Ân đến là ý tổ tiên
dạy: khi đất nước khó khăn hay lâm nguy, là người dân Việt
thì phải như bé Phù Ðổng, lòng yêu nước phải vươn dậy
mạnh mẽ, biết hy sinh vì xứ sở. Bé ba tuổi mà còn thế
huống chi là người lớn!
- Con
hãy nhớ kiếm sắt là biểu tượng cho giới trí thức, qúy
tộc, đánh giặc cũng giỏi mà không bền nên nữa chừng kiếm
của Phù Ðổng phải gãy. Phải nhổ lên những khóm tre làng
mới đuổi xong giặc. Khóm tre là biểu trưng cho quần chúng
bình dân ta, cả Phù Ðổng cũng thuộc hàng dân giả, nói lên
rằng phải nương vào sức mạnh quần chúng mới phá được
giặc.
- Con
hãy nhớ kỹ rằng dẹp giặc xong, Phù Ðổng không trở về
nhận bổng lộc triều đình, mà biến mất vào yên lặng.
Tại sao thế? Bởi vì đó là lòng yêu nước vô vụ lợi của
người Việt. Yêu nước là yêu nước với tấm lòng trong
sáng thế thôi. Nhưng chính vì thế mà nhân dân ta đã lập
đền thờ Phù Ðổng như là lòng tôn thờ yêu nước trong
sáng vô vụ lợi ấy.
Bố
tôi dạy tôi không biết bao lần, con hãy nhớ như thế!
2.-
Chuyện nguồn gốc Lạc Hồng hay là chuyện tình sử giữa
Lạc Long Quân và Âu Cơ:
Thoạt
nghe thì có vẽ kỳ dị, nhưng càng gẫm càng thấy sâu sắc.
Cũng phải nhờ đến bộ óc của bố tôi cắt nghĩa tôi mới
vỡ lẽ ít nhiều. Lại với giọng điệu, con hãy nhớ, bố
bảo:
- Âu
Cơ là giòng dõi tiên nhân: biểu trưng cho tính khí thanh cao,
thiện lương và đẹp đẽ. Ðấy là các đức tính khai mở
nền văn hóa dân tộc như hình ảnh mẹ đẻ ra trăm trứng
nở thành trăm con. Trăm con là chỉ trăm họ, chỉ cho sự hợp
quần của nhiều bộ lạc, dân tộc của xứ sở.
- Lạc
Long Quân là dòng dỏi của rồng: biểu trưng cho sức mạnh
biến hóa, khi ẩn, khi hiện, hợp cả hai tánh của bố và
mẹ thì mới thật sự mở ra dòng văn hóa lịch sử Việt
Nam. Tính chất của văn hóa lịch sử Việt Nam là tính chất
của sự kết hợp giữa Tiên và Rồng, của mối tình ấy.
- Phải
xem tình nhân dân trong nước là tình đồng bào, nghĩa là mối
thâm tình cùng chung một bào thai mẹ. Nói cách khác, là phải
thương yêu nhau, xem nhau như ruột thịt. Làm được như thế
là làm nên lịch sử, lịch sử chờ đợi như thế.
- Tính
của mẹ là âm lại có gốc từ trời là dương, tính của
bố là dương lại có gốc từ nước là âm, bố mẹ có gốc
khác nhau và tính khác nhau vì thế mà khó sống cạnh nhau mãi
được, nên đành xa cách nhau một cách chiến thuật, mà mối
chung tình thì vẫn giữ. Bố mẹ luôn luôn có mặt bên nhau
khi có biến. Ðấy là ý nghĩa lịch sử của dân tộc, là
sự thật của lịch sử dân tộc. Ý nghĩa đó là phải chấp
nhận dị biệt, nhưng phải có lý tưởng tổ quốc để thống
nhất dị biệt, mà không phải xóa tan các dị biệt. Ðấy
cũng là triết lý về cuộc sống, chính cái yếu tố mâu thuẩn
đã làm sinh sôi nẩy nở, mở ra dòng lịch sử của dân tộc.
Và đấy cũng là triết lý của hành động chuyển tương khắc
thành tương sinh.
- Hình
sảnh của bố mẹ lịch sử là hình ảnh của "âm trung chi
dương và dương trung chi âm", là sự thật của mọi việc
đời, mọi hiện hữu. Sự vật trôi chảy nên sự vật luôn
luôn phủ nhận nó để trở thành một cái gì khác nó. Nói
cách khác, sự vật vừa là nó vừa là khác nó. Ðiều mà
triết lý của các vùng văn hóa nhân loại gọi là vô thường,
vô ngã hay dịch biến, hoặc "không thể đặt chân hai lần
trên một dòng nước". Bố tôi say sưa giảng giải ý nghĩa
của mẫu chuyện đầu nguồn lịch sử này.
3.-
Chuyện Chữ Ðồng Tử: [1]
Chuyện
lịch sử đã quá hay, mà chuyện tình của Việt Nam cũng lắm
đẹp.
Chữ
Ðồng Tử là một thanh niên dân giả chân thật, nghèo nàn,
nghèo đến thiếu khố để che thân, lại được nhân dân
Việt Nam sắp đặt cho kết duyên với một công chúa trẻ
đẹp, kiêu kỳ, con vua. Hai người ở hai đầu cách biệt của
giai cấp xã hội, đây là triết lý về tình yêu của Việt
Nam, rằng trong tình yêu không có giai cấp, dù là giai cấp
loại nào. Ðó là con người, tính người và tình người Việt
Nam.
Nhân
dân ta qua câu chuyện tình này, vừa phá đổ quan điểm "môn
đăng hộ đối" của nhà nho, vừa nói lên khát vọng nghìn
năm tha thiết của con người. Mọi người đều bình đẳng
trước tình yêu, trước cuộc sống, trước cái sống cũng
như trước cái chết. Và dĩ nhiên cũng bình đẳng trước
pháp luật của xứ sở, trước trách nhiệm và bổn phận
của người công dân.
Chử
Ðồng Tử đã nói lên một triết lý tình yêu và một quan
niệm về dân chủ, bình đẳng trước cả người phương Tây.
Bố tôi đã dạy cho tôi niềm hảnh diện này của triết lý
của dân tộc.
4.-
Chuyện tình Trương Chi - Mị Nương: [2]
Chuyện
kể Trương Chi là kẻ chài có tiếng sáo quyến rủ, Mị Nương
là cô gái trâm anh, khuê các, tương tư tiếng sáo của chàng.
Bởi chàng quá xấu tướng nên cuộc tình dẫn đến chỗ bi
kịch tuyệt vọng. Chàng cũng đắm say nhan sắc nàng. Chàng
chết và tim hóa thành ngọc. Nàng thương tình dùng ngọc ấy
làm tách để uống trà. Mỗi lần uống thì hình ảnh chàng
hiện ra nơi chén ngọc. Nàng cảm kích nhỏ lệ làm chén ngọc
tan ra nước.
Bố
tôi phải vất vả phân tích mối tình này, tôi mới lờ mờ
nhận ra một triết lý tình yêu của dân tộc rằng:
- Tình
yêu thuận đẹp không phải là tình yêu đơn phương
- Tình
yêu đòi hỏi một cung bậc nào đó giữa hai tâm hồn và thể
chất.
- Nhân
dân ta nói triết lý tình yêu rất ngắn gọn qua mẫu chuyện
trữ tình dễ nhớ ấy, nhưng rất là triết. Ðây là nét văn
hóa và văn minh. Câu chuyện bên đèn này còn có tác dụng
tạo niềm thoải mái cho tâm hồn sau một ngày lao động nhọc
nhằn.
Có
nhiều người cho rằng Việt Nam không có triết lý. Nhưng thật
là phi lý, bởi chính nhận định trên là phi triết lý! Có
lẽ người ta đang chờ một pho sách hệ thống hóa các tư
tưởng Việt Nam từ các nguồn văn học bình dân, và văn học
bác học, từ các nguồn phong tục tập quán, điêu khắc, hội
họa, lịch sử và ngôn ngữ và đặt tên cho hệ thống tư
tưởng này như là duy nghiệm, duy lý, duy ý chí ... chăng? Nhưng
nếu là "duy" gì ấy thì tư tưởng trở nên nghèo đi và tinh
thần duy ấy đòi hỏi thực tế lịch sử Việt Nam phải co
mình lại.
Bố
tôi tiếp, một dân tộc đã đứng vững với thời gian hẳn
phải có bản sắc văn hóa riêng, và đó là bản sắc của
triết lý, tư tưởng dân tộc. Việt Nam đã có lịch sử riêng,
có phong tục tập quán riêng, như tục trầu cau, nhuộm răng,
vẽ rồng lên mình, tục cắm cây nêu... và có ngôn ngữ riêng
thì hẳn phải có sắc thái tư tưởng riêng. Chỉ từng ấy
điểm nhìn là đã hình dung ra tư tưởng Việt Nam và hướng
nhân bản thiết thực và rất người, dù chưa thực sự xác
định đích thực là gì.
5.-
Quan niệm về Ông trời và Vũ trụ: [3]
Vì
gốc các ông trời và vũ trụ thì chẳng có ai có thẩm quyền
đủ để xác minh, dù nhân loại đã nói rất nhiều về hai
vấn đề ấy. Người Việt Nam qua triết lý quanh đèn, có
bàn đến với lối cấu trúc câu chuyện mộc mạc và đầy
tính huyền thoại khiến người nghe xem thường tưởng chừng
như là thiếu triết lý. Thực ra ở đó có mặt một triết
lý thâm viễn, thiết thực và rất người. Một điều rõ
ràng nhất ta có thể nhận biết, là vũ trụ thế giới này
mênh mông không có đầu đuôi, không có gốc gác, tất cả
mọi hiện hữu như dựa vào nhau mà tồn tại một các tương
đối. Người Việt Nam vì vậy quan niệm về vũ trụ như vũ
trụ đang là. Chuyện kể rằng:
- Có
ông trời tạo ra vũ trụ và con người. Ông trời thì có bà
trời, gia đình và triều đình như thế ở thế gian.
- Sau
khi làm ra vũ trụ ông trờ dùng chất cặn bả còn lại phần
tinh thì làm ra người, phần cặn bả nhật thì làm ra loài
vật.
- Trời
sai 12 mụ bà nắn ra hình các người, rồi dạy đi, dạy bò,
dạy ăn, dạy nói...
- Trời
thấy loài rắn độc ác bèn phán phải chết, còn người thì
tốt thay lốt sống mãi. Nhưng vị thiên sứ bị loài rắn
áp bức đã truyền lệnh ngược lại rằng:
"
Rắn già rắn lột
Người
già người tuột vào săn."
