DẪN
NHẬP
SỰ HÌNH
THÀNH VÀ TRUYỀN BÁ KINH PHÁP HOA
Trong Lời
mở đầu, tôi đã nêu vắn tắt kinh Pháp Hoa được viết
ra như thế nào, bây giờ tôi sẽ miêu tả kỹ hơn về quá
trình dẫn đến việc đưa kinh này vào Nhật Bản.
Vào thời
đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được
phổ biến ở Ấn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài
được ghi nhớ và phổ biến bằng lời nói từ cửa miệng.
Vào thời ấy, khi con người bị buộc phải học thuộc lòng
những gì họ muốn nhớ, họ có năng lực nhớ vượt xa hơn
ta tưởng. Đời sống của con người cũng ít phức tạp và
bận rộn như ngày nay. Các đại đệ tử của đức Phật
vốn có đầu óc trong sáng và trí nhớ tinh thuần, chăm chú
lắng nghe để thu hút từng lời nói của đức Thích-ca. Do
đó, hầu như chắc chắn rằng họ không nghe nhầm những bài
giảng của đức Thích-ca. Hơn nữa, sau khi đức Phật nhập
diệt, các đệ tử của Ngài thường xuyên tổ chức hội
nghị để xem những gì họ ghi nhớ có bị nhầm lẫn hay không.
Sau khi xác minh những lời xác thực của đức Phật, họ sửa
chữa những nhầm lẫn của nhau, họ hệ thống hóa các ý
tưởng. Do đó mà lời nói của đức Thích-ca vẫn được
giữ đúng dù được họ truyền bằng miệng.
Đức Thích-ca
đã thuyết giảng rất nhiều trong những cuộc hành trình thường
xuyên bằng cách đi bộ trong vùng Bắc Ấn rộng lớn suốt
một thời kỳ năm mươi năm. Ngài cũng thuyết giảng bằng
nhiều cách khác nhau tùy theo trình độ hiểu biết của hàng
thính giả. Chúng ta phải ghi nhận rằng việc diễn dịch giáo
lý của đức Phật đã khác nhau theo từng nơi và theo từng
nhóm môn đồ của Ngài, và rằng theo với thời gian, những
khác biệt về lối hiểu và lối giảng giáo lý của Ngài
đã lớn lên. Tuy nhiên, giáo lý của đức Thích-ca tự nó
vẫn được truyền bá đúng đắn nhờ nỗ lực của các đệ
tử Ngài. Không có kinh nào là không Thánh diệu. Giáo lý của
đức Thích-ca được ghi trong các kinh A-hàm, kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa,
các kinh A-di-đà và nhiều kinh khác. Nhưng chỉ trong kinh Pháp
Hoa, cái tinh thần căn bản của tất cả giáo pháp của đức
Thích-ca trong suốt cuộc đời hoạt động của Ngài mới được
lần đầu tiên diễn tả một cách sáng sủa; trong kinh này,
cái tinh thần quan trọng của hết thảy giáo lý đã được
kết hợp và miêu tả bằng lời lẽ dễ hiểu. Nói một cách
khác, trong kinh Pháp Hoa, những tinh túy của Phật giáo, chính
cái cốt lõi của giáo lý đức Thích-ca được giải thích
thấu đáo bằng ngôn từ đơn giản nhưng hiệu lực.
Một số
người tranh cãi về các giá trị tương đối của nhiều kinh
khác nhau và nuôi dưỡng cái ảo tưởng rằng những giá trị
tương đối của các kinh phát xuất từ những khác biệt trong
giáo lý của đức Thích-ca. Đây là một sai lầm nghiêm trọng.
Không có kinh nào do chính đức Thích-ca biên soạn cả. Sự
việc là Ngài giảng nhiều bài giảng cho vô số người suốt
năm mươi năm từ bài giảng đầu tiên của Ngài cho năm vị
Tỳ-kheo ở Vườn Nai (Lộc Uyển) ở Vàrànasì (Ba-la-nại)
đến khi Ngài nhập diệt vào lúc Ngài tám mươi tuổi. Từ
trong nhiều bài giảng này, mỗi nhóm đệ tử và các tín đồ
của họ đã đưa vào trong các kinh riêng của họ những bài
giảng mà họ đã nghe trực tiếp hoặc được những người
khác nói cho nghe. Xuyên qua bất cứ kinh nào chúng ta cũng có
thể nghiên cứu giáo lý của đức Thích-ca, đức Thích-ca
chính là bậc Thế Tôn đã phóng cùng một thứ ánh sáng trí
tuệ vào chúng ta. Do đó, dù kinh Pháp Hoa là giáo pháp tuyệt
diệu nhất trong rất nhiều kinh, nó cũng phản ánh một ngộ
nhận căn bản là coi thường các kinh khác bằng cách ca tụng
quá đáng kinh Pháp Hoa.
