LỜI
MỞ ĐẦU
Giáo
lý của Phật giáo được xem là rất khó hiểu. Một trong
những lý do chính cho nhận định này là các kinh Phật thì
khó hiểu. Điều này là tự nhiên vì đầu tiên các kinh được
viết bằng các ngôn ngữ Ấn Độ, như Sanskrit và Pàli, cách
đây khoảng hai ngàn năm, sau đó được du nhập vào Trung Quốc
rồi được dịch ra Hoa văn, và những bản dịch Hoa văn về
các bộ kinh được truyền từ Trung Quốc sang Nhật Bản.
Theo ý kiến
thông thường được chấp nhận thì trong các kinh Phật, kinh
Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharma - pundarika - sùtra), thường được
gọi là kinh Liên Hoa(1) là kinh tuyệt diệu nhất. Nhưng khi
đọc kinh này và các kinh khác qua các bản dịch, chúng ta gặp
phải những từ lạ hay thuộc nước ngoài, điều này tạo
cho người đọc một cảm giác trơ cứng. Hầu hết các sớ
luận về kinh chỉ cho chúng ta những giải thích gắn chặt
vào nguyên nghĩa của bản gốc.
Kinh Pháp
Hoa cũng có vẻ bí mật và xa vời với đời sống thực của
chúng ta vì kinh trình bày những câu chuyện kỳ dị và những
khung cảnh các thế giới hư ảo trong khi nó cũng gồm một
số thuật ngữ triết học đầy cả những ý nghĩa bị che
dấu. Vì lý do này, nhiều người thất vọng mà bỏ kinh đi
và cho rằng kinh quá sâu xa họ không hiểu được, trong khi
một số người loại bỏ trọn bộ kinh vì họ nghĩ rằng
kinh bàn đến những vấn đề không thích hợp với cuộc sống
của chúng ta ngày nay.
Tuy nhiên,
vào thời đức Phật Thích-ca-mâu-ni giảng kinh Pháp Hoa, kinh
cũng không quá khó. Xuyên qua linh cảm của Ngài, Ngài đã không
nói đến những vấn đề quá bí ẩn khiến quần chúng không
hiểu được, Ngài cũng không áp đặt những quan điểm riêng
tư, thần bí cho người khác. Trong một thời gian dài, Ngài
cân nhắc những vấn đề của thế giới này, của con người,
của thể cách sống mà con người nên có trong thế giới này,
và của những liên hệ nhân sinh, và cuối cùng, Ngài có được
cái biết về chân lý phổ quát có thể áp dụng cho mọi thời,
mọi nơi và mọi người. Cái chân lý áp dụng cho mọi thời,
mọi nơi và mọi người thì không thể quá khó đến nỗi
người ta không hiểu nó. Chẳng hạn, ai cũng dễ dàng hiểu
cái sự kiện rằng một chia cho ba thì được một phần ba.
Sự thật này hoàn toàn khác với những niềm tin phi lý nhưng
lại được chấp nhận rộng rãi rằng chắc chắn có thể
lành bệnh nhờ thờ cúng một đối tượng đặc biệt.
Tuy nhiên,
chúng ta không thể hiểu được cái chân lý rằng một chia
cho ba thì được một phần ba cho đến khi chúng ta đủ khôn
lớn để hiểu nó. TS Yòichi Yoshida, Giáo sư Đại học Rikkyò
ở Tokyo và là một nhà toán học nổi danh, đã nhắc nhở
trong cuốn sách của ông, một tuyển tập các bài nghiên cứu
về toán học, rằng ông đã gặp những bài tính chia đến
vô cùng cũng không thể chia chẵn được, như bài tính chia
một cho ba sẽ thành 0,3333...