Từ đó
con người phải chết, còn rắn thì lột xác sống dai.
- Do
vì trái lệnh trời vị thiên sứ bị đày xuống trần gian
làm con bọ hung sống trong hầm xí.
Thế
là câu chuyện nói lên mấy điểm nổi bật:
- Cái
ông trời và vũ trụ do ông trời tạo ra thật sự là chính
do con người, nhân dân tạo ra theo nhãn thức trần gian của
mình.
- Con
người thực tế, dù quan niệm thế nào, thì cũng do đất,
nước, gió, lửa và nhiều yếu tố (12 mụ bà làm 12 công
việc) tạo thành và con người có sinh thì có chết.
- Quan
niệm nặng về đạo đức: thưởng thiện, phạt ác.
- Ðặc
biệt hơn cả là nhận dân ta có ý thức về giáo dục rất
sớm, như việc dạy bò, dạy đi, dạy ăn, dạy nói, đây là
văn hóa. Vũ trụ quan vừa được đề cập là cách xây dựng
quan điểm trả con người và thiên nhiên về với thực tại,
thực tế của những gì như đang là. Ðây là điểm triết
lý. Việt Nam không đặt nặng câu hỏi về nguồn gốc của
sự vật bởi vì Việt Nam chấp nhận một sự thật tương
quan vô cùng tận của thế giới, và bởi vì không thể hỏi
như vậy: Nếu vũ trụ là thật, thì sự thật là chính nó
rồi, không phải hỏi về nguồn gốc của nó, nếu vũ trụ
là không thật, thì không thật là không có gốc, và câu hỏi
về nguồn gốc cũng thành không hợp lý hợp tình.
Triết
lý Việt Nam là thế, là duy thực tại và duy con người, con
người là con người của thực tại, và thực tại là thực
tại của con người.
Bảo
Việt Nam không có triết lý hay triết lý mơ hồ thì quả thật
khó hiểu!
Từ
triết lý chiếc nôi và triết lý quanh đèn ấy đi vào ngôn
ngữ Việt Nam, văn học của giới trí thức, kiến thức, âm
nhạc, hội họa, điêu khắc và đi qua suốt dòng lịch sử
chúng ta sẽ nhận ra tư tưởng Việt Nam./.
Ghi
chú:
[1]
& [2]: Việt Nam văn học toàn thư, Hoàng Trọng Miên, Sống
Mới, Sài gòn, tr 341-343.
[3]:
Việt Nam văn học toàn thư, Hoàng Trọng Miên, Sống Mới, Sài
gòn, tr 61-67.
Cái
Nhìn
I.
Khái quát:
Nhìn
là cái gì rất quen thuộc với chúng ta, mà cũng rất là xa
lạ. Cái gần nhất lại là cái xa lạ nhất. Có lúc nó hiện
ra như một dòng thác lũ nhận chìm con người vào phiền não.
Có lúc nó khơi dậy những nét đẹp của cuộc sống, sự
thật và hạnh phúc. Nó trở nên bí mật dấu kín những bí
mật của cuộc đời. Nó gây kinh ngạc và chính nó là sự
kinh ngạc.
Thông
thường nhìn là mắt nhìn với sự có mặt của ý thức, hay
nói là tâm nhìn sự vật qua mắt. Tương tự, tâm nhìn sự
vật qua tai, mũi, lưỡi, thân và ý căn.
Nói
đến nhìn là nói đến nội dung của cái thấy và tác dụng
của cái thấy. Tác dụng này tác động đến người nhìn,
vật bị nhìn và lan rộng ra ngoài như một làn sóng. Hầu
như thế giới ta đang sống chỉ là hiện hữu của cái nhìn,
mà không phải là thế giới chính nó.
II.
Những cái nhìn quen thuộc:
Cái
nhìn chụp phủ lên sự vật những gì của nó, và nó mãi
mãi chỉ thấy sự vật bị chụp phủ, mà không phải là thấy
sự vật như thật. Chẳng hạn:
-
Chiều chiều ra đứng bờ ao
Trông
cá cá lặn, trông sao sao mờ
Buồn
trông con nhện giăng tơ
Nhện
ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai. -- (Ca dao)
Cái nhìn
ca dao này chở theo nó một tâm trạng trông chờ một đối
tượng có chiều vô vọng.
-
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Ngó
về quê mẹ ruột đau chín chiều. -- (Ca dao)
Cái nhìn
này thì chuyên chở một nổi niềm nhớ nhung...
- Nguyễn
Du qua truyện Kim Vân Kiều, nhìn xã hội Việt Nam ly loạn của
thế kỷ 18 với cái nhìn thông thái mà ngậm ngùi:
"Trải
qua một cuộc bể dâu
Những
điều trông thấy mà đau đớn lòng".
- Ôn
Như Hầu, với Cung Oán Ngâm Khúc, đã nhìn xã hội với tâm
trạng nghe trớ trêu, tức tưởi:
"Trải
vách quế gió vàng hiu hắt
Mãnh
vũ y lạnh ngắt như đồng
Oán
chi những khách tiêu phòng
Mà
xui phận bạc nằm trong má đào".
-Vạn
Hạnh Thiền sư (đời Lý) thì nhìn như thật cuộc đời là
vô thường, mỏng manh, với thái độ thanh thản, tự tại:
"Thân
như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn
mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm
vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh
suy như lộ thảo đầu phô"
Tạm
dịch:
Thân
như bóng chớp có rồi không
Cỏ
cây xuân tươi thu lại khô
Tùy
vận thịnh, suy lòng không sợ
Thịnh,
suy đầu cỏ hạt sương phô.
-Vua Trần
Nhân Tôn, Ðiều Ngự Giác Hoàng, đã thể nghiệm sâu xa giải
thoát giữa trần ai, cái nhìn trở nên rất tự nhiên và rất
thiền:
"Cư
trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ
tắc xan hề, khốn tắc miên
Gia
trung hữu bảo hưu tầm mịch
Ðối
cảnh vô tâm mạc vấn thiền".
Tạm
dịch:
"Sống
đời vui đạo cứ tùy duyên
Hể
đói thì ăn mệt nghỉ liền
Trong
nhà có ngọc đừng chạy kiếm
Vô
tâm đối cảnh hỏi chi thiền".
Mỗi
cái nhìn cuộc đời chuyên chở một nội dung khác nhau, tùy
theo điều kiện, khả năng và vị trí của người nhìn.
III.
Triết lý về Cái Nhìn:
Cái
nhìn không đơn thuần là một quá trình vật lý, mà là một
chuỗi những quá trình vật lý và tâm lý tiếp nối nhau: quá
trình vật lý à Nhận biết à nhận biết về sự nhận biết
ấy Ẩ
Trong
quá trình của tâm lý và vật lý ấy có xuất hiện những
tâm lý buồn, vui, ưa, ghétẨ
Carl
Jung, một nhà tâm phân học của thế kỷ 20, đã nói: "Bao
giờ cái nhìn của bạn cũng bị giới hạn bởi những gì
bạn đang có và đang là".
Quả
thật, trước cùng một sự vật, mỗi người có một cái
nhìn riêng và bị đóng khung trong điều kiện vật lý, tâm
lý, sinh lý, kiến thức, tập quán, thành kiến và trí tuệ
của mình. Văn hóa của thời đại cũng góp phần vào giới
hạn đó. Vì thế, trước cuộc đời, con người, và trước
vấn đề khổ đau, hạnh phúc, đã phát sinh nhiều cái nhìn
giới hạn, nghiêng lệch dẫn đến các triết thuyết, chủ
thuyếtẨ với những hệ lụy của chúng.
Vấn
đề cần bàn thảo là tra vấn cái nhìn, đánh giá thực chất
của nó, và sử dụng nó như thế nào?
IV.
Hệ lụy của cái nhìn - Giáo dục của cái nhìn:
Nếu
không nhận ra bản chất của cái nhìn, nếu không thấy tính
hư cấu và giả tạm của nó, con người sẽ rơi ngay vào các
hệ lụy, cạm bẩy của nó, và trở thành nạn nhân của chính
nó.
Kinh
nghiệm sống phát biểu rằng người khác phái không trói buộc
người nhìn, mà chính cái nhìn của người nhìn trói buột
họ, đưa đẩy đến tình trạng "ngồi tù trong đáy mắt"
ai.
Có
những cái nhìn gây thiện cảm, có những cái nhìn ác cảm,
có những cái nhìn khiến mình lúng túng và khiến người lúng
túng, có những cái nhìn khiến mình rối loạn phiền não và
khiến người bất an, cũng có những cái nhìn an ủi, khích
lệ, đầy lòng từ và trí tuệ...
Các
nhà tâm lý giáo dục từng trải ghi nhận rằng phần lớn
các rối loạn tâm lý của mỗi người là do cái nhìn sai lệch
của người ấy, mà không phải do tha nhân hay hoàn cảnh. Người
ta đã đánh mất 90% năng lượng đời sống do những rối
loạn ấy. Thật đáng suy gẫm .
Thế
nên, để sống vui mình, vui người, người ta phải biết nhìn,
phải học tập nhìn để tránh các hệ lụy phiền não của
nó. Cái nhìn, cách nhìn là một nghệ thuật sống cần được
truyền đạt cho tuổi trẻ trong học đường.
Trong
xã hội, cái nhìn của tập thể, của đa số trong tập thể,
cũng quyết định hưng, suy của xã hội. Tư duy, tự thân nó
là cái nhìn. Ðổi mới tư duy là đổi mới cái nhìn. Nói
ngược lại cũng thế.
Cái
nhìn tốt đòi hỏi có trình độ văn hóa, tri thức, tình thương
và trí tuệ của người nhìn. Nó phải được huấn luyện
và cần thời gian. Phật giáo đã nói rất nhiều về cái nhìn
và đã giới thiệu với đời con đường chuyển đổi cái
nhìn thành trí tuệ an vui giải thoát.
V.
Phật Giáo với Cái Nhìn:
1.
Cái nhìn duyên khởi, vô ngã:
Nếu
đêm cuối cùng dưới cội bồ đề, đức Phật không phát
hiện ra cái nhìn duyên khởi thì sự thật về Tứ đế, nhân
quả và duyên khởi của cuộc đời chưa được phát hiện,
và đạo Phật chưa có mặt ở đời. Vì thế cái nhìn duyên
khởi, vô ngã, là cái nhìn Phật giáo, cái nhìn giải thoát
con người ra khỏi hết thảy mọi khổ đau.
Con
người xưa nay chịu khổ đau vì tự giam hãm mình trong cái
nhìn hữu ngã, chấp trước mọi hiện hữu đều có tự ngã.