BIỂU TƯỢNG
CỦA KINH PHÁP HOA
Kinh Pháp
Hoa được soạn dưới hình thức một vở kịch để quần
chúng nói chung của thời ấy có thể hiểu kinh dễ dàng. Những
nhà biên soạn kinh nỗ lực giúp người ta nắm được kinh
bằng cách trình bày những ý niệm trừu tượng trong hình
thức cụ thể.
Ví dụ, trong
phẩm 1 của kinh Pháp Hoa, phẩm“Tự”, kể rằng hào quang
phóng ra từ trán đức Phật chiếu sáng mười tám ngàn cõi
Phật ở phương Đông, hết thảy chư Phật và chúng đệ tử
đều được thấy đang hiện hữu ở khắp nơi. Sự diễn
tả này có nghĩa rằng đức Phật mang thân trời cũng như
ở trái đất, tức là, Ngài hiện hữu ở khắp nơi, khắp
toàn bộ vũ trụ. Những miêu tả như thế, như sự rung động
của trái đất và mưa hoa rơi xuống cũng thuộc loại biểu
tượng này. Ngày nay, chúng ta thường gặp những biểu từ
như “Tôi sợ đến cóng máu” hay “Tôi cười thắt ruột”.
Không một ai lại hiểu những biểu từ ấy theo nguyên nghĩa
cả. Nhưng nếu chúng thực sự là không thực đi nữa, chúng
cũng giúp truyền đạt một cách sinh động và có hiệu lực
cái cảm giác thực sự của người nói hay người viết. Điểm
này giúp chúng ta một chìa khóa cho việc hiểu kinh Pháp Hoa.
Điều quan trọng không phải là “sự kiện” mà là “sự
thật”, sự thật của giáo lý của đức Phật. Ngày cả
khi chúng ta gặp phải những sự việc có vẻ không thực trong
kinh Pháp Hoa, chúng ta cũng phải nắm chắc cái sự thật ở
đằng sau cái bề mặt ngôn từ.
BẢN DỊCH
HOA VĂN CỦA NGÀI CƯU-MA-LA-THẬP(Kumàrajìva)
Một số
người mang kinh Pháp Hoa sang Trung Quốc và dịch ra Hoa văn,
nhưng bản thông dụng ở Đông Á ngày nay là bản dịch của
Cưu-ma-la-thập. Thân phụ ngài, Kunàrayàna, vốn thuộc một
gia đình quý phái ở Ấn Độ, đến Kucha, một nước ở Trung
Á, giữa Ấn Độ và Trung Quốc, rồi cưới người em gái
của vua nước này. Con của vị này là Cưu-ma-la-thập (Kumàrajìva),
sinh năm 344. Phật giáo nẩy nở ở Kucha và lúc bảy tuổi,
Cưu-ma-la-thập vào một tu viện cùng với mẹ ngài, sau đó,
ngài được gửi đi Ấn Độ để học Phật giáo Đại thừa.
Người ta
kể rằng khi Cưu-ma-la-thập về lại quê nhà, thầy ngài là
Sùryasoma vốn thấy được khả năng và phẩm chất của ngài,
đã dạy ngài kinh Saddharma - pundarika - sùtra (Diệu Pháp Liên
Hoa). Vị này đặt bàn tay phải lên trán Cưu-ma-la-thập mà
nói: “Mặt trời của đức Phật đã lặn ở phương Tây,
và vầng sáng còn lại sắp chiếu đến phương Đông. Kinh
này có sự liên hệ với phương Đông Bắc. Hãy kính
cẩn truyền bá kinh ở đấy”.
Giờ đây
nghĩ lại lời của Sùryasoma “kinh này có sự liên hệ với
phương Đông Bắc”, chúng ta hiểu được rằng tiên đoán
của ngài đã có một ý nghĩa rất sâu xa, và chúng ta không
khỏi xúc động vì nhận ra rằng về sau Phật giáo đạt tới
sự phát triển lớn nhất ở Nhật Bản, một đất nước
nằm xa, phía Đông Bắc Ấn Độ.
Vâng lời
thầy, Cưu-ma-la-thập quyết định truyền bá kinh Pháp Hoa ở
Trung Quốc về phía Đông Bắc. Nhưng vì ở Trung Quốc thời
ấy thường xuyên có chiến tranh và các biên địa, các quốc
gia cứ thay đổi mãi, kế hoạch của ngài đã không được
thực hiện dễ dàng như ngài hy vọng. Tuy nhiên, danh tiếng
ngài là một dịch giả được truyền khắp Trung Quốc, và
năm 401, ngài đến sống ở Tràng An, thủ đô của nhà Hậu
Tần, theo lời mời của nhà vua.