Tuy nhiên,
ông có thể xếp một tờ giấy thành ba phần hoàn toàn bằng
nhau. Vì muốn là một nhà toán học, Yoshida đã nghiêm túc
suy nghĩ tại sao một lại không thể chia cho ba bằng phép tính
nhưng lại có thể chia được trong thực tiễn. Khi còn học
lớp năm hay lớp sáu, ông được dạy về phân số và hiểu
rằng phân số “một phần ba” đã đưa ra một lối nhìn
mới về vấn đề này. Bằng một cách nào đó, ông cảm thấy
ông bị dối gạt khi ông được dạy rằng phân số “một
phần ba” là một câu trả lời cho vấn đề một chia cho
ba bằng phép tính. Tuy vậy, ông vẫn rất ưa thích các phân
số và nỗ lực xem “một phần ba” là một con số. Thực
ra, ông đã có thể hiểu tại sao chẳng có gì kỳ diệu để
thực sự có thể xếp một tờ giấy thành ba phần bằng nhau.
Chúng ta cũng
có thể nói như thế đối với giáo lý của đức Phật. Mặc
dù trên nguyên tắc, giáo lý này cần phải có thể hiểu được
đối với mọi người, người ta chỉ có thể hiểu được
nó khi người ta đạt đến một mức độ nào đó về sự
chín chắn của tâm linh. Trong việc dạy toán, dạy cho các
em học sinh về phân số khi các em ở lứa tuổi còn bé cũng
có thể là một ý kiến hay. Nhưng trước tiên các thầy giáo
phải dạy toàn bộ các con số - một, hai, ba, và vân vân -
rồi sau đó mới dạy các số phân số, vì trẻ em ở lớp
một hay lớp hai không thể hiểu các phân số nếu không có
căn bản này. Trong thực tế, thầy giáo cũng có thể dạy
các em về các phân số như một phần ba, ví dụ bằng cách
xếp ba một tờ giấy thay vì cố gắng giải thích lý thuyết
về phân số.
Cho nên đức
Thích-ca-mâu-ni đã thuyết giảng bằng nhiều cách khác nhau
cho những người ở vào thời Ngài tùy theo năng lực và trình
độ hiểu biết của họ. Ngài thảo luận với họ bằng nhiều
phương pháp suy luận và bằng các ngụ ngôn khiến những người
của thời Ngài có thể hiểu giáo lý của Ngài.
Một số
người chỉ chú ý đến mặt ngoài của kinh Pháp Hoa và đến
những gì mà hình như kinh muốn diễn tả, và họ nghĩ rằng
họ không thể tin ở kinh vì kinh bàn đến những cảnh giới
kỳ lạ không thực sự hiện hữu. Những quan điểm như thế
quả thực là hời hợt đối với trường hợp kinh Pháp Hoa.
Nếu hiểu được cái tinh thần thực sự của kinh, họ không
thể không nhận ra rằng kinh gồm đầy những sự thật mới
mẻ, khoa học và nhân bản.
Những người
trong thời đức Thích-ca nhận thấy dễ hiểu giáo lý của
Ngài. Vì thế, giáo lý của đức Phật tạo nên một thay đổi
kỳ diệu trong đời sống của người ta. Nếu điều này là
không đúng thì rất nhiều người đã không thể hiến mình
cho giáo lý của Ngài sau cuộc đời năm mươi năm hoạt động
ngắn ngủi của Ngài. Hơn nữa, người ta bảo rằng giáo đoàn
của đức Thích-ca có một không khí tự do đến nỗi “những
ai đến thì giáo đoàn tiếp đón, những ai ra đi thì giáo
đoàn không tiếc nuối”. Như được nêu rõ trong phẩm 2 của
kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện, đức Thích-ca đã không cố
gắng thuyết phục để năm ngàn Tỳ-kheo kiêu mạn ở lại
trong hội chúng khi Ngài sắp thuyết giảng kinh Pháp Hoa và
vì thế họ đã bỏ đi, bảo rằng họ đã đạt ngộ nên
không cần nghe kinh nữa. Dù Ngài không ép mọi người đến
hay ở lại để nghe Ngài thuyết giảng, các tín đồ theo giáo
lý của đức Thích-ca vẫn nhanh chóng tăng lên đến mười
ngàn người. Hiển nhiên đấy là do năng lực cảm ứng và
thuyết phục vô song của đức Thích-ca. Nhưng năng lực này
lại cũng do chính giáo lý của Ngài vừa có giá trị vừa
dễ hiểu.