Do thấy hiện hữu có tự ngã mà lòng dấy khởi lên tham lam,
sân hận, tà kiến, sợ hãi, kiêu mạn, thị phi... làm nên
dòng cuồng lưu sanh tử, và con người tự nhận mình chìm
trong ấy. Sau ngày giác ngộ đạo vàng, đức Phật suốt 45
năm giáo hóa đã giới thiệu với đời cái nhìn duyên khởi,
vô ngã để vượt qua bộc lưu, dập tắt tất cả sầu, bi,
khổ, ưu, não. Con đường xây dựng cái nhìn này là đạo
đế, hay gọi là con đường thiền định Phật giáo.
2.
Pháp Cú Kinh:
"Hãy
nhìn như bọt nước
Hãy
nhìn như ảo cảnh
Hãy
nhìn đời như vậy
Thần
chết không bắt gặp" -- (Dhp, 170)
Do vì
biết hết thảy hiện hữu đều do nhân duyên sinh nên chúng
vô ngã, vô thường và dẫn tới khổ đau. Kinh Pháp Cú giới
thiệu một cách nhìn hiện hữu, thấy nó mỏng manh không thật
như bọt nước, như ảo cảnh. Thấy như vậy người nhìn
sẽ buông thả lòng tham, sân hận và tà kiến, khơi dậy tâm
giải thoát và tuệ giải thoát, vượt ra khỏi tầm tay của
sinh tử.
3.
Kinh Kim Cương Bát Nhã:
Tương
tự bài kệ trên, kinh Kim Cương, tư tưởng nền tảng của
Ðại thừa, dạy:
"Nhứt
thiết hữu vi pháp
Như
mộng huyễn, bào ảnh
Như
lộ diệc như điển
Ưng
tác như thị quán"
Dịch:
"Nên
khởi lên cái nhìn
Thấy
các pháp hữu vi
Là
như mộng, huyễn, bọt nước
Như
sương mai, như ánh chớp"
Cứ nuôi
dưỡng an trú trong cái nhìn đó thì dần dần tất cả các
ngã tưởng sẽ bị tiêu diệt, lòng tham ái và chấp ngã không
còn. Cái nhìn ấy sẽ đưa hành giả đến giải thoát sau cùng,
giáp mặt thật tướng và chân hạnh phúc.
4.
Kinh Pháp Hoa:
Kinh
Pháp Hoa thì chỉ cho người đời thấy duyên khởi, vô ngã
(thập như thị) ngộ và nhập sự thật như thật ấy.
Phẩm
Phổ Môn đã cụ thể giới thiệu sự tu tập cái nhìn giải
thoát:
"Chơn
quán, thanh tịnh quán
Quảng
đại trí huệ quán
Bi
quán cập từ quán
Thường
nguyện thường chiêm ngưỡng
Vô
cấu thanh tịnh quang
Huệ
nhật phá chư ám
Năng
phục tai phong hỏa
Phổ
minh chiếu thế gian
Bi
thể, giới lôi chấn
Từ
ý, diệu đại vân
Chú
cam lồ pháp vũ
Diệt
trừ phiền não diệm".
Việt
dịch:
Hãy
nhìn sự thật, hãy nhìn với cái nhìn trong sáng
Hãy
nhìn với trí tuệ rộng lớn
Hãy
nhìn với lòng từ, lòng bi
Trí
tuệ (ánh sáng) không cấu uế của cái nhìn ấy
Sẽ
như mặt trời phá tan các hôn ám (vô minh)
Làm
tiêu tan các tai nạn
Chiếu
sáng khắp thế gian
Lòng
bi như là sấm kéo lại
Tâm
từ như đám mây lớn (bủa ra)
Cho
xuống cơn mưa pháp
Dập
tắt lửa phiền não".
Huấn
luyện cái nhìn theo cách ấy, như phẩm kinh Phổ Môn dạy,
thì người đời sẽ nhận ra cái nhìn như một phép lạ tạo
thành cơn mưa pháp từ tâm mình và dập tắt hết thảy phiền
não, khổ đau từ tâm mình.
Ðó
là nghệ thuật nhìn rất từ bi và trí tuệ, hay gọi là nghệ
thuật nhìn của giải thoát, của Phật giáo.
Mỗi
bộ kinh đại thừa khác tựu trung cũng giới thiệu một nghệ
thuật nhìn rất đạo, rất vị tha và rất giải thoát.
5.
Tứ Thánh Ðế:
Giáo
lý Tứ Thánh đế là giáo lý nền tảng của các bộ phái
Phật giáo đã giới thiệu, ngoài nội dung giáo lý, một phương
pháp nhìn sự thật của các hiện hữu:
a)
Các hiện hữu vốn là không thật, dẫn đến khổ đau
b)
Nguyên nhân của sự thật khổ đau là lòng tham ái
c)
Dập tắt nguyên nhân của khổ đau thì khổ đau diệt
d)
Con đường dập tắt nguyên nhân khổ đau ấy.
Hay nói
khác đi:
Hãy
nhìn thấy rõ sự sinh khởi của các hiện hữu, sự tồn tại
của nó, khía cạnh nguy hiểm của nó và con đường đi ra
khỏi trói buộc của nó.
Cái
nhìn ấy cần được thực hiện lập lại nhiều lần cho đến
kết quả giải thoát.
VI.
Cái nhìn Thiền định Phật giáo:
Tứ
niệm xứ là pháp môn thiền định của Phật giáo, cơ sở
để thực hiện viên mãn 37 phẩm trợ đạo. Ðó là phần
giới thiệu công phu huấn luyện cái nhìn.
Niệm
là sự tập trung sự chú ý vào cái nhìn theo dõi một trong
bốn đối tượng: hơi thở, các cảm thọ, tâm lý, và các
đối tượng của nhận thức (các giáo lý giải thoát như
3 pháp ấn, 5 uẩn)
Ðại
để có thể giới thiệu công phu huấn luyện này qua 7 bước
đi chính:
1.
Bước đi làm ổn định các hành động của thân, lời và
hơi thở (có nghĩa là thanh tịnh giới)
2.
Bước đi làm lắng tỉnh 5 thứ ngăn che tâm (trạo cử, hôn
trầm, dục, sân, nghi) và các tạp tưởng khác, thế nào để
cái nhìn dán chặt vào đối tượng được theo dõi (gọi là
bước đi thanh tịnh tâm)
3.
Bước đi thấy rõ, hiện rõ ràng và đúng đối tượng theo
dõi: đó là một chuỗi các quá trình vật lý và tâm lý do
nhân duyên sinh, chúng rỗng không tự ngã, và không có mặt
cái ta ở đó hay ở nơi nào cả. Con người và thế giới
chỉ là những quá trình vật lý và tâm lý ấy. Ðây là bước
đi thanh tịnh kiến (thanh tịnh cái thấy)
4.
Tiếp tục bước đi thứ ba với suy diễn rộng hơn lan ra mọi
hiện hữu và thấy rõ tất cả là duyên sinh, vô ngã; tại
đây một nguồn hạnh phúc vô biên tuôn trào ra từ cái nhìn
và cái thấy ấy. Ðây là bước đi qua khỏi các nghi ngờ.
5.
Nhưng tại đây, cái nhìn tỉnh giác, trí tuệ cần được
bám trụ để nhận rõ chính cái nguồn hạnh phúc đang tuôn
trào ra ấy là chướng ngại cho công phu phát triển cái nhìn
trí tuệ kia, và liền giữ tâm an tịnh tiếp tục huấn luyện
cái nhìn trên. Ðay là bước đi thứ 5 gọi là thấy cái gì
là đạo, cái gì không phải đạo.
6.
Tiếp tục công phu huấn luyện cái nhìn theo hướng tiến triển
ấy, mọi hiện hữu sẽ tan biến tự ngã ngay trước cái nhìn
của ta đến nổi ta có cảm giác hầu như tất cả không còn
hiện hữu nữa. Cứ tiếp tục nhìn rồi dần dần các hiện
hữu sẽ hiện rõ trở lại với sự thật duyên sinh của nó.
Hành giả tại đây sẽ có kinh nghiệm loại bỏ các sợi dây
tâm lý trói buột trí tuệ giải thoát (loại bỏ các kiết
sử) lần lượt đi vào kết quả trí tuệ giải thoát của
các bậc Thánh.
Ðây
là bước đi thấy cái đạo, cái quả.
7.
Tiếp tục an trú trong công phu nhìn kia cho đến kết quả thấy
và biết hoàn toàn thanh tịnh, ổn định, hành giả huấn luyện
nhuần nhuyển các sức mạnh tâm lý giải thoát (5 căn, 5 lực)
cho đến quả vị A-la-hán, chặt đức hoàn toàn các yếu tố
tâm lý đưa vào sinh tử, phiền não, khổ đau.
Cái
nhìn được tu tập ấy gọi là cái nhìn trí tuệ giải thoát,
tháo gỡ các xiềng xích tâm lý của họ. Bây giờ mọi hiện
hữu đã rõ ràng như thật. Cái nhìn đầy dục vọng và ngã
tính với tất cả bí mật ma quái của nó và cuộc đời bi
dập tắt một lúc.
Bí
mật của hạnh phúc không phải là ở trong tay một đấng
quyền năng nào, cũng không phải ở ngoại giới, mà ở trong
chính ta, trong chính cái nhìn của ta. Sự thật và hạnh phúc
được gặt hái ở đây quả thật chẳng có mấy hạt, chẳng
có gì cả, mà thật là tất cả vậy.
Vấn
đề sáng tạo trong
lãnh
vực giáo dục và tôn giáo
Một
trong những vấn đề giáo dục đặc biệt có ý nghĩa đối
với các nhà giáo dục đương thời là vấn đề sáng tạo
và tinh thần sáng tạo của sinh viên đại học.
Tiểu
luận ngắn này sẽ đề cập giới hạn đến một số vấn
đề sáng tạo trong lãnh vực giáo dục. Ðể có nhiều kết
quả khảo sát về sáng tạo hầu chúng ta dễ có một nhận
định rõ ràng vấn đề, người viết chú ý nhiều đến phần
trưng dẫn.
I.-
Ðịnh nghĩa về sáng tạo qua các cuộc khảo sát giáo dục:
- Guiford
(1950) đã phân biệt giữa tính cách độc đáo và tính cách
sáng tạo dựa vào những cuộc khảo sát, phân tích của ông:
"Ðộc đáo là một trong những nét chính của sáng tạo. Sáng
tạo là cái gì tổng quát gồm có không những độc đáo,
mà còn linh động, lưu loát, và các đặc tính khích động
hay thay đổi".