Cưu-ma-la-thập
bấy giờ đã sáu mươi hai tuổi được phong Quốc Sư và suốt
tám năm cho đến khi ngài mất vào năm 431 lúc bảy mươi tuổi,
ngài đã dịch nhiều kinh sang Hoa văn.
Không cần
phải nói, kinh Pháp Hoa là kinh quan trọng nhất trong nhiều
kinh do ngài dịch. Vì ngài đã nhận ra nhiều sai lầm trong
các bản dịch Hán văn mà ngài đã đọc thấy, ngài giữ một
thái độ rất thận trọng đối với dịch phẩm của riêng
ngài. Mặc dù ngài thông thạo cả Phạn ngữ lẫn Hoa ngữ,
ngài vẫn không có ý định dịch các kinh Phật sang Hoa văn
một mình mà ngài tập họp nhiều học giả giỏi cả hai ngôn
ngữ. Lại nữa, ngài giảng kinh Pháp Hoa trước sự hiện diện
của nhà vua và những người khác. Các học giả căn cứ trên
những ghi chép từ những bài giảng của ngài mà mỗi người
thực hiện một bản dịch kinh Pháp Hoa bằng Hoa ngữ. Sau khi
các học giả đã hoàn tất riêng mỗi người một bản dịch
và tất cả mọi người đã xem xét bàn thảo kỹ càng bản
ấy, cuối cùng họ hoàn thành một bản dịch tiêu chuẩn cho
bộ kinh. Người ta bảo rằng có đến hai ngàn người đã
tham gia công trình này. Do đó, chúng ta có thể quả quyết
kết luận rằng trong bản dịch kinh Pháp Hoa từ Phạn ngữ
sang Hoa ngữ của ngài Cưu-ma-la-thập, giáo lý của đức Thích-ca
được truyền bá hầu như không có sai lạc.
Người ta
đã kể câu chuyện sau đây về việc dịch của Cưu-ma-la-thập.
Vua Dao Tần rất kính cẩn nhân cách và khả năng của Cưu-ma-la-thập,
rất muốn ngài có một đứa con. Bởi vậy vua thúc ép ngài
lấy vợ. Khi sắp tịch, ngài Cưu-ma-la-thập nhắc nhở: “Ta
bị ép buộc phải phá giới mà lấy vợ, nhưng ta tin rằng
những gì ta đã khẳng định bằng lời không bao giờ phản
lại với ý định của đức Phật. Nếu ta chân thật đúng
theo những gì ta đã nói thì riêng cái lưỡi của ta sẽ vẫn
không bị cháy khi thân thể ta bị thiêu”. Người ta kể rằng
khi gia đình thiêu nhục thân ngài, chỉ riêng lưỡi của ngài
quả thực vẫn không bị thiêu hủy và phát sáng rực.
Kinh Pháp
Hoa sau đó đóng một vai trò rất quan trọng trong Phật giáo
Trung Quốc. Sau khi Trí Giả(1), người được tôn sùng như
một “Tiểu Thích-ca-mâu-ni” đã nghiên cứu rốt ráo tất
cả các kinh điển của Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa,
ngài kết luận rằng ý tứ chân thực của đức Phật đã
được gồm trong kinh Pháp Hoa, và ngài viết những sớ luận
tuyệt diệu về kinh Pháp Hoa như Pháp Hoa Huyền Nghĩa(2) Pháp
Hoa Văn Cú(3) và Ma-ha Chỉ Quán(1). Như thế, kinh Pháp Hoa đã
phổ biến rộng hơn đến khắp Trung Quốc và sau đó du nhập
Nhật Bản xuyên qua Cao Ly.
KINH PHÁP
HOA Ở NHẬT BẢN:
Năm 577 là
năm kinh Pháp Hoa do ngài Cưu-ma-la-thập dịch được đưa đến
Naniwa (nay là Osaka) ở Nhật Bản và ba mươi bảy năm sau, bộ
Hokke-gisho (Pháp Hoa Nghĩa Sớ)([1]), bộ Luận sớ đầu tiên
bằng Nhật văn về kinh Pháp Hoa, được viết bởi Thái tử
Shòtoku (574-622). Người ta bảo đây là quyển sách xưa nhất
do một người Nhật viết hiện còn giữ lại.