Tuy vậy,
thái độ phóng khoáng của đức Thích-ca khiến cho các đệ
tử của Ngài phải rối rắm vì những khó khăn sau khi Ngài
nhập diệt. Lý do là những lời cuối cùng mà Ngài nói cho
các đệ tử. Ngài chỉ bảo với họ, “Tất cả các pháp
hữu vi đều vô thường, hãy tinh tấn tu tập”. Ngài không
bảo cho họ ai sẽ cai quản cộng đồng tứ chúng và sẽ cai
quản như thế nào. Các môn đệ bấy giờ của Ngài cứ tự
nhiên thành lập từng nhóm theo từng địa phương và tuân
giữ giáo lý của Ngài. Tuy nhiên, vì họ không thực hiện
sự kiểm tra lý thuyết về giáo lý của đức Thích-ca nên
có những khác biệt về lối hiểu giữa các nhóm và các địa
phương khác trên toàn lãnh thổ Ấn Độ rộng lớn.
Vấn đề
căn bản là giáo lý căn bản của đức Thích-ca đã được
hiểu đúng đắn ở các vùng mà Ngài thường đến thuyết
giảng, nhưng ở các khu vực mà người ta không được may
mắn nghe Ngài giảng trực tiếp và giáo lý của Ngài chỉ
được truyền lại qua người khác, giáo lý của đức Phật
đã
bị thay đổi đáng kể theo những ý kiến cá nhân mà nhiều
người giảng đã thêm thắt vào. Những thêm thắt tương tự
vào giáo lý của đức Phật đã xảy ra theo với thời gian
sau khi đức Phật nhập diệt. Lịch sử Phật giáo cho thấy
rằng giáo lý của đức Thích-ca thì gây lợi lạc và sống
động trong thời Ngài tại thế vào trong một thời gian sau
khi Ngài nhập diệt. Nhưng vì thời gian vẫn trôi qua, tinh thần
thực sự của giáo lý của Ngài đã bị mất và chỉ hình
thức của giáo lý là được giữ lại.
Trên đây
đã nói rằng thái độ phóng khoáng của đức Thích-ca gây
cho các môn đệ của Ngài những khó khăn trong một thời gian
sau khi Ngài nhập diệt. Cái “thời gian sau khi Ngài nhập diệt”
này không giới hạn ở một hay hai thế kỷ sau khi đức Thích-ca
nhập diệt mà gồm cả hiện nay, sau đó khoảng hai ngàn năm
trăm năm. Từ quan điểm về lịch sử loài Người, hai ngàn
năm trăm năm chỉ là một thời gian ngắn. Ở Nhật Bản, Phật
giáo vốn được du nhập từ Trung Quốc, đã có được một
sức mạnh đáng kể mỗi khi một nhà Sư uyên bác hay xuất
sắc xuất hiện. Nhưng sau một thời gian ngắn, sức mạnh
này nhanh chóng suy tàn. Ví dụ, Nichiren, một nhà Sư ở thế
kỷ thứ mười ba, người sáng lập tông phái Nichiren, được
xem là người đã truyền đời sống mới vào Phật giáo Nhật
Bản. Tuy nhiên, sau khi ngài tịch, giáo lý của ngài đã bị
phân tán ra khỏi ý định của ngài và suy thoái thành chủ
nghĩa hình thức.