- "Một
sáng tác gọi là sáng tạo nếu nó là mới mẻ hay tân kỳ
đối với cá nhân sáng tạo, nếu nó là sáng tạo phẩm của
riêng người đó, nếu nó phong phú đối với người đó hơn
là được quy định bởi người khác. Nó không cần hữu ích
hay độc đáo. Sự thừa nhận có tính cách xã hội và sự
gắn liền với văn hóa của nó có thể là số không, nhưng
nếu nó là kinh nghiệm cá nhân độc đáo, nó là sáng tạo."
- "Ðể
được gọi là sáng tạo, một công trình phải đem lại một
cái gì tân kỳ và hữu ích cho cá nhân cũng như cho văn hóa".
Krishnamurti
và Suzuki lại có những định nghĩa khác hơn.
Một
trong những bài viết về vấn đề tự tri (self-awareness), J.
Krishnamurti bảo: "... chỉ có thể có vấn đề sáng tạo trong
vấn đề tự tri. Hầu hết chúng ta không phải sáng tạo,
chúng ta là những cái máy lập lại, những cái máy hát ghi,
chơi đi chơi lại vài bài hát kinh nghiệm, vài kết luận,
và vài ký ức của riêng chúng ta hay của người khác".
Và:
"Người
ta không nên lầm lẫn giữa khả năng và sáng tạo, khả năng
không phải là sáng tạo. Phải chăng sáng tạo là một trạng
thái hoàn toàn khác ? Nó là một trạng thái trong đó vắng
mặt cái bản ngã của con người, trong đó trí não không còn
là quy điểm của kinh nghiệm, của những tham vọng, của những
dong ruổi, của những ham muốn của chúng ta. Sáng tạo không
phải là trạng thái liên tục, nó ở từng lúc hiện tại,
nó ở trong lúc mà cái "tôi" và cái "của tôi" vắng mặt,
mà suy tư không có tập trung vào bất cứ một kinh nghiệm,
tham vọng, kết quả, mục đích, động lực, đặc biệt nào".
- "Nếu
chúng ta hiểu mình như mình đang là qua từng lúc mà không
có một quá trình tích lũy nào, rồi chúng ta sẽ thấy bằng
cách nào có sự vắng lặng không phải của tưởng tượng,
cũng không phải của đào luyện, và chỉ có sáng tạo trong
trạng thái vắng lặng đó."
Trong
chương sách Creative Discontent, Krishnamurti viết: "Sáng
tạo có gốc rễ trong sáng kiến mà nó hiện hữu chỉ khi
có sự không bằng lòng sâu xa".
Suzuki
trong một bài bàn về Ðông và Tây (East and West) thì
viết:
"Tuy
nhiên, bây giờ, trong việc hiểu biết cánh hoa, tôi hiểu tôi
như hiểu biết cánh hoa. Tôi gọi cái con đường vào thực
tại nầy là con đường Thiền (zen), con đường đứng trước
khoa học siêu khoa học, và ngay cả chống khoa học. Con đường
thấy biết thực tại nầy có thể gọi là sáng tạo".
Ba
định nghĩa về ba sáng tạo đầu là ba định nghĩa về ba
khía cạnh khác nhau của sáng tạo, kết quả của các công
trình khảo sát về sáng tạo. Mỗi định nghĩa nói lên một
cái gì liên hệ đến những tính chất của một quá trình,
của sản phẩm sáng tạo, hay của con người sáng tạo, mà
không phải là của sáng tạo chính nó (của chính sáng tạo).
Những tính chất ấy chỉ là những dấu hiệu cho biết sự
có mặt của sáng tạo. Chúng ta thật dễ rơi vào mâu thuẩn
hay nghịch lý trong nỗ lực định nghĩa sáng tạo. Ðịnh nghĩa
có nghĩa là gán cho sáng tạo một ý nghĩa, một tính chất
nào đó và xem sáng tạo như là một thực thể bất biến,
trong khi sáng tạo là một dòng trôi chảy liên miên. Thật
khó có một định nghĩa chân xác về sáng tạo.
Suzuki
và Krishnamurti thì quả thực đã định nghĩa sáng tạo một
cách sáng tạo. Như là một dòng sáng tạo đang tuôn chảy
ra trong định nghĩa của họ. Hệt như thi nhân Hàn Mặc Tử
đã nói về "Nàng thơ"một cách rất là sáng tạo rằng: Nàng
thơ đến bất chợt như tiếng hét của một đứa trẻ thốt
ra khi thình lình bị một con roi quất mạnh vào mông. Quả
thực bây giờ ý thức chưa kịp can thiệp vào việc thốt
ra tiếng hét !
II.
Sự khởi sinh của sáng tạo:
Vấn
đề ở đây là tìm hiểu, trong điều kiện có thể, tại
sao có sáng tạo ? Sáng tạo bung vỡ như thế nào ? Có sự
liên hệ nào giữa sáng tạo với suy tư ? Giữa sáng tạo với
thông minh ? Giữa sáng tạo và con tim ?
Qua
các công trình khảo sát thực nghiệm về sáng tạo của các
nhà giáo dục, sáng tạo có thể được xem như là khả năng
bên trong con người có thể cung cấp cho con người nhiều tư
tưởng sáng tạo độc đáo và nhiều ý nghĩa. Mỗi người
có lối suy tư và cảm xúc khác nhau nên nguồn sáng tạo cũng
thường được phát hiện ra khác nhau. Thật khó mà nói tại
sao có sáng tạo, khi mà chính ta không phải là người của
sáng tạo, chính người viết không phải là người sáng tạo
! Tuy nhiên, trong một giới hạn nào đó chúng ta có thể phát
biểu về "điều kiện đủ" để sáng tạo xuất hiện. Sáng
tạo có mặt đòi hỏi ít nhất hai điều kiện của thực
tại:
1.-
Mọi hiện hữu (tâm lý và vật lý) phải là không có tính
tự ngã (nó là selfless). Nếu mọi hiện hữu có tự ngã thì
chúng ta sẽ mãi mãi là tự ngã ấy, sẽ không có sự phát
hiện tân kỳ nào, và sẽ không bao giờ có sáng tạo. Ðây
cũng là niềm tin của giáo dục mở trường dạy đủ các
môn học và dạy cả những người chậm trí.
2.-
Sáng tạo tự thân nó là không có tính tự ngã (không có selfless).
Nếu sáng tạo có ngã tính thì từ khi nó được phát hiện
nó sẽ mãi mãi là thế, sẽ không có các phát hiện sáng tạo
khác, bởi tự thân sáng tạo không đổi mới tì tự nó sẽ
không thể thấy được khía cạnh mới mẽ, tân kỳ của các
hiện hữu khác.
-Theo
kết quả khảo sát của Weitheimer thì:
"Toàn
bộ quá trình của sáng tạo là một quá trình liên tục như
suy tư"
-Theo
Arieti: "Freud đã góp phần vào thiên khảo cứu về sáng tạo,
về sự xáx định lại tính quan trọng về những quá trình
vô thức"
-Theo
Freud: "Sáng tạo có gốc từ những mâu thuẩn phát xuất từ
những động lực sinh lý nền tảng, và gồm những nỗ lực
giải quyết những mâu thuẩn ấy".
Và:
"Vai trò dục tính trong vấn đề sáng tạo luôn luôn nổi bật"
Như
trên, mỗi nhà giáo dục khảo sát về sáng tạo có một cái
nhìn khác nhau về sự sinh khởi của nguồn sáng tạo. Chúng
ta không lạ gì về các cái nhìn khác nhau ấy, bởi vì nguồn
sáng tạo là vô ngã tính nên nó đã hiện ra dưới đất nhiều
dạng ngã tính khác nhau.
Freud
thì luôn luôn nhìn mọi hoạt động của con người dưới
sự chi phối của dục tính (libido). Nhưng dục tính không phải
là động cơ duy nhất làm sinh khởi sáng tạo. Trước mắt
chúng ta, không có một sự vật nào được sinh ra từ chỉ
một nguyên nhân, thì sáng tạo cũng không thể sinh khởi vì
chỉ
một nhân tố dục tính. Freud đã lầm ! Freud đã nhận lầm
giữa mầm nhân chính của sáng tạo và các trợ duyên của
sáng tạo. Ví như tiếng ồn chỉ là trợ duyên đánh thức
tôi dậy ra khỏi giấc ngủ, mà tiếng ồn không thể là chính
sự thức tỉnh của tâm thức tôi. Ở đây, dục tính chỉ
là một yếu tố, nhưng tiếng ồn, đánh thức nguồn sáng
tạo, mà không phải là gốc của sáng tạo.
Weitheimer
chỉ khảo sát sáng tạo bên ngoài hiện tượng của nó. Sáng
tạo phải được nhìn sâu hơn nữa, sâu đến tận đầu nguồn
của nó, đến tận bản chất của nó. Suzuki, Krishnamurti và
Hàn Mặc Tử đã có những phát biểu theo hướng nhìn nầy.
Cũng
có nhiều phát biểu khác, gồm cả Silvano Arieti, liên hệ sáng
tạo với lòng tin khó cắt nghĩa của tôn giáo. Kinh nghiệm
và lòng tin tôn giáo vào một chiều hướng mới của thực
tại, khác với chiều hướng thực tại đang cảm nhận, có
thể là một nhân tố khác đánh thức nguồn sáng tạo.
Hãy
thử nhìn ngôn ngữ của một số tôn giáo như là ngôn ngữ
biểu tượng, và phương trời cảm thức của một số nhà
tôn giáo lớn là một phương trời mới mẻ của tâm lý, hay
gọi là phương trời sáng tạo, chúng ta hy vọng sẽ phát hiện
ra một số điểm về tông tích của sáng tạo như là một
nguồn sáng vô tận của tâm lý ẩn khuất ở đằng sau ý
thức.
Phật
giáo là một tôn giáo trí tuệ, xem con người có điều kiện
tối thắng để khai mở nguồn khả năng vô tận của tâm
lý mình, giải phóng nguồn khả năng tâm lý ấy ra khỏi các
nhân tố ngăn che. Sự giải phóng ấy có thể thực hiện thành
công ngay tại đời nầy. Nguồn khả năng ấy Phật giáo gọi
là Phật tính, hay khả năng giác ngộ và lộ trình giải phóng
khả năng ấy nhà Phật gọi là đạo đế của Tứ Thánh đế
hay gọi là con đường thực hành thiền định Phật giáo (nói
đủ là con đường thực hiện giới, định, tuệ).Những lời
dạy phổ biến và tiêu biểu của đức Phật như là:
-"Trong
tâm chúng ta có một đấng giác ngộ phát ra ánh sáng có năng
lực soi tỏ sáu cảm quan bên ngoài và làm trong sạch chúng"
[1]
-"Ngươi
hãy làm công việc của người chỉ dạy con đường".