Thái tử
Shòtoku ban hành một bộ luật gọi là Hiến pháp mười bảy
điều khoản, căn cứ trên tinh thần của kinh Pháp Hoa, và
bằng Hiến pháp này, Thái tử đã thiết lập bộ Luật đầu
tiên ở Nhật Bản. Điều hết sức có ý nghĩa là buổi bình
minh của văn minh ở Nhật Bản được thực hiện bằng cách
áp dụng cái tinh thần của kinh Pháp Hoa. Đến nay đã một
ngàn bốn trăm năm, tinh thần này vẫn được truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác trong nhân dân Nhật Bản.
Nhiều tu
sĩ Phật giáo nổi danh ở Nhật Bản nỗ lực truyền bá giáo
pháp của kinh Pháp Hoa, trong đó có Saichò([2]), Dògen [3]), Nichiren([4]).
Đặc biệt, Nicheren đã đưa vào kinh một sức sống mới mà
chịu nhận mọi khó khăn đau khổ và nỗ lực truyền bá kinh
trong quần chúng nhân dân.
Gần bảy
trăm năm đã trôi qua từ khi Nichiren thị tịch vào năm 1282.
Giáo lý của đức Thích-ca đã dần mất đi năng lực của
nó sau khi Ngài nhập diệt, nhưng lại đạt được sức sống
nhờ sự xuất hiện của kinh Pháp Hoa vào bảy trăm năm giữa
cái chết của Thái tử Shòtoku và sự xuất hiện của Nichiren.
Tuy nhiên, sau khi Nichiren thị tịch bảy trăm năm, tinh thần
kinh Pháp Hoa lại bị quên lãng. Một số người ở Nhật
Bản cũng lại tin rằng họ có thể được cứu độ chỉ
bằng cách gõ trống tay và bằng cách cứ lặp đi lặp lại
cái biểu thức gồm trọn nhan đề kinh Pháp Hoa, Nam-mô Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh - Tôi quy y kinh Diệu Pháp Liên Hoa - hay tin
rằng những cầu xin của họ sẽ được đáp ứng nếu họ
chỉ cần thờ kính bài chú tụng mà Nichiren đã viết, tập
trung vào biểu thức trên.
Nội dung
và tinh thần của kinh Pháp Hoa rất thánh diệu. Việc thực
hành giáo lý kinh cũng thánh diệu. Chúng ta sống đời
sống hằng ngày một cách bình thường, nhưng do hiểu giáo
pháp của kinh, tin tưởng nó, và tu tập nó, chúng ta cố gắng
tiến đến một trạng thái tâm thức thoát ngoài ảo tưởng
và khổ đau. Chúng ta hiểu ra rằng người ta cần phải sống
trong hòa điệu và giúp đỡ lẫn nhau. Nếu ai có cảm nhận
như thế dù chỉ vài giờ trong mỗi ngày, sức khỏe và hoàn
cảnh của người ấy sẽ tự nhiên biến đổi thành tốt
hơn - đây là giải thoát thực sự của người ấy. Sao cho
mọi người trên thế giới đều có được những cảm nhận
như thế và sống hạnh phúc - đấy là ý tưởng và nguyện
vọng tối hậu được diễn tả trong kinh Pháp Hoa.
Thực vậy,
kinh Pháp Hoa là một giáo lý của sự tôn trọng con người,
của sự tự toàn thiện và hòa bình. Nói tóm lại, đấy là
giáo lý nhân bản. Ngày nay, bảy trăm năm sau khi Nichiren thị
tịch, chúng ta phải tái dựng cái tinh thần của kinh Pháp
Hoa và thiết lập một cuộc sống tốt đẹp hơn nhằm cho
chính chúng ta, cho gia đình, xã hội của chúng ta và cho toàn
thế giới.
CẤU TRÚC
CỦA BA BỘ KINH PHÁP HOA
Ba bộ kinh
Pháp Hoa hay Pháp Hoa Tam Bộ Kinh (Hokke Sambu-kyò) gồm Vô Lượng
Nghĩa Kinh (Muryògi-kyò); Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (Myòhò Renge-kyò),
thường được gọi là kinh Pháp Hoa; và Quán Phổ Hiền Bồ-tát
Hạnh Pháp Kinh (Kan-fugen-bòsutsugyòbò-kyò; hay gọi đơn giản
là Quán Phổ Hiền Kinh, Kan-fugen-gyò).