Ở Ấn Độ,
chẳng bao lâu sau khi đức Thích-ca nhập diệt, sự diễn dịch
giáo lý của Ngài đã bắt đầu khác biệt theo từng vùng
và theo từng nhóm môn đồ. Các nhà Sư cố gắng thiết lập
thanh thế của họ bằng việc tu tập và thuyết giảng một
lối sống không thể nhằm cho các Phật tử tại gia. Như chúng
ta có thể thấy trong kinh Pháp Hoa, khi đức Thích-ca còn tại
thế, các Tỳ-kheo (Bikshu), Tỳ-kheo-ni (Bikshuni), Nam cư sĩ (Upàsaka),
Nữ cư sĩ (Upàsika) nghe lời Phật dạy, tu tập theo giáo lý
của Ngài, và nỗ lực hoằng pháp trong mối hài hòa với nhau.
Tuy nhiên, sau khi đức Phật nhập diệt, một hố sâu đã mở
ra giữa các Tỳ-kheo và Phật tử tại gia trước khi cả hai
bên nhận ra được điều ấy.
Khoảng cách
cứ tiếp tục mở rộng này vẫn xảy ra vì một số Tỳ-kheo
xem những thể thức tuân giữ giới luật là quan trọng hơn
nhiều so với tinh thần căn bản là tại sao các giới luật
lại cần phải được tuân giữ. Cũng có những Tỳ-kheo cố
ý làm cho giáo lý của đức Thích-ca vốn là thực tiễn thành
ra một triết học rất khó khăn để chống lại các giáo
lý và triết học đang hiện hữu tại Ấn Độ lúc bấy giờ.
Mặt khác,
một số người cứ phát triển những ý tưởng vị kỷ, nhấn
mạnh rằng dù đức Thích-ca có nói gì đi nữa, thì mọi người
cũng không thể đạt cùng một mức độ chứng ngộ như đức
Phật. Họ khẳng định rằng chúng ta quả thực không thể
nào trở thành vĩ đại như đức Phật. Chúng ta chỉ cần
tự giải thoát khỏi những trói buộc của hư vọng và khổ
đau trong cuộc đời này.
Thấy rằng
Phật giáo đang đi lệch cái tinh thần và mất đi năng lực
của nó như thế, những tín đồ tại gia đã đặc biệt náo
nức muốn dựng lại cái tinh thần thực sự của đức Thích-ca
cho giáo lý của Ngài. Một nhóm Phật tử mới do thế mà xuất
hiện. Những người của nhóm này gọi Phật giáo của họ
là Mahàyàna, tức là Đại thừa, “cỗ xe lớn” để chở
chúng ta đến thế giới của đức Phật và phản kháng thứ
Phật giáo đã được thiết lập, coi như là Hìnayàna, Tiểu
thừa, “cỗ xe nhỏ”. Các Tỳ-kheo của các nhóm cũ đáp
lại rằng: “Cái Phật giáo của các ông là sai lầm”. Do
đấy, một va chạm mạnh mẽ xảy ra giữa Phật giáo mới
và Phật giáo cũ.
Kinh Pháp
Hoa xuất hiện trong hoàn cảnh như thế, như là một nỗ lực
kết hợp Phật giáo thành nhất thừa (một cỗ xe). Kinh này
nhấn mạnh rằng trong Phật giáo chỉ có một thừa (nhất
thừa - ekayàna) để mọi người cùng theo như nhau, và rằng
mục đích tối hậu của giáo lý của đức Thích-ca là đưa
hết thảy mọi người đến với thừa này.
Người ta
cho rằng kinh Pháp Hoa đã được ghi chép vào khoảng bảy trăm
năm sau khi đức Phật Thích-ca-mâu-ni nhập diệt. Những thay
đổi trong Phật giáo trong bảy trăm năm đầu đã tạo nên
một mẫu thức thay đổi cho suốt cả lịch sử lâu dài của
nó; tôi thấy rằng sự việc này có một ý nghĩa sâu xa.