-"Ngươi
chính là nơi an trú của ngươi không có một nơi ẩn trú nào
khác".
Ðấy
là con đường tự trách nhiệm bản thân, tự tính tự tu tự
tri, tự chấp nhận, độc lập và hướng nội của Phật giáo
gồm đủ các đặc tính về tâm lý của một nhà sáng tạo
mà các nhà giáo dục đã khám phá.
Khi
những người Pharasees đến với đức Jesus Christ (New Testament)
có đoạn Thánh kinh chép:
-"Người
ta đem trẻ con đến trước Ngài và để Ngài rờ chúng môn
đồ bèn rầy họ, nhưng Jesus Christ thấy vậy bèn nổi giận
mà phán với họ rằng, hãy để trẻ con đến cùng ta, đừng
cấm chúng nó; vì nước của đức chúa trời là của những
ai giống như chúng nó. Thật thế, ta nói cùng các ngươi, bất
cứ ai nếu không đón nhận nước chúa như đứa trẻ nhỏ,
sẽ không vào được nước chúa".
Và:
"Và khi những người Pharasees hỏi Jesus khi nào thì nước chúa
sẽ đến, Ngài dạy, nước chúa sẽ không đến dưới sự
quan sát nào. Người ta sẽ không nói được đây này hay đó
kìa, bởi vì, này nước chúa ở trong ngươi".
Qua
các lời lẽ trên của New Testament, thì nước chúa là biểu
tượng chỉ nguồn sáng vô tận và khả năng vô tận có mặt
trong mỗi người. Nguồn sáng đó và khả năng đó không có
mặt trong kiến thức của cái thấy biết liên hệ giữa chủ
thể và đối tượng, nên nó không thể được chỉ trỏ đây
này hay đó kia. Nó phải được đón nhận dưới một cái
nhìn trí tuệ có nét nhìn như một nét nhìn của một đứa
trẻ, cái nhìn trong sáng không bị che khuất bởi kiến thức
và dục vọng.
Trong
tiếng Anh, nguồn sáng tạo được gọi là Creation, và Thượng
đế thì được gọi là Creator, phải chăn có sự ám chỉ
nào đó xem Creator là nguồn sáng tạo, là cội nguồn sáng
tạo, mà không phải là đấng hữu ngã theo nghĩa một "nhân
vật" (Personage) trong ngôn ngữ này?
Khổng
Tử thì bảo:
"Ðại
học chi đạo tại minh minh đức..."
Con
đường đại học của Khổng Tử, theo quan niệm của Khổng
Tử, là làm sáng cái đức sáng vốn có trong mỗi người.
Và việc làm sáng cái đức sáng ấy là con đường tự tu
tập, huấn luyện bản thân, theo sách đại học: "Tự thiên
tử dĩ chí ư thứ dân nhất thị giai dĩ tu thân vi bản" (từ
vua đến dân đều chỉ lấy việc tu sửa thân mình làm gốc).
Việc tu tập bản thân, theo sách đại học, căn bản vẫn
là "thành ý, chính tâm" vượt ra khỏi nhân dục.
Cái
"minh đức" ấy đã được gợi cho chúng ta cái nguồn sáng,
hay nguồn sáng tạo, bên trong mỗi người. Và, việc giải
phóng nguồn sáng ấy hay gọi theo ngôn từ của Socrate là "hộ
sinh trí não" phải là công phu của "thành ý, chính tâm". Ðay
cũng là vấn đề mà các nhà giáo dục hiện đại cần quan
tâm trong việc mở hướng giáo dục sáng tạo đầu tư cho
một học đường mới mẽ và tiên tiến.
Lão
Tử thì nói:
-"Thị
dĩ Thánh nhân, xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chi giáo" [2]
Và:
-"Thị
nhơn giả trí, tự tri giả minh, thắng nhơn giả hữu lực,
tự thắng giả cường" [3]
Thể
hiện vô vi của Thánh nhân (người rõ đạo) là đồng nghĩa
với chủ trương của Lão: "Vô dục, vô kỷ" (không bị trói
buộc bởi chấp có cái ta và lòng ham muốn cho cái ta). Làm
tất cả mọi việc với tinh thần vô dục và vô kỷ đó.
Con đường đi vào rõ đạo ấy cũng đặt căn bản ở việc:
"tự tri" và tự thắng các dục vọng vị kỷ trong mình.
Phải
chăng "đạo" của Lão Tử đề cập ám chỉ cùng nguồn sáng
trong tâm lý mỗi người ? Và phải chăng việc làm bung vỡ
nguồn sáng ấy là con đường quay trở về chính mình để
thấy rõ mình bằng cái tâm "vô dục, vô kỷ" ?
Ấn
giáo cũng đề cập đến nguồn sáng tạo ấy với một lời
nói bóng bẩy mang nét tôn giáo của tín ngưỡng rằng:
"Hởi
các đại hiền triết, hãy tìm về bên trong, và thực hiện
tại chính tâm mình cơ sở vũ trụ mà Ngài kiến thiết" [4]
Phải
chăng lời nói nầy cũng thấp thoáng bóng hình của nguồn
khả năng vô tận của tâm lý con người mà đã được nhân
loại gọi bằng những tên gọi khác nhau ?
Phải
chăng
kinh nghiệm sống của đời sống tôn giáo gợi ý cho các nhà
giáo dục một phương cách để giải phóng nguồn sáng tạo
đầu tư vào học đường ngày nay ?
III.
Sáng tạo và liên hệ giữa sáng tạo với suy tư và thông
minh:
Khảo
sát về mối liên hệ giữa sáng tạo và thông minh, Guilford
(1950) kết luận:
"Sáng
tạo được định nghĩa như có liên hệ đến tính cách hữu
ích của xã hội, và nó hợp lý rằng hầu hết những tư
tuởng sáng tạo hữu ích đều như là có những người thông
minh nhất. Thông minh cao độ không bảo đảm có sáng tạo,
nhưng kém thông minh hẳn là chống trái với sáng tạo".
Theo
kết quả khảo sát 7.648 em nam và nữ học sinh ở tuổi 15
của "Project Talext" (Hoa Kỳ) thì:
"Một
loại sáng tạo có liên hệ nhiều với thông minh, nhưng có
vài loại sáng tạo độc lập với thông minh"
Theo
kết quả khảo sát các học sinh trung học ở cấp độ giỏi
hơn của Holland (1961), người ta đánh giá rằng thông minh có
rất ít liên hệ, hay không có liên hệ, với những kết quả
sáng tạo thuộc lãnh vực nghệ thuật và khoa học, kết quả
ghi nhận như sau:
Chỉ
số thông minh (IQ) trung bình của nhóm thông minh là 150, trong
khi chỉ số thông minh (IQ) trung bình của nhóm sáng tạo là
127"
Chúng
ta có thể thấy rằng, các văn, thi sĩ sáng tạo (không phải
mọi văn, thi sĩ đều có sáng tạo) thường có trí tưởng
tượng phong phú, linh hoạt, óc quán sát và tri giác nhạy bén,
họ thường làm việc nặng nề về cảm quan hơn là óc phân
tích của trí não, nên sáng tạo của họ có thể có liên
hệ hay độc lập với óc thông minh. Còn sáng tạo khoa học
thì không bung vỡ giữa một quá trình quan sát, phân tích và
tư duy của tri giác.
Chẳng
hạn như trường hợp Archimede trực nhận sức đẩy của nước,
Newton trực nhận sức hút của quả đất qua hình ảnh kích
động của quả táo rơi...
Một
số nhà khoa học bảo rằng các sáng tạo thuộc lãnh vực
khoa học, điển hình như trường hợp của Newton và Archimede,
là loại "quy nạp qua trực giác", "quy nạp qua trí tưởng tượng"
hay "quy nạp qua ức đoán".
Chúng
ta có thể đưa ra nhận xét rằng: "đó là cái thấy sự vật,
hay nguyên lý của sự vật, qua sáng tạo (tâm sáng tạo). Tâm
sáng tạo nầy bung vỡ sau một quá trình làm việc của ý
thức (tư duy).
Người
ta có thể đặt thành nghi vấn rằng: tại sao những người
khác, kể cả Archimede trước khi có sáng tạo, đã bao lần
dầm mình trong nước mà không trực nhận ra sức đẩy của
nước ? cũng thế, tại sao những người khác, gồm Newton trước
lần phát hiện, bao nhiêu lần trước đó thấy táo rơi lại
không phát hiện ra có sức hút của trái đất ?
Chúng
ta có thể, từ kinh nghiệm bản thân trong những lần bắt
gặp một số hình ảnh nằm sâu trong tiềm thức, hình dung
ra rằng: có một vài chiếc lá vàng chìm dưới lòng một lu
nước. Sau một hồi với cánh tay ngắn của mình quấy tròn
trong lu nước tạo nên sức xoáy để làm vờn mấy chiếc
lá lên mặt nước, nhưng vô hiệu. Ðến lúc thấm mỏi ta
ngưng tay quấy nước và ngồi nghỉ. Bấy giờ giữa sự yên
lặng nghĩ ngơi của mình, chiếc lá vàng vờn lên mặt nước
của lu.
Dù
là tay không còn quấy nước, nhưng đã tạo ra một sức quay
vòng xoáy sâu vào đáy lu, sức quấy ấy tiếp tục hoạt động
giữa lúc ta nghĩ ngơi, và kéo chiếc lá vàng lên mặt nước
của lu. Cũng thế, con người sau nhiều ngày tháng tư duy, năng
lực tư duy ấy quấy sâu vào tiềm thức và có thể khơi ra
ngoài bề mặt ý thức một số các chiếc lá vàng của sáng
tạo. Thế có nghĩa là, bằng một nhân duyên nào trước đó,
sáng tạo có liên hệ với hoạt động của ý thức, hay tư
duy. Sáng tạo cần được sửa soạn bởi một quá trình tư
duy được huấn luyện như là các khả năng chuyên môn. Ngay
cả khi nguồn sáng tạo bung trào thì người sáng tạo cũng
cần có khả năng ghi nhận nó phiên dịch nó và phát huy nó.
IV.
Về những người sáng tạo:
1)
Về trẻ em sáng tạo:
Theo
kết quả khảo sát của các trẻ em sáng tạo của Torranu (1962)
thì có các dấu hiệu ghi nhận được như sau:
"Các
thầy giáo và các đồng nghiệp đều đồng ý rằng các trẻ
em có óc sáng tạo cao, đặc biệt các bé trai, thường có
những ý tưởng táo bạo và điên rồ. Việc làm của các
trẻ ấy được phân biệt bởi các sản phẩm của ý tưởng
"sống ngoài khuôn khổ".