KINH VÔ LƯỢNG
NGHĨA
Trong ba bộ
kinh nói trên, kinh Vô Lượng Nghĩa là bài giảng của đức
Thích-ca trên núi Linh Thứu (Grdhra-kùta) ngay trước khi giảng
kinh Pháp Hoa. Kinh Vô Lượng Nghĩa gắn liền với kinh Pháp
Hoa, được xem là dẫn nhập cho kinh Pháp Hoa. Đấy là vì trong
kinh Vô Lượng Nghĩa, đức Thích-ca đã nêu các lý do cho các
mục tiêu và thứ tự của giáo thuyết của Ngài trong bốn
mươi năm qua và cũng bảo rằng Ngài chưa bày tỏ sự thật.
Điều này không có nghĩa là cho đến lúc ấy, Ngài đã thuyết
giảng cái không thực mà có nghĩa là Ngài chưa hé lộ cái
chân lý tối hậu, dù rằng hết thảy những bài giảng của
Ngài trước đấy đều là thực. Nói một cách khác, Ngài
chưa thể hiện trọn bộ tính cách
sâu xa của
giáo lý của Ngài, sợ rằng người ta không thể nắm bắt
được nó vì sự hiểu biết và lòng tin của họ chưa được
phát triển đầy đủ. Do đó, Ngài nêu một lời hứa quan
trọng của Ngài về bài thuyết pháp sắp đến: “Giờ đây
ta khai mở chân lý thực sự”. Bài thuyết pháp sắp đến
của Ngài chính là kinh Pháp Hoa. Vì thế, nếu không đọc kinh
Vô Lượng Nghĩa thì chúng ta không thể hiểu rõ vị trí của
kinh Pháp Hoa trong tất cả các bài giảng của đức Thích-ca
trong suốt
thời gian Ngài tại thế cũng như không hiểu sự linh diệu
của kinh Pháp Hoa.
Nhan đề
kinh “Vô Lượng Nghĩa” diễn tả ý niệm về một giáo pháp
có vô lượng ý nghĩa. Người ta bảo rằng trong kinh này vô
lượng ý nghĩa đều phát sinh từ một pháp. Pháp độc nhất
này là pháp “Vô tướng”. Nhưng đức Thích-ca-mâu-ni không
giảng pháp này một cách chi tiết ở đây, do đó, xuyên qua
kinh này, người ta không hiểu rõ ý nghĩa của pháp ấy. Ngài
trình bày nó tường tận trong kinh Pháp Hoa mà Ngài sẽ thuyết
giảng sau đó. Ở đấy Ngài nêu rõ rằng giáo lý của vô
lượng ý nghĩa rốt ráo có thể quy cho cái chân lý được
tuyên thuyết trong kinh Pháp Hoa là bài giảng quan trọng nhất
trong các bài giảng khi Ngài tại thế.
Một cách
vắn tắt, kinh Vô Lượng Nghĩa được thuyết giảng như là
phần dẫn nhập của kinh Pháp Hoa và do đó có mối liên hệ
chặt chẽ với kinh Pháp Hoa, gọi là “Khai kinh” (Kaikyò)
của kinh Pháp Hoa. Kinh Vô Lượng Nghĩa gồm ba phẩm: Đức
hạnh (Tokugyò-hon), Thuyết pháp (Seppo-hon) và Thập Công đức
(Jukudoku-hon). Phẩm một được gọi là phần tựa (Tự phần
- Jobun), phẩm 2 là phần chính (Chính chủ phần - Shoshibun),
và phẩm 3 là phần kết (Lưu thông phần - Ruzùbun). Cách chia
ba phần này cũng là cách chia chung của các kinh khác. Phần
dẫn nhập (tựa) của một kinh dẫn giải kinh ấy được thuyết
giảng lúc nào, tại đâu và cho loại người nào và tại sao
kinh ấy được thuyết giảng hay kinh chứa đựng ý nghĩa nào.
Phần chính là đoạn bao gồm chủ đề chính của kinh và do
đó là phần quan trọng nhất trong ba phần. Phần kết (lưu
thông) nêu rõ người ta sẽ được những công đức gì do
thấu hiểu, do tin tưởng và do thực hành những gì được
thuyết giảng trong phần chính, và do đó phần kết sẽ nêu
rõ những người tôn trọng và nỗ lực thuyết giảng nó thì
sẽ được sự hộ trì thiêng liêng nào.