Trong thế
kỷ thứ mười tám, khi Phật giáo đã gắn chặt quá nhiều
vào hình thức và đã mất đi cái năng lực cứu người, một
phong trào tôn giáo nổi lên trong những tín đồ tại gia để
tái dựng giáo lý chân thực của đức Thích-ca và nhờ những
nỗ lực của các tín đồ tại gia này mà ngày nay phong trào
này đang lan rộng khắp Nhật Bản.
Phong trào
mới mẻ nêu lại giá trị giáo lý của đức Thích-ca đã
lan rộng khắp thế giới chứ không chỉ ở Nhật Bản. Tại
các nước ở phương Tây, có nhiều người không thỏa mãn
với lý thuyết nhất thần, phiếm thần hay duy vật, cuối
cùng đã đi tìm giải đáp cho những vấn đề của họ trong
Phật giáo.
Đây là một
thời kỳ quan trọng nhất. Chúng ta sẽ gặp phải sự hủy
diệt của nhân loại nếu giờ đây con người không nhận
định được giá trị nhân bản bằng cách thể hội giáo
lý của đức Phật và quay trở về với lối sống giúp cho
những người khác cũng như cho chính mình sống.
Tôi lấy
làm tiếc rằng kinh Pháp Hoa vốn gồm những giáo lý cao siêu
của đức Phật lại có vẻ quá khó khăn và rằng kinh chỉ
được nghiên cứu giới hạn trong một số người và bởi
những nhà chuyên môn về tôn giáo. Kinh Pháp Hoa không được
quần chúng nói chung nhận thức hay thông hiểu, và do đó,
kinh không thâm nhập được vào đời sống hàng ngày. Đấy
là lý do đầu tiên khiến tôi quyết định viết quyển sách
này. Điều tôi mong muốn nhất là giải thích kinh Pháp Hoa
sao cho người ngày nay hiểu kinh và sao cho đạt được sự
thông cảm của họ, dù rằng tôi vẫn trung thành với bổn
ý của kinh cho đến cuối cùng.
Chúng ta không
thể thực sự hiểu kinh Pháp Hoa bằng cách chỉ đọc một
vài phần của kinh. Đây vừa là một giáo pháp sâu xa, vừa
là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời trải ra như một
vỡ kịch. Do đó, chúng ta sẽ không nắm được ý nghĩa thực
sự của kinh nếu chúng ta không đọc kinh suốt từ đầu đến
cuối. Tuy nhiên, không dễ gì đọc được kinh với những
thuật ngữ khó khăn và xa lạ của kinh từ đầu đến cuối
và nắm được ý nghĩa của nó. Chúng ta cần một bản sớ
luận giúp chúng ta hiểu kinh theo văn cách của cuộc sống
ngày nay. Đấy là lý do thứ hai khiến tôi quyết định viết
quyển sách này.
Đồng thời,
chúng ta phải luôn luôn tôn trọng bổn ý của kinh Pháp Hoa
vì nó là một tác phẩm nghệ thuật cao quý. Dù qua bản
dịch, chúng ta cũng tìm thấy trong kinh một năng lực không
sao tả được thấm nhập vào tim ta. Tôi nghĩ rằng, người
đọc sẽ có thể càng hiểu kinh Pháp Hoa hơn nếu họ tham
cứu kinh trong khi đọc cuốn sách này. Tôi cũng tin rằng họ
sẽ có thể cảm thấy một điều gì về tinh thần của kinh
Pháp Hoa từ cuốn sách này.
Nếu những
người đọc hiểu tinh thần kinh mà tụng đọc các phần chủ
yếu vào mỗi sáng và chiều thì tinh thần ấy sẽ càng lúc
càng bắt rễ mạnh mẽ trong các chiều sâu của tâm thức
họ và chắc chắn sẽ thể thiện trong cung cách sống hằng
ngày của họ, khiến cho một cuộc sống mới sẽ mở ra trước
mắt họ. Trong niềm hy vọng và tin tưởng ấy, tôi đã viết
cuối sách này.