2)
Thiếu niên sáng tạo:
"Chúng
nhấn mạnh ý nghĩa hài hước, khả tính tự diễn đạt, độc
lập, chúng có khuynh hướng nổi loạn và phiêu lưu".
3)
Người lớn sáng tạo:
a/
Các nhà khoa học: Theo Gough (1961), "Họ thường được ghi nhận
ở cấp độ thông minh cao, nhạy cảm, có khả năng tư duy
độc lập, dấn thân hướng nội, tự tín, ý tưởng phong
phú, và sống hơi bất thường"
b/
Văn, Thi sĩ, tiểu thuyết gia, kịch gia: "Những người này
nổi tiếng về óc tưởng tượng và tri giác thẩm mỹ, nỗ
lực hướng về lạc thú tư tưởng đặc biệt, ký ức mãnh
liệt, và quan sát nhạy bén".
Theo
Cox (1932), trong công cuộc khảo sát 200 người được ghi nhận
là thần đồng thì cho biết:
"Những
giá trị đạo đức cá nhân được ghi nhận cũng tốt đẹp
như những giá trị của họ".
Me-kinon
thì bảo: "Những cá nhân sáng tạo thì ít chú ý đến các
chi tiết nhỏ nhặt hay những khía cạnh thực tiễn, cụ thể,
nhưng lưu tâm nhiều hơn đến những ý nghĩ, những lời nói
bóng bẩy những biểu tượng đáng giá của những sự vật
và tư tưởng".
Chúng
ta hẳn tại đây đã thấy hình như có một sự liên hệ khá
mật thiết giữa con người sáng tạo và tính tình biểu hiện
ngay thẳng tự nhiên của họ: họ tốt bụng, có cái gì đáng
mến dù hơi thất thường, họ thường gặp một số bất
hạnh gây ra bởi thái độ sống và tư duy của họ đầy cá
tính và độc đáo, và có khi bất mãn có tính cách sáng tạo
nữa.
Ở
trường học, thầy cô giáo thường ưa thích các học sinh
thông minh và dễ bảo, giữ kỷ luật hơn là các cá nhân sáng
tạo.
Ngoài
xã hội họ thường bị ngộ nhận, và có khi bị cư xử bạc,
bởi tánh nết đặc biệt, sáng tạo và có khi khá ngông nữa.
Họ dễ rơi vào tình cảm cô đơn, lẽ loi vì thiếu sự chia
xẻ cách tư duy của họ. Tình cảm này có thể cản trở cho
việc khai triển khả năng sáng tạo của họ.
V.
Giáo dục và việc phát triển óc sáng tạo:
Vấn
đề quan tâm nhất của các nhà giáo dục dân tộc và nhân
bản là làm thế nào để phát hiện sớm các khả năng sáng
tạo và nuôi dưỡng tạo điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển các khả năng ấy ?
Theo
Rogers, nhà giáo dục lớn của Hoa kỳ trong ba thập niên trước
đây (từ 1959) thì có hai điều kiện thích ứng cho những
hoạt động sáng tạo là: "sự an toàn tâm lý", và "sự tư
do tâm lý". Rogers xem sự tự do tâm lý chỉ là hậu quả của
sự an toàn tâm lý và xếp các đặt tính của một người
cảm thấy an toàn tâm lý như sau:
1).
Họ có thể chấp nhận tự thân như tự thân họ đang là,
mà không bị chế nhạo hay chê cười.
2).
Ít nhất họ có thể nói lên một cách biểu tượng những
xúc động và những tư duy của họ mà không bị buột phải
đè nén, bóp méo hay che dấu chúng.
3).
Họ có thể nắm giữ các tri giác, khái niệm và lời lẽ
của họ mà không cảm thấy tội lỗi.
4).
Họ xem những gì không được biết đến, hay bí mật, như
là một thử thách nghiêm trọng cần khám phá, hoặc như một
trò chơi cần phải chơi.
Theo
đó, các tập quán biểu quyết các ý kiến theo nguyên tắc
đa số của một số tập thể thường dễ gây cho họ một
cảm giác bối rối. Họ thì thường muốn bẻ gãy cái lề
thói tư duy cũ, giữa khi đa số của tập thể thì có khuynh
hướng bảo thủ. Ðây là một sự thật xã hội hầu như
khó tránh, và vì vậy ý kiến bảo thủ của đa số trong tập
thể thường là nhân tố vẽ nên "phận bạc" của người
"tài hoa".
Chỉ
còn trông chờ vào học đường của nền giáo dục tiên tiến
và quý trọng sáng tạo sớm có các kỷ thuật chuyên môn phát
hiện các khả năng sáng tạo, mà hầu như ở đâu và ở thời
đại nào, lứa tuổi nào cũng có mặt, và tạo môi trường
riêng cho các khả năng ấy phát triển thích hợp. Ðặc biệt
phải có chủ trương giáo dục đề cao sáng tạo.
Gia
đình cũng có ảnh hưởng và trách nhiệm đối với việc
giáo dục cá nhân sáng tạo.
John
Curtis Gowan, trong cuốn Educating the Ablest đã đề nghị 25 điều
mà các bậc cha mẹ của các trẻ em có dấu hiệu sáng tạo
cần quan tâm trong việc giáo dục trẻ. Ðại để có 5 nét
tổng quát cần được thực hiện:
- Giúp
trẻ nuôi dưỡng các tình cảm tốt đẹp.
- Giúp
trẻ phát triển tư duy độc lập.
- Giúp
trẻ phát triển thính giác và thị giác (như chơi họa và
âm nhạc)
- Giúp
trẻ biết các vấn đề của người lớn như vấn đề chết,
bệnh, tài chánh, chiến tranh, vấn đề phái tính...
- Tỏ
thái độ kính trọng trẻ và thường khích lệ trẻ.
Người
viết thiết nghĩ học đường nên nghiên cứu đến cản lãnh
vực giáo dục từ bào thai, mà không phải chỉ "dạy con từ
thuở còn thơ", tình cảm và thức ăn của bà mẹ sẽ có những
ảnh hưởng nào đến vấn đề phát triển trí tuệ và tình
cảm về sau. Ở mặt này, các nhà giáo dục cần đến kết
quả khảo sát của các chuyên viên y học.
Một
cách thật tổng quát, một đường hướng giáo dục quan tâm
nhiều đến tinh thần giáo dục sáng tạo là một đường
hướng giáo dục tốt, nhân bản. Nhấn mạnh tinh thần sáng
tạo là nhấn mạnh tinh thần tự tri, tự trách nhiệm, tự
chủ, tự tính, tự hướng dẫn tinh thần độc lập..., những
tinh thần giáo dục con người trở về chính mình. Ðó là
một trong hai mục tiêu giáo dục muôn thuở của học đường:
- Giáo
dục con người xã hội, đáp ứng các mục tiêu tức thời
và lâu dài của xã hội.
- Giáo
dục con người chính nó.
Một
đường hướng giáo dục như vậy gọi là đường hướng
đề cao sáng tạo, biết vận dụng tất cả túi khôn của
nhân loại trong đó con đường sống, huấn luyện tâm lý và
tình thương của tôn giáo là một, và giáo dục gia đình là
một vận dụng khác nữa kết thành một khối không rời nhau./.
(1974)
Ghi
chú:
[1]
Hamphreys, Christmas. The Wisdom of Buddhism. New York: Harper Colophon
Books, 1970, p. 37
[2]
& [3] Ðạo đức kinh, cuốn I, bản dịch Nguyễn Duy Cần,
Khai trí, 1968, tr 28 và 174
[4]
Lịch sử Triết học Ðông phương, tập III, Nguyễn Ðăng Thục.
Chữ
Hiếu và Tình người
Hằng
năm, cứ đến ngày Vu Lan, ngày báo hiếu của toàn thể Phật
tử Việt Nam, quý Phật tử tại Thiền Viện Vạn Hạnh lại
được nghe chư Tăng nói chuyện về chữ hiếu trong đạo Phật.
Năm nay có thêm sinh hoạt của Viện Nghiên cứu Phật học
Việt Nam. Viện đóng góp thêm vào màu sắc nghiên cứu qua
bài nói chuyện về tình người và đạo đức con người trong
ngày lễ truyền thống này, ngày của sự tỏa sáng hạnh đức
giải thoát của chư Tăng và Phật tử sau một mùa hạ tu tập
trí tuệ và từ bi vô ngã.
Chúng
tôi gọi ngày hiếu là ngày đẹp nhất của nghĩa sống, tình
người. Bởi vì ngày hôm nay con tim nói lên tiếng nói đích
thực của nó, tiếng nói mà trần gian mong tìm. Thật là ý
nghĩa, mùa giải thoát của chư Tăng lại kết thúc với sự
mở đầu của tiếng nói ấy. Bước đầu tiên đi ra khỏi
phiền não lại là bước đầu tiên đi vào tình người và
nghĩa sống thiêng liêng của con người.
Lịch
sử dân tộc cho thấy Phật giáo đến Việt Nam đã gắn bó
hài hòa với dân tộc này. Suốt gần 2000 năm lịch sử, Phật
giáo Việt Nam đã đóng góp con tim và khối óc của mình vào
sự nghiệp dân tộc và văn hóa dân tộc. Ðó là tiếng nói
của từ bi vô ngã, vị tha và con đường sống Giới, Ðịnh,
Tuệ.
Hôm
nay chúng tôi chỉ nói lên tiếng nói của con tim Phật giáo.
Như
con tim nắm giữ sinh mệnh một cơ thể, thì tình người nắm
giữ sinh mệnh của nghĩa sống, là linh hồn của văn hóa nhân
loại. Có thể nào có một nền văn hóa con người mà không
ca ngợi tình người mở đầu là tình mẹ con, cha con?
Ở
nước ta, hai dòng văn học dân gian và trí thức đều nhiệt
tình ca ngợi hiếu đức. Người mẹ đã nuôi dưỡng, ấp
ủ con từ đầu nguồn cuộc sống bằng cả tinh thần và thể
chất của mình với sự chia xẽ trách nhiệm ấn cần dạy
dỗ của người cha. Người mẹ đã chuyển sang cho con những
dòng sửa ngọt ngào với trọn tình yêu thương: đã mớm cháo,
cơm với tâm tư trìu mến cho con từng cử chỉ ấu yếm, từng
ánh mắt khích lệ nâng đỡ, đã dìu dắt từng bước đi,
từng ngày đi học cho đến khi không lớn. Hầu như toàn bộ
hành trang vào đời của người con là thuộc về bố mẹ.