KINH PHÁP
HOA
Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa (Hoa sen của Pháp vi diệu) thường được gọi
là kinh Pháp Hoa, gồm hai mươi tám phẩm: phẩm 1 “Tự” (mở
đầu); phẩm 2 “Phương tiện” (sự khéo léo); phẩm 3 “Thí
dụ” (thí dụ); phẩm 4 “Tín giải” (niềm tin vững chắc);
phẩm 5 “Dược thảo dụ” (thí dụ về cây thuốc); phẩm
6 “Thọ ký” (tiên đoán); phẩm 7 “Hóa thành dụ” (thí
dụ về thành phố ảo hóa); phẩm 8 “Ngũ bách đệ tử thọ
ký” (năm trăm đệ tử thọ nhận lời tiên đoán); phẩm
9 “Thọ học, vô học nhơn ký” (lời tiên đoán cho những
người còn cần phải học và những người không còn cần
phải học); phẩm 10 “Pháp sư” (vị Thầy dạy pháp); phẩm
11 “Hiện bảo tháp” (hóa hiện tháp báu); phẩm 12 “Đề-bà-đạt-đa”
(Đề-bà-đạt-đa, Devadatta); phẩm 13 “Trì” (nắm giữ chắc);
phẩm 14 “An lạc hạnh” (hạnh an lạc); phẩm 15 “Tùng địa
võng xuất” (từ đất nhảy ra); phẩm 16 “Như-Lai thọ lượng”
(tuổi thọ của đức Như Lai); phẩm 17 “Phân biệt công đức”
(sự phân biệt các công đức); phẩm 18 “Tùy hỷ công đức”
(Công đức về sự vui nhận); phẩm 19 “Pháp sư công đức”
(các công đức của vị Pháp sư); phẩm 20 “Thường Bất
Khinh Bồ-tát” (Bồ-tát Thường Bất Khinh); phẩm 21 “Như
Lai thần lực” (Thần lực của đức Như Lai); phẩm 22 “Chúc
lụy” (Dặn dò); phẩm 23 “Dược Vương Bồ-tát bổn sự”
(Chuyện về Bồ-tát Dược Vương); phẩm 24 “Diệu Âm Bồ-tát”
(Bồ-tát Diệu Âm); phẩm 25 “Quán Thế Âm bồ-tát” (Bồ-tát
Quán Thế Âm); phẩm 26 “Đà-la-ni” (Mật chú); phẩm 27 “Diệu
Trang Nghiêm vương bổn sự” (Chuyện về vua Diệu Trang Nghiêm);
phẩm 28 “Phổ Hiền Bồ-tát khuyến phát” (Sự khuyến khích
của Bồ-tát Phổ Hiền). Tựa đề của mỗi phẩm trỏ đến
một phần hoặc toàn bộ nội dung của phẩm.
Từ thời
xưa, các học giả Phật học đã chia kinh Pháp Hoa theo nhiều
cách nhằm để hiểu kinh cho rõ hơn. Phần lớn các học giả
đều chia kinh theo cách sau đây: gạch một đường giữa chương
14 và chương 15. Phân nửa trước của kinh được gọi là
Tích môn (Shakumon - pháp môn hiển lộ) và phân nửa sau gọi
là Bổn môn (Hommon - pháp nguyên bổn); mỗi phần (môn) được
chia thành phần dẫn nhập, phần chính văn và phần kết luận.
Ở phần Tích môn, phẩm 1 là phần dẫn nhập; từ phẩm 2
đến phẩm 9 là phần chính, và từ phẩm 10 đến phẩm 14
là phần kết luận. Ở phần Bổn môn, nửa đầu của phẩm
15 là phần dẫn nhập, nửa sau của phẩm 15, phẩm 16 và nửa
đầu của phẩm 17 là phần chính, và nửa sau của phẩm 17
và mười một phẩm còn lại là phần kết luận.
TÍCH MÔN
VÀ BỔN MÔN
Tích môn
nghĩa là giáo lý của đức Phật hiển hiện trong lịch sử,
tức là Tích Phật (Shakubutsu). Tích Phật là trỏ đức Thích-ca-mâu-ni
lịch sử, sinh ra trong cõi đời này, đạt Giác ngộ sau nhiều
năm khổ tu, và nhập diệt lúc tám mươi tuổi. Do đó, Tích
môn bao gồm các giáo lý về cấu trúc vũ trụ, đời người,
những quan hệ của con người trên căn bản của kinh nghiệm
và chứng ngộ của đức Thích-ca, vị đã đạt đến trạng
thái lý tưởng của một con người. Đức Thích-ca cũng dạy
chúng ta rằng trí tuệ là thuộc tính quan trọng nhất để
giữ vững những quan hệ đúng đắn giữa con người. Tinh
yếu của Tích môn là trí tuệ của đức Phật.
Bổn môn,
mà phẩm 16 là cốt lõi của nó, tuyên bố rằng đức Thích-ca
vẫn tiếp tục giảng dạy người ta trong khắp vũ trụ kể
từ thời vô thỉ, nói một cách khác, đức Phật là chân
lý của vũ trụ, tức là, cái nguyên lý cơ bản hay năng lực
cơ bản khiến cho mọi hiện tượng trong vũ trụ, gồm mặt
trời, các vì sao khác con người, loài vật, cây cỏ v.v...
sống và hoạt động. Do đó đức Phật đã hiện hữu khắp
nơi trong vũ trụ từ lúc khởi đầu của vũ trụ. Đức Phật
này được gọi là Bổn Phật (Hombutsu).