Tình sâu nghĩa nặng ấy đã được nhân dân ta cảm kích sâu
xa và đã hát thành những lời ca dao của truyền thống dân
tộc "uống nước nhớ nguồn", như là:
-
Công cha như núi Thái sơn,
Nghĩa
mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một
lòng thờ mẹ kính cha,
Cho
tròn chữ hiếu mới là đạo con.
-
Ðội ơn chín chữ cù lao,
Sinh
thành kể mấy non cao cho vừa.
-
Ân hoài thai to như bể,
Công
dưỡng dục lớn tợ non.
-
Nhớ ơn chín chữ cù lao
Ba
năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình.
-
Công cha nghĩa mẹ cao dày,
Cưu
mang trứng nước những ngày còn thơ.
Nuôi
con khó nhọc đến giờ,
Trưởng
thành con phải biết thờ song thân.
-
Nuôi
con chẳng quản chi thân,
Bên
ướt mẹ nằm bên ráo con lăn.
Biết
lấy chi đền nghĩa khó khăn,
Lên
non xắn đá xây lăng phụng thờ.
-
Công cha nghĩa mẹ cao vời,
Nhọc
nhằn chẳng quản suốt đời vì ta.
Nên
người ta phải xót xa,
Ðáp
đền nghĩa nặng như là trời cao.
Ðó là
gia tài tình người mà bố mẹ đã trao cho người con từ đầu
cuộc sống. Các ý thức về các mối liên hệ tình người
khác đều nẩy mầm từ tình mẫu tử và phụ tử. Các ý
thức về trách nhiệm, bổn phận, lương tâm, vị tha và công
bằng hẳn là được đánh thức dậy từ thái độ biết ơn,
đáp đền các ân nghĩa của cuộc sống mà sự khởi đầu
là sự đáp đền ân nghĩa mẹ cha.
Lớn
lên, khi nhận thức và kinh nghiệm sống trưởng thành người
con nhận rõ ra tình thương cha mẹ không phải chỉ là ân nghĩa
lớn mà còn là lẽ sống của mình. Còn cha mẹ là hạnh phúc,
mồ côi cha mẹ là bất hạnh:
-
Con có cha như nhà có nóc,
Con
không cha như nòng nọc đứt đuôi.
-
Còn cha gót đỏ như son,
Một
mai cha thác gót con đen sì.
-
Còn cha còn mẹ thì hơn
Không
cha không mẹ như đờn đứt dây.
Vì ân
nghĩa mẹ cha là cao quý thiêng liêng. Vì tình thương của mẹ
cha là lẽ sống, nên sự đáp đền là thiêng liêng được
người con coi trọng. Nhân dân Việt Nam xem việc hiếu thảo
có giá trị ngang bằng với việc tu tập giải thoát đem lại
hạnh phúc cho bản thân:
-Tu
đâu cho bằng tu nhà,
Thờ
cha kính mẹ cũng là chân tu.
Hàng
trí thức dân tộc cũng đề cao truyền thống hiếu đạo.
Tiêu biểu như thi hào Nguyễn Du và nhà chí sĩ Nguyễn Trãi.
Thi hào Nguyễn Du đã đặt nàng Kiều trước một sự chọn
lựa nghĩa sống giữa lòng hiếu kính đối với mẹ cha và
cuộc đời tình cảm nhiều hứa hẹn hạnh phúc của nàng,
thành hôn với Kim Trọng. Nàng đã quyết định vì chữ hiếu
mà bán mình chuộc cha, một chọn lựa nói lên nét truyền
thống đặt nặng hiếu đức của dân tộc.
Nguyễn
Trãi tiên sinh thì giáo dục tình người mở đầu:
-
Cù lao đội đức cao dày
Phải
lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.
-
Khi ấm lạnh ta hầu săn sóc,
Xem
cháo cơm, thuốc thang mọi bề.
Ra
vào thăm hỏi từng khi,
Người
đà vô sự ta thì an tâm. -- (Gia Huấn Ca, Tân Việt, 1953, tr
14)
Truyền
thống tình người đạo đức của dân tộc Việt là thế.
Phương chi Phật giáo, với giáo lý đầy tình người, nhân
ái, xem trọng chữ hiếu, đặt chân lên xứ sở này liền
được nhân dân ta chấp nhận, và đã chung sống gắn bó với
dân tộc trên suốt cuộc hành trình lịch sử ngót 20 thế
kỷ qua.
Ðức
Phật đã dạy những gì về hiếu đạo?
Kinh
Phân Biệt (Bắc Tạng), ghi:
"Ta
trãi qua nhiều kiếp tinh tấn nay mới thành Phật, toàn là
công ơn của cha mẹ ta. Vậy nên, người muốn học đạo không
thể không tinh tấn hiếu với mẹ cha".
Kinh Nhẫn
Nhục, ghi:
"Ðiều
thiện tối cao là chí hiếu, điều ác cực ác là bất hiếu."
Kinh Tăng
Chi I, trang 75, ghi:
"Có
hai hạng người, này các Tỷ kheo, ta nói không thể trả ơn
được ! Mẹ và cha. Nếu một bên vai cõng cha, một bên vai
cõng mẹ, làm vậy suốt đời, vừa đấm bóp hầu hạ, và
dù tại đó cha mẹ vãi tiểu tiện, cũng chưa làm đủ để
đáp đền ơn mẹ và cha."
Kinh Ðãnh
lễ Sáu Phương (Trường bộ I) gọi mối liên hệ giữa mẹ
cha và con cái là mối liên hệ thiêng liêng đáng được tôn
kính, đảnh lễ. Người con có bổ phận đáp đền bằng những
việc làm thiết thực như:
-
Vâng lời cha mẹ, giúp đỡ cha mẹ khi cần.
-
Chăm chỉ học hành, siêng năng làm việc.
-
Giữ gìn gia phong, danh dự gia đình.
-
Giữ gìn tài sản của cha mẹ.
-
Phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già.
-
Lo đám tang đúng phong tục khi cha mẹ mất.
-
Khích lệ, giới thiệu đạo giải thoát, chánh kiến đến
với cha mẹ...
Kinh Hạnh
Phúc (Nam tạng), ghi:
"Phụng
dưỡng mẹ và cha là vận may tối thượng".
- Truyền
thống giáo lý Nam truyền và Bắc truyền đều xếp tội giết
cha, giết mẹ vào 5 tội lớn nhất ở đời gọi là 5 cực
trọng tội hay "ngũ nghịch tội".
- Chẳng
những xem hiếu hạnh là quan trọng, đức Phật còn dạy hiếu
hạnh là hạnh đức cao cả nhất của con người:
-
Giữa các loài hai chân,
Chánh
giác là tối thắng,
Trong
các hàng con trai,
Hiếu
thuận là tối thắng. -- (Tương Ưng I, tr 8)
Kệ Pháp
Cú 332, ghi việc hiếu kính cha, hiếu kính mẹ là hai trong bốn
niềm vui sướng, hạnh phúc của người Phật tử:
-
Vui thay hiếu kính mẹ !
Vui
thay hiếu kính Cha !
Vui
thay kính sa môn !
Hòa
hiệp Tăng vui thay ! -- (Dhp, 332)
Hạnh
hiếu ấy, không phải đức Phật chỉ dạy bằng lời mà bằng
chính hành động của Ngài. Sinh thời, động cơ Ngài xuất
gia tầm đạo là để cứu Phụ hoàng, mẫu hậu và chúng sinh
thoát khỏi khổ đau của sinh, lão, bệnh, tử (Kinh Ðại Bổn,
Trường bộ III, tr 25). Sau ngày thành đạo, đức Phật đã
về thăm phụ vương Tịnh Phạn, thuyết pháp giúp phụ vương
đắc Tư-đà-hàm quả, trước giờ vua Tịnh Phan băng hà, đức
Phật lại viếng thăm và thuyết pháp giúp nhà vua đắc A-la-hán
quả trước lúc xả báo thân. (theo Trưởng lão Ni kệ, Tiểu
bộ I, tr 225)
Kinh
tạng còn ghi rõ hai vị đệ tử lớn nhất của Ngài cũng
là hai gương hiếu hạnh bậc nhất. Bắc truyền ghi lại gương
hiếu hạnh của tôn giả Mục-kiền- liên vị đại đệ tử
thứ hai, biểu tương hiếu hạnh của ngày truyền thống Vu
Lan của Phật tử cho đến nay. Nam tạng ghi rõ gương hiếu
hạnh của tôn giả Xá-lợi- phất, vị tướng quân Chánh pháp.
Tôn giả sinh thời thường viếng thăm thân mẫu đang tôn thờ
tín ngưỡng Ni-kiền-tử (đạo lỏa thể), thuyết pháp độ
mẹ và thường bị thân mẫu từ chối. Nhưng trước giờ
phút nhập Niết-bàn, Tôn giả nghĩ rằng Tôn giả không nên
nhập Niết-bàn khi thân mẫu chưa giác ngộ Chánh pháp. Tôn
giả định sẽ đảnh lễ vị tu sĩ nào có thân duyên với
mẹ để xin vị tu sĩ ấy độ mẹ. Sau cùng, bằng tuệ nhãn,
Tôn giả nhận ra người có khả năng độ mẹ chính là mình.
Vị tướng quân Chánh pháp bèn đãnh lễ từ biệt Thế Tôn
và xin phép Thế Tôn được nhập Niết bàn tại nơi người
mẹ đang trú. Lần này thì Tôn giả đã thuyết phục được
mẹ nghe pháp, chứng ngộ pháp và đắc quả nhập lưu. Bấy
giờ tôn giả mới nhập Niết bàn. (theo The Life of Sariputta,
by Nyanaponika, bản dịch của Tỷ kheo Thiện Quả, 1966, tr 79).
Như
thế, tâm hiếu là tâm tu căn bản từ đó các thiện tâm và
giải thoát tâm phát triển, nhất là đối với hàng Phật
tử tại gia. Thật hiển nhiên rằng một người không hiếu
kính đối vớ mẹ cha mà lại có thể thực sự là một người
cư xử đầy tình người đối với những người khác, đối
với nhân quần, xã hội là điều khó có thể hình dung. Hiếu
hạnh rõ là đức hạnh đứng hàng đầu của những đức
hạnh của con người.
Từ
tâm hiếu, tình người được giáo dục, tôi luyện và phát
triển. Trong thể nghiệm cuộc sống hiện thực, con người
thể hiện tình người trong sáng và đẹp đẽ ấy qua người
bạn đời chí thiết gọi là tình, qua anh chị em ruột thịt
gọi là để, qua bà con xóm làng gọi là nghĩa, qua xứ sở
gọi là trung, qua mọi người gọi là nhân. Cũng chính từ
tình người ấy mà có tình cảm hữu nghị quốc tế và tình
yêu thiên nhiên và muôn thú.