Cái hình
tướng người mà đức Bổn Phật mang để xuất hiện trên
đời này là đức Thích-ca-mâu-ni lịch sử, tức là đức
Tích Phật. Chúng ta có thể dễ dàng hiểu mối liên hệ giữa
hai đức Phật khi chúng ta xét mối liên hệ giữa những làn
sóng điện với việc truyền hình. Các làn sóng điện do các
máy phát hình (Television Transmitter) truyền đi đầy khắp chung
quanh ta. Chúng ta không thể thấy, nghe hay sờ được chúng,
thế mà thực sự là các làn sóng điện ấy đầy khắp khoảng
không gian chung quanh ta. Khi chúng ta mở các máy truyền hình
(Television Set) và đặt máy vào một kênh riêng, thì cùng một
thứ hình ảnh, cùng một thứ âm thanh được nghe do mỗi máy
đều được đặt vào độ dài sóng ấy. Đức Bổn Phật
tương tự như người nói ở phòng phát hình, Ngài không những
chỉ hiện diện trong phòng phát hình mà còn thấm nhập quanh
ta như những làn sóng điện. Đức Tích Phật tương đương
với hình ảnh của người nói trên xuất hiện trên máy truyền
hình và với âm thanh do máy phát ra. Đức Tích Phật không
thể xuất hiện nếu đức Bổn Phật không hiện hữu.
Ngược lại,
chúng ta không thể nhìn thấy đức Bổn Phật nếu không nhờ
đức Tích Phật, cũng như chúng ta không thể nhận được
các làn sóng điện thành hình ảnh nếu không nhờ sự trung
gian của máy truyền hình.
Do đó, Bổn
Phật là đức Phật hiện hữu ở mọi nơi trong vũ trụ từ
quá khứ vô thỉ đến tương lai vô chung, nhưng nhờ giáo lý
của đức Thích-ca-mâu-ni là vị đã xuất hiện trên cõi đời
này theo đúng sự thật của đức Bổn Phật, chúng ta hiểu
được sự thật ấy. Chúng ta không thể tuyên bố rằng
đức Bổn Phật hay đức Tích Phật, vị nào thánh diệu hơn
hay quan trọng hơn: cả hai vị điều thiết yếu.
Các đài
phát thanh và phát hình (Radio and Television Station) truyền các
làn sóng điện mong càng được nhiều người thâu nhận càng
tốt nhờ các máy thu thanh (Radio), truyền hình (Television set).
Đằng này cũng vậy, đức Bổn Phật hiện hữu ở mọi nơi
trong vũ trụ, sẵn sàng cứu độ hết thảy chúng sanh trong
vũ trụ. Ngài dẫn dạy người, vật, cây cỏ; và cứu độ
nghĩa là sự biểu hiện trọn vẹn, sự phát triển đầy đủ
của cuộc sống cần thiết cho mọi hình thức sống tùy theo
bản chất thực sự củanó.
Đức Bổn
Phật thì đồng nhất với chân lý của vũ trụ. Chúng ta chỉ
việc chuyển đặt độ dài sóng của cuộc sống riêng của
chúng ta vào độ dài sóng của chân lý của vũ trụ, và thế
là đức Phật sẽ hiện ra với chúng ta. Bấy giờ, đám mây
của hư ảo bao phủ tâm và thân ta sẽ hoàn toàn tan biến
và ánh sáng rực rỡ của đời sống tinh ròng của ta sẽ
tỏa sáng từ bên trong tâm ta. Trạng thái này của tâm là
sự cứu độ thực sự cho chúng ta, và là trạng thái tâm
linh mà chúng ta cần phải đạt cho được.
Đức Bổn
Phật thường xuyên hiện hữu từ quá khứ vô thỉ đến tương
lai vô chung, tức là, đức Phật này không có sự khởi đầu
cũng không có sự chấm dứt. Đức Phật này xuất hiện bằng
nhiều hình tướng khác nhau, thích hợp với từng thời gian,
và nơi chốn riêng để cứu độ hết thảy mọi người bằng
những phương tiện tương ứng với khả năng hiểu biết của
họ về giáo lý của Ngài. Đây là ý niệm về đức Bổn
Phật.
Bổn môn
là giáo lý biểu hiện mối quan hệ giữa đức Phật và con
người, tức là, sự cứu độ con người của đức Bổn Phật.