Tình
cảm ấy biểu lộ ra hành động, ra các hành vi cư xử ở
đời nhằm xây dựng tốt các mối tương giao xã hội, an lạc,
hạnh phúc chung cho gia đình, tập thể gọi là các hành vi
đạo đức. Nội dung của đạo đức đúng là tình người
chân thực. Con suối tình người ấy chảy vào văn hóa, giáo
dục tạo nên các nền văn hóa, giáo dục nhân bản. Trong các
nền văn hóa này không có mâu thuẩn từ thực chất của hiếu
tình trung nghĩa, bởi vì thực chất của hiếu tình trung nghĩa
là chỉ một tình người cao đẹp ấy. Người có mặt tâm
hiếu, là có nhân , có tình, trung nghĩa. Như tâm hiếu của
Kiều chính là tấm lòng trinh bạch của nàng mà bụi của
15 năm đoạn trường cũng không thể làm hoen ố. Vì thế mà
thi hào Nguyễn Du viết:
-
Như nàng lấy hiếu làm trinh,
Bụi
nào cho vẩn được mình ấy vay.
Và vì
thế mà cụ Nguyễn Phi Khanh đã dạy tiên sinh Nguyễn Trãi
khi theo chân cụ khóc lóc trên đường cụ bị quân Minh áp
tải ra Bắc Hà rằng:
"Con
là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước,
trả thù cho cha, như thế mới là đại hiếu. Mựa là cứ
mãi đi theo cha khóc lóc như đàn bà mới là hiếu sao?" (Nguyễn
Trãi toàn tập, Hà Nội, 1976, tr 14)
Ngày
nay xã hội ta gọi là "hiếu với dân, trung với nước". Quan
niệm như thế là có giá trị nhân bản hơn quan niệm có tính
cách ước lệ về giá trị của trung hiếu tiết nghĩa ngày
xưa của các nhà nho, cái giá trị đã đẩy đưa con người
trong nhiều trường hợp đến các chổ xử thế bế tắc kết
thúc bằng các hình thức tuẩn tiết đầy bi thương.
Nay
chúng ta tìm hiểu thêm về chữ hiếu, Phật giáo có cống
hiến nào khác cho dân tộc ta và mở ra những phương trời
mới nào?
Về
mặt ân nghĩa mẹ cha, ngoài các công ơn mà xã hội ghi nhận,
Phật giáo còn ghi nhận thêm một ân nghĩa lớn khác; cha mẹ
đã đưa con vào đời, nhờ đó mà người con có nhân duyên
học đạo, hiểu đạo và hành đạo giải thoát khổ. Về
mặt đền đáp, vì thế ngoài những trách nhiệm, bổ phận
của người con mà người đời ghi nhận. Phật giáo còn ghi
thêm một trách nhiệm và bổn phận nữa cho người con, Phật
tử, bổn phận quan trọng nhất là giới thiệu con đường
Chánh pháp đến với mẹ cha hiểu đạo để đi ra khỏi các
căn bản khổ đau như tham lam, sân hận và tà kiến. Cho đến
như vậy người con mới đáp đền được ân đức của cha
mẹ. Ðức Phật dạy:
"Nhũng
ai đền ơn cha mẹ bằng cách nuôi dưỡng, dâng cúng với của
cải vật chất tiền bạc thì không bao giờ đủ để đáp
đền ơn cha mẹ. Nhưng này các Tỷ kheo, ai đối với cha mẹ
không có lòng tin Tam bảo thì khuyến khích cho có lòng tin Tam
bảo, đối với cha mẹ sống tà giới, thì khuyến khích vào
chánh giới, đối với cha mẹ sinh khởi tham thì khuyến khích
bố thí, đối với cha mẹ tà kiến thì khuyến khích vào chánh
kiến, cho đến như vậy, này các Tỷ kheo, là làm đủ và
đền đáp đền ơn đủ cho mẹ và cha." -- (Tăng chi I, tr 75)
Như thế,
ở đây hiếu hạnh đi cùng hướng với hướng giải thoát
của Chánh pháp.
Tại
sao việc phụng dưỡng cha mẹ bằng hình thức dâng cúng cha
mẹ chánh tín, và chánh kiến lại có thể đáp đền ơ nghĩa
nặng ấy?
Tại
đây, Phật giáo mở ra một hướng nhận thức mới cho cuộc
đời. Không ai có thể phủ nhận rằng mọi người đều có
khát vọng hạnh phúc, và sống là đi tìm hạnh phúc tại trần
gian. Nhưng hầu như hạnh phúc luôn luôn ở ngoài tầm tay con
người. Trước cuộc vô thường, biến dịch, nổi khổ của
già, bệnh, chết vẫn còn đó. "ái biệt ly, oán tắng hội,
và cầu bất đắc" vẫn còn đó.... Người con không thể bằng
mọi phương tiện vật chất có thể đem lại cho cha mẹ an
vui, và hạnh phúc, ngoại trừ chánh pháp, chỉ có chánh pháp,
trí tuệ mới giúp cha mẹ lìa xa khỏi tham sân si, tác nhân
của mọi phiền não khổ đau. Chỉ có chánh pháp chỉ rõ gốc
khổ đau là chính các niệm tưởng hữu ngã trong tâm mình
để loại bỏ. Chỉ có chánh pháp mới cống hiến cho mẹ
cha một nếp sống đạo đức an trú vững chắc vào giới
đức, tâm đức và tuệ đức, từng bước đi ra khỏi khổ
đau và từng bước đi vào hạnh phúc của tâm hồn trong "hiện
tại và tại đây". Ðem lại hạnh phúc lâu dài cho cha mẹ
như thế mới thật là chí hiếu.
Hạnh
phúc đó là kết quả của nỗ lực loại trừ tâm chấp ngã,
vị kỷ đó là con đường sống vị tha, vô ngã, con đường
sống vì hạnh phúc của tha nhân, gia đình và xã hội. Cuộc
đời sẽ chiêm nghiệm về con đường sống này và sẽ khám
phá ra rằng: "Hạnh phúc là mục tiêu cao thượng ở đời."
- Con
đường sống đạo đức là con đường dẫn tới hạnh phúc
cho mình và người trong từng bước đi, hay chính đạo đức
ấy là hạnh phúc.
- Hạnh
phúc đồng nghĩa với vị tha, vô ngã. Do đó, mà bổ phận,
trách nhiệm đối với hạnh phúc bản thân trở thành bổ
phận, trách nhiệm đối với hạnh phúc của tha nhân, tập
thể, nhân quần và xã hội. Phạm vi vị tha hoạt động càng
lớn càng đem lại nhiều hạnh phúc và hạnh phúc lâu dài.
Khi mở rộng lòng vị tha đến mọi người thì bấy giờ hạnh
phúc của ta chính là hạnh phúc của mọi người, và ngược
lại hạnh phúc của mọi người là hạnh phúc của chính ta.
Tại đây, không có mâu thuẩn giữa cá nhân và tập thể hay
giữa tập thể với cá nhân.
Ðức
Phật trong kinh Tăng chi II, đã giới thiệu một sự thật rằng
trong cuộc luân hồi dài vô hạn này, tất cả những người
xung quanh ta không thể tìm thấy một ai chưa từng đã là cha
me,ĩ anh chị em, vợ chồng, con cái thân thuộc của ta. Như
thế, đúng theo lời dạy của bậc Thiện Thệ, hiếu thảo
đối với cha mẹ trong nhiều đời quá khứ chính là việc
thương yêu, quý trọng và giúp đỡ mọi người quanh ta. Hiếu
ở đây là tình nghĩa con người, nâng cao tình nghĩa con người
đến một cấp độ thấm thiết tình người hơn.
Khi
mà người Phật tử có thể quý trọng, phục vụ mọi người
với tình thương yêu chân thật thì đó là hạnh Bồ tát của
người Phật tử đang ở trên đường đi về chánh giác. Vì
thế, kinh Ðịa Tạng (Bắc truyền) đã giới thiệu hạnh tu
giải thoát khởi đầu bằng hạnh hiếu của con người, tiền
thân của Ðia Tạng đại sĩ. Từ hiếu tâm tu luyện chuyển
đến từ tâm, bi tâm và giải thoát tâm. Ngày Vu Lan hay ngày
hiếu giờ hiện ra như ngày "sinh nhật" của một cuộc đời
giải thoát khổ đau vậy.
Quan
niệm hạnh hiếu và tình người như thế sẽ dẫn đến một
thái độ sống của người Phật tử xem bổn phận đối với
gia đình, xã hội, quốc gia là bổn phận đối với tự thân
và hạnh phúc của tự thân. Ðây chính là điều mà các nhà
đạo đức đang tìm đến.
Cái
nhìn từ bi vô ngã và trí tuệ vô ngã của Phật giáo như
thế đã tiếp thêm sức sống cho con tìm dân tộc và khơi
nguồn thêm cho dòng thác nhân bản dân tộc Việt Nam chảy
mạnh vào nghĩa sống vô cùng.
Chúng
tôi có thể ngưng tại đây để kết luận rằng Phật giáo
Việt Nam và Dân tộc Việt Nam có chung một hướng nhìn của
con tim mở đầu là lòng hiếu thảo. Hai thực tế ấy sẽ
có điều kiện để tiếp tục gắn bó suốt dòng lịch sử
lâu dài.
Thời
đại của chúng ta đang bàn về vấn đề đạo đức, tình
người cho thế kỷ 21. Có nhiều ý kiến cho rằng văn minh
của thế kỷ 21 sẽ là văn minh của đạo đức, tình người.
Nhân đây chúng tôi lại tìm hiểu xem ngày truyền thống Vu
Lan có thể có tiếng nói ý nghĩa nào cho thế kỷ ấy.
Vấn
đề đạo đức và tình người đã được các nền văn hóa
trên thế giới bàn từ lâu, nhưng hầu như vấn đề ấy luôn
luôn trở nên mới mẻ, nhất là đối với thời đại ngày
nay, một thời đại đã thể nghiệm các hậu quả đầy tác
hại của sự dung dưỡng các tác nhân gây ra mâu thuẩn, hận
thù và bất công áp bức. Sự thể hiện chúng vào cuộc sống
văn minh vật chất đang phát triển nhanh chóng lại càng có
nhiều yếu tố mới mẻ hơn nũa.
Một
triết gia Hy lạp vào thế kỷ thứ III, trước TL, Aristote đã
nói: "Hạnh phúc là sự phát triển hoàn toàn đầy đủ các
đức tính của c