Sự cứu độ này tùy thuộc vào lòng từ bi của đức Phật
và lòng từ bi này là tinh yếu của Bổn môn.
KINH QUÁN
PHỔ HIỀN BỒ-TÁT HẠNH
Kinh này dạy
về sự tu tập của Bồ-tát Phổ Hiền. Kinh gồm bài thuyết
giảng của đức Thích-ca-mâu-ni tại Tinh xá Đại Lâm ở Tỳ-xá-ly
(Vaisàlì), Trung Ấn, sau khi Ngài đã giảng kinh Pháp Hoa và
kinh cũng nêu lên cách sám hối như là một tu tập tâm linh
của kinh Pháp Hoa.
Chúng ta được
khích lệ lớn lao khi đọc kinh Pháp Hoa, nắm được ý nghĩa
thực sự của những bài giảng mà đức Thích-ca thuyết dạy
trong lúc Ngài tại thế và hiểu rằng chúng ta có thể đạt
đến cùng một trạng thái tâm thức như đức Phật nhờ thực
hành giáo lý của Ngài. Tuy nhiên, thực tế là trong đời sống
hàng ngày, chúng ta bị liên tục rối rắm vì khổ đau ưu
não, và chúng ta liên tục bị các dục vọng này nọ nắm
níu. Do đó, chúng ta có thể trở nên chán nản và quên đi
những bài học giá trị của kinh.
Dù về mặt
lý thuyết, chúng ta hiểu rằng chúng ta có thể thành Phật,
chúng ta lại không biết làm sao để thoát khỏi các ảo tưởng;
tâm của chúng ta có thể bị đám mây đen của ảo tưởng
che phủ. Sám hối nghĩa là quét sạch những đám mây đen ấy,
và kinh Quán Phổ Hiền Bồ-tát Hạnh dạy ta cách thực hiện
điều ấy. Do đó, kinh này cũng có mối liên hệ chặt chẽ
với kinh Pháp Hoa và như là lời bạt của kinh Pháp Hoa, nó
được gọi là “kết kinh” (kekkyò) của kinh Pháp Hoa. Do
bởi nội dung của nó, kinh được gọi là “Kinh Sám Hối”.
[1] Hokke-gisho
(P<D>háp Hoa Nghĩa Sớ) là một bộ luận về kinh Pháp Hoa,
gồm bốn quyển.
Dù được
dựa vào bộ Pháp Hoa
Nghĩa Ký
do Pháp Vân, người Trung Hoa viết, tác phẩm này cũng gồm
nhiều giải thích và ý kiến độc đáo. Thủ bản do chính
Thái tử chép hiện vẫn còn.
[2] Saichò
(Tối Trường - 767 - 822) là người sáng lập Tông phái Thiên
Thai (Tendai) Nhật Bản. Năm 804 ngài được lệnh hoàng
gia phái sang Trung Quốc, tại đây, ngài nghiên cứu giáo lý
Thiên Thai. Sau khi trở về Nhật Bản, ngài xin chính quyền
công nhận tông Thiên Thai. Năm 806, ngài được hoàng đế tấn
phong danh hiệu Truyền Giáo Đại Sư (Dengyò-daishi). Đây là
lần đầu tiên danh hiệu Đại Sư (Daishi) được sử dụng
ở Nhật Bản.
[3] Dògen
(Đạo Nguyên - 1200-1253) là người sáng lập Tông phái Thạch
Đầu (Sòtò) của Phật giáo Thiền tại Nhật Bản. Sau khi
thọ giới trên núi Hiei, gần Kyoto, ngài trở thành đệ tử
của Eisai, vị Thiền sư phái Lâm Tế. Ngài học bảy năm tại
Trung Quốc. Sau khi về Nhật Bản, ngài sống một thời gian
ở gần Kyoto, về sau, dựng Đại Thiền Viện Thạch Đầu
của Eiliei-ji (Vệ Binh Tự) trong vùng đất nay là huyện Fukui.
Ngài đã viết nhiều tác phẩm quan trọng, trong đó có tác
phẩm Shòbò-genzò bất hủ.
[4] Nichiren
(Nhật Liên - 1222-82) là người sáng lập tông phái mang tên
ngài. Năm 1253 ngài tuyên bố rằng người ta nên niệm lên
kinh Pháp Hoa bằng biểu thức Nam-mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.
Suốt công cuộc truyền bá tích cực kinh Pháp Hoa của ngài,
ngài đã chịu nhiều khủng bố hành hạ, kể cả bị lưu
đày. Trong những tác phẩm của ngài có một bộ luận rất
quan trọng về kinh Pháp Hoa.